(I)
Kính
thưa đại chúng, hôm nay là ngày 25 tháng 09 năm 2003, chúng
ta đang ở tại chùa Cam Lộ, Xóm Hạ, trong khóa tu mùa Thu.
Hiện
Pháp Lạc Trú
Chúng
ta thường nói tới con đường: con đường đưa tới giải
thoát, con đường đưa tới hạnh phúc, con đường đưa tới
hòa bình. Khi có ý niệm về con đường thì chúng ta đồng
thời có ý niệm là chúng ta vẫn còn đang trên con đường
đó, nghĩa là chúng ta chưa tới. Nếu chúng ta đang trên con
đường đi tới hạnh phúc, thì chúng ta chưa có hạnh phúc.
Nếu chúng ta đang trên con đường đi tới hòa bình, thì chúng
ta chưa có hòa bình. Nếu chúng ta đang trên con đường đi
tới giải thoát, thì chúng ta chưa có giải thoát, giải thoát
là vấn đề tương lai. Cái ý niệm về con đường có thể
gây ra hiểu lầm, có thể gây ra tai hại, một khi chúng ta
nói tới con đường như là quá trình phải đi tới. Trong khi
đó tại Làng Mai có câu: There is no way to happiness, happiness
is the way, là không có con đường nào đi đến hạnh phúc,
hạnh phúc chính là con đường. “There is no way to peace, peace
is the way”, không có con đường nào đưa tới hòa bình cả,
hòa bình chính là con đường. Giải thoát cũng vậy. Không
có con đường nào đi đến giải thoát, giải thoát chính là
con đường. Đó là pháp môn của Làng Mai.
Chúng
ta tu học như thế nào để có được giải thoát, có được
hạnh phúc, có được hòa bình ngay trong giây phút hiện tại,
mà đừng nghĩ rằng giải thoát, hòa bình và hạnh phúc là
cái gì chỉ có thể đạt tới trong tương lai. Theo nguyên tắc
đó, trong quá trình tu học, chúng ta phải tiếp xúc được
với hạnh phúc, giải thoát và hòa bình ngay trong giây phút
hiện tại, tại vì không có con đường đi tới hạnh phúc,
không có con đường đi tới giải thoát, không có con đường
đi tới hòa bình. Hạnh phúc là con đường mình đang đi, đi
mà có hạnh phúc. Giải thoát là con đường mình đang đi,
vừa đi vừa giải thoát. Hòa bình là con đường mình đang
đi, và mình phải có hòa bình trong mỗi giây phút của đời
sống hàng ngày. Đó là sự thực tập của chúng ta. Có như
vậy chúng ta mới thật sự thực tập được cái gọi là
Hiện Pháp Lạc Trú.
Hạnh
phúc là cái gì có thật hay không ? Mỗi chúng ta ai cũng có
kinh nghiệm những giây phút hạnh phúc, và cố nhiên là chúng
ta cũng đã có những giây phút khổ đau. Chúng ta thường hỏi:
'Hạnh phúc đó có phải là hạnh phúc chân thật hay không?
Khổ đau đó có phải là khổ đau chân thật không ? Hay tự
ta làm khổ ta ?' Cho nên xét lại cái quan niệm về hạnh phúc
và khổ đau là một sự thực tập.
Bản
Chất Của Thực Tại
Giáo
lý Tam Pháp Ấn, theo đạo Bụt Bắc Truyền là Vô Thường,
Vô Ngã và Niết Bàn, là ba đặc tính của thực tại, nghĩa
là thực tại là Vô Thường, thực tại là Vô Ngã, nhưng thực
tại cũng là Niết Bàn. Trong khi đó, ba đặc tính của thực
tại trong Đạo Bụt Nam Truyền là Vô Thường, Khổ và Vô
Ngã.
Nếu
thực tại là Khổ thì làm sao ta có hạnh phúc được. Chúng
ta nhìn vào cái bàn này, chúng ta nói cái bàn này là Vô Thường,
cái đó hiểu được. Chúng ta nói cái bàn này là Vô Ngã,
không có cái ngã riêng biệt, nếu không có những yếu tố
như là cây, rừng hay là thợ mộc... thì cái bàn này không
thể nào có được, vì vậy nói cái bàn là vô ngã thì ta
có thể hiểu được. Nhưng nói cái bàn là khổ thì thật
là khó hiểu. Bàn ơi mi có khổ không ? Sự thật là khi cái
bàn là vô thường mà ta nghĩ là nó thường thì ta khổ, khi
cái bàn là vô ngã mà ta nghĩ là nó có ngã thì ta khổ. Cái
khổ này không nằm trong cái bàn, mà nó nằm trong cái cách
ta nhìn cái bàn. Nhìn cái bàn và cho nó là thường, là ngã,
thì ta khổ thôi. Khổ không phải là bản chất của thực
tại. Khổ là kết quả của cái cách ta nhìn về thực tại.
Có
một kinh trong hệ A Hàm (thuộc Đạo Bụt Bắc Truyền) đã
sử dụng cụm danh từ Vô Thường, Vô Ngã và Niết Bàn tới
năm lần trong kinh này. Trong khi đó, ở thế kỷ thứ hai, thầy
Long Thọ đã nói tới Tam Pháp Ấn là Vô thường, Vô Ngã và
Niết Bàn, mà không phải là Vô Thường, Vô Ngã và Khổ. Chúng
ta thấy rõ là có một sự sai lầm trong khi truyền thừa kinh
điển. Có những thế hệ Phật tử đã quá bị ám ảnh bởi
cái danh từ Khổ, tại vì khi học Tứ Diệu Đế thì sự thật
đầu tiên là Khổ đế, cho nên họ đã muốn nhìn tất cả
bằng cái nhãn quang là Khổ. Có nhiều người thực tập cho
rằng nếu họ không tự nhắc 'đời là khổ', thì họ không
chứng đạo được, vì vậy cho nên họ cứ lặp lại 'đời
là khổ, đời là khổ'. Và lâu dần, 'đời là khổ' trở
thành ra một cái giáo điều. May mắn cho chúng ta là giáo lý
về Tam Pháp Ấn có ở trong một vài kinh được trao truyền
lại trong Đạo Bụt Bắc Truyền, thì ba đặc tính của thực
tại là Vô Thường, Vô Ngã và Niết Bàn. Chúng ta còn nhớ
một bài kệ rất nổi tiếng, trong đó có nói Niết Bàn là
hạnh phúc. Bài kệ đó là:
Chư
hành vô thường
Thị
sinh diệt pháp
Sinh
diệt diệt dĩ
Tịch
diệt vi Lạc
' Chư
hành vô thường' dịch ra tiếng Anh là all formations are impermanent.
Formation là danh từ chuyên môn của đạo Bụt. Chữ hành có
nghĩa là hiện tượng, tiếng Phạn là samskara. Cái bàn là
một hành, do đó cái bàn là vô thường (chư hành vô thường);
cái chuông là vô thường, ta là vô thường, cái nhà là vô
thường, núi sông là vô thường, tất cả những cái đó là
đều là hành cả. Chư hành vô thường tức là tất cả mọi
hiện tượng đều là vô thường. Thị sinh diệt pháp, chúng
nó đều là những pháp phải đi ngang qua Sinh và Diệt. Sinh
Diệt diệt dĩ. Sinh là birth, Diệt là death. Dĩ là xong rồi.
Một khi ý niệm sinh diệt đã được lấy ra rồi, đạt tới
sự vắng lặng rồi, thì tịch diệt vi Lạc, tức là sự vắng
lặng đó là hạnh phúc. Chữ tịch diệt này nghĩa là Niết
Bàn. Nirvana có nghĩa là extinction, tức là không còn nữa, là
vắng lặng, là sự tắt ngấm. Sinh và Diệt là một cặp đối
nghịch, có sinh thì có diệt, hễ còn sinh thì còn diệt, hễ
vượt thoát sinh diệt thì gọi là Niết Bàn. Niết Bàn là
sự vắng mặt của những ý niệm về sinh và về diệt.
Hãy
lấy hình ảnh của sóng và nước để giúp cho ta hiểu. Khi
nhìn một đợt sóng, ta thấy sóng có sinh có diệt : Đây là
điểm sinh của đợt sóng, đây là điểm diệt của đợt
sóng ; và đây là điểm sinh của đợt sóng khác, và đây
là điểm diệt của đợt sóng khác. Các pháp được ví dụ
là sóng, và hễ là sóng thì có lên có xuống, có cao có thấp,
có sinh só diệt. Đó là đứng về phương diện hiện tượng
(tích môn) mà nói. Còn đứng về phương diện bản thể (bản
môn), thì tuy sóng là sinh diệt nhưng sóng đồng thời cũng
là nước. Và khi sóng biết mình là nước rồi thì nó không
còn sợ sinh diệt nữa, tại vì nước thì không sinh không
diệt, không cao không thấp, không lên không xuống. Đối với
sóng lúc bấy giờ thì sinh cũng vui mà diệt cũng vui.
Niết
Bàn Là Hạnh Phúc
Vậy
ta phải thực tập làm sao để đạt tới Niết Bàn, đạt
tới Bản Môn ?
Sóng
là thuộc về thế giới của hiện tượng (Tích Môn). Nước
là thuộc về thế giới của bản thể (Bản Môn). Bản thể
là self nature, là cái entité ontologic. Sóng với nước không
phải là hai cái khác nhau. Sóng là nước, và nước là sóng.
Cho nên sóng cũng là nước đứng về phương diện hiện tượng.
Còn nước cũng là sóng đứng về phương diện Bản Thể.
Đứng về phương diện hiện tượng (sóng), thì ta thấy có
sinh có diệt, có có có không, có còn có mất. Khi mà đứng
về phương diện bản thể (nước) thì không có lên có xuống,
có sinh có diệt nữa. Sự vắng mặt của sinh diệt đó là
Tịch Diệt, là Niết Bàn. Vì vậy Niết Bàn là hạnh phúc,
và hạnh phúc này thật.
Sinh
Diệt diệt dĩ, tịch diệt vi Lạc, một khi mà không còn sinh
diệt nữa thì sự vắng lặng đó, Niết Bàn đó được gọi
là hạnh phúc. Nhưng sóng có cần phải hết là sóng thì mới
là nước không ? Không, sóng vẫn là sóng như thường, trong
khi là sóng thì nó vẫn là nước. Và cái hạnh phúc có liền
trong giây phút này, tức là trong khi đang còn là sóng thì nó
cũng là nước rồi, vì nó tiếp xúc được với bản thể
của nó là nước thì nó có hạnh phúc thôi. Cho nên một trong
những đặc tính của Niết Bàn là hạnh phúc, điều này không
phải là của Đại Thừa riêng mà của Đạo Bụt Nguyên Thỉ
nữa. Trong rất nhiều kinh, đức Thế Tôn đã nói Niết Bàn
là hạnh phúc. Như vậy hạnh phúc là có thật, và nó có thật
ngay bây giờ, không phải đợi tới sau này. Kinh Pháp Hoa nói
rằng, các pháp từ xưa đến nay đang an trú trong tự tánh
Niết Bàn của nó (chư pháp tùng bản lai, thường trụ tịch
diệt tướng), tức là cái bàn này tuy là vô thường, vô ngã
nhưng nó cũng là Niết Bàn trong giây phút này. Vô thường,
vô ngã và cặp đối lập của nó là thường, ngã, chỉ là
những cấu tạo của tâm thức mà thôi. Cái bàn này không
là thường mà kỳ thực cũng không vô thường, cái bàn này
không phải là ngã mà kỳ thực cũng không phải là vô ngã.
Vô thường và vô ngã được dùng để đối trị với ý niệm
về thường và về ngã. Và Niết Bàn là sự vắng mặt của
tất cả mọi ý niệm, trong đó có ý niệm về thường và
vô thường, ngã và vô ngã. Vô thường và vô ngã là thuốc
để trị bệnh thường và ngã. Một khi trị bệnh rồi thì
thuốc đâu cần sài nữa, bệnh đã mất rồi mà thuốc cũng
vất luôn. Do đó ý niệm thường là cái bệnh, thì thuốc
trị là vô thường ; ý niệm ngã là cái bệnh thì thuốc trị
là vô ngã. Tại vì có bệnh nên có thuốc, nếu không có bệnh
thì cần gì thuốc. Vì vậy Niết Bàn không phải là vô thường,
Niết Bàn không phải là vô ngã, Niết Bàn là không thường
cũng không vô thường, Niết Bàn là không ngã cũng không vô
ngã.
