Chương
1
Kho Báu Nhỏ
Tôi sinh ngày bảy tháng mười hai, 1927, ở Henepola, thuộc Ceylon.
Ceylon, giờ được gọi là Tích Lan (Sri Lanka), là một hòn
đảo có hình dạng giống như một giọt nước ở bờ biển
phía Đông Nam của Ấn Độ. Đó là một nơi rất đẹp với
những ngọn núi phủ đầy cây xanh mượt, những đồng lúa
và những đồn điền cao su cũng như trà.
Vào thời kỳ cuối của những năm 1920, ngôi làng bé nhỏ
Henepola là chốn định cư của khoảng bốn mươi gia đình.
Không có đường vào làng, không trường học, đồn cảnh
sát, bưu điện, tiệm ăn hay quán xá. Tất cả chỉ có những
mái nhà tranh xúm xít bên nhau, và cạnh đó là một ngôi chùa
Phật giáo, nơi công cộng duy nhất mà dân làng tôi có thể
tụ họp lại. Không có ai ở Henepola có điện hay nước máy,
nhưng có một dòng sông nhỏ chảy qua làng. Đến thành phố
gần nhất cũng phải đi bộ khoảng ba dặm (ND: 1dặm= Mile=
1,4 kilomét), trên một con đường đất hẹp uốn quanh
những rặng cây dừa, những đồn điền trà, và đến một
ngôi làng gần nhất cũng phải đi gần một cây số.
Người dân xứ tôi chỉ cần nghe pháp danh của tôi, Henepola
Gunaratana, thì họ cũng biết nơi tôi được sinh ra. Theo phong
tục của người Sinhala thì lúc xuất gia vị tu sĩ sẽ nhận
một tên mới: tên họ thì có ý nghĩa về tâm linh, và tên
gọi là nơi sinh của người ấy.
Khi tôi còn là một đứa trẻ, Ceylon là một thuộc địa của
Anh, nổi tiếng về trà, cao su, gia vị, đá quí, cũng như về
vị trí chiến lược của nó trên con đường tơ lụa giữa
Âu châu và Trung Quốc. Phần lớn 1.5 triệu dân số là nông
dân, và gia đình tôi cũng không ngoại lệ. Chúng tôi trồng
lúa, dừa, cà phê, và những loại cây trồng khác trên những
mảnh đất nhỏ, đôi khi là của chúng tôi, đôi khi là mướn
từ nhà nước Anh.
Gần
như tất cả mọi người trong làng của tôi đều nghèo, nghèo
quá sức. Nhưng niềm tin vào nền Phật giáo Nguyên thuỷ đã
tạo cho chúng tôi sự tự tin vào cuộc sống, mà không gì
có thể lay chuyển được. Theo nghiệp, định luật của
nhân quả, những hoàn cảnh hiện tại là kết quả của những
hành động trong quá khứ. Quan trọng hơn, những hoàn cảnh
trong tương lai sẽ là kết quả của những hành động của
chúng ta trong hiện tại. Do đó, chúng tôi đã tin rằng tốt
hơn hết là cố gắng hết sức và tiếp tục sống, bất chấp
những khó khăn trong cuộc sống.
Thực ra, trong những ký ức xa xưa nhất của tôi tràn đầy
dấu ấn Phật giáo. Nơi nương tựa của cả làng là
ngôi chùa. Người ta đến đó để viếng thăm các vị sư,
thỉnh họ tụng kinh hay tham vấn về Phật Pháp, gần như cho
tất cả mọi sự kiện: đám cưới, sinh nhật, đau bịnh,
và tang chế. Quý sư là người thầy, là giảng sư hay nhà
tư vấn, và đôi khi còn là y sĩ nữa. Dân làng cũng rất thích
trao đổi thân mật với các sư vào bất cứ giờ nào trong
ngày hay đêm. Chùa luôn mở cửa.
Một tháng bốn lần – vào ngày 14, ngày rằm, ngày 30 và ngày
mùng 1 -dân làng thường lên chùa ở cả ngày. Hình thức khá
dễ dãi. Có người tọa thiền; người đi kinh hành hoặc đứng
bên cây bồ đề linh thiêng đọc kinh. Quý sư và các cư sĩ
thay phiên nhau thuyết giảng trong giảng đường, nơi người
ta có thể ngồi hay nằm trên nền nhà mát lạnh. Tôi còn nhớ
lúc nhỏ, tôi thường thiếp ngủ trong lòng mẹ trong những
thời giảng này.
Mẹ tôi tên là Herat Mudiyanselage Lokumenike. Tên gọi và
tên lót của bà có nghĩa là “người thuộc về giai cấp
cao nhất (hay giai cấp vàng), và tên họ của bà có nghĩa là
‘viên ngọc lớn.’ Ở Ceylon vào thời đó, phụ nữ vẫn
giữ tên thời con gái của mình khi lập gia đình. Ba tôi tên
là Ekanayaka Mudiyanselage Puncibanda. Tên gọi và tên lót
của ông có thể dịch là ‘một người thuộc giai cấp thượng
lưu,’ và tên họ của ông có nghĩa ‘kho báu.’ Chỉ là
một sự trùng hợp khi tên lót của mẹ tôi lấy theo tên ông
ngoại tôi, thì cũng giống như tên lót của cha tôi.
Tôi là áp út trong bảy người con. Năm 37 tuổi, mẹ sinh tôi.
Tôi có hai người anh và ba người chị. Một chị lớn hơn
tôi nhiều; chị đã lập gia đình và ra riêng trước cả khi
tôi được sinh ra. Hai em gái được sinh sau tôi, nhưng một
đã chết lúc sơ sinh. Có một bà mụ đỡ khi tôi được sinh
ra, bà đã được thưởng một số gạo và dừa cho công sức
của bà. Tôi đã đến với cuộc đời này trong một căn lều
với ánh sáng lờ mờ và không có cửa sổ. Trong khi chuyển
bụng, mẹ tôi lúc thì ngồi chòm hỏm, khi thì nằm trên
chiếc chiếu làm bằng lá cây dương xỉ được trải trên
sàn nhà. Theo tục lệ, bà mụ đã cột một sợi dây
trên xà nhà, thả dài xuống đến chiếu của mẹ để bà
có thể nắm lấy nó khi cơn đau trở nên không chịu đựng
nổi. Bà đã sanh tất cả tám đứa con như thế đó.
Sau hai tuần, khi tôi có vẻ đủ khỏe mạnh để sống sót,
cha tôi đến viếng trưởng làng ở một làng bên cạnh. Tất
cả chuyện sinh nở hay tang ma đều phải trình báo một cách
chính thức với trưởng làng ở địa phương, nhưng vì Henepola
quá nhỏ nên không có trưởng làng riêng, vì thế cha tôi phải
đi bộ gần cây số để đến ngôi làng gần nhất, Dehideniya.
Ở đó ông thông báo cho vị trưởng làng tên mà ông đã đặt
cho người con trai thứ ba của ông: Ekanayaka Mudiyanselage Ukkubanda.
Ukku có nghĩa là nhỏ và banda có nghĩa là kho báu. Đó là một
cái tên rất dễ thương, mà người lớn thường dùng để
âu yếm gọi một đứa bé. Thường là cái tên, dầu nó được
dùng cho một đứa bé, cũng sẽ theo nó cho đến lúc trưởng
thành.
Tuy nhiên, khi tôi lớn hơn, cha mẹ tôi quyết định gọi tôi
là Kudabanda, đại khái có nghĩa là ‘cậu bé tí.’ Tôi nghĩ
cũng có lý, vì tôi là con trai út trong gia đình. Nhưng tôi
cũng chẳng bao giờ hỏi tại sao họ lại gọi tôi như thế,
thay vì cái tên chính thức của tôi.
Căn nhà của chúng tôi là do chính ba tôi tự xây. Chiều
ngang ba mươi, chiều dài bốn mươi phít (ND: 1 Foot Anh = 0,3048
mét). Mái làm bằng rơm, cọng lá dừa khô, và các mảnh
thiếc. Tường bằng bùn được chắn thêm những cây
tre cho chắc. Phía trước và sau nhà là một khoảng hiên trống,
phân nửa dưới là vách bùn, nửa trên là rào gỗ.
So sánh với nhiều ngôi nhà tranh trong làng, thì nhà tôi rất
rộng. Có đến hai phòng. Một là nhà bếp nhỏ, tối
tăm; phòng kia là nhà kho để chứa giấy tờ, sách báo và
dụng cụ của cha tôi. Đồ đạc không có gì nhiều, và tất
cả đều làm bằng tay, gồm có vài ghế đẩu nhỏ, đóng
sơ sài, và một cái ghế được đan bằng những cọng lát.
Tôi nhớ cha tôi sau mỗi bữa ăn, ngồi đĩnh đạc trong chiếc
ghế đó, hút thuốc hay nhai trầu cùng lúc kể chuyện, hay
rầy dạy chúng tôi. Mẹ tôi ngồi trên một chiếc ghế
đẩu, không bao giờ ngồi trên ghế của cha tôi. Lũ trẻ chúng
tôi thì ngồi trên sàn nhà.
Sàn nhà được làm bằng bùn, giống như tường, nhưng
thỉnh thoảng mẹ và các chị em gái tôi lại trét phân bò
tươi lên đó, bằng những đôi tay trần của họ. Phân bò
được coi là có thể sát trùng, mùi của nó đem lại sự
sảng khoái. Chúng tôi hàng ngày vẫn đi chân không trên
sàn nhà đó.
Chỉ
có hai cái giường, mỗi cái là một bục gỗ thô, trên phủ
những bao vải nhồi vỏ dừa khô. Những ‘tấm nệm’ này
chỉ mềm hơn đá một chút. Người anh lớn nhất của tôi,
Tikiribanda, ngủ trên giường, ở hiên trước. Anh kế tôi và
tôi ngủ gần bên, trên sàn nhà. Chiếc giường còn lại, ở
hiên sau, là của cha tôi. Chẳng bao giờ dù chỉ một lần,
tôi thấy mẹ tôi nằm trong giường đó với cha; bà ngủ trên
sàn với các chị em gái của tôi. Tôi cũng chẳng bao giờ
thấy cha mẹ tôi âu yếm hay hôn nhau, hay ngay cả có một cuộc
chuyện trò riêng tư nào.
Dầu vậy, cha mẹ chúng tôi chia sẻ một lòng tin sâu sắc
vào Phật giáo. Mỗi sáng lũ trẻ chúng tôi đều thức dậy
bởi tiếng tụng kinh Pali của họ. Những bài kinh tụng hàng
ngày cũng là những bài hát ru của chúng tôi vào ban đêm.
Ngay trước khi học đánh vần, chúng tôi đã có thể đọc
thuộc lòng các đoạn kinh cầu nguyện tiếng Pali, và chúng
tôi đã hiểu những chữ như kamma (nghiệp) và rebirth (tái
sinh) có nghĩa là gì.
Ngày này qua ngày khác cha mẹ chúng tôi làm các công việc
độ nhật của họ không chút phàn nàn. Mỗi sáng cha tôi đều
ra làm việc ngoài ruộng lúa hay ở khu vườn cao su nhỏ của
chúng tôi. Mẹ tôi ở nhà, chăm lo nhà cửa và con cái. Khi
cha tôi trở về, bà đã dọn sẵn cơm nước cho ông.
Cả cha lẫn mẹ tôi đều biết đọc và viết tiếng Sinhala,
là điều hiếm có trong làng cũng như ở phần lớn những
vùng quê của Ceylon. Vì cha tôi có học, và được biết
đến như một người có phẩm cách, đạo đức nghiêm chỉnh,
ông là người được kính trọng nhất ở Henepola. Những
người dân làng khác thường tìm đến ông để nhờ giải
quyết những cuộc tranh cãi của họ. Tuy nhiên, trong chính
gia đình của mình, thì cha tôi có thể là một hung thần.
Đôi khi bỗng dưng ông kiếm chuyện cãi cọ với mẹ tôi,
mà tôi chẳng bao giờ hiểu tại sao. Và ông thường biểu
lộ tính khí của mình một cách bạo động. Hình phạt cho
những đứa trẻ chúng tôi thì rất đau đớn, quyết liệt,
đôi khi ông còn đánh cả mẹ tôi. Khi điều đó xảy ra, tất
cả chúng tôi đều lẩn trốn. Chúng tôi sợ rằng nếu hó
hé, ông sẽ trút cơn giận lên chúng tôi.
