PHẦN
5.
QUÁN
TƯỞNG CHUNG CUỘC VỀ MỘT ĐỜI SỐNG TÂM LINH
Chương
15
CÁC
GIÁ TRỊ TINH THẦN CĂN BẢN
Nghệ
thuật của hạnh phúc có nhiều nhân tố. Như chúng ta đã
thấy, nghệ thuật này bắt đầu bằng việc phát huy sự thông
hiểu những uyên nguyên chân thật nhất của hạnh phúc rồi
đến việc lựa chọn thứ tự ưu tiên của cuộc sống dựa
trên sự vun bồi những nguyên uỷ này. Chúng ta cần những
nguyên tắc nội tại, cần một tiến trình nhổ tận gốc
rễ các trạng thái tâm thức có tính cách phá hủy và từ
từ thay thế bằng những yếu tố tích cực/xây dựng như
thân ái, khoan nhượng và tha thứ. Để nhận diện những nhân
tố dẫn đến một cuộc sống trọn vẹn và thoải mái, chúng
ta sẽ bàn đến nhân tố cuối cùng dùng làm kết luận: Tâm
Linh.
Người
ta có khuynh hướng coi tâm linh và tôn giáo vốn là một. Quan
điểm của đức Đạt Lai Lạt Ma về hạnh phúc đã được
định hình bởi những năm dài luyện tập cam go để trở
thành một tu sĩ Phật giáo. Ngài cũng được người đời
xưng tụng là một học giả Phật giáo uyên bác. Tuy vậy,
đối với số đông, sự hiểu biết thâm thúy về những vấn
đề triết học phức tạp của đức Đạt Lai Lạt Ma không
phải là yếu tố quyến rũ, mà chính là tính bình dân, tính
hài hước và tính nồng nhiệt trong bản chất của Ngài đã
thu phục lòng người. Thực ra, trong tất cả các buổi nói
chuyện của chúng tôi, nhân tính căn bản của đức Đạt
Lai Lạt Ma đã vượt hẳn lên trên các phương diện khác
kể cả vai trò tu sĩ của Ngài. Dù cạo tóc, dù mặc áo tràng,
dù là một trong các khuôn mặt xuất chúng về tôn giáo, giọng
nói của đức Đạt Lai Lạt Ma trong các buổi đàm thoại với
tôi chỉ đơn thuần là giọng nói giữa một con người với
một con người, cùng thảo luận những vấn đề mà mọi người
đều chia xẻ.
Nhằm
giúp chúng ta thông hiểu ý nghĩa chân thực của TÂM LINH, đức
Đạt Lai Lạt Ma bắt đầu giải thích về sự khác biệt giữa
tâm linh và tôn giáo:
"Theo
tôi nghĩ thì điểm trọng yếu là chúng ta phải trân quý tiềm
năng của con người và nhận thức được tầm quan trọng
của các chuyển hóa nội tại. Nhưng điều này có thể đạt
được qua một tiến trình gọi là sự khai triển tâm thức.
Đôi khi, tôi gọi đây là những chiều kích tâm linh của cuộc
đời.
"Người
ta có thể chia ra làm hai cấp độ của tâm linh. Cấp độ
thứ nhất có liên hệ đến tôn giáo. Thế giới của chúng
ta có nhiều hạng người khác nhau và nhiều thiên hướng khác
nhau. Chúng ta có 5 tỷ con người và ở một phương diện nào
đó, tôi cho rằng chúng ta cần 5 tỷ tôn giáo khác nhau để
đáp ứng những thiên hướng quá khác biệt. Tôi tin rằng
mỗi người đều cần một lộ trình tâm linh phù hợp với
thiên hướng, sở thích tự nhiên, tính khí, niềm tin, gia đình
và bối cảnh xã hội của riêng mình ...
"Thí
dụ như tôi chẳng hạn, vì là một tu sĩ Phật giáo nên tôi
cho Phật giáo là thích hợp nhất và vì thế, đối với tôi,
Phật giáo là tốt đẹp nhất. Nhưng điều này không có nghĩa
Phật giáo sẽ tốt đẹp cho tất cả mọi người. Rõ ràng
là như vậy và chắc chắn là như vậy. Nếu tôi nghĩ Phật
giáo là tôn giáo tốt đẹp nhất của tất cả mọi người
thì thật là một ý tưởng điên rồ vì thiên hướng của
mỗi người rất khác nhau. Cho nên nhiều người thì cần phải
có nhiều tôn giáo. Mục tiêu của tôn giáo là phục vụ con
người nên nếu chúng ta chỉ có một tôn giáo, mục tiêu phục
vụ đó sẽ tàn lụi sau một thời gian. Cũng như nhà hàng
chỉ cung cấp một món ăn ngày này qua ngày khác, tôi chắc
rằng sau một thời gian, thực khách sẽ chẳng còn là bao.