Khi
người ta cho rằng sự vật là thường, sự vật là ngã, thì
cái đó gọi là tà kiến. Tà kiến là vọng tưởng điên đảo.
Vọng tưởng nghĩa là tri giác sai lầm. Điên đảo nghĩa là
chổng ngược lại. Sự vật là vô thường mà cho là thường,
sự vật là vô ngã mà cho là ngã, đó là những cái thấy
chổng ngược lại, gọi là tà kiến, gọi là điên đảo (upside
down). Trong Tâm Kinh có câu là 'viễn ly điên đảo mộng tưởng
rồi mới cứu cánh Niết Bàn'. Tà kiến, dịch theo tiếng Anh
là perverted view, wrong view.
Bốn
Đức Tính của Niết Bàn
Theo
kinh Tam Pháp Ấn của Đạo Bụt Nam Truyền thì có bốn tà
kiến: Thường, Ngã, Lạc, và Tịnh. Sự vật vô thường thì
cho là thường, đó là tà kiến; sự vật vô ngã thì cho là
có ngã, đó là tà kiến; sự vật là không có hạnh phúc thì
cho là có hạnh phúc, đó là tà kiến; và sự vật là bất
tịnh, nhơ nhớp mà cho là thanh tịnh, đó là tà kiến. Cái
gì không có trong sạch, không có thanh tịnh, không có đẹp,
mà nghĩ là nó thanh tịnh, nó trong sạch, nó đẹp thì gọi
là tà kiến. Khi một số các thầy dạy về Tứ Niệm Xứ
thì các thầy ghép bốn đặc tính vô thường, vô ngã, khổ
và bất tịnh, coi đó là cái nhìn về thực tại. Và vì vậy
khi nói về Tứ Niệm Xứ thì các thầy nói rằng: Thân là
bất tịnh, thọ là khổ, tâm là vô thường, pháp là vô ngã.
Khi tôi còn là chú tiểu thì phải học thuộc những câu: Thân
bất tịnh , thọ thị khổ, tâm vô thường, pháp vô ngã. Học
như là giáo điều vậy, học như là nhồi sọ vậy. Thân,
Thọ, Tâm và Pháp là bốn đối tượng của sự quán chiếu,
gọi là Tứ Niệm Xứ, Four Foundations of Mindfulness. Các thầy
mới ghép bốn đặc tính của hiện hữu vào trong bốn lãnh
vực quán niệm: Thân bất tịnh, thọ thị khổ, tâm vô thường,
pháp vô ngã. Có cái gì sai ở trong mà ta phải tìm ra cho được.
Nó sai ở chỗ là: tâm vô thường nhưng tâm cũng vô ngã, pháp
vô ngã nhưng pháp cũng vô thường. Tại sao lại nói pháp chỉ
có vô ngã không thôi ? Tại sao chỉ có thân mới bất tịnh
thôi ? Tại sao chỉ có thọ mới là khổ thôi ? Chúng ta biết
là thọ có tới ba loại: lạc thọ, khổ thọ và xã thọ.
Thành ra, khi nói 'thân bất tịnh, thọ thị khổ, tâm vô thường,
pháp vô ngã' là có hơi gượng ép, hơi có tính cách giáo điều,
hơi có tính cách nhồi sọ, không đi đúng với tinh thần truyền
thống của đạo Bụt. Có cái gì sai ở trong ! Hồi còn nhỏ,
tôi học thuộc lòng câu 'thân bất tịnh, thọ thị khổ, tâm
vô thường, pháp vô ngã', học như là con vẹt vậy.
Theo
cái nhìn của Đạo Bụt Nam Truyền thì thường, lạc, ngã,
tịnh là bốn tà kiến. Vì nhìn cho kỹ có cái gì là thường
đâu, nhìn cho kỹ có cái gì là ngã đâu, nhìn cho kỹ có cái
gì là lạc đâu. Trong khi đó, Đạo Bụt Đại Thừa đã đi
đến định nghĩa bốn đặc tính của Niết Bàn lại là Thường,
Lạc, Ngã và Tịnh (theo kinh Đại Niết Bàn). Điều này làm
sao hiểu được nếu ta không phân biệt được Tích Môn và
Bản Môn. Đứng về phương diện tích môn, đứng về phương
diện sóng thì có sanh có diệt, có thường, có ngã; đứng
về phương diện bản môn, tức là nước, thì không còn có
sanh có diệt, không còn có thường có ngã nữa. Nếu hiểu
được Thường, Lạc, Ngã, Tịnh theo cái nghĩa siêu việt của
nó, siêu việt vô thường, siêu việt vô ngã, thì mới có
thể hiểu được đó là bốn đặc tính của Niết Bàn. Niết
Bàn là gì ? Niết Bàn là sự vượt thoát không những ý niệm
về thường mà vượt thoát ý niệm về vô thường, vượt
thoát ý niệm ngã và vô ngã, vượt thoát ý niệm lạc và
khổ, vượt thoát ý niệm tịnh và bất tịnh. Tất cả mọi
ý niệm đều có thể gây ra khổ đau. Niết Bàn, trước hết,
có nghĩa là sự vắng lặng, sự tắt ngấm. Sự vắng lặng
đây là sự vắng lặng của những ý niệm. Không những có
sự vắng lặng của ý niệm thường mà cũng có sự vắng
lặng của ý niệm vô thường, vì thường và vô thường là
một cặp. Cặp thứ hai là sinh và diệt, và Niết Bàn là sự
vắng mặt của cả sinh và diệt. Sinh diệt diệt dĩ, tịch
diệt vi Lạc, khi ý niệm về sinh và diệt vắng mặt rồi,
thì sự vắng mặt đó, sự tắt ngấm đó, sự vắng lặng
đó, được gọi là hạnh phúc. Cái Lạc này không phải là
cái lạc nằm trong cặp đối nghịch của lạc và khổ. Bây
giờ mình lấy một cái ví dụ để cho dễ hiểu : Có hai con
gà sắp bị đi làm thịt. Người ta ra chợ mua hai con gà để
làm giỗ, và trong hai giờ đồng hồ nữa hai con gà này sẽ
bị chọc tiết. Người ta đem cái lồng gà về, đem hạt bắp
và hạt lúa để cho chúng ăn trước khi chết. Hai con gà đánh
nhau, mổ nhau nói rằng: 'Hột bắp ngon hơn hay là hột lúa
ngon hơn ?' Chúng nó tranh nhau cái gì là ngon, cái gì là dở,
cái gì là hạnh phúc, cái gì là không hạnh phúc. Chúng không
biết rằng ăn hột bắp hay ăn hột lúa đều là khổ. Ăn
bắp cũng khổ, ăn lúa cũng khổ, tại vì cái sự thật là
chúng sẽ bị giết trong vòng hai giờ đồng hồ nữa. Chỉ
có một việc là tháo cái lồng ra cho chúng chạy thoát, khỏi
phải bị làm thịt, mới thật là hạnh phúc. Thành ra cái
lạc đích thật của chúng không phải trong chỗ hột bắp
ngon hay là hột lúa ngon, mà ở chỗ được tháo củi sổ lồng
bay đi và không bị giết. Vì vậy cái lạc mà hai con gà tranh
chấp nhau không phải là cái Lạc của Niết Bàn là vậy.
Cái
Lạc của Niết Bàn không nằm trong vòng tranh chấp của khổ
lạc tầm thường. Ví dụ: trúng số độc đắc là lạc, nghèo
kiết xác mồng tơi là khổ. Cái lạc, khổ đó nằm trong vòng
tương đối, quanh quẩn trong tà kiến: có tiền nhiều là hạnh
phúc, không có tiền nhiều là đau khổ. Một người đã được
giải thoát, đã thấy hạnh phúc nằm ở chỗ hiểu biết và
thương yêu thì thấy người kia rất là tội nghiệp. Người
kia có quan niệm về hạnh phúc và khổ đau của họ căn cứ
trên tiền tài, còn mình có quan niệm về hạnh phúc lớn hơn,
đó là khi nào mà có hiểu và có thương là mình có hạnh
phúc. Hạnh phúc của Niết Bàn không phải là hạnh phúc được
diễn tả trong sinh tử, trong Tích Môn. Quý vị thấy được
điều này thì mình mới đi tiếp được. Có thấy được
điều này không? Cái Lạc của Niết Bàn không phải là cái
lạc của sinh tử. Cái lạc của sinh tử thì đối chiếu với
cái khổ của sinh tử. Cái Lạc của Niết Bàn vượt thoát
cái lạc và cái khổ của sinh tử. Cũng như cái tự do của
hai con gà mới thật sự là Lạc, còn hai con gà tranh chấp
ăn cái này là ngon, ăn cái kia là không ngon, là thuộc về
cái lạc khổ của sinh tử. Chúng ta mất thì giờ tranh đấu
với nhau, ghanh ghét nhau, đánh lộn nhau, giết nhau là tại
chúng ta đi tìm cái lạc tránh cái khổ của tương đối mà
không biết rằng cái hạnh phúc thật sự nằm ở chỗ khác.
Tiên
Đoán Hạnh Phúc
Giữa
cái lạc/khổ của thế gian và cái Lạc của Niết Bàn có
sự liên hệ gì ? Quan điểm về hạnh phúc của thế gian là
khi mình có được đối tượng của năm dục thì mình mới
có hạnh phúc, tức là phải có tiền, phải có tài (tiền
tài). Có tiền nhiều thì hạnh phúc, có danh nhiều thì hạnh
phúc, có quyền lực nhiều thì hạnh phúc. Có tiền tài, danh
vọng, quyền lực, sắc dục là có hạnh phúc. Phần lớn chúng
ta đều nghĩ như vậy, và chúng ta đã đi tìm hạnh phúc ở
cái hướng đó. Có tiền thì có thể mua sắm được. Có nhiều
người nói mua được cái ti vi lớn đó, cái xe hơi đó, thì
là hạnh phúc. Bây giờ mình chưa có cái ti vi đó, chưa có
cái xe hơi đó, và mình nghĩ rằng: mua được cái xe hơi đó,
mua được cái ti vi đó là mình có hạnh phúc. Mình tiên đoán
hạnh phúc sẽ có được khi mình mua được chiếc xe đó,
mua được cái ti vi đó. Đứng về phương diện danh vọng,
mình nghĩ là nếu mình được bầu làm Tổng Thống, bầu làm
Dân Biểu Quốc Hội, hay mình giật được cái bằng cấp tiến
sĩ..., thì lúc đó mình mới có hạnh phúc, còn bây giờ mình
chưa có hạnh phúc. Hạnh phúc là khi nào mình giật được
mảnh bằng đó, mình được bầu vào chức vụ đó, thì mình
có hạnh phúc. Chúng ta đang đứng ở chỗ không có hạnh phúc,
và tiên đoán rằng sẽ có hạnh phúc khi mà chúng ta được
cái đó. Trước hết là chuyện mua sắm, thứ hai là chuyện
danh vọng. Nếu chúng ta quán chiếu và nghiên cứu để kiểm
chứng lại sự thật đó, thì chúng ta thấy rằng : một tuần
hay hai tuần sau khi mua xe hơi, thì cái hạnh phúc đó không
còn nữa. Một năm hay sáu tháng sau khi có chức vụ đó, hay
là có bằng cấp đó, thì ta không còn cảm thấy hạnh phúc
nữa. Những người nào đã đậu bằng tiến sĩ, nên nghĩ
lại là trước khi mình có cái bằng tiến sĩ đó, mình ước
ao nó như thế nào : 'Nếu mình không có bằng tiến sĩ chắc
là mình chết quá, mình sẽ không có hạnh phúc.' Nhưng khi
có cái bằng đó rồi, thì tự hỏi mình hạnh phúc được
mấy ngày, được mấy tuần hay mấy tháng ? Sự thật là mình
chỉ sử dụng cái điều kiện hạnh phúc đó trong một thời
gian rất là ngắn, sau đó sự kiện đó nó lờn và không đủ
sức làm cho mình có hạnh phúc nữa. Có hạnh phúc thiệt đó,
nhưng trong một thời gian ngắn thôi. Cấu trúc của cơ thể
và của tâm lý có công năng biến những cái đó ra bình thường,
không còn có tính cách kích động nữa. Cho nên cái điều
kiện ban đầu mình cho là hạnh phúc, khi mình đạt được
rồi, thì chỉ trong một thời gian ngắn nó sẽ lờn đi, nó
không còn có cái hấp dẫn lực nữa và không còn cho mình
hạnh phúc nữa. Ví dụ khi mình chưa xuất gia, mình nghĩ được
xuất gia mới là hạnh phúc. Khi được cạo đầu rồi, được
mặc áo nhật bình vô rồi, mới thật là hạnh phúc, chứ
bây giờ mình chưa có hạnh phúc. Nhưng xuất gia xong thì hạnh
phúc được kéo dài tới mấy tháng hay mấy năm, rồi sau đó
mình thấy không còn hạnh phúc nữa. Tại vì điều kiện mình
cho là căn bản có hạnh phúc đó, mình làm lờn đi. Thân và
tâm của mình có tác dụng làm cho lờn đi. Sau đó khi thấy
không có hạnh phúc nữa thì mình lại đi tìm cái điều kiện
hạnh phúc khác nữa. Cứ như vậy mà đi tìm hết cái này
đến cái khác. Tâm ta rong ruổi chạy theo đối tượng của
năm dục mà không bao giờ nhàm chán, đó là kinh Bát Đại
Nhân Giác (kinh Tám Điều Giác Ngộ Của Các Bậc Đại Nhân).