Mẹ tôi chẳng được đi học chính thức, nhưng bà rất thông
minh. Bà tự học đọc và viết, và bà biết rất nhiều về
các cây thảo dược. Khả năng trực giác của bà rất nhạy
bén.
Tôi rất thân với người chị lớn nhất của mình, Dingiriamma.
Khi tôi khoảng hai tuổi, thì chị sanh đứa con thứ hai, một
bé gái nhưng nó chết vài tuần sau đó. Dầu đã bắt đầu
ăn được thức ăn bình thường, tôi vẫn còn rất thích uống
sữa, nhưng gia đình chúng tôi không có bò, và sữa của mẹ
tôi thì đã dứt lâu rồi. Vì thế gần cả năm sau khi em bé
của chị chết, Dingiriamma vẫn cho tôi bú sữa, giống như
tôi là con của chị. Chị và chồng sống trong một làng gọi
là Gunadaha, cách chúng tôi khoảng ba dặm, và mỗi tuần,
đôi ba lần chị đi bộ đến nhà chúng tôi để cho tôi bú.
Cho đến ngày nay, tôi vẫn coi chị như người mẹ thứ hai
của mình. Có lẽ chúng tôi thân với nhau hơn là với tất
cả năm người anh chị em còn lại.
Mẹ và các chị em gái tôi có nhiệm vụ đi lượm củi để
nấu ăn. Trong một nơi mà phần lớn chỉ có cây dừa và cây
ca cao (cocoa), thì củi rất hiếm. Thường họ phải bẻ những
cành cây cao su khô.
Vì không có điện, chúng tôi phải dựa vào ánh sáng lù mù
của mấy cây đèn dầu dừa. Đôi khi chúng tôi cũng không
có đủ dầu đốt đèn, mẹ tôi phải đốt đuốc từ những
hạt cây kekuna. Bà bóc lớp vỏ cứng của khoảng 10 hay
15 hạt và rồi xâu chúng lên một que củi. Lớp dầu
tự nhiên trong các hạt này sẽ cháy hàng giờ.
Dầu làng chúng tôi không có nước máy, nhưng gia đình tôi
khá may mắn có được một cái giếng riêng, cách nhà
khoảng hai trăm thước. Nước từ một dòng suối chảy vào
giếng quanh năm. Dầu giếng chỉ sâu khoảng một thước
rưỡi, nhưng có chiều dài khoảng hai thước, chiều ngang hơn
một thước hai. Chúng tôi dùng nước này để ăn uống, tắm
và giặt giũ quần áo.
Mẹ và các chị em gái tôi hứng nước suối đem về nhà trong
những bình đất lớn, bụng bình tròn to và miệng bình nhỏ.
Tôi vẫn nhớ nước chứa trong những bình này mới mát lạnh
làm sao!
Để tắm giặt, chúng tôi dùng những chiếc thùng thô sơ,
làm bằng sợi của những tàu cây cau, đôi khi dài đến một
thước rưỡi, ngang gần cả thước. Chúng tôi bện chúng
thành hình dạng như cái thùng, có thể chứa mười hai, mười
ba lít nước trong đó.
Dầu chúng tôi giữ gìn thân thể, quần áo và chăn nệm sạch
sẽ đến đâu, chúng tôi vẫn phải khổ sở với những con
rận giường. Tôi vẫn còn nhớ rất rõ đã gãi đến sưng
tấy, đỏ mẩn những chỗ mà mấy con rận giường đã cắn
trên người tôi. Dầu sự ngứa ngáy rất kinh khủng, tôi chẳng
bao giờ mong muốn điều gì hơn; đó chỉ là một phần của
cuộc sống. Ruồi và muỗi cũng đầy, nhưng chúng tôi có thể
trị chúng bằng cách đốt các vỏ dừa. Tuy nhiên với rận
giường thì khác, gần như không có cách chi để diệt được
chúng. Chúng khó thấy, lại trốn trong những tấm nệm
vỏ dừa. Dầu chúng tôi vẫn thường giặt mấy tấm nệm
này, rồi phơi ngoài nắng, nhưng rận giường luôn có mặt.
Có người dời những tấm nệm của họ xa ra khỏi vách nhà,
hay đặt những ống thiếc nhỏ chứa dầu dưới mỗi chân
giường, nhưng rận giường vẫn không chịu thua. Nếu chúng
không thể trèo lên từ chân giường, chúng sẽ bò lên vách,
rồi từ trần nhà thả mình xuống như những chàng phi công
cảm tử tí hon.
Đỉa cũng là một vấn đề. Bất cứ khi nào anh tôi và tôi
đi đâu đó, chúng tôi luôn trở về nhà với những con đỉa
bám vào chân, hay các kẽ chân của chúng tôi. Chúng tôi rứt
chúng ra, nhưng thường những chiếc răng nhỏ xíu của chúng
đã dính cứng trong da thịt chúng tôi. Vài ngày sau đó
những nơi đỉa cắn sẽ biến thành những vết thương lở
lói. Đôi khi mấy con ruồi xanh lại đẻ trứng vào đó.
Trứng sẽ nở thành giòi, làm cho các vết thương thêm
tồi tệ.
Có thể vì thiếu dinh dưỡng, cơ thể tôi không đủ sức
để chống lại mấy con vi trùng trong các vết thương đó,
nên chúng rất chậm lành và đau đớn. Tôi vẫn còn nhiều
vết thẹo trên chân.
Cha tôi được thừa hưởng khoảng vài công đất: một công
vườn cao su, nửa công vườn trà, và một công ruộng, còn
một công đất trống thì ông xây nhà trên đó. Ngoài việc
làm ruộng, trồng trà và cao su, cha tôi còn thích chăm nom vườn
tược. Ở khoảng đất trống quanh nhà, ông trồng hoa giấy
và bông bụt. Kế bên nhà, ông làm một hàng rào hoa lài
và hoa hồng, mà ông khéo cắt tỉa với một con dao thật to.
Ông cũng trồng một số hoa mầu đem huê lợi như: khoai lang
tây, khoai mì, đậu, cà, đậu bắp, khổ qua, bắp cải và
cà phê. Tuy nhiên, với bao nhiêu hoa mầu được trồng đó,
dường như cũng chẳng bao giờ đủ cho tất cả chúng tôi.
Bên cạnh những tài sản trên, chúng tôi còn có hai con trâu
nước, mà cha tôi dùng để kéo cày ngoài ruộng. Cũng may là
chúng tôi không phải nuôi trâu bằng các hoa mầu trong vườn
hay ngoài đồng; chúng ăn cỏ hay các vỏ mít đầy gai người
ta vứt bỏ.
Cha tôi dùng hoa mầu để đổi lấy cá khô, gia vị, đường,
muối, dầu đèn, và những thứ khác mà chúng tôi không thể
trồng hay tự làm. Trong những cuộc trao đổi như vậy, ông
phải đi bộ khoảng bốn cây số tới một thành phố gọi
là Galagedara, nơi có nhiều tiệm buôn bán do người Hồi giáo
và Tamil Ân Độ làm chủ. Thường ông cũng không tìm được
đủ các thứ ông cần; tất cả dường như đều thiếu hàng
hóa.
Để nuôi bảy đứa trẻ luôn đói khát, cha tôi còn làm thêm
hàng mộc cho mấy người hàng xóm. Tiếc là, những người
này cũng ít khi đủ sức để trả công ông. Có thể là những
nỗi lo về tài chính luôn canh cánh trong lòng đã khiến ông
trở nên rất cục cằn. Ông là người chấp hành nguyên tắc
rất khắt khe. Ông giấu một cây roi trên trần nhà và thường
dùng nó để trừng trị chúng tôi rất nặng trong chớp mắt,
vì bất cứ lỗi lầm nhỏ nhặt nào. Tiếng la mắng của ông
làm chúng tôi sợ đến run bắn người lên mỗi khi nghe. Anh
tôi, Rambanda, và tôi rất quen thuộc với sự la rầy nầy cũng
như là cây roi, vì chúng tôi cũng khá quậy phá.
Một trong những trò tinh nghịch tai hại nhất của chúng tôi
là chọi đá chim và bò. Một ngày kia chúng tôi gặp một con
chó mẹ với bầy chó con. Anh tôi lượm một nắm tay đầy
đá, rồi bảo tôi trèo lên một cây gần đó. Anh dự
định là sẽ chọc phá con chó trong khi chúng tôi đã trèo
lên cây an ổn. Tôi nói với Rambanda rằng cây cao quá, rằng
tôi quá nhỏ không trèo lên được.
“Đừng, đừng làm vậy,” tôi nài nỉ. “Nó sẽ cắn em”.
Nhưng anh rất bướng bỉnh. Anh phóng mình lên cây rồi
bắt đầu ném đá loạn xạ vào con chó. Tôi chạy thục mạng
với tất cả sức lực của mình, nhưng con chó còn nhanh hơn.
Tôi té ngã và nó nhào tới cắn tôi.
Khi anh và tôi về đến nhà, chúng tôi phải giải thích tại
sao tôi bị thương. Cha đã đánh cả hai vì tội ác độc với
con chó.
Rambanda và tôi hình như lúc nào cũng đói khát. Các loại
trái hay hạt ăn được, mà chúng tôi tìm thấy khi đi chơi
là những niềm vui lớn. Nếu chúng được trồng trên đất
của người khác, chúng tôi sẽ xin phép người chủ. Nếu
họ không cho, chúng tôi vẫn hái. Một ngày kia anh tôi và tôi
trên đường đến vườn cao su của gia đình. Giữa đường,
chúng tôi đi qua một khu vườn nhỏ của một gia đình nghèo
hơn chúng tôi. Có khoảng năm mươi cây bắp trồng trên
khu đất. Một cây gần đường có trái bắp chín treo
lơ lửng. Anh tôi nhìn quanh không thấy ai, nên anh hái trái
bắp, bẻ ra làm hai. Một phần cho anh, một cho tôi: Thiệt
là ngon!
Trên đường về, chúng tôi lại đi ngang qua vườn bắp.
Lần này, vì một lý do nào đó, chúng tôi quyết định phải
tỏ ra thật thà. Anh tôi vào nhà người chủ vườn và xin
phép bà được hái một trái bắp. Bà chủ nói chúng
tôi có thể hái trái bắp ngay cạnh bên đường. Bà ra
vườn để chỉ cho chúng tôi trái bắp ở đâu, nhưng khi ra
đó, bà thấy rằng trái bắp bà định cho chúng tôi đã biến
mất. Rồi bà để ý thấy những vết chân nhỏ trong bùn.
Bà bảo anh tôi đặt chân vào đó. Anh tôi đặt vào, và đúng
là dấu chân anh.
Rõ ràng là chúng tôi phạm lỗi nhưng người đàn bà không
tỏ vẻ gì giận. Bà nói, “Hai đứa về nhà đi.
Tôi sẽ mang thêm bắp qua cho.”
Chúng tôi vui vẻ ra về. Tuy nhiên khi chúng tôi về đến nhà,
người đàn bà đã có mặt ở đó. Bà đã kể cho cha tôi
nghe tất cả câu chuyện và ông đang đợi chúng tôi, với
cây roi trong tay, giận dữ hơn lúc nào hết.
Đó là một hành động xấu, thật xấu. Không chỉ là chúng
tôi đã phạm giới luật của Phật là không được ăn cắp,
mà chúng tôi còn ăn cắp của một gia đình thấp kém, không
dư dả.
Cha tôi đánh cho đến khi lưng chúng tôi bắt đầu rướm máu.
Mẹ tôi cố ngăn ông lại nhưng ông cứ tiếp tục đánh. Ngay
chính người đàn bà, nạn nhân của tội lỗi của chúng tôi,
cũng năn nỉ ông dừng lại. Mọi người đều khóc, nhưng
cha tôi không muốn nghe ai. Ông đánh chúng tôi cho đến lúc
ông kiệt sức, không thể đánh tiếp nữa.
Ngày nay, dĩ nhiên việc đó sẽ bị coi là hành hạ trẻ em.
Nhưng bảy mươi năm về trước ở Ceylon, chỉ là một chuyện
bình thường khi cha mẹ trừng phạt con cái bằng cách đánh
chúng. Là một Phật tử tín tâm, cha tôi quyết dạy chúng
tôi biết điều sai trái, và phương cách của ông chỉ là
làm theo những gì thế hệ của ông, và phong tục thời đó
cho phép. Thật sự, tôi không trách ông về điều đó.