Người ta cần và thích nhiều món ăn khác nhau vì con người
có nhiều khẩu vị khác nhau. Cũng cùng một cách thế như
vậy, tôn giáo là để nuôi dưỡng tâm linh con người nên
tôi nghĩ rằng chúng ta nên chào đón tính đa dạng của tôn
giáo và chấp nhận nhiều tôn giáo khác nhau. Có rất
nhiều người nhận thấy Do Thái giáo, Cơ Đốc giáo hay Hồi
giáo rất thích hợp đối với họ nên chúng ta phải chấp
nhận và tôn kính những giá trị tinh thần của các truyền
thống tôn giáo quan trọng khác nhau trên thế giới.
"Tất
cả các tôn giáo lớn này đều có những đóng góp hữu hiệu
cho lợi dưỡng của nhân loại. Các truyền thống này đều
được sáng tạo để làm cho con người được hạnh phúc
hơn và làm cho thế giới này thành một nơi chốn tốt đẹp
hơn. Tuy nhiên, để các tôn giáo có thể thực hiện được
mục tiêu này, mỗi người trong chúng ta phải thực hành những
giáo lý với tất cả thành tâm. Người ta phải kết hợp
những giáo điều vào cuộc sống của mình trong bất cứ hoàn
cảnh nào để có thể sử dụng chúng như là mạch nguồn
của những năng lực nội tại. Người ta cũng cần phải đạt
được sự thấu hiểu sâu xa về những tư tưởng của tôn
giáo, không chỉ trên bình diện tri thức nhưng là những cảm
xúc sâu thẳm, những chứng nghiệm nội tâm.
"Tôi
tin rằng người ta có thể phát huy cảm giác tôn kính đối
với tất cả các truyền thống tôn giáo khác nhau. Một trong
những lý do căn bản là tất cả các truyền thống này đều
cung ứng những khuôn mẫu đạo đức để điều hướng hành
vi của chúng ta cũng như những ảnh hưởng tích cực của
chúng. Trong truyền thống Cơ Đốc chẳng hạn, niềm tin ở
Thiên chúa được coi là những mẫu mực đạo đức rõ rệt
và dứt khoát để hướng thiện hành động và lối sống
con người. Đây là một khuynh hướng rất mạnh mẽ vì các
tương quan mật thiết trong mối liên hệ giữa con người và
Thiên Chúa, vị Thiên Chúa đã tạo dựng ra loài người, cũng
như cách thế biểu lộ tình thương của Ngài trong con người
chúng ta như yêu thương và từ ái với đồng loại.
"Còn
nhiều lý do nữa khiến chúng ta nên tôn kính những truyền
thống tín ngưỡng khác biệt. Tất cả các tôn giáo lớn đã
cung ứng những lợi ích khôn lường cho hàng tỷ người xuyên
qua hàng ngàn năm trong quá khứ. Ngày cả giai đoạn hiện tại
này, nhiều triệu người vẫn còn thừa hưởng những phúc
lợi và cảm hứng từ các truyền thống này dưới một hình
thức nào đó. Rõ rệt là như vậy. Và rồi trong tương lai,
các tôn giáo lớn này vẫn tiếp tục là nguồn rung cảm cho
hàng triệu người của các thế hệ sắp tới. Thực tế là
như vậy. Cho nên chúng ta phải tôn kính và thừa nhận
vai trò vô cùng quan trọng của các tôn giáo này.
"Người
ta có thể củng cố mối tương kính giữa các đức tin khác
nhau xuyên qua sự giao tiếp cá nhân. Trong ít năm qua, tôi đã
cố gắng tiếp xúc và đối thoại với cộng đồng Cơ Đốc
giáo cũng như Do Thái giáo và tôi đã có được những kết
quả thật tích cực. Với hình thức giao tiếp rất gần gũi
này, chúng ta có thể học hỏi về những đóng góp hữu ích
cho nhân loại của một tôn giáo này, khám phá những phương
thức mà chúng ta có thể chia xẻ được từ một tôn giáo
khác. Khai triển được chất keo để nối kết các tôn giáo
với nhau là điều vô cùng thiết yếu vì qua sự nối kết
này, chúng ta sẽ gây tạo được một nỗ lực chung cho phúc
lợi nhân quần.
"Thế
giới chúng ta đã quá chia rẽ và quá rối rắm. Tôn giáo phải
là liều thuốc làm giảm thiểu xung đột và đau khổ của
con người chứ không phải làm chúng thêm trầm trọng.