Được cái này rồi thì thấy cái này cũng chưa được thỏa
mãn, và chạy theo cái khác. Tâm mình cứ tiên đoán thời tiết
: nếu mà có được thêm cái đó là có hạnh phúc ; cứ như
vậy mà mình chạy về tương lai. Trong khi đó những điều
kiện hạnh phúc nhiều khi có đủ rồi hoặc là quá đủ,
mà mình không có thừa hưởng được. Cũng như một người
có đôi mắt đang sáng, tự nhiên mù không thấy gì được
nữa, thì rất là đau khổ. Và nghĩ rằng nếu người ta mổ
cho mắt mình sáng lại thì mình hạnh phúc biết bao. Cái điều
đó đúng, sau khi giải phẩu, mắt thấy lại thì hạnh phúc
thật, nhưng hạnh phúc vài ba tháng rồi mình lại quên và
mình coi hai con mắt sáng của mình không còn quan trọng nữa.
Chúng sanh rất dại dột. Những điều hạnh phúc đang có thì
không biết thừa hưởng, cứ ngồi đó mà tiên đoán, mà ước
mơ là nếu giả dụ mình có cái này, mình có kia thì mình
có hạnh phúc. Các vị chưa làm giáo thọ thì nói : 'Trời
ơi, mình mà làm giáo thọ thì oai lắm, lúc đó mình mới có
hạnh phúc.' Nhưng làm giáo thọ rồi thì có hạnh phúc gì
đâu, đôi khi còn mệt hơn nữa. Cái tiên đoán đó thường
thường là không đúng, trước hết là tầm quan trọng của
nó, thứ hai là thời gian của nó. Mình nghĩ rằng có cái ti
vi đó mình sống hạnh phúc suốt đời, năm này qua năm khác.
Nhưng mua ti vi về được hai tuần, mình bắt đầu lờn, mình
thấy không có hạnh phúc gì mấy. Mình tưởng là có cái bằng
cấp đó rồi thì mình sẽ hạnh phúc suốt đời, ai dè cái
bằng cấp đó chỉ hấp dẫn mình sáu tháng hay một năm rồi
mình thấy cái chuyện có bằng cấp cũng không có gì đặc
biệt, thành ra mình không có hạnh phúc nữa, và mình bắt
đầu đi tìm cái khác. Đó là cái sự thật về quan niệm
hạnh phúc của mình.
Thích
Ứng Với Hoàn Cảnh
Không
những hạnh phúc như vậy mà khổ đau cũng như vậy. Giả
tưởng là một ngày nào đó mình bị tai nạn xe hơi, mình
sẽ đi giải phẩu và bị cụt một chân. Bây giờ chưa có
tai nạn đó, nhưng mình nghĩ nếu cái tai nạn đó xảy ra cho
mình thì chắc là mình chết quá. Mình mà cụt chân thì đâu
còn gì là cuộc đời nữa. Hoặc là trong gia đình có một
người thân chết đi thì làm sao mình sống nỗi. Thành ra mình
tiên đoán thời tiết, nếu cái đó xảy ra cho mình, mình không
sống nỗi. Sự thật là người ta sống được hết, tại
vì thân và tâm của mình có khả năng thích ứng với hoàn
cảnh. Cho dù cụt một chân mình vẫn sống được, vẫn có
thể có được niềm vui. Dầu người mình thương nhất ở
trong gia đình mất đi, mình đau khổ, nhưng thân và tâm mình
học thích ứng được với hoàn cảnh, mình vẫn có thể sống
được, la vie continue, sự sống vẫn tiếp tục được như
thường. Mình phải trông thấy được điều đó. Thân và
tâm của mình làm cho bình thường hóa, làm cho những cái excitement
dịu xuống, làm cho những khổ đau dịu xuống.
Trong
đạo Bụt có nói tới hỷ và lạc. Hỷ chưa phải là Lạc.
Hỷ tức là niềm vui sắp được cái đó. Cũng như một người
đi trong sa mạc, sắp chết khát rồi mà thấy được một
cái hồ nước, thì tuy là chưa có uống nước nhưng mà đã
có hỷ rồi, đã có niềm vui rồi. Trong hỷ có cái thao thức,
có cái bồn chồn (exciting). Khi mình quỳ xuống bên bờ hồ
vóc nước lên uống, lúc đó lạc phát sinh. Giữa hỷ và lạc
có sự khác nhau. Trong lạc không còn cái thao thức, bồn chồn
của lúc ban đầu. Đối với khổ đau cũng vậy. Mình chưa
bị tai nạn, mình chưa mất người thương, mình chưa bị mù,
nhưng nghĩ rằng mình có tai nạn, mình bị mù, mình mất người
thương, thì mình sống không nỗi, mình đã bắt đầu khổ
rồi, tuy là cái khổ chưa tới. Khi cái khổ tới rồi, thì
thân và tâm mình sẽ vận động, sẽ hành động, và có thể
thích ứng được. Đó là sự thật có thể kiểm chứng bằng
những cuộc thí nghiệm, rất là khoa học.
Ba
Lời Ước
Bây
giờ áp dụng lại, quý vị có thể làm thử một bài tập
là : Những cái gì mình nghĩ là rất thiết yếu cho cái hạnh
phúc mà mình chưa đạt được, thì quý vị hãy gọi tên nó
ra và viết xuống một tấm giấy. Mỗi người đều có quyền
có ba lời ước : 'Nếu mà tôi được cái này..., tôi được
cái kia..., cái nọ..., là tôi có hạnh phúc.' Viết xuống ba
lời ước đó rồi quán chiếu coi thử. Đó là cái giây phút
bây giờ mình có ba lời ước. Ai trong chúng ta mà không có
ba lời ước. Và chúng ta hãy nhảy lui năm năm về trước.
Chúng ta nhìn lại năm năm về trước, ba lời ước đó là
ba lời ước nào, đã có lời ước nào đã được thực hiện
chưa, nếu thực hiện rồi tại sao ta không có hạnh phúc ?
Quý vị làm thử đi rồi sẽ thấy cái chân lý, cái sự thật
bởi chính mình chứ không phải do một người nào khác trao
truyền lại. Trong giây phút hiện tại, chúng ta có một ý
niệm về hạnh phúc. Chúng ta nghĩ rằng nếu chúng ta có điều
kiện này, thì hạnh phúc sẽ lớn lắm, đó là giây phút hiện
tại. Rồi chúng ta đi về quá khứ, năm năm về trước hoặc
mười năm về trước, chúng ta có những ước vọng gì, và
những ước vọng đó đã thành tựu chưa. Một trong ba cái
đã thành tựu chưa ? Giả dụ đã thành tựu rồi mình đang
có hạnh phúc không, hay là cũng vậy thôi. Tiên đoán thời
tiết là nếu ta có cái đó thì ta sẽ có hạnh phúc. Có vị
nói : 'Chà được qua bên Pháp, ở Làng Mai chắc là hạnh phúc
lớn lắm.' Ngày đêm trông ngóng, ngủ không được, ăn không
được, làm sao có được chiếu kháng, hộ chiếu, lên được
trên máy bay ngồi thao thức. Nhưng khi qua bên Làng Mai thì khóc
quá chừng. Cái tiên đoán thời tiết đó trật lất. Cái đó
gọi là forcasting. Forcasting errors là những cái lầm lỗi trong
khi tiên đoán thời tiết. Chúng ta thấy trong quá khứ có nhiều
khi ông weatherman tiên đoán thời tiết trật lất hết. Chúng
ta cũng vậy. Chúng ta tiên đoán hạnh phúc rất là trật, và
chúng ta người nào cũng vấp phải. Hạnh phúc của chúng ta
tùy thuộc ở chỗ chúng ta có đang làm chuyện đó không ?
Chúng ta đang có tiên đoán thời tiết hay không ? Chúng ta nghĩ
rằng hạnh phúc chỉ có được trong tương lai khi mà những
điều kiện đó được thực hiện, đó là cái bẫy của tất
cả chúng ta. Câu hỏi đúng cần được đặt ra là: Nếu chúng
ta không biết được cái gì làm cho chúng ta có hạnh phúc
trong giây phút hiện tại, thì làm sao ta biết được những
cái gì làm cho ta hạnh phúc trong tương lai ? Phải hỏi câu
hỏi đó. Thành ra, mỗi chúng ta sẽ đặt câu hỏi trong giây
phút hiện tại này, cái gì sẽ làm cho ta hạnh phúc. Đó là
câu hỏi rất là thiết yếu. Mà cái gì đó có thể có thật
hay không ? Có được liền hay không ? Nếu chúng ta không nhận
diện được điều kiện có thể làm cho ta có hạnh phúc trong
giây phút hiện tại, thì làm sao ta có thể tiên đoán được
cái mà làm cho ta có hạnh phúc trong tương lai. Sự thật là
trong hiện tại, mình không biết cái gì có thể làm cho mình
có hạnh phúc được, nhưng mình phải biết cái gì đem lại
hạnh phúc thật cho mình. Nếu biết được rồi thì có hạnh
phúc liền lập tức. Hạnh phúc không phải là cái gì trong
tương lai, hạnh phúc không phải là con đường, hạnh phúc
không phải là cái gì có ở cuối đường nữa, mà hạnh phúc
nằm ngay trên mỗi bước chân trên con đường. Ví dụ sư
cô Minh Hương tự hỏi, trong giây phút hiện tại cái gì làm
cho mình có hạnh phút ? Mình có thể thí nghiệm liền lập
tức : Mì gói hay là có sư chị ngồi một bên. Những điều
kiện đó mình cứ thử đi. Đó là sự thực tập. Chúng ta
có thể tìm hiểu và thấy một cách rõ ràng. Nếu biết được
cái gì có thể làm cho mình hạnh phúc ngay trong giây phút hiện
tại, thì mình có hạnh phúc liền. Không cần ngồi đó mà
đau khổ, mà tiên đoán thời tiết là sau này ta sẽ có hạnh
phúc nếu ta có cái này, cái kia. Cái Lạc này không phải là
vấn đề tương lai, nó là vấn đề hiện tại.
Chúng
ta mới nói tới vấn đề tiền tài, mua sắm, danh vọng, bằng
cấp, địa vị, chúng ta chưa nói tới quyền lực. Có quyền
thì có hạnh phúc. Mình ra lệnh thì người ta theo, mà mình
không cần phải theo lệnh của ai hết. Đó là một cái hạnh
phúc. 'Có quyền ra lệnh, có quyền làm cái này cái kia, hạnh
phúc rất là lớn', mình nghĩ như vậy. Mình nghĩ đến tổng
thống Bush, ông có quyền rất là lớn, tại vì ông làm tổng
thống một nước rất là lớn. Mình có thể tưởng tượng
ông tổng thống Bush ăn không ngon, ngủ không yên: cái đầu
nằm ở Irac, cái đầu nằm ở Liên Hiệp Quốc, cái đầu
nằm ở nước Pháp. Quyền lực rất là lớn, nhưng mà đau
khổ cũng rất là lớn. Mình có thể thấy được những âu
lo, ưu tư, những dằn vặt của ông tổng thống đó. Trong
khi đó, bao nhiêu người thanh niên Mỹ đều ôm ấp là làm
sao, sau này mình được làm tổng thống Mỹ. Người con trai
Mỹ nào cũng ôm ấp cái ước vọng đó. Và cái tiên đoán
thời tiết đó rất là trật. Còn chuyện sắc dục cũng vậy.