Lúc nhỏ, tôi thường mặc áo chemise dài bằng vải cô tông
(cotton) thô, có sọc xanh, sọc đỏ, và phủ đến gối.
Đó là loại quần áo các em bé trai và gái thường mặc.
Năm mười một tuổi, tôi bắt đầu mặc những bộ đồ có
hai mảnh: một áo chemise thông thường và một cái xà
rong giống như một cái váy. Suốt thời thơ ấu, tôi chẳng
bao giờ mang giày, ngay cả dép cũng không; vì những thứ này
rất đắt tiền. Mấy đứa trẻ chúng tôi phải rất cẩn
thận với quần áo của mình, vì chúng tôi chỉ được một
bộ đồ mới vào mỗi đầu năm, mà người Ceylon tổ chức
vào giữa tháng tư.
Các anh em chúng tôi cũng không có đồ chơi gì. Chúng tôi chơi
với mấy que củi, những bẹ dừa khô, vỏ dừa, và những
sợi dây cọ xơ xác đã bị người ta vứt bỏ. Sân chơi của
chúng tôi là bãi đất cát trước nhà, ngoài ruộng lúa, hay
sân đập lúa, nơi các nông dân suốt lúa khỏi nhánh. Tôi
cũng thích trèo cây và đi dạo trong rừng.
Một lần khi tôi ra ngoài đi dạo và khám phá ra một lều
gỗ cũ trong rừng. Tôi tìm vài sợi dây, quăng lên xà của
căn lều, để làm cái đu. Tôi vui vẻ được khoảng ba mươi
giây. Rồi ngay khi tôi bắt đầu đong đưa, cái xà nứt
rạn, gẫy làm đôi, rớt xuống đầu tôi. Lúc đầu, tôi không
có cảm giác gì, sau đó, một dòng nước ấm bắt đầu chảy
xuống trán và mặt tôi. Tôi loạng choạng bước ra ngoài,
tìm được một lá cây cau trên mặt đất. Tôi dán chặt nó
lên đầu, nghĩ rằng bằng cách nào đó tôi phải chặn máu
lại. Mẹ tôi, người dường như có giác quan thứ
sáu luôn biết khi nào tôi gặp nạn, đã nhanh chóng tìm ra
tôi. Bà đem tôi về nhà, cẩn thận rửa vết thương và dán
lên
đó một trong những loại thảo dược của bà.
Buổi chiều, các anh chị em tôi thường chơi trốn tìm cho
đến giờ ăn, thường là khoảng chín giờ tối. Ngay
sau bữa ăn, chúng tôi ngủ thiếp đi trên sàn nhà trống, không
có gối hay mền. Không có những chuyện như là đánh răng
hay tắm rửa trước khi đi ngủ. Để dỗ ngủ chúng tôi, mẹ
thường kể những câu chuyện rất hay, đôi khi là chuyện
cổ tích dân gian, đôi khi là chuyện tiền thân của Đức
Phật trong nhiều kiếp.
Lúc còn nhỏ, một trong những câu chuyện tiền thân của Đức
Phật mà tôi thích nhất là về Sasa, một con thỏ tốt bụng
đã nhảy vào lửa hy sinh thân mạng để cứu một ông lão
đói nghèo, không có gì để ăn. Tôi nghĩ là tôi đã thích
câu chuyện đó vì tôi thường ngắm trăng tròn, và thấy những
hình ảnh trên đó giống như một con thỏ. Tôi mơ mộng rằng
mình cũng có thể tốt bụng như thế, để được lên mặt
trăng, nơi tôi có thể ngồi bên cạnh con thỏ đó và nhìn
xuống mặt đất. Cha mẹ tôi luôn kể rằng Đức Phật rất
hiền lành tử tế, giống như ánh sáng mặt trăng chiếu soi
trên tất cả mọi người, không phân biệt. Vì thế khi tôi
nghĩ đến mặt trăng, tôi nghĩ đến con thỏ trên mặt trăng,
đến Sasa, con thỏ độ lượng và đến Đức Phật- cả ba
quyện lẫn vào nhau trong tâm trí tôi.
Thật là oái ăm; trong khi tôi thích câu chuyện về con thỏ
độ lượng, thì bản thân tôi thật sự lại rất tham lam,
nhất là tham ăn. Tôi luôn giấu đồ ăn của mình, sợ
người khác giành ăn. Nếu có ai nhìn vào dĩa của tôi,
tôi sẽ nổi giận và hất nó xuống đất. Một hành
động rồ dại, dĩ nhiên rồi, vì thức ăn quá quí hiếm để
tôi hoang phí như thế. Nhưng tôi là người có tính khí
nóng nảy, có lẽ giống như cha tôi, và tôi cũng không thể
kiềm chế được nó giỏi gì hơn ông.
Đôi khi các anh chị tôi nhìn chăm bẩm vào dĩa đồ ăn của
tôi chỉ để chọc giận tôi. Một lần, khi điều đó xảy
ra, tôi giận đến nỗi tôi vứt dĩa đồ ăn ra cửa. Cha đánh
cho tôi một trận rồi bắt tôi đi lượm dĩa lên, và dĩ nhiên
là bữa đó tôi không được ăn thứ gì.
Một ngày, người chị thứ ba, lớn hơn tôi bốn tuổi,
lấy một chiếc đũa, vẽ hình một trái bí lên đất. Tôi
lấy chiếc đũa khác, xoá đi. Chị giận quá lấy chổi đánh
tôi. Tôi chụp cái ghế đẩu, rượt chị chạy khắp
nhà, rồi chọi cái ghế vào người chị. Cái ghế trúng ngón
chân cái của chị, làm tét móng. Máu tuôn ra, và chị lập
tức gào khóc. Khi mẹ tôi nghe tiếng, bà lẹ làng chạy vào
giúp chị, còn tôi chạy ra ngoài.
Tôi nhớ đó là lần đầu tiên tôi đã làm một điều không
phải, đối với một trong những anh chị em của mình. Lúc
đó tôi khoảng bảy, tám tuổi. Cũng may, lúc đó cha tôi không
có mặt ở nhà, và cả mẹ và chị tôi đều không dám kể
cho ông nghe điều gì đã thực sự xảy ra. Tôi đoán là giống
như tôi, họ cũng sợ cha nổi trận lôi đình. Họ chỉ
cho ông biết ngón chân băng bó của chị tôi là do tai nạn
xảy ra.
Khoảng thời thơ ấu của tôi, trong làng không có xe hơi, ngay
cả xe đạp cũng không có; cuốc bộ là phương tiện di chuyển
độc nhất. Để ra được đường lộ, chúng tôi phải đi
bộ khoảng ba cây số xuống một ngọn đồi dốc, hay khoảng
năm cây số đường bằng theo một hướng khác. Khi có ai bệnh
nặng, không thể đi bộ, họ được buộc vào một cái ghế
hay một mảnh ván và được khiêng đi gần năm cây số để
đến bệnh viện gần nhất ở Galagedara.
Năm 1933, khi tôi được năm tuổi, một trận dịch tả đã
tràn lan khắp Ceylon. Cả gia đình tôi đều bị bệnh,
lúc nhẹ lúc nặng, suốt ba năm trời. Chính phủ Anh đã phát
thuốc ký ninh (quinine), cũng như phát chẩn gạo và các loại
nhu yếu phẩm khác, vì không ai đủ sức để làm việc. Tuy
nhiên, có điều khó là: mỗi tuần chúng tôi phải đi bộ
khoảng năm cây số để lãnh phần của mình. Chúng tôi thay
phiên nhau đi; người nào ít bệnh nhất sẽ đi. Tôi còn nhớ
phải đi bộ năm cây số đó khi đang lên cơn sốt cao, chỉ
để được có thức ăn và thuốc men.
Tôi nhớ lại hai trường hợp cấp cứu khác.
Đó là khi tôi khoảng tám, chín tuổi, tự nhiên tôi bị mất
thị lực vào ban đêm, có thể do thiếu dinh dưỡng. Khi trời
tối, tôi giống như người mù. Tôi không thể thấy gì cả,
dầu có ánh sáng từ ngọn đèn dầu.
Các anh chị trêu ghẹo tôi về điều đó, vì họ cho rằng
tôi giả bộ, nhưng mẹ tôi rất lo lắng. Bà hỏi thăm thầy
lang trong làng; ông cho bà một loại thuốc đắng đem
về cho tôi. Đó là một loại thảo dược, nhưng ông không
cho bà biết tên loại cây. Nhiều người tin rằng các loại
thảo dược có những sức mạnh huyền bí, và các thành phần
của chúng thường được giữ bí mật.
Mẹ tôi phải xay thuốc nhuyễn ra, rồi cho tôi uống mỗi ngày,
cho đến khi thị lực của tôi khá hơn. Thuốc đắng
khủng khiếp, đau khổ hơn nữa là tôi còn phải uống vào
sáng sớm, khi bụng đói.
Để tôi phải uống thuốc, mẹ tôi đã dùng đến sức mạnh
của tình thương. Trước khi mọi người khác trong nhà
thức dậy, bà sẽ bồng tôi đặt trên đùi. Bà ôm tôi, hôn
tôi, thầm thì kể chuyện cho tôi nghe. Sau vài phút tôi
cảm thấy dễ chịu, hạnh phúc đến nỗi tôi sẽ làm bất
cứ điều gì bà yêu cầu.
Đó là lúc bà sẽ bỏ thuốc vào miệng tôi và bảo tôi nuốt
nhanh. Bà luôn trộn phần thuốc đắng đó với đường, vậy
mà nó vẫn không bớt đắng. Nghi thức đó diễn ra mỗi ngày,
sau vài tháng tôi hoàn toàn phục hồi thị lực.
Đến giờ, nhiều năm sau, tôi mới hiểu được sức mạnh
của metta hay lòng từ bi. Phần nào đó, nó giúp chúng ta chịu
đựng được những cay đắng của cuộc đời. Nó xoa dịu
những khó khăn, thất vọng, đau đớn. Đức Phật cũng đã
dùng sức mạnh của từ bi để ‘chiến thắng’ bao kẻ thù.
Ngài còn khuyên các vị sư sống trong rừng, phải sử dụng
tâm từ bi khi đối mặt với những con rắn độc. Và kinh
Từ Bi là một trong những bài kinh tuyệt vời nhất của Đức
Phật.
Đó là một bài kinh rất ngắn, nhưng là một trong những bài
kinh mà quý sư thường tụng đọc ở các buổi lễ. Kinh
chỉ bày cho ta cách suy nghĩ và hành động, để có thể mang
lại hạnh phúc cho chính bản thân người thực hành, và cho
tất cả mọi người ở quanh họ.
Đức Phật đã dạy rằng thực hành từ bi là một hành động
đáng tán thán. Do đó khi phát triển những tư tưởng
về lòng từ bi, chúng ta thật an lạc, cảm nhận được một
niềm hạnh phúc sâu xa từ việc tạo được công đức.
Đó là cảm giác của sự thanh tịnh.
Bất cứ khi nào tôi khuyên người ta thực hành tâm từ bi
một cách nghiêm chỉnh, tôi đều dạy họ lặp lại những
câu sau đây:
Nguyện cho bạn được khoẻ mạnh, hạnh phúc, và bình an.
Nguyện không có điều rủi ro nào xảy đến cho bạn.
Nguyện không có những khó khăn nào đến với bạn.
Nguyện cho bạn không bị não phiền.
Nguyện cho bạn luôn được thành công.
Nguyện cho bạn có lòng can đảm, kiên nhẫn, hiểu biết, và
quyết tâm để đương đầu và chế ngự những khó khăn,
những phiền não, và thất bại không thể tránh khỏi trong
cuộc sống.
Người đầu tiên mà chúng ta nên hướng tâm từ đến là
bản thân chúng ta: Nguyện cho tôi được khoẻ mạnh,
hạnh phúc, và bình an. Nguyện không có điều rủi
ro nào xảy đến cho tôi. Nguyện không có những
khó khăn nào đến với tôi . . .”
Tại sao lại bắt đầu với bản thân? Có người hỏi. Như
thế không phải là ích kỷ lắm sao? Thương yêu bản
thân trước tất cả mọi người sao?