"Chúng
ta thường nghe thiên hạ nói rằng mọi người đều bình đẳng.
Khi nói như vậy, rõ rệt là chúng ta có ý cho rằng mỗi người
đều mong được hạnh phúc. Mỗi người đều có quyền làm
một con người sung sướng và mọi người đều có quyền
chế ngự được phiền não. Vậy nếu chúng ta tìm được
hạnh phúc hay phúc lợi từ một truyền thống tôn giáo nào
đó thì chúng ta phải tôn trọng quyền (tìm được hạnh phúc
hay phúc lợi từ một tôn giáo khác) của tha nhân. Vì thế,
rõ ràng là chúng ta phải tỏ lòng tôn kính đối với những
tôn giáo lớn của nhân loại."
Trong
tuần lễ diễn thuyết của đức Đạt Lai Lạt Ma tại Tucson,
tinh thần tương kính đã tốt đẹp hơn sự mong đợi của
mọi người. Thính giả của các buổi nói chuyện này bao gồm
nhiều truyền thống tôn giáo quan trọng khác nhau, trong đó,
một số lớn thuộc hàng giáo phẩm Cơ Đốc. Dù có sự khác
biệt tín ngưỡng, một bầu không khí bình an và hài hòa đã
bao phủ thính đường, rõ rệt đến nỗi người ta có thể
sờ mó được. Người ta trao đổi với nhau và ngay cả những
người không phải là Phật tử cũng chẳng tỏ vẻ nghi ngờ
về việc hành trì tâm linh hàng ngày của đức Đạt Lai Lạt
Ma. Một thính giả đã tò mò hỏi:
"Dù
là Phật tử hay không, việc cầu nguyện đều được nhấn
mạnh đối với mọi người. Tại sao cầu nguyện lại quan
trọng như vậy trong đời sống tâm linh?"
Đức
Đạt Lai Lạt Ma trả lời: "Theo tôi thì điểm cốt yếu của
cầu nguyện là sự nhắc nhở mỗi ngày về những nguyên tắc
nội tại và niềm tin của chúng ta. Cá nhân tôi lập đi lập
lại lời giảng của bậc Đại Giác mỗi ngày. Những câu
này nghe có vẻ như lời kinh nhưng thật ra chỉ là sự nhắc
nhở. Nhắc nhở về cách nói chuyện với người khác, nhắc
nhở cách giao tiếp với tha nhân, nhắc nhở cách ứng xử
với những vấn nạn trong đời sống thường ngày ... Cho nên
trong sự cầu nguyện của tôi, đa phần là những lời nhắc
nhở về những điều quan trọng như từ tâm, tha thứ và dĩ
nhiên là cũng bao gồm phần quán tưởng về bản thể của
vạn pháp, thiền định. Mỗi ngày tôi cầu nguyện khoảng
4 tiếng đồng hồ. Cũng khá lâu đấy chứ?"
Nghe
đức Đạt Lai Lạt Ma sử dụng bốn tiếng đồng hồ mỗi
ngày để cầu nguyện, một thính giả khác hỏi: "Tôi là một
người mẹ với bốn đứa con và tôi có việc làm toàn thời
nên có rất ít thì giờ rảnh. Làm sao để tìm ra thời gian
để cầu nguyện và thiền quán đối với những người vô
cùng bận rộn như tôi?"
Đức
Đạt Lai Lạt Ma đáp: "Ngay như trường hợp của tôi, nếu
muốn, tôi cũng có thể than phiền rằng không đủ thì giờ.
Tôi rất bận rộn nhưng nếu cố tình, chúng ta vẫn tạo được
thời gian rảnh rỗi như vào lúc sáng sớm chẳng hạn; hay
vào dịp cuối tuần, chúng ta có thể hy sinh một vài thú tiêu
khiển phải không ?" Đức Đạt Lai Lạt Ma cười và nói tiếp:
"Thành ra tôi nghĩ ít nhất là nửa giờ mỗi ngày. Hoặc nếu
cố gắng hơn, chúng ta có thể dành ra 30 phút buổi sáng và
30 phút vào buổi tối. Nếu thực lòng, quý vị sẽ tìm được
thì giờ mà quý vị muốn.