Nếu được ngủ với anh chàng đó, nếu được ngủ với
cô nàng đó, chắc là hạnh phúc lắm. Nhưng mà đi tới đó
rồi sẽ biết. Tất cả những việc làm của chúng sanh là
ngồi đó mà tiên đoán, mà ước mơ những điều kiện. Thường
thường những tiên đoán đều trật, không trật hoàn toàn
nhưng có thể trật hai phần ba, hoặc là hơn hai phần ba.
Mỗi
khi mình có điều kiện hạnh phúc đó rồi, ví dụ như là
một cái danh vọng, một cái bằng cấp, một cái địa vị,
hay là một số tiền lớn, mình vẫn tiếp tục đau khổ như
thường. Những cái đó ban đầu cho mình những cái 'exiting',
nhưng sau đó thân và tâm mình chấp nhận và biến nó thành
ra bình thường, và nó hết trở thành một điều kiện của
hạnh phúc. Đó là sự thật. Trong đời của một con người,
dầu mới có hai mươi mấy tuổi, mình cũng đã thấy điều
đó đã xảy ra trong quá khứ của đời mình rồi, mình cần
phải học từ những cái đó.
(II)
Kính
thưa đại chúng hôm nay là ngày 28 tháng 09 năm 2003 chúng ta
đang ở tại Xóm thượng trong khóa mùa Thu.
Thế
Nào Là Hạnh Phúc ?
Hôm
thứ năm, chúng ta đã đặt ra câu hỏi: Nếu chúng ta không
biết cái gì có thể làm cho chúng ta hạnh phúc ngay trong giây
phút hiện tại, thì làm sao chúng ta biết được cái gì làm
cho chúng ta hạnh phúc trong tương lai ? Câu hỏi đó rất là
quan trọng. Câu hỏi đó có liên hệ đến câu hỏi: Hạnh
phúc trong hiện tại có thể có được hay không ? Chúng ta
có đủ những điều kiện để có hạnh phúc trong hiện tại
hay không ? Trước hết, chúng ta hãy thử định nghĩa thế
nào là hạnh phúc.
Hạnh
phúc trước hết là một cảm thọ, gọi là lạc thọ, pleasant
feeling. Nhưng lạc thọ chưa hẳn là hạnh phúc. Khi nhìn các
em bé đang nô đùa một cách rất vô tư, không luyến tiếc
quá khứ, không lo lắng tương lai, chúng ta thấy các em như
là đang ở trong thiên đường. Đó là hạnh phúc. Nhưng không
biết các em có biết là các em đang có hạnh phúc hay không
? Đang nô đùa, đang rong chơi, không lo lắng, chưa hẳn đó
là hạnh phúc. Mình không biết là mình đang có hạnh phúc,
thì cái hạnh phúc đó chưa hẳn là hạnh phúc chân thật.
Có nhiều người đang sống trong những điều kiện rất thuận
lợi, không có vấn đề, không có lo lắng, không có sầu khổ,
đáng lý ra là những người đó có hạnh phúc. Cho nên sống
trong những điều kiện thuận lợi coi như chưa phải là hạnh
phúc. Không thể định nghĩa rằng hạnh phúc là một cảm
thọ dễ chịu, một cái lạc thọ. Chúng ta có thể định
nghĩa hạnh phúc là ý thức mình đang có về lạc thọ. Lạc
thọ chưa phải là hạnh phúc, mà ý thức rằng mình đang có
lạc thọ thì mới thật là hạnh phúc. Những em bé đang nô
đùa trong thiên đường, các em không biết là các em đang có
hạnh phúc. Chỉ khi nào các em lớn lên và mất cái thiên đường
đó rồi, các em mới biết rằng mình đã từng có hạnh phúc.
Yếu
tố chánh niệm là yếu tố căn bản. Nếu mình hạnh phúc
mà không biết rằng mình đang hạnh phúc thì cái đó chưa
phải là hạnh phúc. Mình có thể tạm đưa ra một định nghĩa
về hạnh phúc, tức là ý thức được rằng mình đang có
một lạc thọ. Nhưng định nghĩa đó chưa có tuyệt đối,
tại vì có thể mình đang không có lạc thọ, nhưng mình vẫn
có hạnh phúc như thường. Ví dụ mình đang khuân vác một
cái gì đó nặng, nhưng nghĩ rằng khuân vác như vậy đem lại
hạnh phúc cho tăng thân, cho người thương của mình, thì trong
khi đang khuân vác nặng nề như vậy mình cũng có thể có
hạnh phúc. Cảm thọ lúc đó không hẳn là lạc thọ, nhưng
vì ý thức được mình đang làm một việc có ý nghĩa, do
tình thương xúc tác, thì lúc đó trong tâm phát sinh một lạc
thọ, lạc thọ đó có thể đi đôi với khổ thọ (là mình
đang chịu đựng về thân xác, mình đang khuân vác cực nhọc,
không được nghỉ ngơi), thì đó cũng là hạnh phúc. Các vị
Bồ Tát đang lăn mình vào trong những hoàn cảnh khổ đau để
cứu vớt chúng sanh, thì tuy là họ đang bị sức nóng của
chiến tranh, của áp bức, của nghèo khổ đè nặng, nhưng
vì họ có tâm trí của đại bi, đại từ cho nên họ không
có khổ đau, và họ có hạnh phúc. Vì vậy hạnh phúc không
thể định nghĩa đơn thuần là lạc thọ mà thôi. Trong tâm
vị bồ tát có bình an và có tình thương, thì dù có những
khổ thọ vị bồ tát vẫn chịu đựng được rất dễ dàng,
tại vì vị bồ tát có hạnh phúc trong khi làm công việc nặng
nhọc như vậy. ở trong hoàn cảnh khó khăn như vậy, ý thức
rằng mình đang làm cái đáng làm, mình đang làm những việc
cao quý có ý nghĩa, có lợi ích cho cuộc đời, thì với cái
ý thức đó nó sẽ đem tới hạnh phúc. Định nghĩa 'hạnh
phúc là một lạc thọ' là một định nghĩa quá hẹp hòi,
đơn giản. Tâm mình đóng một vai trò rất quan trọng. Tâm
mình không phải chỉ là lạc thọ hay chỉ là cảm thọ thôi.
An
Lạc Là Chân Hạnh Phúc
Trong
văn học Phật giáo, chữ lạc thường đi đôi với chữ an,
an lạc. An có nghĩa là bình an, peace. Lạc có nghĩa là hạnh
phúc. Hạnh phúc thường đi đôi với cái an, không có an thì
chưa hẳn là có lạc. Dù mình đang uống rượu, dù mình đang
ăn thức ăn rất là ngon, dù mình mới trúng số độc đắc,
nhưng nếu tâm không có an thì cái đó chưa hẳn là lạc. Có
những người nghe tin mình trúng số độc đắc thì ngất xỉu,
tại vì họ chịu đựng không nỗi cái tin mừng đó, tại
vì trong tâm họ không có an. Cái tin đó chỉ là một chất
xúc tác, một cái exiting, một sự kích động. Nếu đó là
sự kích động thì trong đó không có cái an, nếu không có
an thì trong đó không thực sự là có lạc. Trong khi mình theo
đuổi và hưởng thụ ngũ dục, ví dụ khi mình đang ăn một
cái gì đó, đang uống một cái gì đó, đang có những liên
hệ xác thịt với một người nào đó, thì có thể trong khi
ăn cái đó, uống cái đó, có liên hệ xác thịt đó, thì
mình cho cái cảm giác lúc đó nó là lạc thọ. Nhưng trong
cái lạc thọ đó, mình hãy tự hỏi nó có cái an hay không?
Nếu không có an thì cái đó không phải là lạc, mà là mình
đang bị một ngọn lửa đốt cháy. Ngọn lửa đó là ngọn
lửa của dục. Tham ăn, bị chìm đắm trong biển Vị mênh
mông, đó là một cái dục. Thèm nghe hát nhạc Rock, nhạc tình
sầu đứt ruột, thì đắm chìm trong biển Thanh mênh mông,
đó là một cái dục. Trong khi mình hưởng thụ những hương
vị đó, những âm thanh đó, thì trong người mình bị thiêu
đốt, cái thiêu đốt bởi dục. Nếu có ngọn lửa của sự
đam mê đốt cháy thì tuy mình có thể diễn tả cái đó là
một lạc thọ, nhưng lạc thọ đó không phải là hạnh phúc.
Tại vì nó không có yếu tố an ở trong đó, không có an thì
không có lạc. Trong ngôn từ đạo Bụt, luôn luôn là an đi
đôi với lạc, an lạc - yên vui. Không có yên thì không có
vui. Cho nên mình có thể nhận diện ra được cái chân hạnh
phúc và cái không phải là chân hạnh phúc. Người đời chỉ
muốn có những cảm giác lạc thọ mà ít khi để ý hay phán
xét cái đó có thật là lạc thọ, là hạnh phúc hay không.
Cho dù trong cái lạc thọ đó nó có ít yếu tố của sự bất
an, của sự đốt cháy, thì cái lạc thọ đó cũng không phải
là hạnh phúc chân thật. Giây phút của khoái lạc đó có
thể kéo theo giây phút của sự khổ đau. Ví dụ như khi mình
buồn quá, mình đi uống rượu. Trong khi uống rượu mình thấy
bớt buồn và mình nghĩ là có hạnh phúc. Nhưng kỳ thực,
sau khi uống rượu nhiều rồi thì lại chồng chất thêm những
cái khổ thọ khác lên, mà cơn buồn sẽ trở lại khi mình
tỉnh rượu. Sử dụng ma túy cũng vậy hay là đắm mình trong
sắc dục cũng vậy, để quên bớt những khổ đau, để quên
bớt những cô đơn. Nhưng sau những hưởng thụ dục lạc
đó thì những khổ đau ban đầu hiện hình ra rõ ràng hơn
trước. Vì vậy những giây phút đó không thể được định
nghĩa là những giây phút thực sự là hạnh phúc, tại vì
nó là nền tảng, là nguyên nhân của những giây phút khổ
đau sau này, những cái khổ thọ sau này.
Khổ
Đau Và Hạnh Phúc
Sau
khi đã xét liên hệ giữa lạc (không có an) và Lạc (có an),
bây giờ chúng ta xét tới liên hệ giữa khổ và lạc, tức
là khổ đau và hạnh phúc. Khổ đóng một vai trò rất là
quan trọng để tạo ra lạc. Nếu không có khổ thì không có
lạc. Ví dụ khi chúng ta không có đói, không biết đói là
gì, thì chúng ta không được cái hạnh phúc của sự ăn ngon.