Không hẳn là vậy. Hướng tâm từ bi đến bản thân chúng
ta là việc dễ làm nhất, vì giữa muôn loại chúng sanh trên
trái đất nầy, chúng ta yêu bản thân mình nhất. (Thì phần
lớn chúng ta là thế!) Vì thế chúng ta có thể dễ dàng
phát khởi những tình cảm thương yêu ấm áp đến với bản
thân. Chúng ta có thể tắm đẫm trong đó, chan hoà thân tâm
trong đó.
Rồi khi tình thương yêu đã tràn đầy trong ta, tự nhiên nó
sẽ lan tỏa sang người khác. Chúng ta có dư thừa để chia
sẻ. Và chúng ta làm thế với nhóm người kế tiếp, thích
hợp nhất là: những người ở gần và thân thiết với ta.
Như vợ chồng, con cái, cha mẹ, anh chị em, bà con quyến thuộc,
bạn bè thân thiết, hoặc có thể là người hướng dẫn tâm
linh. Chúng ta tưởng nghĩ đến họ trong tâm mình, và lặp
lại những lời nguyện cầu, mà họ là đối tượng thọ
hưởng tâm từ của chúng ta.
Nhóm kế tiếp thì rộng lớn nhất. Bao gồm tất cả
những người mà chúng ta gặp gỡ hàng ngày, nhưng không thân
thiết. Những người quen biết qua đường - đôi khi hoàn toàn
xa lạ- những người đến và đi qua cuộc đời chúng ta. Bạn
học, đồng nghiệp, hàng xóm, người bán hàng, người ngồi
trên xe đậu kế bên ta ở một ngã tư, một chú chó đáng
yêu, người chạy lướt qua bạn trên đường. Chúng ta
trải rộng tình thương yêu đến tất cả những chúng sanh
nầy, người hay vật, và đều cầu nguyện cho họ được
tốt đẹp.
Nhóm cuối cùng thì có thể là một nhóm nhỏ, hy vọng thế.
Bao gồm những kẻ thù của ta, những người xuất hiện để
gây khó khăn cho cuộc đời ta, mà ta nói một cách lịch sự
là ‘thử thách’ chúng ta. Đó là những đối tượng
mà sự thực hành tâm từ bi trở nên rất khó khăn đối với
nhiều người.
Cầu nguyện điều tốt lành cho kẻ thù của ta được sao?
Mong cho họ được thành công, khi họ cũng muốn chức vị
mà bạn đang hướng tới? Dành cho họ những ý nghĩ thân thiện
khi họ vừa hiếp đáp con bạn, hay vừa chạy xe lấn lướt
bạn?
Đúng vậy, Đức Phật dạy. Và đây là lý do tại sao: Nếu
chúng ta cầu mong cho người đó được tốt đẹp, hy vọng
rằng anh ta được thành công, có thể là anh ta sẽ phát triển
tâm linh. Đó là thứ thành công mà chúng ta mong cầu cho người
đó - sự thành công về tâm linh. Và nếu anh ta tiến bộ về
mặt tâm linh, có thể anh ta sẽ không còn là kẻ thù của
ta nữa. Không còn mưu cầu để làm như thế. Anh ta sẽ trở
nên hiền lành hơn; những đức tính cao quý của anh ta sẽ
hiển lộ. Tất cả chúng ta sẽ có thể sống chung hoà
bình.
Nhưng sự thực hành tâm từ bi không chỉ bó hẹp trong sự
lặp đi lặp lại những câu kinh đó. Đức Phật dạy
chúng ta cần phải vun trồng tâm từ trong ý nghĩ, lời nói,
và hành động. Mỗi bước đi, mỗi hành động, mỗi nghĩ
suy phải phát xuất từ tâm từ bi. Những gì mà ta huân tập
nhiều lần sẽ trở thành trạng thái tâm của ta. Nếu bạn
luôn thực hành tâm từ bi, thì chính bản thân bạn sẽ đầy
từ bi. Nó sẽ trở thành cá tính của bạn. Và bạn sẽ nhận
ra rằng người khác cũng có những cá tính dịu dàng, từ
tốn ẩn chứa bên trong họ.
Mẹ tôi hiểu và sống theo những lời dạy của Đức Phật.
Bà muốn chắc rằng, tất cả con cái của bà đều được
nghe những câu chuyện về cuộc đời của Đức Phật, và
được dạy về trí tuệ và lòng từ bi của Ngài. Chính
bản thân bà là một tấm gương về lòng từ bi, luôn đối
xử với bất cứ ai bà gặp bằng sự dịu dàng và lời nói
nhẹ nhàng. Xét dưới nhiều khía cạnh, tôi xem bà gần
như là một vị thánh.
Gần một năm sau căn bệnh không thấy đường vào ban đêm
lạ kỳ của tôi, mẹ tôi bị một tai nạn đã làm thay đổi
cuộc đời của bà.
Một ngày kia bà trèo lên cây ca cao để hái trái, là việc
bà vẫn thường làm. (Rồi chặt trái ra, lấy thịt hột cỡ
bằng một hột đậu hạnh nhân, phơi ngoài nắng). Cha tôi
sẽ mang ra chợ bán, khoảng năm xu nửa ký. Hột ca cao khô
rất ngon vì người ta có thể giã ra thành bột ca cao.
Ngày hôm đó, công việc thường nhật của mẹ tôi đã biến
thành thảm họa. Khi bà đã trèo cao lên cây, cành cây gãy
khiến bà rơi xuống. Tôi nghe tiếng kêu của bà, và khi
chạy đến, tôi thấy bà nằm ngửa trên mặt đất, bất tỉnh.
Hai người chị của tôi cũng chạy đến và khi nhìn thấy
bà, họ bắt đầu gào khóc.
Hình như là các nhà hàng xóm nghe tiếng các chị tôi khóc,
họ chạy đến, cố gắng giúp đỡ chúng tôi. Khi mẹ tôi
tỉnh lại, một người hàng xóm đưa cho bà một loại thuốc
bổ dân gian: một loại nước uống pha rượu quậy với tròng
đỏ trứng trong đó. Bà từ chối không uống. Cả đời, bà
đã giữ giới luật Phật giáo, bao gồm giới không uống rượu.
Bà không muốn phá giới, ngay nếu như rượu đó sẽ làm giảm
cơn đau của bà.
Có người đã chạy gọi cha tôi đang làm việc ngoài ruộng
lúa. Cha tôi lại chạy đi tìm người thầy thuốc trong
làng.
Một số người giúp khiêng mẹ tôi vào nhà; lưng bà bị chấn
thương quá nặng đến nỗi bà không thể ngồi dậy.
Vị thầy thuốc sai người túa ra nhiều hướng để hái các
lá và rễ của một số cây thảo dược đặc biệt. Khi họ
trở về, ông giã nhỏ các loại thảo dược để xoa lên lưng
mẹ. Khi ra về ông để lại cho chúng tôi ít thuốc đó và
bảo chúng tôi mỗi ngày xoa cho mẹ hai lần.
Mỗi ngôi làng ở Ceylon đều có nhà sư Phật giáo và một
vị thầy thuốc, và cả hai đều hợp tác làm việc với nhau.
Trước khi chuẩn bị bất cứ loại thuốc nào, vị thầy thuốc
sẽ tụng kinh Phật trước bàn thờ nhà ông. Ông không tính
tiền công với dân làng, nhưng thường người ta mang đến
cho ông rau củ, dừa, trà, gia vị, hay trái cau. Người ta tin
rằng nếu vị thầy thuốc là một Phật tử tín tâm, thì
thuốc của ông sẽ hiệu nghiệm hơn. Do đó, khả năng
chữa trị của người thầy thuốc tùy thuộc vào việc ông
có là một người Phật tử gương mẫu hay không.
Ngay cả sau khi người Anh đã thiết lập một hệ thống chính
quyền địa phương với người sếp (chief) cai quản mỗi làng,
thì thầy thuốc và vị sư vẫn có quyền lực cao nhất.
Người sếp luôn tham khảo ý kiến với nhà sư và thầy thuốc,
trước khi quyết định một hình phạt hay dàn xếp một tranh
chấp nào.
Hai ba ngày sau tai nạn, mẹ tôi vẫn không khá hơn. Bà không
thể cử động đôi chân hay đứng dậy; bà chỉ có thể nằm
rên vì đau. Bà không ăn uống được thứ gì, trừ một ít
cháo và nước cam. Rõ ràng là bà cần được chữa trị tốt
hơn, nhưng cha mẹ tôi không tin tưởng bệnh viện.
Mẹ tôi bảo muốn trở về nhà cha mẹ bà, cách làng tôi khoảng
bốn mươi hai cây số. Đó là một cuộc hành trình dài,
nhưng người thầy thuốc ở làng ông bà ngoại tôi hình như
giỏi hơn, và mẹ cũng nói bà sẽ cảm thấy dễ chịu hơn
trong ngôi nhà thời thơ ấu của mình. Vì thế cha tôi và một
vài người nữa khiêng bà đặt lên một tấm phản, rồi khiêng
bà đến thành phố gần nhất. Ở đó, cha mướn xe để chở
mẹ tôi về nhà ông bà ngoại.
Khi họ đi xa, những đứa trẻ chúng tôi phải ở nhà một
mình. Người chị lớn thứ hai của tôi lúc đó đã mười
tám tuổi, nên chị lo việc nấu nướng và chăm sóc chúng
tôi, những đứa nhỏ hơn.
Vài ngày sau đó, cha trở về một mình. Mẹ tôi đã ở lại
nhà ông bà ngoại để dưỡng bệnh. Nhưng bà chẳng bao giờ
hoàn toàn lành mạnh trở lại. Vài tháng sau đó khi bà trở
về nhà, bà phải đi nạng, với cái lưng còng. Chân trái
của bà không co lại được, và bà không thể đi bộ đến
cả ngôi chùa gần nhất.
Năm bảy tuổi tôi bắt đầu đi học. Ngôi trường gần nhất
là ở Medagama, cách nhà chúng tôi khoảng hơn nửa cây số,
được điều hành bởi các vị nữ tu truyền giáo Thiên Chúa.
Tôi rất thích, chính là vì mỗi ngày họ đều cho chúng tôi
ăn những bữa ăn trưa rất ngon. Trước khi ăn, chúng
tôi phải đọc kinh Thiên Chúa, chúng tôi cúi đầu trước
những chiếc mâm nhỏ đựng thức ăn đặt trên bàn. Tôi nhắm
mắt, lầm thầm đọc, nhưng tâm của tôi thì đang khốn khổ
vì mùi thơm đang xốc lên mũi tôi.
Tôi học trường Thiên Chúa giáo được khoảng một năm, trước
khi ngôi chùa Phật giáo ở Dehideniya mở trường tiểu học.
Tất cả trẻ em ở Henepola, khoảng ba mươi, bốn mươi đứa
chúng tôi lại đổi trường. Năm đầu tiên học ở trường
Phật giáo khá đông đúc. Giảng đường của chùa, ở
ngoài trời, được sử dụng làm lớp học duy nhất, luôn
ồn ào vì có quá đông học sinh dồn vào một chỗ.
Một năm sau, chính phủ hỗ trợ một miếng đất nhỏ cạnh
bên chùa để xây một ngôi trường tách biệt. Dân làng họp
nhau lại xây ngôi nhà một phòng, hình chữ nhật đơn giản
khoảng ba mươi bốn mét dài, và mười mét ngang. Tường cao
gần hai mét, cửa sổ, cửa chính để trống không, còn mái
thì làm bằng những cọng lá dừa. Ngôi trường mới có những
dãy bàn và ghế dài bằng gỗ cứng. Năm đầu tiên ở ngôi
trường mới, chúng tôi dùng bảng đen và những viên đá nhọn
để viết bài. Tuy nhiên qua năm thứ hai, chính phủ hỗ trợ
viết chì và giấy làm bài tập, thật là sung sướng!
Mỗi buổi sáng khi thầy giáo vào lớp, chúng tôi đứng dậy
khỏi ghế, cúi đầu, khoanh tay trước ngực.
“Chào thầy ạ,’ chúng tôi đồng thanh nói, và ông cũng
đáp lại chúng tôi bằng cái chào tương tự.