"Tuy
nhiên, nếu suy nghĩ thật cẩn trọng về ý nghĩa
đích thực của công tác thực hành tâm linh, chúng ta sẽ thấy
nó có nghĩa là sự phát huy và huấn luyện tâm thức, thái
độ, trạng thái tâm lý, cảm xúc và cả bản ngã nữa. Không
nên giới hạn sự hiểu biết về thực hành tâm linh của
chúng ta vào những hành động thể lực hay lối nói như cầu
nguyện hay tụng kinh. Nếu cho rằng thực hành tâm linh chỉ
giới hạn vào những hoạt động như vậy thì dĩ nhiên là
chúng ta cần đến những thời điểm riêng biệt, một lúc
nhất định nào đó trong ngày vì không ai có thể vừa nấu
ăn giặt giũ vừa đọc kinh trì chú được. Người chung quanh
sẽ nghĩ là mình điên hay khùng gì đó. Nhưng nếu thấm nhuần
ý nghĩa đích thực của hành trì tâm linh, chúng ta có thể
sử dụng cả 24 giờ của một ngày. Tâm linh chân chính là
một thái độ tinh thần mà chúng ta có thể thực tập vào
bất cứ lúc nào. Tỷ như chợt nhận ra mình đang ở trong
hoàn cảnh có thể làm cho ai đó bị sỉ nhục thì liền cảnh
giác và tự chế để đừng làm chuyện đó. Hoặc gặp trường
hợp mất bình tĩnh, cảm giác sân hận vừa trỗi dậy thì
hãy lập tức tỉnh thức, tự nhủ 'không, đây không
phải là giải pháp thích đáng'. Nếu hiểu được như vậy
thì bất cứ lúc nào chúng ta cũng có thể thực hành tâm linh,
lúc nào cũng có thì giờ tu tập.
"Chuyện
này làm tôi nhớ đến Potowa, một vị đạo sư Tây Tạng.
Vị này nói rằng đối với những hành giả đã đạt được
một mức độ nào đó về sự tĩnh lặng nội tại và
nhận thức thì bất cứ một biến cố, một kinh nghiệm nào
mình đã trải qua đều là những bài học. Đó là kinh
nghiệm học hỏi và tôi cho rằng điều này rất đúng.
"Từ
viễn tượng này, ngay khi chúng ta đối diện với những cảnh
ngộ xáo trộn làm rối loạn tâm trí như phim ảnh/truyền
hình bạo động và tình dục, người ta cũng có thể xem chúng
với một sự tỉnh thức rõ rệt để nhận ra sự quá độ
của các ảnh hưởng tác hại. Như vậy, thay vì bị hoàn cảnh
vây phủ, chúng ta có thể xem chúng là những ấn chứng nguy
hại của cảm xúc tiêu cực không bị kiểm soát nghĩa là
chúng ta vẫn học hỏi được".
Tuy
nhiên vì là một hành giả Phật giáo, hành trang tinh thần
của đức Đạt Lai Lạt Ma dĩ nhiên là có nhiều đặc tính
của nhà Phật. Thí dụ như khi nói về những hành trì thường
nhật, đức Đạt Lai Lạt Ma thường nói về sự quán tưởng
đến bản thể của thực tại cùng với vài phương pháp quán
chiếu khác. Trong phần thảo luận, đức Đạt Lai Lạt Ma chỉ
nói phớt qua về những phép quán này, nhưng trong những năm
qua, tôi đã có dịp nghe Ngài diễn giải rất tường tận
về các đề tài này, những buổi thuyết giảng vô cùng phức
tạp và khó hiểu. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nói về bản
chất của thực tại với phần phân tích và tranh luận đầy
triết lý đủ làm người ta rối trí, sự diễn tả các phép
quán Tantric phức tạp và chi tiết đến độ không hiểu được,
quán tưởng về những mục tiêu chỉ có trong trí tưởng tượng
của con người ... Đức Đạt Lai Lạt Ma đã học tập và
thực hành những phép quán này trong suốt cuộc đời. Hiểu
được các nỗ lực của đức Đạt Lai Lạt Ma có một phạm
vi bao la và cao tột, tôi hỏi: "Ngài có thể giải thích về
những lợi ích thực tiễn của công tác thực hành tâm linh
trong đời sống thường ngày?"
Đức
Đạt Lai Lạt Ma yên lặng một lúc rồi trả lời: "Dù không
có nhiều kinh nghiệm lắm, tôi có thể đoán chắc một điều
là qua công tác hành trì Phật pháp, tâm thức của tôi đã
tĩnh lặng hơn rất nhiều mặc dù sự thay đổi xảy ra rất
chậm chạp, có thể là từng phân, từng ly một. Có sự thay
đổi rõ rệt trong thái độ của tôi đối với người khác
cũng như với chính tôi. Mặc dù rất khó mà đưa ra những
nguyên do của sự thay đổi này, tôi nghĩ rằng thái độ của
mình đã bị ảnh hưởng sâu đậm bởi nhận thức, một sự
nhận thức tuy chưa hoàn toàn nhưng rất chắc chắn về bản
thể chân chính của thực tại. Tôi cũng bị ảnh hưởng bởi
những đề mục quán sát như vô thường, phiền não cũng như
giá trị của từ ái, vị tha.