Khi chúng ta không biết lạnh là gì, thì chúng ta không biết
được hạnh phúc của sự ấm áp. Hạnh phúc là cái gì chỉ
có thể nhận diện được trên bối cảnh của khổ đau mà
thôi. Bối cảnh, tiếng Anh là background. Cũng như khi chúng
ta đang ở ngoài trời lạnh buốt mà chúng ta mở cửa đi vào
trong nhà, chúng ta cảm thấy ấm quá, dễ chịu quá, hạnh
phúc quá, thì cái hạnh phúc khi bước vào nhà là do cái đau
khổ bị chịu lạnh ở ngoài trời. Nếu chúng ta ở trong nhà
độ chừng mười phút hoặc mười lăm phút, thì chúng ta quên
đi cảm giác đó, chúng ta không thấy hạnh phúc nữa. Chúng
ta phải ra ngoài để thấy lạnh rồi đi vô mới thấy hạnh
phúc lại, đó là điều kiện của con người, condition du man,
là như vậy. Chúng ta phải nhờ có khổ đau thì chúng ta mới
nhận diện được hạnh phúc. Đó là cái contrast, cái tương
đãi, cũng như là ánh sáng và bóng tối. Nếu không có đêm
thì ta không thấy được ngày là sáng. Có đêm, có ngày thì
mình mới biết đêm là quý, và ngày là quý. Tưởng tượng
mình chỉ có ngày thôi mà không có đêm thì buồn biết mấy,
và mình sẽ không biết được cái quý giá của ngày. Nếu
chỉ có đêm thôi mà không có ngày thì làm sao thấy được
cái êm đềm của đêm, mình sẽ thấy đêm dài đặc. Mình
đã thấy ngày rồi cho nên thấy đêm là hạnh phúc, mình đã
sống cả đêm rồi cho nên thấy ngày là hạnh phúc. Hạnh
phúc tùy thuộc ở khổ đau. Muốn loại trừ khổ đau ra để
chỉ có hạnh phúc thôi là một ý niệm rất là ngây thơ,
khờ dại. Khi có chiến tranh thì chúng ta mới biết hòa bình
là quý. Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta nên duy trì
chiến tranh, chiến tranh luôn luôn có, tại vì loài người
có quá nhiều tham, sân, si, cho nên chiến tranh cứ tiếp tục
hết nơi này đến nơi khác. Thành ra chúng ta đâu cần phải
tạo thêm chiến tranh để có điều kiện nhận diện ra hòa
bình. Chiến tranh luôn luôn có mặt: nó có ở trong nội thân
của chúng ta, nó có ở trong sự liên hệ giữa ta và người
ta thương. Chiến tranh là thường xuyên, và nhờ chiến tranh
cho nên chúng ta mới nhận diện được hòa bình là quý. Hòa
bình ở trong bản thân, hòa bình giữa ta với người ta thương,
hòa bình giữa ta với đoàn thể chúng ta đang sống. ý niệm
về Thiên Đường hay Tịnh Độ, là một nơi không có khổ
đau là một ý niệm rất ngây thơ. 'Xá Lợi Phất ! Tại sao
cõi đó gọi là Cực Lạc? Tại vì nhân dân ở cõi đó không
biết khổ là gì, vì vậy cho nên cõi đó gọi là Cực Lạc.'
Câu kinh này ở trong kinh A Di Đà, là một câu kinh không có
liễu nghĩa. Câu này chỉ biểu lộ lòng từ bi của Bụt mà
thôi. Bụt thấy chúng sinh khổ quá, ao ước trốn tránh khổ
đau, cho nên Bụt mới nói như vậy để cho hấp dẫn. Thật
ra, nếu không có khổ đau thì không thể nào có hạnh phúc
được. Câu kinh trong kinh A Di Đà là chứng tỏ cái hiểu của
Bụt về tâm trạng của chúng sanh là chỉ muốn trốn tránh
đau khổ để đi tìm hạnh phúc. Ngài đưa ra một cái bánh
để chúng sanh chạy theo. 'Xá Lợi Phất ! Tại sao cõi đó
gọi là Cực Lạc? Tại vì nhân dân ở cõi đó không biết
khổ là gì, vì vậy cho nên cõi đó gọi là Cực Lạc.' Sự
thật nếu ta không biết khổ đau là gì thì ta cũng không biết
hạnh phúc là gì. Thiên Đường cũng vậy. Chúng ta không nên
gởi con cháu của chúng ta tới những nơi không có khổ đau,
nếu con cháu chúng ta tới những nơi không có khổ đau thì
chúng nó sẽ không biết gì là hạnh phúc. Không có khổ đau
thì làm sao mình tập hiểu và tập thương được ! Nếu không
có chất liệu hiểu và thương thì đố mà anh có hạnh phúc
được. Chỉ khi nào trong trái tim anh có chất liệu hiểu và
thương thì anh mới có hạnh phúc. Nếu không có khổ đau,
thì làm sao anh biết hiểu và làm sao anh biết thương. Hiểu
cái gì? Thương cái gì? Do đó định nghĩa về Thiên Đường
hay Cực Lạc là chỗ không có khổ đau là một định nghĩa
rất ngây thơ. Thế hệ của quý vị phải thấy cho rõ. Chúng
ta không phải là một bầy con nít mà bất cứ ai nói cái gì
thì chúng ta tin cái đó. Chúng ta phải quán chiếu bằng trí
tuệ của chúng ta. Hạnh phúc là một cái gì chỉ nhận diện
được khi có đau khổ. Hạnh phúc chỉ nhận diện được
trên cái bối cảnh khổ đau mà
thôi.
Cũng như cái ấm được nhận diện trên bối cảnh của cái
lạnh; cái no được nhận diện trên bối cảnh của cái đói.
Chạy trốn khổ đau là một thái độ không phù hợp với
tinh thần của giáo lý đạo Bụt. Chúng ta phải đối diện
khổ đau, phải nhìn vào khổ đau, hành động đó giúp chúng
ta nhận diện được thế nào là hạnh phúc.
Hạnh
Phúc Nằm Trong Tâm
Sự
thật thứ nhất là Khổ Đế, rất cần thiết để chúng ta
nhận diện được sự thật thứ ba. Sự thật thứ ba là sự
chấm dứt của khổ, có nghĩa là hạnh phúc. Sự thật thứ
nhất và sự thật thứ ba có liên hệ với nhau, nếu không
có sự thật thứ nhất làm gì có sự thật thứ ba, nếu không
có sự thật thứ ba làm gì có sự thật thứ nhất. Sự thật
thứ nhất là khổ đau, sự thật thứ ba là hạnh phúc. Sự
thật thứ hai là con đường đưa tới khổ đau. Sự thật
thứ tư là con đường đưa tới hạnh phúc. Có hai cặp chân
lý. Cặp đầu là đau khổ và con đường đưa đến đau khổ.
Cặp thứ hai là hạnh phúc và con đường đưa tới hạnh phúc.
Đó là giáo lý Tứ Diệu Đế. Hai cặp đó đi đôi với nhau,
nếu không có cặp này thì không có cặp kia.
Khi
cầm cây bút thẳng đứng, thì chúng ta thấy rất rõ là có
trên có dưới. Hễ có trên thì thế nào cũng phải có dưới,
hễ có dưới thì thế nào cũng có trên. Làm sao chỉ có trên
mà không có dưới được, đó là chuyện vô lý. Nếu chúng
ta để cây bút nằm ngang, chúng ta thấy có trái và có mặt.
Nếu có trái thì phải có mặt, nếu có mặt thì phải có
trái. Nếu mình thuộc về phe tả thì đừng mong ước phe hữu
không có mặt, tại vì nếu phe hữu không có mặt thì phe tả
cũng không có mặt, cái này gọi là tương đãi. Mình phải
hiểu hạnh phúc trong văn mạch đó thì mới biết hạnh phúc
là gì. Hạnh phúc không thể nào được nhận diện nếu không
có bối cảnh của khổ đau. Mà khổ đau thì luôn luôn có
đó, tham, sân, si luôn luôn có đó, nhận diện được khổ
đau thì ta có thể nhận diện được hạnh phúc.
Chúng
ta đã tìm ra liên hệ giữa lạc và Lạc, giữa khổ và Lạc:
Có khi ta đi trong mưa lạnh nhưng ta có hạnh phúc; có khi ta
ngồi trong ấm áp mà ta không có hạnh phúc. Ví dụ chúng ta
nghe một người thân đang bị tai nạn, chúng ta không có cơ
hội đi ra ngoài để tìm cách cứu trợ người thân của chúng
ta, thì chúng ta đau khổ vô cùng, dù chúng ta đang ở trong
chỗ ấm áp. Hạnh phúc lúc đó là được cứu giúp người
thân dù phải đi ra chỗ mưa lạnh, hạnh phúc lúc đó không
phải được ngồi yên trong nhà ấm nữa, người đó sẽ đau
khổ. Liên hệ giữa lạc và khổ tương đối. Hạnh phúc nằm
ở trong tâm mà không phải ở hoàn cảnh. Thường thường
mình hay nghĩ tới hạnh phúc trong cái văn mạch của sự mua
sắm. Có cái xe hơi đó, có cái nhà đó, có cái bằng cấp
đó, thì có hạnh phúc; có được tiền để đi du lịch là
có hạnh phúc. Tất cả những cái mình nghĩ tới hạnh phúc
như là một điều kiện ngoại tài, điều kiện đi tìm ở
ngoài, trong khi hạnh phúc tùy thuộc vào tâm của mình rất
nhiều.
Hạnh
Phúc Trong Từng Phút Giây
Trong
sự thực tập của Làng Mai, chúng ta thường nghe và được
nhắc nhở rằng chúng ta có nhiều điều kiện hạnh phúc rồi,
nhiều hơn là chúng ta tưởng. Chúng ta chỉ cần trở về trong
giây phút hiện tại để nhận diện những điều kiện hạnh
phúc thì ta có hạnh phúc liền. Người đời nghĩ rằng hạnh
phúc không thể có được trong giây phút hiện tại, cho nên
họ mới đi tìm thêm một số điều kiện chưa có, vì vậy
họ phóng tâm về tương lai. Còn chúng ta là người tu, chúng
ta không nên làm như họ, không được làm như họ. Giáo lý
Hiện Pháp Lạc Trú nói rất rõ ràng là hạnh phúc có thể
có được trong giây phút hiện tại, đó là một sự xác quyết
của đức Như Lai. Đức Như Lai nói rằng mình có thể sống
hạnh phúc được trong giây phút hiện tại. Chúng ta cần những
gì, những điều kiện nào để có thể hạnh phúc ngay trong
giây phúc hiện tại? Trở về với giây phút hiện tại, tiếp
xúc với những điều kiện hạnh phúc đã có và đang có.
Câu hỏi được trả lời liền, và những điều kiện đó
ta có thể nêu ra rất rõ ràng. Và những điều kiện đó có
mặt, nếu những điều kiện đó có mặt mà ta không có hạnh
phúc là tại vì ta mà thôi. Khi ngồi ăn cơm thì mình ăn như
thế nào để có hạnh phúc trong khi ăn. Khi từ liêu xá của
mình đi ra thiền đường, thì đi như thế nào để có hạnh
phúc trong khi đi. Buổi sáng thức dậy có được một giờ
để ngồi thiền, thì ngồi như thế nào để có hạnh phúc
trong khi ngồi. Buổi chiều có một giờ chấp tác, thì chấp
tác thế nào để trong giờ chấp tác đó mình có hạnh phúc.
Buổi sáng mình có hai phút để chải răng, trong hai phút để
chải răng thì chải như thế nào để có hạnh phúc, để
có an và có lạc. Mỗi ngày được đi cầu một lần hay hai
lần, đi cầu làm sao để trong khi đi mình có an, có lạc.
Sự thực tập rất rõ ràng. Làm được hay không làm được,
cái đó là do mình thôi. Tại vì những điều kiện hạnh phúc
mình có rồi. Nếu trong khi đi cầu mình không có an thì làm
sao lạc được, trong khi chải răng mình không có an thì làm
sao có lạc được. Quý vị có thể tự biết rằng trong khi
chải răng mình có an hay là không. Cái tập khí đi như bị
ma đuổi, làm như bị ma đuổi, mình có thể nhận diện và
đối phó với nó được hay không? Có thể an trú trong giây
phút hiện tại không? Đó là công phu hàng ngày của mình.
Nếu mình giảng một bài giảng về hạnh phúc, hay viết một
cuốn sách về hạnh phúc, thì mình phải nói những điều
đó. Nếu đức Thế Tôn nói hạnh phúc có thể có được
trong giây phút hiện tại, và sự thực tập của anh là phải
có hạnh phúc, thì là suốt ngày mình chỉ lo hạnh phúc mà
thôi, đâu có lo cái gì đâu mà than thở. Mình chỉ lo hạnh
phúc của mình thôi. Khi mình hạnh phúc là mình đóng góp cho
Tăng Thân, đóng góp cho cuộc đời. Nếu không có cái đó
thì mình có gì cống hiến cho đời đâu. Cho nên phải chải
răng làm sao để trong khi chải răng mình có hạnh phúc, phải
đi cầu làm sao để trong khi đi mình có hạnh phúc, phải ngồi
ăn cơm làm sao để trong khi ăn mình có hạnh phúc, chứ vừa
ăn vừa khóc thì đâu tốt.
Mười
năm gối hận bên giường
Mười
năm nước mắt bữa thường thay canh
Đó
là thơ của Nguyễn Bính.