Sau đó là tới thời gian kiểm tra. Thầy giáo đi dọc theo
các dãy bàn học sinh, xét xem răng và móng tay chúng tôi có
được giữ gìn sạch sẽ hay không? Tất cả mọi thứ đều
phải gọn ghẽ, kể cả áo quần. Nếu có gì không ổn,
chúng tôi sẽ bị ăn gậy. Thực ra với bất cứ lầm lỗi
gì, mông chúng tôi cũng đều hứng gậy. Đôi khi thầy giáo
còn dùng tay để cốc đầu chúng tôi. Không ai nghĩ đó
là ác hay có gì khác thường.
Trước khi bắt đầu học, tất cả chúng tôi đều đọc quy
y tam bảo bằng tiếng Pali- quy y Phật, quy y Pháp và quy y Tăng
- và năm giới cấm trong Phật giáo. Ngay cả các em nhỏ cũng
thuộc lòng những bài kinh này, vì chúng đều đã được nghe
cha mẹ đọc tụng ở nhà mỗi ngày. Chương trình học ở
trường gồm văn phạm tiếng Sinhala, lịch sử, khoa học, toán
và dĩ nhiên, Phật giáo.
Mỗi ngày trên đường đến trường và về nhà, chúng tôi
đi qua một con lạch nhỏ, nước chảy xiết. Cả tôi và anh
tôi đều không biết bơi, vì thế mẹ tôi thường sợ rằng
một ngày nào đó chúng tôi sẽ bị chết đuối ở lạch nước
đó. Mỗi ngày bà sẽ đứng ở cửa, đợi chúng tôi
đi học về. Bà biết rằng con lạch đó hấp dẫn những đứa
trẻ nghịch ngợm biết bao, biết rằng anh tôi và tôi rất
muốn vứt cặp sách xuống đất, cởi đồ ra để nhảy vào
dòng nước mát đó. Đôi khi, chúng tôi thực sự đã làm thế!
Mẹ tôi, lúc nào cũng theo dõi từ xa, hét đến vỡ lồng ngực
ngay khi chúng tôi vừa nhún chân xuống nước, còn chúng tôi
thì chẳng muốn bước ra khỏi đó.
Tuy nhiên, có lần chúng tôi qua mắt được mẹ. Chúng tôi
nhảy vào nước mà mẹ không thấy. Gần như lập tức tôi
bị kẹt vào trong một vòng xoáy nơi dòng nước chảy dưới
một bụi tre. Tôi vùng vẫy hai tay, cố ngoi lên khỏi mặt
nước, nhưng dòng xoáy cứ kéo tôi xuống với một sức mạnh
khủng khiếp. Không biết bằng cách nào mà anh tôi nắm được
tôi kéo lên. Anh đã cứu sống tôi.
Nhưng đó không phải là kinh nghiệm sắp chết đuối cuối
cùng của tôi. Cho tới ngày nay, dầu tôi đã chu du khắp thế
giới, đã vượt bao đại dương không biết bao nhiêu lần,
tôi vẫn còn sợ sông suối.
Một ngày, lúc tôi khoảng chín tuổi, trên đường đi học
về với các bạn nhỏ trong lúc mưa bão lớn. Chúng tôi phải
đi qua một ruộng lúa có những dải phân cách hẹp giữa các
luống lúa, với những ống dẫn nước chia đôi các dải phân
cách. Chúng tôi đến một rãnh đã bị các trận mưa
làm xói lở ra. Nó trở thành giống như một con sông nhỏ,
với dòng nước chảy siết. Tất cả mấy đứa bạn đã nhảy
qua rãnh, nhưng tôi còn do dự, ôm ghì tập sách trước
ngực.
Cuối cùng khi đã thu hết can đảm để nhảy qua, tôi lại
trượt chân trên bờ rãnh và té xuống nước. Sách vở, bảng
đá lập tức bị nước cuốn trôi trong khi tôi cố gắng để
ngoi đầu lên khỏi mặt nước. Tôi càng cố gắng bơi, thì
hình như tôi càng chìm nhanh hơn. Anh tôi, Rambanda, nhảy xuống
nước và kéo tôi lên. Tôi bị một phen sợ hãi và ướt
nhem, nhưng cũng an toàn.
Chúng tôi chẳng bao giờ kể cho cha mẹ nghe chuyện đó. Chúng
tôi biết điều gì sẽ xảy ra nếu chúng tôi kể.
Ngôi chùa Phật giáo cách nhà chúng tôi khoảng nửa cây số,
là trung tâm làng. Chỉ có một vị sư và thị giả của ông,
một cư sĩ, sống ở đó.
Khuôn viên chùa bao gồm một giảng đường, một chánh điện,
một căn chòi nhỏ đắp bằng bùn, được sử dụng làm nhà
bếp, và một nhà vệ sinh. Ở một góc sân là cây bồ đề,
gợi cho chúng tôi nhớ đến cây bồ đề mà Đức Phật Thích
Ca Mâu Ni đã ngồi dưới đó, khi Ngài đạt được giác ngộ.
Một bức tường gạch được xây quanh cây để ngăn không
cho trẻ con trèo lên những cành cây thiêng liêng nầy.
Có một ban quản lý chùa và những người tự nguyện đóng
góp công sức. Dân làng luôn vui vẻ góp tay vào việc xây dựng,
dọn dẹp, nấu nướng và xếp đặt các buổi lễ. Các
Phật tử tin rằng những việc làm tốt đẹp đó sẽ giúp
họ được phước đức ở đời nầy và đời sau. Nhiều
người đi chùa gần như mỗi ngày, dầu chỉ là một cuộc
thăm viếng ngắn ngủi.
Thời khoá thường ngày của chùa cũng ảnh hưởng tới đời
sống hằng ngày của chúng tôi. Mỗi ngày lúc 6 giờ sáng,
vị sư hay là đệ tử của ông sẽ đánh một cái chuông lớn
giống như cái cồng trong sân chùa. Đó là dấu hiệu
cho buổi đọc kinh sáng. Có nghĩa là vị sư đã hoàn
tất buổi tọa thiền một tiếng đồng hồ của ông, và giờ
ông đi qua chánh điện để tụng kinh cầu nguyện. Tất cả
mọi người trong làng đều có thể nghe được tiếng chuông.
Khi nó vang lên, chúng tôi biết đó cũng là thời gian dành
cho những nghi thức của cá nhân chúng tôi nữa. Chúng tôi
sẽ bày hoa tươi trên bàn thờ trong nhà, đốt nhang và ngồi
xuống để tụng kinh.
Chuông chùa lại vang lên lần nữa lúc 11 giờ, khi vị sư bắt
đầu dùng bữa chánh trong ngày. Tiếng chuông là cách duy nhất
để chúng tôi biết giờ giấc vì không ai có đồng hồ treo
tường hoặc đồng hồ đeo tay.
Mỗi chiều, Rambanda và tôi đều đến chùa. Chúng tôi rất
thích ở đó. Vị sư cho phép chúng tôi chơi trong sân chùa,
và thường cho chúng tôi kẹo hay đồ ăn còn thừa.
Đúng ra, chúng tôi không được ăn đồ ăn của chùa, vì đó
là do dân làng cúng dường cho vị sư dùng. Cha mẹ chúng
tôi đã dạy rằng ăn đồ ăn của chùa sẽ tạo ra nghiệp
xấu cho chúng tôi, khiến chúng tôi bị đọa địa ngục. Nhưng
vị sư quá tử tế, và cái đói của chúng tôi cũng quá mạnh,
đến nỗi chúng tôi quên cả địa ngục. Chúng tôi hăm hở
ăn bất cứ thứ gì mà vị sư cho: cơm, cá, đậu nấu, bánh
bột gạo, hay một trái xoài chín.
Cha tôi đã xây dựng giảng đường của chùa, một căn phòng
với chiều dài mười thước, chiều ngang mười thước, nền
xi măng, tường gạch và mái ngói. Bên trong có một cái bục
vuông, cao khoảng mười lăm centi mét, với bốn trụ cây cao
ở bốn góc. Trên bục gỗ, chỉ có một cái ghế, bao quanh
bởi những lưới gỗ, và được che bởi một tấm màn vải
phủ căng trên mấy cây trụ.
Vào ngày rằm và mùng một, các cư sĩ sẽ ở cả ngày và
đêm trên chùa. Các vị sư ở những làng gần bên cũng đến
chùa chúng tôi, và thay phiên nhau an vị trên chiếc ghế đó
để thuyết pháp.
Việc đầu tiên mỗi buổi sáng là vị sư sẽ tụng một trong
những bài kinh của Đức Phật bằng tiếng Pali. Vì tiếng
Pali gần giống như tiếng Sinhala, nên phần đông các cư sĩ
đều có thể hiểu. Thời kinh sáng thường ngắn chỉ
khoảng một tiếng, vì các sư còn phải thực hiện nghi lễ
cúng ngọ trước khi thọ thực, khoảng 11 giờ sáng.
Buổi chiều, một vị sư khác sẽ thuyết giảng về ý nghĩa
của bài kinh Pali đã được tụng ban sáng. Sau đó khách
viếng chùa được tự do vài tiếng đồng hồ để ngồi thiền,
thưa hỏi đạo với quý sư, hay đọc các kinh sách.
Buổi tối sẽ có nghi lễ trọng thể hơn. Sau khi tất
cả các cư sĩ đã tụ tập vào trong giảng đường, một vị
sư cao đạo được kiệu vào bởi hai người đàn ông trên
cánh tay xếp bằng của họ. Các vị sư được cung kính
đến mức đó không nhiều. Một số vị có thể tụng
thuộc lòng cả bộ tạng kinh tiếng Pali, cũng như thông hiểu
tất cả những bài bình luận về kinh. Họ rất khéo
léo trong việc phân tích, giảng giải từng chi tiết trong một
bài kinh, có những buổi giảng có thể kéo dài đến mười
tiếng đồng hồ. Họ cũng thường nổi tiếng về khả
năng kể chuyện và giọng tụng đọc êm đềm của họ.
Các nghi thức nầy thường được đi kèm theo bằng tiếng
đánh trống, thổi cồng, chơi sáo và những tiếng đồng thanh
hỗ trợ như là “Sadhu! Sadhu! Sadhu!”, có nghĩa
là ‘Lành thay! Lành thay! Lành thay!”
Vị sư từ tốn ngồi vào chiếc ghế của ông ở trên bục
gỗ, rồi phủ vải trắng lên người đến tận cổ. Một
bức màn được kéo trước mặt ông, chỉ còn chừa lại khuôn
mặt. Các cư sĩ mang trà dâng cho vị sư, hay là một mâm đầy
kẹo mía đường, trầu cau, vôi và thuốc lá. Một ống nhổ
được đặt trước mặt vị sư.
Trước hết vị sư sẽ đọc kinh quy y Phật, Pháp và Tăng
(tam bảo trong Phật pháp). Giọng mũi của ông nghe rất
hay, cách đọc tụng như hát, có sức thôi miên đến nỗi
dường như nó từ phía sau bức màn bay bổng ra.
Namo tassa bhagavato Arahato Sammasambuddhasa.
Namo tassa bhagavato Arahato Sammasambuddhasa.
Namo tassa bhagavato Arahato Sammasambuddhasa.
(Cung Kính Đảnh Lễ Đức Thế Tôn, Bậc Ứng Cúng, Chánh Đẳng
Giác)
Buddham
saranam gacchami.
(Con
nguyện quy y Phật.)
Dhammam
saranam gacchami.
(Con
nguyện quy y Pháp.)
Sangham
saranam gacchami.
(Con
nguyện quy y Tăng.)
Dutiyam
pi Buddham saranam gacchami.
(Lần
thứ hai con nguyện quy y Phật.)
Dutiyam
pi Dhammam saranam gacchami.
(Lần
thứ hai con nguyện quy y Pháp.)
Dutiyam
pi Sangham saranam gacchami.
(Lần
thứ hai con nguyện quy y Tăng.)
Tatiyam
pi Buddham saranam gacchami.
(Lần
thứ ba con nguyện quy y Phật.)
Tatiyam
pi Dhammam saranam gacchami.
(Lần
thứ ba con nguyện quy y Pháp.)
Tatiyam
pi Sangham saranam gacchami.
(Lần
thứ ba con nguyện quy y Tăng.)
Sau đó, vị sư sẽ truyền năm giới cho các dân làng, một
nghi thức truyền thống ở bất cứ cuộc họp Phật giáo nào.