"Vì
thế, khi nghĩ đến những người Cộng sản Trung Quốc đã
gieo rắc tang tóc cho dân chúng Tây Tạng, với những thành
tựu có được qua công tác hành trì Phật đạo, tôi cảm
thấy một mối thương tâm ngay cả với những người tra tấn
tội nhân vì tôi hiểu rằng những người này đã bị thúc
đẩy bởi các quyền lực tiêu cực. Thêm nữa, với hạnh
nguyện Bồ Tát[1] mà tôi đang theo đuổi khiến tôi không thể
cảm hay nghĩ rằng một người nào đó phải nhận chịu hậu
quả xấu hay không được hưởng hạnh phúc vì đã có những
hành vi tiêu cực. Những hạnh nguyện này đã giúp tôi phát
huy từ tâm, đã tỏ ra vô cùng hữu ích, nên tất nhiên là
tôi trân quý chúng.
"Tôi
nhớ đến một vị thầy tế cao cấp đã sống ở tu
viện Namgyal. Vị này bị Trung cộng bắt giam với tội danh
tù nhân chính trị trong suốt 20 năm qua. Có một lần tôi hỏi
là trong thời gian bị giam cầm, hoàn cảnh nào được xem là
khó khăn nhất và tôi đã vô cùng khâm phục khi vị ấy trả
lời rằng nguy cơ lớn lao nhất là đánh mất lòng từ ái
đối với Trung hoa.
"Còn
nhiều chuyện khác nữa. Cách đây 3 hôm, tôi gặp một tu sĩ
đã sống nhiều năm trong lao tù Trung cộng. Vào thời gian Tây
Tạng nổi dậy chống lại sự xâm lấn của Trung quốc vào
năm 1959, vị tu sĩ này được 24 tuổi và đã tham gia vào lực
lượng yêu nước ở Norbulinga. Ông ta bị bắt cùng với ba
người anh em khác và ba người này đã bị giết chết trong
trại giam. Hai người anh em khác nữa của ông ta cũng bị Cộng
sản Trung quốc giết chết và sau đó là cha mẹ ông ta qua
đời trong các trại cưỡng bách khổ sai. Trong suốt thời
gian tù đày, ông ta nói với tôi là đã suy ngẫm cẩn trọng
về cuộc sống và đã đi đến kết luận rằng trong suốt
thời gian sống tại tu viện Drepung, ông ta chưa xứng đáng
là một tu sĩ mà chỉ là một người ngu xuẩn. Trong khi bị
tù đày ông ta mới phát nguyện để cố gắng trở thành một
tu sĩ chân chính. Do kết quả của công tác huấn luyện tâm
thức và hành trì Phật đạo, vị tu sĩ này đã chịu đựng
được những đau đớn ghê gớm của thể xác. Trong những
lần bị tra khảo và đánh đập vô cùng khốn nạn bởi các
cai ngục người Hoa, ông ta vẫn bình tâm nghĩ rằng đây là
cơ hội để thanh lọc những chướng nghiệp của quá khứ
và đã sống sót được đến ngày nay.
"Qua
những thí dụ này, chúng ta có thể thấu hiểu được giá
trị cao quý của việc thực hành tâm linh trong đời sống
thường ngày của mọi người."
Như
vậy, đức Đạt Lai Lạt Ma đã đề cập đến yếu tố sau
cùng của cuộc sống hạnh phúc: Các chiều kích tâm linh. Xuyên
qua lời dạy của đức Phật, đức Đạt Lai Lạt Ma cũng như
nhiều người khác đã tìm ra một cấu trúc có ý nghĩa trọng
đại giúp họ kinh qua và đôi khi, chuyển hóa những đau đớn
và phiền não mà cuộc sống đã mang đến cho kiếp người.
Và giống như đức Đạt Lai Lạt Ma đã nhận định, các tôn
giáo lớn đã cống hiến những cơ hội giống nhau giúp con
người có được một cuộc sống hạnh phúc hơn. Sức mạnh
của đức tin vốn được các truyền thống tôn giáo này khai
triển đến một bình diện rất rộng lớn và đã đan kín
cuộc sống của hàng triệu con người. Hằng hà sa số những
trường hợp người ta đã sống sót qua những giai đoạn khó
khăn nhờ vào niềm tin tôn giáo. Chuyện này đôi khi xảy ra
thầm lặng trong một phạm vi nhỏ bé nhưng cũng có lúc diễn
ra trên một bình diện quy mô và ồn ào hơn. Vào một lúc
nào đó trong đời, bất cứ ai trong mỗi người chúng ta đều
có dịp chứng kiến hay nhận biết sự hiện hữu của sức
mạnh này đang xảy ra cho một thành viên trong gia đình, bạn
hữu hay người quen.