Bữa
ăn nào cũng khóc, cũng lấy nước mắt chan vô cơm. Ôm những
mối sầu đau của mình để ăn cơm thì tội quá đi, tội
cho cơm quá đi. Ăn cơm sao cho có hạnh phúc, là mình tiếp
nhận những lời chỉ bảo của đức Thế Tôn. Đức Thế
tôn dạy trong khi ăn phải duy trì năm quán, phải ý thức về
thức ăn, phải ý thức về Tăng Thân, ngồi ăn như thế nào
để có thảnh thơi, hạnh phúc. Nếu trong khi ăn cơm mà không
có hạnh phúc là tại vì mình, chứ không phải tại vì đức
Thế Tôn.
Ly
Sinh Hỷ Lạc
Hỷ
là niềm vui và Lạc là hạnh phúc. Đức Thế Tôn muốn chúng
ta có Hỷ và có Lạc trong đời sống hàng ngày. Nếu không
có Hỷ và có Lạc thì sự thực tập của ta không được
nuôi dưỡng và ta không có đi xa được. Đức Thế Tôn nói
là có những phương pháp thực tập để giúp ta có Hỷ và
có Lạc trong đời sống hàng ngày.
Trước
hết là ly. Ly tức là buông bỏ. Mình phải biết buông bỏ
thì mới có Hỷ và Lạc được. Buông bỏ cái gì đây? Có
những cái trong tâm cần phải buông bỏ: những giận hờn,
những tiếc nuối, những cố chấp, những thành kiến. Đó
là những hành trang làm chiếc thuyền của mình nặng và đi
không được. Buông bỏ rất là quan trọng. Thử hỏi mình
có hành trang nào cần phải buông bỏ? Trước hết mình có
ý niệm về hạnh phúc. Mình nghĩ rằng trong giây phút hiện
tại mình không có hạnh phúc, mình chỉ có thể có hạnh phúc
khi mình được như thế này, được như thế kia, được có
cái này, được có cái kia, thì đó là trở lực đầu tiên.
Ví dụ bây giờ tôi nghĩ rằng nếu được về Việt Nam thì
tôi mới có hạnh phúc, và nếu chánh quyền vẫn không cho
tôi về thì tôi không có hạnh phúc. Nếu tôi kẹt với ý
nghĩ đó thì ôi thôi hết rồi, sống đâu có vui vẻ gì nữa,
thành ra phải buông cái ý đó ra, không cần phải về Việt
Nam mới có hạnh phúc, ở đây cũng có hạnh phúc chán. Quý
vị đang muốn đi đâu? Quý vị nghĩ rằng phải tới chỗ
nào đó mới có hạnh phúc, quý vị phải buông cái suy nghĩ
đó đi, thì cái đó là ly.
Ly
sanh hỷ lạc, tức là sự buông bỏ đưa tới Hỷ và Lạc.
Quý vị nghĩ rằng nếu mình không được người đó thương
thì mình không có hạnh phúc, người đó phải thương mình
thì mình mới có hạnh phúc được. Điều kiện đó chưa có,
thành ra mình phải đợi người đó thương mình, rồi mình
mới có hạnh phúc được, thì cái đó là một cái kẹt, cái
đó cần phải buông bỏ. Tại sao phải có người đó thương
mình mới có hạnh phúc? Tại sao phải cột hạnh phúc của
mình vào một điều kiện mà mình chưa có? Tại sao hạnh phúc
đang tới từ muôn phương thì mình đóng cửa lại hết, mà
mình chỉ ngồi đó trông cầu một cái mình chưa có? Đó là
phóng tâm về tương lai, đòi hỏi những cái khác, trong khi
điều kiện hạnh phúc mình có sẵn mà không biết thừa hưởng.
Đó là những cái phải buông bỏ. Có những cái ta nghĩ rằng
rất cần thiết cho hạnh phúc của ta, và ta cứ tiếp tục
nắm giữ. Có thể chính vì những cái ta đang nắm giữ mà
ta không có hạnh phúc. Có những người thích đi 'chợ rệp'.
Họ thấy người ta bày hàng rẽ quá đi, một đô hay là hai
đô một món thôi, tuy không cần xài những thứ đó nhưng
không mua thì uổng, cho nên họ lấy tiền ra mua. Họ nghĩ rằng
những cái đó sẽ làm cho họ có hạnh phúc. Rốt cuộc, cái
nhà của họ là một cái kho, đi ra đi vô không có chỗ đi,
không có chỗ thở, mà buông ra thì tiếc. Trong khi đó, con
đường mà họ phải làm là gọi bạn tới 'nếu anh cần cái
gì thì anh lấy đi, tôi không cần món đồ nào hết, tôi cần
một cái nhà thật là trống, có không gian cho tôi thở, có
khoảng trống để tôi có thể đi ra đi vô cho thảnh thơi',
và họ phải buông hết. Khi người ta tới lấy những cái
gì người ta thích rồi, thì tự nhiên mình có một cái nhà
rất là trống, đi ra đi vô rất là sướng. Những cái đó
thật sự không cần thiết nhưng vì mình nghĩ là cần thiết.
Ví
dụ trên chỉ là sự buông bỏ đồ đạc. Ở đây, không phải
là đồ đạc mà là những ý niệm, những tình cảm, những
vướng mắc của mình. Mình nghĩ không có cái đó mình sống
không được, không có hạnh phúc, ai dè chính cái đó lại
là những trở lực của mình, ngăn cản mình hạnh phúc. Thành
ra mỗi người phải tự quán chiếu để coi mình vướng vào
những cái gì, mình muốn nắm chặc những cái gì, khi buông
ra thì mình sẽ có hạnh phúc liền. Chữ ly có nghĩa là buông.
Càng buông càng có hạnh phúc, càng chất chứa thì càng đau
khổ. Đức Thế Tôn dạy phương pháp buông bỏ rất là hay,
phương pháp này ngược lại với cái lề thói thâu góp, chứa
chất, chiếm đoạt. Phương pháp này rất là mầu nhiệm. Hạnh
phúc chỉ có thể có được khi mình biết buông bỏ. Buông
bỏ những tiếc nuối của mình, nhất là buông bỏ những
ý niệm của mình, những ý niệm về mình và về người kia.
Những ý niệm đó làm cho mình khổ mà cũng làm cho người
kia khổ. Mình có sự phán xét về mình, mình có sự phán xét
về người kia; mình cho mình là cao, hoặc mình cho mình là
thấp, mình cho mình là đẹp, hoặc mình cho mình là xấu, mình
cho người kia là đẹp,
người
kia là xấu, người kia là tốt, người kia là khó chịu, người
kia là dễ chịu, tất cả những ý niệm đó đều có thể
làm cho mình khổ đau. Thành ra buông bỏ những ý niệm đó
rất là quan trọng, không có tốn một đồng nào hết. Buông
bỏ là một phương pháp rất là mầu nhiệm, nó đem tới hạnh
phúc liền lập tức. Chúng ta phải học và thực tập phương
pháp đó. 'Nếu không có cái đó chắc là tôi chết quá !'
Mình cứ nghĩ như vậy. 'Tôi làm sao sống được nếu không
có cái đó, hay người đó', khi kẹt vào ý niệm đó, thì
mình không còn tự do nữa. Ví dụ mà Làng Mai thường đưa
ra là những người sống ở thành phố lớn như là Paris, hay
là Los Angeles. Cuối tuần, vì muốn thoát khỏi thành phố với
những bụi bậm cũng như tiếng ồn, họ lái xe ra khỏi thành
phố. Chỉ cần một giờ đồng hồ thôi thì ra khỏi thành
phố, ra khỏi thành phố, thì tiếp xúc được với núi đồi,
biển cả, gió mát, bắt đầu thấy trăng sao, thấy trời xanh
mây trắng, thấy trong lòng lâng lâng. Hạnh phúc đó là do
bỏ cái thành phố lại sau lưng, cái đó gọi là ly, là buông
bỏ, là để lại sau lưng. Mình phải bỏ lại sau lưng những
cái làm cho mình kẹt thì mình mới có hạnh phúc. Cái đó
gọi là ly sinh hỷ lạc, nghĩa là Hỷ và Lạc được phát
sinh ra từ cái khả năng buông bỏ. Bây giờ nhiều người
nghĩ rằng có nhiều tiền thì có hạnh phúc, mua sắm nhiều
mới có hạnh phúc. Còn phương pháp của đức Thế Tôn thì
không cần một đồng nào hết.
Niệm
Sinh Hỷ Lạc
Niệm
sinh hỷ lạc là một phương pháp khác. Niệm tức là ý thức.
Ví dụ khi mình uống một ly trà hay một ly sữa đậu nành,
nếu mình biết rằng mình đang có ly trà hay một ly sữa đậu
nành để uống trong giờ phút này thì mình có hạnh phúc lớn,
đó là niệm. Niệm là có mặt, có mặt đích thực. Niệm
tức là ý thức được cái gì đang xảy ra. Trong khi có niệm
thì mình nhận diện được những điều kiện của hạnh phúc,
cái đó gọi là niệm sinh hỷ lạc. Ý thức rằng mình đang
có tuổi trẻ, mình đang có cơ hội để tu học, mình đang
ở trong tăng thân, mình có những điều kiện để tu tập,
thì cái ý thức đó là niệm. Khi mà không biết, không có
ý thức tức là quên, là thất niệm. Niệm đưa lại hạnh
phúc liền lập tức.
Mình
đang ở ngoài trời lạnh mà đi vào trong nhà ấm thì có hạnh
phúc, nhưng chỉ mười phút sau thì mình quên là mình đang
có hạnh phúc. Cơ thể và tâm mình luôn luôn có khuynh hướng
bình thường hóa, làm cho soi mòn những cảm thọ. Niệm cho
mình biết rằng: 'Trời ơi! Đang ở trong nhà ấm hạnh phúc
quá!', thì niệm giúp mình phục hồi cái hạnh phúc trở lại.
Nếu bây giờ mình phải đi ra ngoài trời lạnh, thì ý thức
rằng mình đang được ở trong nhà ấm sẽ đưa lại hạnh
phúc liền lập tức, mau như là một tia chớp. Ý thức đó
là niệm. Ý thức rằng người thương của mình đang còn đó,
ngồi trước mặt mình, thì tự nhiên mình có hạnh phúc. Ý
thức rằng mình còn hai mắt sáng, mở mắt ra thì thấy trời
xanh mây trắng, đó là niệm. Ý thức rằng mỗi ngày có cơ
hội thực tập thiền đi là hạnh phúc. Có vô số những điều
kiện hạnh phúc đang có mặt mà mình chỉ cần thực tập
chánh niệm là trở về được giây phút hiện tại và tiếp
xúc với những điều kiện hạnh phúc. Niệm là một nguồn
suối của hạnh phúc, niệm sinh hỷ lạc. Từ niệm mà hỷ
và lạc phát sanh. Mình rất là giàu có. Mình thật sự là
những đứa con rất giàu có nhưng mình hành xử như những
đứa cùng tử than nghèo. 'Trời ơi! Tại sao tôi không có hạnh
phúc gì hết, tôi chỉ có khổ đau mà thôi.'
Niệm
sinh hỷ lạc có thể được khai thác phát triển ra được,
thế giới ngày hôm nay rất cần cái giáo lý này, rất cần
sự nhắc nhở này.
Định
Sinh Hỷ Lạc
Định
có nghĩa là chuyên chú, là tập trung tâm ý. Niệm đã đem
lại hỷ lạc rồi, còn định làm cho niềm vui và hạnh phúc
sâu sắc hơn. Trong niệm có định. Càng thực tập niệm thì
định càng lớn. Định này làm cho mình tập trung được,
làm cho mình chuyên chú được vào đối tượng, và đối tượng
đó có thể đem lại rất nhiều hạnh phúc. Ví dụ như là
hơi thở của mình. Trong khi mình ngồi thở, trong khi mình đi
thiền, trong khi mình ngồi thiền, trong khi mình nấu cơm, giặt
áo, niệm về hơi thở đưa lại hạnh phúc, và định về
hơi thở làm cho hạnh phúc sâu sắc hơn. Định càng lớn thì
hạnh phúc càng lớn. Khi chúng ta có năng lượng của niệm
và định hùng hậu thì chúng ta sẽ có tuệ. Tuệ tức là
cái thấy, cái hiểu. Nhờ cái thấy này, cái hiểu này mà
đem lại hạnh phúc rất là nhiều. Tuệ có khả năng giải
tỏa những hiểu lầm, những khổ đau, những kiến chấp.