Vị sư tụng các câu kinh bằng tiếng Pali, và các cư sĩ lặp
lại theo sư.
Sau những nghi lễ khởi đầu này, bài thuyết pháp sẽ được
bắt đầu vào khoảng tám giờ tối. Đôi khi kéo dài cả đêm.
Trẻ em ngủ thiếp đi trên sàn nhà bên cạnh cha mẹ chúng.
Tuy nhiên, người lớn thì phải thức. Để hỗ trợ họ, một
vị trưởng lão với chòm râu bạc trắng, ngồi phía trước
bục gỗ. Mỗi lần vị sư dừng lại để nghỉ, thì
vị trưởng lão sẽ xướng to lên, “Vâng, thưa Đại Đức!’
Đôi khi tôi thức giấc lúc nửa đêm, thì thấy cả phòng
đều ngủ, trừ vị sư và ông lão. Tôi thật sự ngạc nhiên
rằng ai còn có thể thức vào giờ đó.
Vào khoảng năm giờ sáng, những người đánh trống sẽ bắt
đầu nổi trống lên, và các Phật tử bắt đầu chuyển động.
Lúc đó nhà sư đã ở phần cuối của bài thuyết Pháp, giải
thích tại sao Đức Phật Di Lạc, vị Phật tương lai, sẽ
xuất hiện khi giáo Pháp của Gotama, vị Phật hiện tại, không
còn được truyền hành.
Khoảng sáu giờ, vị sư sẽ mở cửa màn, duỗi đôi chân
đã xếp bằng trong một tư thế suốt đêm. Vài vị đệ tử
mang một thau dầu dừa ấm đến bên sư. Họ xoa bóp dầu
đó lên chân ông trong khoảng mười lăm phút. Rồi vị
sư bước xuống khỏi bục gỗ, lui về phòng để chuẩn bị
dùng bữa điểm tâm.
Quán sát tất cả những nghi thức nầy từ lúc còn trẻ, tôi
thật sự ấn tượng. Thái độ quý mến và trân trọng của
giới cư sĩ đối với quý sư thật đáng ngưỡng mộ. Tôi
bảo với cha mẹ rằng tôi muốn trở thành một tu sĩ:
tôi muốn thuyết pháp và được công kênh đến ghế ngồi
bởi các đệ tử tín tâm.
Không chỉ có thế, mà tôi còn sẽ giảng Pháp bằng tiếng
Anh, tôi ba hoa. Người anh cả đã dạy tôi vần tiếng Anh,
cũng như một vài từ tiếng Anh. Không có ai trong làng của
chúng tôi biết chút tiếng Anh nào, dầu đó được coi là
ngôn ngữ ‘chính thức’ của Ceylon dưới thời cai trị của
người Anh. Dân làng chúng tôi được quyền sử dụng tiếng
Sinhala, nhưng tiếng Anh thì đúng là ngôn ngữ của giới thượng
lưu -những người làm việc với chính phủ, người ở tầng
lớp xã hội cao, hay người khá giả có tiền đi du lịch.
Vì thế, tôi đã nghĩ là tôi có thể học tiếng Anh, và tôi
sẽ là một tu sĩ thật sự thông thái.
Cha mẹ tôi lắng nghe những giấc mơ trẻ con của tôi và họ
chỉ mỉm cười.
Chương
2
Cuộc sống
không nhà
Khi tôi lớn hơn, ý muốn được trở thành một người tu
sĩ càng tăng lên. Trước khi xuất gia, tôi rất thích giả
bộ tôi đã là một tu sĩ. Tôi sẽ quấn quanh mình một miếng
vải trắng, giống như các vị sư quấn y quanh mình, rồi ngồi
xuống một gốc cây trong rừng. Tôi tưởng tượng rằng các
cây chung quanh là người, rồi thuyết cho đám đông thính giả
thầm lặng đó, hay đọc tụng lại một vài đoạn kinh bằng
tiếng Pali mà tôi đã nghe ở chùa. Rồi tôi cũng ngồi xuống,
giả vờ như mình đang lắng sâu trong “thiền định”, dầu
lúc đó tôi chẳng biết thiền là gì.
Từ thuở đó, tôi đã tin rằng nghiệp của tôi là phải trở
thành người tu sĩ. Điều đó không có nghĩa là “số
kiếp” của tôi phải là như thế, vì trong Phật giáo không
có những quan niệm như thế. Đúng hơn, đó là vì tất
cả các nhân đã tích lũy trong quá khứ, không biết là đã
bao lâu rồi, khiến bây giờ tôi lại muốn trở thành một
tu sĩ Phật giáo. Có thể tôi đã là một tu sĩ trong một kiếp
trước -không được thành công lắm, vì rõ ràng tôi vẫn
chưa đạt được giác ngộ trong kiếp này, nhưng cũng không
hoàn toàn thất bại, vì tôi đã có duyên lành được tái
sinh làm người, được có thêm cơ hội để hoàn thiện công
phu tu tập của mình. Dầu không phải như thế, thì sự
thôi thúc được xuất gia, niềm khao khát sâu xa được mặc
chiếc áo nhà tu cũng đã chớm nở trong tôi rất sớm.
Khoảng năm mười một tuổi, tôi đã không còn thích thú gì
trong những trò quậy phá và đánh nhau của đám con trai, mà
tôi và Rambanda thường ưa thích, và tôi cũng không còn hứng
thú trong chuyện học. Tôi chỉ muốn được gia nhập vào tăng
đoàn Phật giáo, theo truyền thống Á châu cổ xưa của hơn
hai ngàn năm trăm năm trước. Những câu chuyện của các thiếu
niên vào thời Đức Phật còn tại thế, với những ước
muốn trở thành người tu tương tự như tôi, làm tôi say mê.
Một trong những câu chuyện như thế là về một cậu bé tên
gọi là Culapanthaka.
Culapanthaka được sinh ra ở ven đường, khi mẹ cậu trên đường
trở về quê ngoại. Ở Ấn Độ vào thời cổ xưa, người
phụ nữ có thai, theo truyền thống, phải trở về nhà cha
mẹ ruột để sinh con, và thường những nhọc nhằn trong cuộc
hành trình dẫn đến việc sinh con trên đường về. Thái tử
Siddhattha Gotama (gọi trong tiếng Phạn là Siddhartha Gautama),
người mà sau này trở thành Đức Phật, được sanh trong một
khu rừng nhỏ bên đường vì mẹ của thái tử, hoàng hậu
Mahamaya đang trên đường trở về nhà cha mẹ ruột.
Mẹ của Culapanthaka có hai người con trai, cả hai đều được
sinh ra bằng cách đó, ở ven đường. Người đầu tiên
bà đặt tên là Mahapanthaka –“người lữ hành lớn”.
Người thứ hai tên là Culapanthaka, có nghĩa là người “lữ
hành tí hon.” Vì người mẹ rất nghèo, bà để hai con trai
lại cho cha mẹ bà nuôi ở Rajagaha.
Mahapanthaka thường đi theo ông ngoại đến nghe Đức Phật
thuyết pháp, và điều đó lôi cuốn ông dần dần trở thành
một tăng sĩ. Vài năm sau, người em Culapanthaka cũng đi theo
bước chân anh.
Mahapanthaka muốn dạy Pháp cho em mình, nhưng thấy cậu bé là
người quá kém thông minh. Culapantakha không thể nhớ đến
một câu kinh đơn giản trong mấy tháng trời. Mahapanthaka rất
thất vọng và đã nghĩ rằng nếu em mình không thể học Pháp
thì không thể tiếp tục làm tăng sĩ.
“Em nên cởi bỏ y áo rồi về nhà đi”, ông bảo với em
trai mình.
Culapantakha rất buồn khổ. Ông rất thích cuộc sống tu hành
và được làm đệ tử Đức Phật. Ông không biết phải làm
gì, nhưng biết rằng ông không muốn phải hoàn tục.
Không lâu sau đó, Jivaka Komarabhacca, người thỉnh thoảng làm
lương y cho Đức Phật, yêu cầu Mahapanthaka thỉnh Đức Phật
và tăng đoàn ở tu viện đến dùng bữa trưa tại nhà
ông. Mahapanthaka thay mặt tăng đoàn chấp nhận lời mời, rồi
nói thêm, “Đến ngày mai Culapanthaka sẽ không còn ở tu viện
nữa. Tôi đã yêu cầu thầy ấy hoàn tục nhưng tôi sẽ đến
cùng với Đức Phật và tăng đoàn”.
Nghe giọng nói quyết liệt của anh mình, Culapantakha đau
buồn thảm thiết, với đôi mắt đẫm lệ, ông thu xếp vật
dụng rồi rời tu viện. Nhưng khi ông vừa đi ra, Đức Phật
thấy ông và hỏi tại sao ông buồn vậy, ông kể cho Phật
nghe những gì đã xảy ra.
Đức
Phật nói: “Thầy không cần phải cởi bỏ y áo, từ bỏ
đời sống tu sĩ chỉ vì thầy không thể thuộc một câu kinh.
Đây, tôi có thể chỉ cho thầy một việc mà thầy có
thể hiểu một cách dễ dàng”.
Đức Phật đưa cho ông một miếng vải trắng và nói, “Hãy
cầm mảnh vải này ra ngồi ngoài sân. Tay trái thầy cầm
mảnh vải, lau lên bàn tay mặt, lặp đi lặp lại câu ‘Chùi
sạch, chùi sạch, chùi sạch’”.
Culapantakha làm đúng như lời Phật dạy. Ông ngồi dưới nắng,
cầm mảnh vải lau vòng vòng trên bàn tay mặt, lặp lại câu
chú bất thường mà Đức Phật đã dạy cho ông để thực
hành chánh niệm.
Sau một lúc ông nhìn lại. Miếng vải trắng đã trở thành
đen, lem luốc bởi mồ hôi trong tay ông. Mặc dầu đọc câu
chú về làm sạch, nhưng ông đã làm dơ hết miếng vải!
Bỗng nhiên, Culapantakha chứng ngộ rằng tất cả đều vô
thường. Tất cả những gì ông ưa thích, tất cả những gì
ông đã nếm trải, đã chống đối, không có gì là ngoại
lệ, tất cả đều vô thường như miếng vải trắng sạch
đó. Ngay lúc đó, Culapantakha đã trở nên giác ngộ, nhận
thức rõ ràng được sự vô thường của vạn vật. Ông trở
vào tu viện ngồi dưới một cội cây và dùng năng lực
tâm linh huyền bí của một người đã hoàn toàn giác ngộ,
tạo ra hàng trăm tăng sĩ giống hệt như ông.
Trong lúc đó, các vị tăng khác ở tu viện đã đi với Đức
Phật đến nhà Jivaka. Đức Phật không thấy Culapantakha, do
đó Ngài đã từ chối thọ thực.
“Bạch Đức Thế Tôn, có chuyện gì?” Jivaka lo lắng
hỏi. “Còn thiếu gì nữa chăng?”
Đức Phật hỏi: “Ông có chắc rằng tất cả tăng đoàn
đã đến chăng?”
“Bạch Đức Thế Tôn, con chắc rằng tất cả đã đến.
Đại đức Mahapanthaka đã xác nhận điều đó”.
“Dầu vậy,” Đức Phật từ tốn nói, “hãy cho người
trở lại tu viện xem còn có tăng sĩ nào ở lại phiá sau”.
Jivaka sai người trở lại tu viện. Người đó nhanh chóng trở
lại mặt xanh như người chết.
“Bạch Đức Thế Tôn cả tu viện đầy tăng sĩ!”, ông thưa.
“Người thì đang hành thiền, người đang vá áo, người
lau chùi, người gánh nước, người kinh hành, người đọc
tụng kinh pháp.”
Đức Phật bảo người kia trở lại tu viện tìm thầy Culapantakha.
Ông ta làm theo. Và khi ông làm thế, thì tất cả tu sĩ
-hàng trăm người- trả lời, trong một giọng, “Tôi là Culapantakha.”
Người đàn ông kinh hoàng. Ông trở về nhà Jivaka, báo
lại những gì ông đã chứng kiến. Sau đó Đức Phật dạy
ông trở lại, nắm lấy áo một vị. “Nếu ngươi làm
thế,” Đức Phật nói, “các tu sĩ khác sẽ biến mất.”