Đôi
khi, những thí dụ cụ thể về sức mạnh của đức tin tôn
giáo đã xuất hiện trên trang nhất của báo chí. Nhiều người
trong chúng ta còn nhớ đến trường hợp của Terry Anderson,
một người dân rất bình thường bị bắt cóc trên đường
phố Beirut (thủ đô của Lebanon) vào một buổi sáng năm 1985.
Hezbollah, một nhóm Hồi giáo chính thống quá khích đã bất
thần chụp một cái mền lên đầu Terry, tống anh ta vào một
chiếc xe và chở đi giam giữ suốt 7 năm ròng. Đến năm 1991,
Tery bị biệt giam trong một xà lim dơ dáy và ẩm thấp, bị
bịt mắt và xích xiềng cũng như bị tra khảo và đánh đập
thường ngày. Đến khi được phóng thích, cả thế giới quay
lại và nhận ra một Terry vô cùng vui vẻ vì được xum họp
với gia đình, được trở lại với cuộc sống. Nhưng cả
thế giới cũng đã rất ngạc nhiên khi thấy Terry không mấy
tỏ ra cay đắng hay thù hận đối với những người đã bắt
cóc anh ta. Khi được các phóng viên hỏi về nguyên nhân của
sức mạnh khác thường này, Terry cho biết đức tin và cầu
nguyện là những tác nhân chính yếu đã giúp anh ta chống
chọi với nghịch cảnh.
Không
thiếu gì những trường hợp mà niềm tin tôn giáo đã là
điểm tựa vững chắc cho chúng ta lúc nguy khốn. Và ngày nay,
các cuộc sưu tầm rất rộng rãi cũng đã nhìn nhận rằng
đức tin có thể giúp chúng ta rất nhiều trong việc đạt
đến một đời sống hạnh phúc. Những cuộc nghiên cứu do
các chuyên gia và các tổ chức độc lập (như công ty Gallup)
cho thấy những người theo đạo (bất cứ tôn giáo nào) thường
tỏ ra hạnh phúc và hài lòng hơn với cuộc sống so với những
người không có tín ngưỡng. Người ta cũng thấy rằng đức
tin không những giúp chúng ta vui sống mà còn giúp người ta
ứng phó với tuổi già, những hoàn cảnh khó khăn hay khủng
hoảng cá nhân một cách có hiệu quả hơn. Thêm nữa, thống
kê còn chỉ rõ là những gia đình có đức tin tôn giáo vững
mạnh thường ít có con cái phạm pháp, nghiện rượu, ma tuý
và tan vỡ hôn nhân. Người ta cũng tìm thấy những chứng
tích cho rằng sức mạnh của niềm tin tôn giáo còn giúp con
người gia tăng sức khoẻ kể cả những người bị các căn
bệnh hiểm nghèo. Thực ra, hàng trăm các cuộc nghiên cứu
khoa học đã thiết lập mối liên hệ giữa đức tin tôn giáo,
tử xuất thấp và cải thiện thể lực. Trong một cuộc sưu
tầm, một số quý bà lớn tuổi với niềm tin vững mạnh
đã đi được xa hơn sau khi giải phẫu hông so với những
người khác và họ cũng ít bị suy thoái sau khi giải phẫu.
Ronna
Casar Harris và Mary Amanda Dew thuộc trung tâm y khoa đại học
Pittsburgh trong một cuộc nghiên cứu đã thấy rằng các bệnh
nhân có niềm tin tôn giáo sau khi thay tim đã chấp nhận chế
độ điều dưỡng hậu giải phẫu một cách tốt đẹp hơn,
đồng thời chứng tỏ một sức khoẻ tinh thần lẫn thể
lực vượt trội hơn trong trường kỳ. Trong một cuộc nghiên
cứu khác, bác sĩ Thomas Oxman và các đồng nghiệp tại trường
y khoa Dartmouth nhận thấy những bệnh nhân trên 55 tuổi có
tín ngưỡng, đã bị giải phẫu về những bệnh có liên quan
đến tim mạch, có khả năng sống sót 3 lần cao hơn nhưng
người không có niềm tin tôn giáo.
Những
lợi dưỡng có được từ đức tin là sản phẩm trực tiếp
của một vài tín lý và truyền thống tôn giáo khác biệt.