Ngày xưa khi con mình bị sốt, tại mình không có tuệ, cho
nên mình mới nghĩ rằng con mình bị sốt là vì ông thần
nào đó phạt hay lúc đi ngang qua cây đa, nó vạch quần đái,
vì vậy nó bị ông thần của cây đa phạt... Người mẹ cuống
lên nghe người ta bảo phải đem một mâm cơm ra cúng ngoài
cây đa thì con mình mới hết sốt. Mình tin như vậy. Hiện
bây giờ cũng có nhiều người tin như vậy. Có những ví dụ
như là sấm sét hay là mưa bão, tất cả những cái đó mình
đều cho là sự trừng phạt của thần linh. Cũng như các ông
vua Ả Rập hay là các ông vua Tàu ngày xưa, trước khi chết
đi, họ muốn sang thế giới bên kia cũng phải có người hầu
cận, cũng cần phải có nhiều lính, có bác sĩ, và vì vậy
khi người ta chôn vua người ta chôn luôn cả bác sĩ, nàng
hầu, cung nữ mà vua thích. Chôn sống hết! Cái đó là do thiếu
tuệ mà gây đau khổ cho mình và cho người khác, cái đó là
do chấp vào cái linh hồn bất diệt (thường kiến). Ở bên
Tàu, người ta đào xới ra và thấy có quân lính nung bằng
đất, hàng trăm ngàn người bằng đất. Tại vì ông vua nghĩ
rằng sang thế giới bên kia ông cũng rất cần nhiều lính;
khi chôn vua phải chôn theo cái ấn của ông, cái ấn bằng
ngọc, tại vì ông sẽ phải ra lệnh; phải đem theo bác sĩ
vì nếu có bệnh thì có bác sĩ để chữa trị, cho nên chôn
sống luôn cả bác sĩ... Những cái đó là do u mê, vô minh
mà ra. Khi có niệm, có định, có tuệ thì mình thấy được
sự thật, cho nên mình giải tỏa được những thành kiến,
những u mê, và mình có hạnh phúc. Ví dụ giữa mình với
người thương của mình có sự hiểu lầm. Người thương
hiểu lầm mình, và mình hiểu lầm người thương vì những
tri giác sai lầm. Nhờ niệm và tuệ mình thấy được sự
thật, nhờ vậy mình lấy đi sự hiểu lầm đó, thì tự nhiên
giữa mình và người mình thương có hạnh phúc thôi, cho nên
tuệ sinh hỷ lạc. Trí tuệ là nguồn suối của hỷ và lạc,
cho nên người nào cũng phải thực tập.
Giới
Sinh Hỷ Lạc
Giới
tức là thực tập chánh niệm, mindfulness training. Giới bảo
hộ cho mình. Giới là do niệm sinh ra. Nhờ có chánh niệm cho
nên ta biết những đau khổ được sinh ra vì ta không chịu
giữ giới, cho nên giới tương đương với niệm. Khi giữ
giới, mình bảo hộ cho mình, và bảo hộ cho người thương
của mình, bảo hộ cho hoàn cảnh gia đình, vì vậy cho nên
hạnh phúc có được, niềm vui có được. Giới cũng sanh ra
hỷ và lạc.
Nhu
Yếu Hiểu Và Thương
Trong
con người của mình có hai nhu yếu, và khi hai nhu yếu đó
được thỏa mãn thì mình có rất nhiều hỷ và nhiều lạc.
Cái nhu yếu thứ nhất là hiểu. Hiểu tức là tuệ. Hạt giống
tuệ ở trong mình đòi hỏi mình phải làm thỏa mãn nó, mình
khao khát hiểu biết (curiosity), bởi vì sự sống là một mầu
nhiệm. Chính cái thân của mình cũng là một mầu nhiệm. Ngành
khoa học Anatony, người ta nghiên cứu về mắt, về mũi, về
tất cả những cái gì thuộc về cơ thể của con người,
nhưng người ta cũng vẫn chưa hiểu được hết những mầu
nhiệm đó. Cho nên con mắt cần một cái viện, gọi là viện
mắt, để chỉ nghiên cứu về con mắt mà thôi. Cái lỗ tai
cần một cái viện để mà nghiên cứu, gọi là viện tai;
mũi cần một cái viện để mà nghiên cứu, gọi là viện
mũi,... Có nhiều viện lắm để nghiên cứu về những thành
phần của cơ thể. Chúng ta đã khám phá ra những mầu nhiệm
của cơ thể, nhưng khám phá đó là khám phá riêng của từng
vùng cơ thể. Toàn thể cơ thể đã phối hợp với nhau và
lưu chuyển như thế nào, đó cũng là cái mầu nhiệm rất
lớn, huống hồ là tâm của chúng ta. Tâm của chúng ta cũng
là những mầu nhiệm rất lớn. Đạo Bụt là một khoa học
nghiên cứu về tâm, gọi là tâm học. Chúng ta tu, chúng ta
cũng có cái nhu yếu muốn hiểu, muốn có cái hiểu biết sâu
sắc về thực tại. Chúng ta muốn hiểu biết về năm uẩn
của chúng ta, và sự hiểu biết về năm uẩn đó sẽ đưa
lại sự thỏa mãn, có thể làm tiêu tán những u mê sai lầm
của chúng ta về năm uẩn, những cái u mê đã từng gây ra
những khổ đau cho mình và cho người khác. Vì vậy cho nên
cái hiểu này không phải là cái hiểu suông, cái hiểu này
có tính cách chuyển hóa, giải phóng, giải thoát, cái hiểu
đó gọi là prajna (bát nhã), là trí tuệ, đó là nhu yếu rất
lớn. Ngày xưa Sĩ Đạt Ta đi tu cũng vì khao khát muốn hiểu
biết, mà hiểu biết này không phải là hiểu biết của trí
năng không, cái hiểu biết có khả năng giải phóng, chuyển
hóa và trị liệu. Trong ta có cái nhu yếu lớn đó. Chúng ta
phải để thì giờ để mà thỏa mãn nhu yếu đó, chứ không
để thì giờ chạy theo cái nhu yếu khác không quan trọng bằng.
Vì những nhu yếu tầm thường như muốn có những tiện nghi
về vật chất, muốn có những tiện nghi về tình cảm, mà
chúng ta để hết thì giờ để thỏa mãn những nhu yếu đó,
thì chúng ta đâu còn thì giờ nào nữa để mà thỏa mãn cái
nhu yếu hiểu biết lớn, tiếng phạn là maha-prajna. Maha là
lớn, prajna là hiểu biết.
Chúng
ta cũng có một cái nhu yếu lớn khác nữa, đó là thương
yêu lớn. Thương yêu lớn không phải là tình thương vị kỷ,
không phải là tình thương chỉ có một người, hai người,
ba người, hay chỉ có vợ chồng con cái mà thôi. Tình thương
lớn là tình thương ôm ấp được mọi loài. Trong mỗi chúng
ta đều có hạt giống thương yêu lớn, và khi nhu yếu này
được chúng ta thỏa mãn, càng thỏa mãn chừng nào thì hạnh
phúc của chúng ta càng lớn chừng đó. Tình thương đem lại
hạnh phúc, càng thương nhiều càng hạnh phúc nhiều. Tình
thương này gọi là maha-maitri (đại từ), maha-karuna (đại
bi). Còn cái tình thương một hai người kia thì càng thương
càng khổ, càng thương càng bị hệ lụy, càng thương càng
bị vướng mắc, càng thương càng bị ray rức, càng thương
càng bị lo sợ, đó là tình thương nhỏ không cùng chất liệu
với tình thương lớn, nó là tình thương vị kỷ, là sự
đam mê, kỳ thị. Trong khi đó tình thương lớn, đối tượng
của nó rất là rộng lớn không có tính cách kỳ thị. Dầu
cho mình chăm sóc mình đi nữa thì cái đó không phải là kỳ
thị, nếu mình chăm sóc mình là mình chăm sóc người kia,
mình có sức khỏe, mình có sự thư thái thì cái đó rất
là cần thiết cho người mình thương. Bảo trọng thân thể
của mình, bảo trọng hạnh phúc của mình rất là quan trọng
cho người mình thương, cái đó nằm trong phạm vi của tình
thương lớn. Nó không phải là vị kỷ nữa tại vì mình làm
cái đó không phải cho mình mà cho những người mình thương.
Khi mình lo cho những người khác tức là cũng lo cho mình, tại
vì những người khác bớt khổ, mỉm cười được thì mình
cũng có hạnh phúc. Tình thương lớn không có tính cách kỳ
thị, không có tính cách giới hạn. Trong khi cái tình đam mê
vướng mắc có tính cách kỳ thị, chỉ có người này là
người thương của mình thôi, còn người khác thì không phải.
Bậc
Đại Giác Viên Mãn xuất hiện nơi cõi ta bà,
Tấm
lòng ôm trọn cả thái hư
Tức
là trái tim của Bụt chứa được hết cả vũ trụ, còn trái
tim mình nhỏ xíu chứa được có một người thôi mà chưa
chắc đã chứa dược, đó là sự kỳ thị. Chúng ta biết
được cái chân hạnh phúc, hạnh phúc chân thật là do mỗi
ngày mình có làm thỏa mãn được hai nhu yếu căn bản đó
của mình không, tức là nhu yếu hiểu và nhu yếu thương,
nhu yếu hiểu biết lớn và nhu yếu thương yêu lớn.
Liên
Hệ Giữa lạc Và Lạc
Bây
giờ chúng ta có ý niệm sâu hơn và rõ ràng hơn thế nào là
chân lạc, chân hạnh phúc. Chúng ta nghiên cứu thêm liên hệ
giữa lạc và Lạc. Chữ Lạc viết hoa không phải là chữ
lạc không hoa. Chúng ta biết rằng bốn đức của Niết Bàn
là Thường, Lạc, Ngã và Tịnh (đều viết hoa), nó không phải
là thường của vô thường, lạc của khổ, ngã của vô ngã,
và cái tịnh của bất tịnh. Thường và vô thường là một
cặp đối đãi, lạc và khổ là một cặp đối đãi thứ
hai, ngã và vô ngã là một cặp đối đãi thứ ba, tịnh và
bất tịnh là một cặp đối đãi thứ tư. Nhưng Thường không
phải là cái thường đối đãi với vô thường cho nên nó
được viết hoa, Lạc không phải là lạc đối đãi với khổ
cho nên nó được viết hoa. Vậy thì ta hãy xét coi thử có
sự liên hệ giữa Lạc và lạc hay không? Hai cái có hẳn là
chống đối nhau hay không? Cố nhiên khi nói tới bốn đức
của Niết Bàn là Thường, Lạc, Ngã và Tịnh, thì chúng ta
không thể nói cái Thường ở đây là cái thường đối với
vô thường, tại vì cái thường đối với vô thường là
một tà kiến, là một điên đão kiến, còn Thường của Niết
Bàn không phải là tà kiến, không phải là điên đão kiến.
Chúng ta chưa hiểu được văn mạch của Tích môn và Bản
Môn, chúng ta phải đem lại hình ảnh của sóng và nước để
cho dễ hiểu. Sóng có sinh có diệt, có lên có xuống, có thường
có vô thường. Những từ ngữ sinh diệt, cao thấp, thường
vô thường, lên xuống là chỉ áp dụng cho sóng thôi, phải
như vậy không? Nó không áp dụng cho nước được. Đứng
về phương diện sóng thì có lên có xuống, nhưng nước thì
đâu có lên có xuống, nước chỉ có nước thôi. Sóng có
thể nói 'tôi là sóng này anh sóng kia', nhưng nước thì không
thể nói 'tôi nước này, anh nước kia.' Đứng về phương
diện bản môn thì không có sinh không có diệt, không có lên
không có xuống, không có cái này, không có cái kia, cho nên
đứng về phương diện bản môn ta không thể dùng chữ thường
và vô thường để diễn tả bản môn cho được, cho nên ta
dùng chữ Thường viết hoa. Nhìn vào sóng thì ta thấy nước,
và ta thấy sóng cũng là nước, trong khi sóng bị điều kiện
hóa bởi thường hay vô thường, nhưng mà nước thì không
có bị điều kiện hóa, vì vậy trong nước có cái gì giống
như là thường (Thường), nhưng cái thường của nước không
phải là cái thường đối lại với vô thường của sóng.