Người đó đã y theo lời Phật dạy. Và ông đã đưa
vị tên là Culapantakha về để thọ thực. Sau khi thọ thực,
Đức Phật yêu cầu Culapantakha thuyết một bài Pháp. Người
anh, Mahapanthaka và các vị tăng còn lại đều ngạc nhiên.
Tại sao Đức Phật lại trân trọng một người yếu kém như
thế, một vị tu sĩ tồi tệ đến nỗi không nhớ đến một
câu kinh?
Nhưng Culapantakha đã thuyết một bài Pháp tuyệt diệu, dựa
ngay trên sự chứng nghiệm của mình về vô thường.
Mọi người đều bàng hoàng trước sự hiểu biết sâu rộng
của ông.
Theo câu chuyện này, trong tiền kiếp ông đã là một vị sư
rất thông minh, nhưng đã chế ngạo một huynh đệ kém thông
minh, đang cố gắng với nhiều khó khăn để học thuộc lòng
một đoạn kinh. Cho nên trong kiếp kế tiếp của Culapantakha,
nghiệp của ông đã trổ quả: Một mặt ông không thể học
một câu kinh trong bốn tháng, mặt khác ông lại có thể đạt
được giác ngộ và thần thông. Cả hai đều là kết
quả của những nghiệp trước đó, tốt và xấu. Một câu
chuyện với hai chủ đích: vừa sách tấn, vừa cảnh cáo!
Cũng giống như Culapantakha, tôi rất kiên quyết theo đuổi
mục đích của mình. Tôi van nài cha mẹ tôi để được đi
tu mãi, đến nỗi dần dần họ cũng coi điều yêu cầu của
tôi là nghiêm chỉnh, chứ không phải là bốc đồng thoáng
qua. Tôi còn rất trẻ để có thể được xuất gia ngay, nhưng
tôi có thể ở trong chùa và học tập làm chú tiểu.
Nhiều cậu bé đã làm như thế, và nhiều người trong số
họ đã trở thành tu sĩ khi họ lớn lên.
Gia đình nào có một trong những người con trai của họ gia
nhập tăng đoàn thì được coi là rất vinh dự. Khi một người
xuất gia, tất cả họ hàng đều được công đức tâm linh.
Ngay chính như người thanh niên đã lập gia đình, khi anh ta
quyết định xuất gia, bỏ vợ lại nhà cũng không bị khiển
trách. Người vợ cũng được công đức bởi sự xuất
gia của chồng.
Vì thế dầu ngần ngại, cuối cùng cha tôi cũng đồng ý để
tôi thử sống ở chùa. Mẹ tôi khóc vì bà không muốn tôi
rời xa nhà, nhưng bà thấy không thể lay chuyển quyết định
của tôi -ngay chính tử vi của tôi cũng đã tuyên đoán như
thế! Và mẹ tôi chắc chắn không phải là người mẹ duy
nhất ở Ceylon phải đưa đứa con trai nhỏ nhất của
mình vào đời sống tôn giáo; vì Phật giáo quá phổ biến
trong nền văn hoá của chúng tôi, điều đó xảy ra luôn.
Cha tôi đi hỏi một vị chiêm tinh gia trong làng để chọn
một ngày may mắn cho tôi rời nhà. Thời đó, thuật chiêm
tinh quyết định những biến cố quan trọng trong cuộc đời
của chúng tôi. Người ta xem sao để quyết định khi nào xuống
giống, khi nào lập gia đình, khi nào chôn người chết, khi
nào cắt tóc cho đứa trẻ lần đầu tiên, khi nào bắt đầu
một công việc quan trọng, kể cả khi đào móng xây nhà.
Mặc dầu sự tiên đoán của thuật chiêm tinh có vẻ trái
nghịch với giáo lý Phật giáo về nghiệp luật của nhân
quả, niềm tin vào thuật chiêm tinh vẫn hiện hữu bên cạnh
Phật giáo, và không ai nghĩ điều đó có vấn đề gì.
Vào ngày đã chọn, mẹ tôi nấu một ít cơm sữa cho tôi.
Đó là một sự chiêu đãi đặc biệt. Khi đứa trẻ
học đánh vần lần đầu tiên, bà mẹ nấu cơm sữa.
Hay khi đứa trẻ lần đầu tiên đến trường, bà mẹ nấu
cơm sữa. Để mừng sinh nhật hay năm mới, người ta
cũng nấu cơm sữa. Hàng năm, vụ mùa đầu tiên thường được
dùng để nấu cơm sữa dâng cúng cho các vị sư.
Và dĩ nhiên, đó chính là cơm sữa mà cô thôn nữ Sujata đã
dâng cho thái tử Siddhattha Gotama gầy yếu, sau khi Ngài quyết
định từ bỏ cách tu khổ hạnh. Ngài đã nhận sự cúng dường
đó. Chén cơm sữa đã giúp Ngài hồi sức để có thể dũng
mãnh toạ thiền dưới gốc cây bồ đề và đạt được giác
ngộ, rồi sau đó giảng dạy về con đường trung đạo.
Khi đang ăn chén cơm sữa mà mẹ đã nấu cho ngày rời xa nhà
của tôi, tôi nhìn thấy những giọt nước mắt bắt đầu
lăn trên mặt mẹ và các chị tôi. Rambanda cũng đang kiềm
giữ những giọt nước mắt.
Khi thời điểm phải rời nhà đến gần, cha tôi xuất hiện,
trong bộ xà rông và áo sơmi trắng tốt nhất của ông. Ông
bảo tôi đã đến lúc phải đi. Tôi cũng mặc vào chiếc áo
sơmi và cái xà rông trắng.
Lúc đó thì anh tôi oà lên khóc, và bỗng nhiên tôi cảm thấy
rất khó ra đi. Những tình cảm lẫn lộn làm tôi nghẹn
ngào. Tôi rất hạnh phúc, vì cuối cùng cũng được đến
ở chùa, nhưng tôi cảm thấy rất buồn vì phải xa gia đình.
Với sự ra đi này, tôi coi như đã từ bỏ cuộc sống gia
đình để theo một cuộc sống được gọi là ‘vô gia cư’,
cuộc sống của một vị tu sĩ Phật giáo.
Cả gia đình tụ ra trước nhà để tiễn tôi đi. Tôi quỳ
gối trước mặt mẹ, và chạm trán xuống đất dưới chân
bà.
Bà vuốt đầu tôi bằng cả hai tay.
“Nguyện cầu Tam Bảo phù hộ cho con,” bà thầm thì, giọng
nói nghẹn ngào. “Cầu chư thiên phù hộ con. Cầu cho con được
sống lâu sức khoẻ. Cầu cho con khỏi mọi tai nàn”.
Và rồi bà bắt đầu khóc.
Tôi đứng dậy và mẹ tôi hôn lên trán tôi, ôm chặt lấy
tôi.
Cha tôi và tôi đi bộ hàng giờ trên con đường bụi bặm
để đến ngôi chùa, nơi sẽ là mái nhà mới của tôi. Chúng
tôi không có hẹn trước, cha tôi đã không báo với nhà chùa
rằng tôi sẽ đến. Các vì sao đã báo rằng đó là một ngày
tốt để tôi rời nhà, và đúng như thế.
Gần cuối ngày, chúng tôi đến thành phố Kosinna, ở quận
Rambukkana. Ngôi chùa nằm trong một đồn điền dừa ở cuối
con đường đất. Khuôn viên chùa bao gồm một giảng đường,
khu nội viện của các tăng và một chánh điện riêng biệt.
Ngoài sân có vài chiếc ghế và rất nhiều cây hoa, cũng như
là các luống trầu cho ra những lá trầu mà các vị sư thường
nhai vì chất gây nghiện nhẹ của chúng.
Cha dẫn tôi đến trước vị sư trụ trì, là một người
đàn ông nhỏ thó, khoảng sáu mươi tuổi. Sau này tôi được
biết rằng ông đã lập gia đình trước khi xuất gia, đã
sống trong ngôi nhà ở cạnh vườn dừa, và có được một
người con trai lớn.
Cha ở lại chùa với tôi khoảng hai tiếng đồng hồ; rồi
ông về. Tôi rất mệt và chỉ muốn đi ngủ. Gia đình và
thời thơ ấu của tôi dường như đã xa thẳm.
Sáng hôm sau vị sư trưởng đưa cho tôi một quyển sách tiếng
Pali căn bản, ngôn ngữ mà Đức Phật đã sử dụng và được
dùng trong các kinh điển Phật giáo nguyên thủy. Sư bảo rằng
tôi phải thuộc lòng tất cả mọi thứ trong sách để chuẩn
bị cho sự xuất gia của tôi, và sư hoạch ra những bổn phận
tôi phải làm.
Tôi và ba cậu bé khác ở chùa phải đi vòng quanh đồn điền
để lượm những trái dừa rụng và đem chất chúng ở nhiều
nơi. Chúng tôi cũng phải quét nhà, lượm củi để nấu ăn,
kéo nước, rửa chén, và giặt đồ. Căn bản chúng tôi là
những người lao động không công -cũng một loại nô lệ.
Những bổn phận thuộc về tôn giáo của chúng tôi bao gồm
hái hoa để chưng trên bàn thờ trong chánh điện, và dự các
buổi đọc kinh mỗi sáng chiều.
Các cậu bé khác thì nấu ăn mỗi ngày. Công việc của tôi
là đến nhà cũ của vị sư trưởng, để mang những thức
ăn đặc biệt do người vợ trước của ông chuẩn bị. Chỉ
có ông được quyền dùng các món này.
Ba cậu bé ở trong chùa tất cả đều lớn và to con hơn tôi.
Những ‘cậu bé ở chùa’ nầy không phải là các chú tiểu,
như tôi sẽ trở thành sau nầy, nhưng họ được có cơ hội
lãnh hội một nền giáo dục tôn giáo bằng cách sống ở
chùa, và làm việc để bù cho tiền ăn ở của họ. Một cậu
phải coi sóc các luống trầu. Cậu nữa quản lý nhà bếp.
Đứa thứ ba thì trông chừng những con chó chạy rong trong
khuôn viên chùa. Thường họ làm những việc mà một vị tu
sĩ không được phép làm do giới luật, thí dụ như là nấu
ăn hay đi chợ.
Đây sẽ là cuộc sống mới của tôi.
Nhưng tôi chỉ sống ở chùa đó được khoảng ba tháng.
Một ngày kia tôi đang ở trong nhà bếp rửa nồi. Hai đứa
trẻ khác đứng gần đó cãi nhau dữ dội. Một đứa chọi
đứa kia cục đá nhưng lại trúng cườm tay tôi. Bàn tay tôi
lập tức sưng lên và rất đau đớn.
Tôi viết cho cha một lá thư và kể cho ông nghe câu chuyện.
Vài ngày sau đó, cha đến để dẫn tôi về. Ông nói, ‘Tôi
không muốn con trai tôi ở bất cứ chùa nào mà có những người
bạo lực.’ Ông cho rằng cha có thể đánh con, điều đó
hợp lý, nhưng không nghĩ rằng những hành động như thế
lại có chỗ ở trong chùa. Tôi trở về nhà với cha.
Mẹ và các chị tôi rất vui mừng được gặp lại tôi, và
thật tuyệt vời được trở về với Rambanda. Tất cả
chúng tôi lại tiếp tục sống như trước kia.
Phần lớn thời gian của tôi là chạy qua chạy lại giữa
nhà cha mẹ, và nhà nơi người chị cả của tôi sống với
chồng chị và đứa con gái. Họ nói với tôi rằng họ rất
thích có một đứa con trai trong nhà, thế thì tại sao tôi
không đến sống với họ?
Điều đó thật hấp dẫn. Tôi thương cả hai rất nhiều,
và cháu gái tôi cũng giống như là em tôi. Hoàn cảnh của
tôi, lúc đó có vẻ rất bấp bênh. Tôi đã gần mười
hai tuổi và đã nghỉ học bốn tháng rồi.
Nhưng ước muốn được trở thành một tu sĩ vẫn còn cháy
bỏng trong tôi. Tôi rất nhớ những ngày được mặc áo tu.
Vì thế tôi xin cha tìm một ngôi chùa nào khác chấp nhận
tôi.