Nhiều Phật tử đã chịu đựng được các khổ não vì đã
tin tưởng mãnh liệt vào chủ thuyết duyên nghiệp. Tương
tự như thế, những người có niềm tin không gì lay chuyển
được đối với Thượng đế cũng kinh qua các khổ nạn bởi
niềm tin ở Thượng đế toàn năng và đầy tình thương, tin
rằng những dự định của Ngài có thể bí mật đối với
chúng ta trong hiện tại nhưng cuối cùng, trong sự hiểu biết
uyên áo của Ngài, Thượng đế sẽ hiển bày tình thương
cho chúng ta. Với tất cả niềm tin vào lời giảng trong kinh
Thánh, người ta có thể tìm thấy sự an ủi khi đọc những
đoạn như Romans 8:28 chẳng hạn "Mọi sự đều được xếp
đặt nhắm đến sự tốt lành cho những ai mến yêu Thượng
đế, cho những ai được ơn cứu gọi bởi
những mục tiêu của Ngài".
Mặc
dù có những tưởng thưởng dựa trên các giáo điều độc
nhất và đặc trưng đối với từng truyền thống tín ngưỡng
riêng biệt, có những đặc điểm do sức mạnh của đức
tin tạo ra có tính cách thông dụng trong tất cả các tôn giáo.
Tham gia vào hoạt động của các tổ chức tôn giáo khiến
người ta cảm thấy sự liên hệ với cộng đồng, có sự
quan tâm và chia xẻ với đồng đạo. Người ta thấy mình
như có đồng đội, được chấp nhận bởi người khác và
đồng thời làm cho mình thấy cuộc sống có mục tiêu và
ý nghĩa. Các niềm tin này cho chúng ta hy vọng khi phải đối
diện với nghịch cảnh, phiền não và cái chết. Chúng giúp
con người chấp nhận một viễn tượng trường cửu, cho phép
người ta vượt qua cái tôi của mình khi bị tràn ngập bởi
những khó khăn của đời sống.
Tuy
rằng các lợi dưỡng thiết yếu này lúc nào cũng dành sẵn
cho những người thực hành giáo điều của các tín ngưỡng
đã hình thành lâu đời trên mặt đất, người ta cũng thấy
rõ rằng đức tin tôn giáo không đủ để đảm bảo một
cuộc sống hạnh phúc và bình an. Ngay khi Terry ngồi trong xà
lim với xiềng xích trên mình và đang chứng nghiệm quyền
năng của niềm tin tôn giáo thì ngoài kia, cơn bạo động do
thịnh nộ và thù hận của đám đông đã chứng tỏ những
đóng góp xấu xa của sức mạnh tín ngưỡng. Qua bao nhiêu
năm tại Lebanon, nhân danh tín ngưỡng, cuộc chiến tranh đầy
thù hận và bạo lực giữa các nhóm Hồi giáo chống lại
Cơ Đốc và Do Thái giáo đã đưa đến những tàn độc không
thể nói được. Câu chuyện này quá cũ, đã được lập lại
nhiều lần trong lịch sử và vẫn được nhắc đến quá thường
trong đời sống hiện tại.
Do
bởi khả năng gây chia rẽ và thù hận, người ta có thể
mất niềm tin vào các cơ chế tôn giáo, và những hình ảnh
lớn của tôn giáo như đức Đạt Lai Lạt Ma đã cố gắng
thanh lọc những thành tố của cuộc sống tâm linh nhằm đáp
ứng ước vọng của bất cứ ai muốn có một cuộc sống
hạnh phúc, không kể đến việc người ta theo tôn giáo này
hay tôn giáo kia hoặc người ta có hay không có tín ngưỡng.
Đức
Đạt Lai Lạt Ma kết thúc buổi nói chuyện với viễn tượng
của Ngài về cuộc sống tâm linh bằng một giọng điệu tin
tưởng vững mạnh:
"Như
thế, khi nói về các chiều kích tâm linh trong đời sống,
chúng ta đã đề cập đến niềm tin tôn giáo như một cấp
độ tinh thần. Nói về tín ngưỡng, nếu chúng ta tin ở một
tôn giáo nào đó thì đấy là điều hay. Nhưng nếu không có
đức tin tôn giáo, chúng ta cũng có cách giải quyết. Trong
nhiều trường hợp, người ta còn thành công hơn nữa kia.
Nhưng đây là quyền riêng của mỗi người. Bây giờ chúng
ta đề cập đến một cấp độ khác mà tôi gọi là 'tâm
linh căn để' tức là những phẩm chất căn bản của con người
như sự tốt đẹp, hòa nhã, từ ái và quan tâm. Dù là tín
đồ hay không, những tâm linh căn để này đều rất thiết
yếu. Cá nhân tôi cho rằng mức độ thứ hai này quan trọng
hơn mức độ thứ nhất rất nhiều vì rằng dù một tôn giáo
có tuyệt vời đến đâu chăng nữa cũng chỉ được chấp
nhận bởi một số người, một phần nhỏ của nhân loại.