Chữ Thường ở đây không có nghĩa là có một cái gì trường
cửu bất diệt, nó đối chọi với cái mong manh, dễ tan vỡ.
Khi nói tới sóng ta nói tới vô thường để đối trị với
cái quan niệm thường, đứng về phương diện nước thì chúng
ta phải vượt thoát ý niệm thường và vô thường để đi
tới một ý niệm cao hơn vượt thoát hai ý niệm kia, đó là
ý niệm Thường. Trong khi sóng lên xuống, cao thấp, thì nước
đâu có lên xuống, cao thấp, vì vậy ta thấy tính Thường
của nó ở trong. Thường của Niết Bàn không phải là thường
của sinh tử, Thường của bản môn không phải là thường
của tích môn. Cũng như trên phương diện tích môn, có hữu
và có vô, đứng về phương diện hiện tượng, đứng về
phương diện các pháp thì mình nói tới có và không. Khi đi
vào chân như, đi vào phương diện bản môn, thì tuy vượt
thoát hữu và vô rồi mình vẫn thấy là có thể dùng chữ
diệu hữu và chân không. Diệu hữu và chân không, hai cái
là một. Tại vì diệu hữu không phải là hữu, chân không
không phải là không. Thì chữ Thường đây ta gọi là chân
thường, chữ Lạc đây ta gọi là diệu lạc, còn cái Ngã
đây ta gọi là chân ngã, true self, còn cái Tịnh đây ta gọi
là diệu tịnh, tạm mượn chữ như vậy. Chư Tổ đã xài
chữ như vậy, đã sử dụng chữ nghĩa như vậy, thì ta có
thể tiếp tục được chư Tổ.
Khi
ta vượt được cái thường và cái vô thường rồi thì ta
không có sự sợ hãi, không có sự sợ hãi thì tự nhiên ta
có niềm an vui. Khi chúng ta ca ngợi đức Quan Thế Âm, chúng
ta hay nói rằng:
Trí
tuệ hoằng thâm đại biện tài
Đoan
cư ba thượng tuyệt trần ai
Nghĩa
là 'trí tuệ bừng lên đóa biện tài, đứng yên trên sóng
sạch trần ai,' tức là cái sóng của thường và vô thường
còn đó, nhưng bồ tát đứng yên không bị sóng đó làm cho
lên xuống, làm cho vùi dập, tại vì Ngài đã vượt thoát
thường và vô thường, đã đạt được cái chân thường
rồi. Chân thường cũng là chân vô thường, vô thường này
là một ý niệm, còn chân vô thường không còn là một ý
niệm nữa mà nó là một thực tại. Vì vậy ta không còn sự
sợ hãi nữa, và ta có Lạc. Lạc này là hạnh phúc, hạnh
phúc này hoàn toàn do vô úy, là sự không sợ hãi sinh ra. Món
quà lớn nhất đức Quan Thế Âm tặng cho mình là cái vô úy,
là sự không sợ hãi. Có ba món quà mình có thể tặng cho
người là Tài thí, Pháp thí, và Vô Úy thí. Vô úy thí là
món quà lớn nhất. Khi nào đạt tới Bản Môn, Niết Bàn thì
mới có Vô Úy thí mà thôi. Ngã là gì? Chân Ngã là gì? Ngã
ở đây có nghĩa là không còn là nạn nhân của sự lên xuống,
của thường, vô thường nữa. Ngã ở đây có nghĩa là tự
do lớn, Ngã ở đây có nghĩa là chủ quyền. Trong khi định
nghĩa về Ngã, các Tổ ngày xưa có nói về Ngã là có chủ
quyền. Mình có chủ quyền hay không? Nếu mình không có tuệ
giác và không có từ bi, thì làm gì mình có chủ quyền được,
mình chỉ là nạn nhân thôi, nạn nhân của những gì xảy
ra trong hàng ngày. Có được đại trí và đại bi thì có chủ
quyền, cái đó gọi là Ngã, tức là có chủ quyền, lúc đó
mình không còn là nạn nhân của sự lên xuống của thế gian
nữa. Thế gian chê, mình cũng không có buồn; thế gian khen,
mình cũng không có mừng, cái đó là chủ quyền, cái đó là
Ngã. Bát phong suy bất động, tám ngọn gió không làm cho mình
động, đó là chủ quyền, cái đó gọi là Ngã. Ngã tức là
chủ quyền. Niết Bàn là chủ quyền. Ngã không phải là một
cái ta, một cái ego, hễ ai đụng tới thì ta nổi tam bành
lục tặc ra. Cái Ngã này có chủ quyền rất lớn, mà các
vị Bụt, các vị bồ tát và các bậc đại nhân có chủ quyền
rất lớn. Không còn làm nạn nhân của sự lên xuống, ra vào,
khen chê hay là đắc thất nữa, cái đó gọi là Ngã. Tịnh
ở đây không phải là cái tịnh do vô minh thấy. Vô minh nhìn
cái bất tịnh thì cho là tịnh. Tịnh ở đây vượt ra khỏi
ý niệm dơ và sạch. Khi có Thường, Lạc, Ngã rồi thì có
sự thanh tịnh lớn gọi là diệu tịnh. Diệu tịnh này tức
là sự không có vẩn đục, tâm mình không bị vẩn đục bởi
danh lợi tài sắc, đây là sự tinh khiết lớn nhất mà mình
có thể đạt được. Sự tinh khiết này chỉ có thể đạt
được khi mình thực chứng được niết Bàn. Bốn đức của
Niết Bàn là Thường, Lạc, Ngã và Tịnh phải được hiểu
như vậy thì mới có thể nói bốn cái đó không phải là
tà kiến điên đão, nếu không thì nó vẫn là tà kiến điên
đão. Nếu không hiểu thì nói rằng giáo lý về Thường, Lạc,
Ngã và Tịnh đi ngược lại giáo lý nguyên thủy của đứcThế
Tôn. Tại vì Thường, Lạc, Ngã và Tịnh là bốn điên đão
kiến, nhưng nếu hiểu theo văn mạch của bản môn, tích môn,
thì mình thấy Thường đây là chân thường, vượt thoát ý
niệm thường và vô thường; Lạc đây là diệu lạc, vượt
thoát ý niệm khổ và lạc; Ngã đây là chân ngã, vượt thoát
ý niệm ngã và vô ngã; Tịnh đây tức là diệu tịnh, sự
trong sáng hoàn toàn, không dính líu gì đến tịnh và bất
tịnh của tích môn.
Có
một ví dụ rất mầu nhiệm có thể cho mình thấy giáo lý
của Bụt như là phương tiện huyền xảo. Con người bị kẹt
vào ý niệm thường, cho nên Bụt mới chế ra phương thuốc
gọi là vô thường, để cho con người có thể hóa giải được,
bệnh thường chỉ có thuốc vô thường mới trị được.
Con người cho là lạc những cái không phải là lạc, cho nên
Bụt nói rằng cái đó không hẳn là lạc, cái đó là khổ.
Đó cũng là một phương tiện huyền xảo. Chỉ là thang thuốc
thôi, nếu không có bệnh thì thuốc đó đâu có xài được,
đâu có cần phải xài. Con người cho là có ngã riêng biệt,
cho nên Bụt mới dạy vô ngã. Vô ngã là thuốc để trị ngã.
Con người tin vào tịnh nên But mới dạy bất tịnh để cho
con người đừng có đam mê. Tất cả giáo lý về vô thường,
vô ngã, khổ và bất tịnh là những phương tiện huyền xảo,
và những phương tiện huyền xảo đó mình phải vượt luôn.
Chớ không có lý nói thuốc này quý quá, vất đi thì uổng,
nhưng uống vô thì nguy. Không có bệnh mà uống thuốc thì
hơi nguy. Giáo lý của ta là chiếc bè để đưa qua sông,
qua sông rồi các ngươi đừng đội chiếc bè mà đi, nên để
chiếc bè ở lại. Bụt dạy như vậy.
Như
vậy mình đã thấy cái liên hệ giữa Lạc và lạc. Mình thấy
rằng cái lạc nào không viết hoa có khả năng đưa tới Lạc
viết hoa, thì cái lạc đó mình có thể sử dụng được.
Còn cái lạc nào không đưa tới Lạc viết hoa, cái lạc đó
không phải là chân lạc, cái đó là khổ. Kinh Người Bắt
Rắn có nói tới sự hiểu lầm này. Bụt dạy rằng chỉ có
những cái lạc nào, thanh thoát, nhẹ nhàng, nuôi dưỡng, đưa
tới cái Lạc lớn (giáo lý Hiện Pháp Lạc Trú), thì tất
cả những cái lạc đó mình đều có thể sử dụng được,
trong khi thầy Arita hiểu lầm đức Thế Tôn, thầy nghĩ rằng
hành lạc là không có chướng ngại cho sự tu tập.
Tuệ
Giác Đốt Cháy Giáo Lý
Đây
là bài giảng cho chúng ta chuẩn bị đi vào Lâm Tế Lục. Tại
vì Lâm Tế Lục là thuốc rất là đắng, thuốc rất là mạnh,
nếu kẹt vào Lâm Tế Lục là chết luôn. Cũng như quẹt que
diêm là để có ngọn lửa. Que diêm có mục đích là tạo
ra ngọn lửa. Giáo lý vô thường, vô ngã có mục đích giúp
cho mình có được tuệ giác về vô thường, vô ngã. Que diêm
tức là phương tiện huyền xảo, phương tiện huyền xảo
đó để làm phát sinh ra tuệ giác về vô thường và vô ngã.
Khi tuệ giác vô thường và vô ngã được phát sinh thì nó
thêu đốt que diêm. Vì vậy que diêm là giáo lý vô thường,
là giáo lý khổ, vô ngã và bất tịnh. Giáo lý được đưa
ra để làm thang thuốc thôi, khi mà thang thuốc đã chữa được
bệnh rồi, thì thuốc đó không cần xài nữa. Giáo lý của
Bụt như là ngón tay chỉ mặt trăng, như là thuốc trị bệnh,
là chiếc bè đưa qua sông. Mục đích của giáo lý đó là
làm phát khởi ra tuệ giác, mà tuệ giác đó trong khi phát
khởi nó thiêu đốt cái giáo lý đó, làm cho chiếc bè đó
không còn, và mình không còn dính vào chiếc bè nữa. Chúng
ta phải có một thái độ rất là buông bỏ đối với giáo
lý thì mới được, Lâm Tế Lục dạy mình như vậy. Que diêm
rất là cần thiết để làm phát sinh ra ngọn lửa, nếu không
có que diêm làm sao có ngọn lửa, thì những giáo lý của Bụt
như là vô thường, vô ngã, bất tịnh rất cần thiết để
làm sinh ra tuệ giác, khi mà tuệ giác sinh ra rồi thì nó đốt
cháy cái giáo lý về vô thường, vô ngã, bất tịnh. Khi nào
vượt thoát được rồi thì mới đạt được Niết Bàn. Cái
thí dụ hộp diêm rất hay, giúp cho quý vị thấy được những
người có khuynh hướng giáo điều, bị kẹt vào giáo điều,
thì những người đó sẽ khổ, cũng như là những người
bắt rắn mà không biết bắt rắn thì rắn trở lại cắn
mình. Bụt cũng nói rõ ràng là 'Giáo lý của ta nguy hiểm lắm,
giáo lý của ta là rắn đó, nếu quý vị không biết sử dụng
thì nó sẽ cắn quý vị.' Không có một vị đạo sư nào trên
thế gian lại nói về giáo lý của chính mình như vậy. 'Giáo
lý của ta rất là cần thiết cho các ngươi, nếu các ngươi
không biết sử dụng thì các ngươi sẽ chết về giáo lý
của ta.' Đệ tử của Bụt chết về giáo lý của Bụt cũng
khá nhiều. Thầy Lâm Tế cũng nói như vậy. Con cháu của Tổ
Lâm Tế cũng chết vì giáo lý của Tổ Lâm Tế rất nhiều,
tại vì trong khi học hỏi họ kẹt vào chữ nghĩa, không biết
rằng những giáo lý của Ngài, những cái gậy của Ngài, những
tiếng hét của Ngài đều là những phương tiện cả, kẹt
vào đó là chỉ có chết thôi. (http://www.langmai.org/)