Vài tháng sau, vào tháng giêng năm 1939, anh rể tôi nói với
cha rằng anh có nghe về một ngôi chùa khác, ở làng Malandeniya,
đang tìm một cậu bé để cho xuất gia. Chùa đó được gọi
là Sri Vijayarama, có nghĩa là ‘sung túc và thắng lợi.’ Cha
và anh rể nghĩ rằng Malandeniya cách nhà tôi khoảng chín kilômét,
nhưng họ cũng không chắc chắn vì chưa có ai trong chúng tôi
đã từng đến đó.
Lần thứ hai tôi rời nhà cũng giống như lần đầu tiên:
cũng cơm sữa của mẹ; xà rông trắng tinh; nước mắt và
cảm giác vừa phấn khởi vừa đau buồn của tôi. Tôi cảm
thấy hạnh phúc khi nghĩ đến tương lai được làm một tu
sĩ. Đồng thời nhớ lại những kinh nghiệm của tôi ở ngôi
chùa trước, lòng tôi đầy âu lo khi phải đến sống ở một
nơi xa lạ, với những người xa lạ.
Lần này, cả cha và anh rể đều cùng đi với tôi trong chuyến
đi này. Khi chúng tôi ra đi, mẹ bảo với anh rể tôi rằng,
“Hãy chăm sóc con trai mẹ. Vì con sống gần chùa đó, hãy
báo cho mẹ biết tin tức của nó.”
Rồi chúng tôi cất bước, khi mẹ đứng bên cửa nhà. Tôi
cứ ngoái đầu lại để nhìn bà, và mỗi lần như thế, bà
vẫn còn đứng đó, xa dần xa dần, cho đến khi tôi không
còn nhìn thấy mẹ nữa -và còn lâu hơn nữa những giọt nước
mắt trên má tôi mới khô đi.
Không có con đường nào từ làng tôi dẫn đến Malandeniya.
Chúng tôi phải đi dọc theo những lối đi băng qua ruộng lúa,
qua các dòng suối nhỏ và các đồn điền cao su. Thỉnh thoảng,
chúng tôi đi qua những ngôi làng nhỏ khác. Mỗi lần
như thế, chúng tôi lại hỏi đường đến Malandeniya, người
ta lại bảo chúng tôi đi xa thêm chút nữa.
Cuối cùng thì chúng tôi cũng đến được một ngôi chùa có
dây thép gai rào quanh. Sau này chúng tôi biết rằng người
ta làm vậy để không cho trâu bò trong xóm vào chùa ăn những
cây dừa non trên mặt đất. Ở cổng, có một hàng rào tre,
che dây thép gai để chúng không làm vướng xà rông khi người
ta bước qua đó.
Khi chúng tôi bước vào, một đàn chó ùa ra sủa như để
chào đón chúng tôi, sau đó là một vài cậu bé, và cuối
cùng là vị trụ trì, một người có tầm cao trung bình, với
đôi mắt sáng và một chiếc mũi dài. Ông cười, để lộ
hàm răng bợn đen vì trầu cau.
Cha, anh rể và tôi lập tức quỳ xuống dưới đất và lễ
bái ba lần. Nhà sư ra dấu cho chúng tôi đi vào bên trong chùa
và chỉ chiếc chiếu trên sàn nhà nơi chúng tôi có thể ngồi
xuống.
Danh xưng của Sư là Kiribatkumbure Sonuttara Mahathera. Mahathera,
‘trưởng lão,’ hàm ý rằng Sư đã là một vị tỳ kheo
ít nhất ba mươi tám năm. Giờ Sư đã gần sáu mươi tuổi
và có vẻ rất thân thiện; nụ cười thường ở trên môi.
Cha giới thiệu về tôi và thưa với Sư rằng tôi muốn đến
sống ở chùa và xuất gia. Nhà sư nhìn tôi từ đầu đến
chân, rồi gật đầu.
Thật đơn giản. Tôi đã được chấp nhận.
Cha và anh rể tôi nán lại khoảng một tiếng đồng hồ tiếp
chuyện với Sư rồi cáo từ. Ngay khi họ vừa đi khỏi,
tôi cảm thấy một làn sóng cô đơn phủ trùm lấy tôi. Tôi
muốn chạy theo họ và bảo rằng tôi đã thay đổi ý định,
rằng tôi muốn về nhà.
Tôi bắt đầu khóc, và không thể dừng lại sau hàng giờ.
Sư Sonuttara an ủi tôi, bảo rằng ở chùa, tôi sẽ có được
một mái ấm, tôi sẽ được học Pháp từ các vị thầy uyên
thâm. Rồi Sư đưa cho tôi một manh chiếu cũ và một
cái gối dơ để trải trên nền nhà cứng làm giường.
Chánh điện gồm có một sàn gỗ dựng trên bốn cây cột
cao khoảng hơn một thước. Giữa sàn là một tượng Phật
bằng đất sét cũ kỹ và xấu xí.Tôi nhớ tượng Phật đó
có đôi mắt nhìn dữ tợn, ghê khiếp, không giống chút nào
với những tượng thanh thoát thường thấy ở hầu hết các
chùa. Rõ ràng là người nặn tượng chưa từng học qua về
những phẩm chất của Đức Phật, mà họ phải biểu hiện
trong các bức tượng của Ngài.
Ở một bên tượng Phật dữ tợn đó là hình của vị thần
da xanh Vishnu, một trong những vị thần lớn của Ấn Độ
giáo. Ở bên kia là hình của Humiyam Devata, một vị hung thần
mà cho đến ngày nay vẫn còn một số người Sinhala tôn thờ.
Người ta cầu nguyện vị thần này để nhờ uy lực của
thần chống lại kẻ thù của họ. Vishnu và Huniyam có
mặt trên bàn thờ của một ngôi chùa Phật giáo, là một
sự chọn lựa lạ lùng, nhìn chung ba hình ảnh nầy thật
đối chọi nhau.
Trong một gian nhà khác, cách chánh điện khoảng sáu thước,
có ba phòng, tất cả đều dơ bẩn, u ám: đó là chỗ
ngủ của sư trưởng, một phòng khách dành cho các sư vãng
lai, và một căn phòng chứa đồ. Bên ngoài có một hành
lang, nhỏ dẫn đến nhà bếp. Có một khoảng diện tích
hẹp là góc ăn uống, cũng rất dơ bẩn, và một bếp lò bằng
gỗ với ba hòn gạch để lên trên, nơi người ta có thể
đặt những chiếc nồi lên đó nấu.
Phía sau nhà bếp là căn nhà vệ sinh, chỉ dành riêng cho sư
trưởng sử dụng. Mấy đứa trẻ chúng tôi được bảo phải
giải tỏa ngoài đồng trống, phía sau khuôn viên chùa. Và
khi nào chúng tôi làm việc đó, là mấy con heo hàng xóm sẽ
đến và ủi sạch cho chúng tôi.
Cũng giống như ở ngôi chùa đầu tiên, tôi cũng có rất nhiều
bổn phận phải làm. Tôi phải bửa củi nấu ăn, gánh
nước từ giếng lên, quét sân, hái hoa chưng bàn Phật, nấu
ăn, rửa chén, và cho hơn cả chục chó mèo chạy rông trong
chùa ăn.
Bên cạnh những công việc này tôi còn phải học thuộc lòng
những bài kinh tiếng Phạn từ các sách gọi là Sataka, nghĩa
đen là “một trăm” nhưng thường ám chỉ “một trăm câu
thơ tán thán Đức Phật.” Khi thuộc lòng hết một quyển
sách, chúng tôi sang qua quyển khác. Một trong những quyển
sách Sataka giải thích về một trăm lẻ tám danh hiệu của
Đức Phật, quyển khác lại giới thiệu về chín phẩm chất
đáng ngưỡng mộ của Đức Phật, vân vân.
Mục đích của việc bắt mấy đứa trẻ chúng tôi học thuộc
những bài kinh nầy là vì ba việc: để dạy chúng tôi phát
âm tiếng Phạn đúng; để giới thiệu với chúng tôi về
những phẩm chất của Đức Phật; và quan trọng hơn cả,
theo tôi, là để phát khởi sự tín tâm, thành ý trong những
đầu óc non trẻ của chúng tôi.
Mỗi chiều, khi chúng tôi phải trả bài học thuộc lòng trong
ngày, Sư Sonuttara sẽ vặn nhỏ ngọn đèn dầu xuống để
chúng tôi không thể ăn gian bằng cách đọc từ trong sách
ra. Nếu tôi sai hay không thuộc đủ các bài kinh, Sư sẽ nổi
giận và đánh tôi. Những cái đánh của Sư thì giống như
‘dụng cụ hỗ trợ học tập’, không hoàn toàn giống như
sự bạo lực, đã khiến tôi phải rời ngôi chùa đầu tiên.
Tuy nhiên, thường thì tôi học khá thuộc bài. Tôi có vẻ
là người học mau hiểu biết, và thầy tôi rất vừa lòng.
Trong ba tháng, Sư đã tuyên bố rằng tôi tiến bộ nhiều,
và đã sẵn sàng để được làm lễ thọ giới Sadi.
Sư Sonuttara cũng xem lịch để chọn một ngày giờ tốt cho
buổi lễ. Rồi ông gửi lời mời cha mẹ tôi và khoảng hai
mươi tăng sĩ từ các chùa khác trong vùng. Vị sư trưởng
lão nhất trong vùng, Sư Alagoda Sumanatissa Nayaka Mahathera, sẽ
đứng ra chủ lễ và truyền giới cho tôi. Ngày hôm trước
buổi lễ, cả chùa bận rộn với các sinh hoạt khi các vị
khách lần lượt đến, và dân làng ở Malandeniya chuẩn bị
thức ăn cho các khách tăng.
Rất nhiều bà con của tôi cũng đến trong ngày trọng đại
đó, kể cả cha, anh rể, và Rambanda, người anh trai thân thiết
của tôi. Mẹ tôi không thể đi xa như thế vì đau lưng. Bà
rất đau khổ vì không thể có mặt ở đây, cha đã nói với
tôi như thế, và tôi cũng rất buồn.
Vào lúc mười giờ sáng, tất cả mọi người đều tụ lại
trước hiên của khu nội viện tăng. Thông thường lễ xuất
gia sẽ được tổ chức trong chánh điện, nhưng vì có quá
nhiều khách dự, thầy tôi quyết định làm lễ ở một nơi
rộng rãi hơn.
Tôi mặc áo chemise và xà rông trắng. Cha cùng với tôi tiến
đến chỗ quý sư đang ngồi trên sàn nhà cạnh bên một bàn
thờ vừa được dựng lên, đối mặt với đám đông.
Tôi quỳ xuống trước vị lão sư, Sumanatissa, và đảnh lễ
Sư ba lần. Sư bảo tôi xin phép cha để được bước
vào cuộc sống không nhà của người tu. Vì thế tôi quỳ
xuống trước mặt cha và lập lại nghi lễ vái lạy ba lần,
mỗi lần đều để trán chạm xuống nền nhà ngay chỗ chân
cha, để bày tỏ lòng kính trọng. Tôi vẫn còn nhớ gương
mặt nghiêm trang của cha khi nhìn xuống tôi.
Khi tôi quay trở lại phía các sư, Sư Sumanatissa lấy kéo cắt
một vài lọng tóc của tôi, và dạy tôi lặp lại theo Sư:
“Tóc trên đầu, lông trên thân, móng tay chân, răng, da.”
Các bộ phận thân thể là những đối tượng thiền quán
đầu tiên của tôi. Đây là lời chỉ giáo truyền thống
dành cho tất cả những ai vừa xuất gia, phản ảnh lãnh vực
đầu tiên trong Tứ niệm xứ của Đức Phật, đó là thân
vật chất.
Trong kinh Mahasatipatthana, bài kinh về Tứ Niệm Xứ, một trong
những bài kinh chánh yếu của Đức Phật, đã chỉ bày cho
chúng ta bốn lãnh vực mà ta cần chú tâm thẳng đến: thân,
thọ, tâm và đối tượng của tâm.
Nếu thật sự quán sát bốn lãnh vực nầy với sự chú tâm
hoàn toàn, không xao lãng, và rõ ràng, chúng ta bắt đầu thấy
rằng chúng luôn biến đổi với thời gian. Chúng chuyển biến,
thay đổi từ phút này qua phút khác, khiến ta không thể bám
vào khoảng khắc của chúng. Quán tưởng về bốn đối tượng
không ngừng chuyển đổi nầy, ta sẽ thấ