Trong khi tất cả mọi người, mỗi thành viên của cộng đồng
nhân loại đều cần đến những giá trị tinh thần căn bản
này. Không có chúng, sự sinh tồn của loài người vẫn khô
cằn và cực nhọc, và hậu quả là không ai trong chúng ta được
vui vẻ hạnh phúc, cả gia đình sẽ khổ lụy và cuối cùng,
xã hội bị nhiễu loạn. Do vậy mà vun bồi những giá trị
tinh thần căn để này là điều vô cùng hệ trọng.
"Để
phát huy các giá trị tinh thần căn bản này, chúng ta cần
nhớ rằng trong số 5 tỷ con người đang sống trên mặt đất,
chỉ có 1 hay 2 tỷ là những người tin tưởng nhiệt thành
vào tôn giáo. Khi nói tin tưởng nhiệt thành, tôi không có
ý bao gồm những người ngoài miệng vẫn nói 'Tôi là tín
hữu Cơ Đốc' chỉ vì gia đình họ theo Cơ Đốc, nhưng trong
đời sống hàng ngày thì không mấy khi nghĩ đến những giá
trị tinh thần hay thực hành những giáo điều của Cơ Đốc
giáo. Nếu trừ lớp người này ra, có lẽ chỉ độ 1 tỷ
người thực hành và tin tưởng với tất cả nhiệt tâm vào
tôn giáo của họ. Điều này có nghĩa là còn lại 4 tỷ, đa
phần nhân loại trên trái đất này không tin vào tôn giáo
và chúng ta phải tìm cách cải thiện đời sống tinh thần
của số đông nhân loại đó để họ trở nên những người
tốt, có luân lý, có đạo đức mà không cần đến tín ngưỡng.
"Tôi
nghĩ rằng ở đây, vai trò của giáo dục rất cần thiết:
Làm cho người ta thấm nhuần với từ ái, khoan hòa tức
là những phẩm chất tốt đẹp căn bản của con người chứ
không chỉ là những mục tiêu của tín ngưỡng. Trước đây
chúng ta đã bàn luận khá đầy đủ về tầm quan trọng của
nồng nhiệt, trìu mến, từ tâm đối với sức khoẻ thể
chất, hạnh phúc và bình an tâm thức. Các cảm xúc này là
những mục tiêu thực tiễn chứ không phải là nguyên lý tôn
giáo hay dự tưởng triết học. Chúng là những vấn đề then
chốt và cũng là tinh túy của các giáo điều trong các tôn
giáo khác nhau. Có theo hay không theo một tín ngưỡng, những
mục tiêu này vẫn quan hệ như nhau và giáo dục có bổn phận
nhấn mạnh đến ý tưởng rằng con người vẫn tốt đẹp,
biết phán đoán, với những trách nhiệm và cam kết làm cho
thế giới này trở nên một nơi chốn
tốt
đẹp và hạnh phúc hơn mà không cần đến tôn giáo.
"Nói
chung, có những hình thức bên ngoài để cho người ta
nhận diện một người đang theo một tôn giáo hay một lối
sống tâm linh nào đó như trang phục, bàn thờ trong nhà, ca
múa hay tế lễ ... tức là các chỉ dấu ngoại vi. Những ấn
chứng này, tuy vậy, chỉ đóng vai thứ yếu so với các giá
trị tinh thần căn bản để xây dựng một đời sống tâm
linh thực thụ vì rằng những người mang nặng trong mình trạng
thái tâm thức tiêu cực vẫn dễ dàng theo đuổi và thực
hành các biểu tượng này. Chỉ có những ấn chứng tâm linh
chân thực mới làm cho người ta trở nên tĩnh lặng hơn, hạnh
phúc hơn và an bình hơn.
"Tất
cả các phẩm hạnh của tâm thức - từ ái, khoan nhượng,
tha thứ, quan tâm - là các pháp chân chính, là các giá trị
tâm linh đích thực vì chúng không cộng tồn với những cảm
xúc nguy hại và tâm thức tiêu cực. Cho nên, dấn thân vào
công tác hay phương pháp huấn luyện các nguyên tắc nội tại
là yếu tính của đời sống tôn giáo, những nguyên tắc có
mục đích vun bồi tính tích cực của tâm thức. Vì vậy,
người ta có đạt được một đời sống tâm linh hay không
là tùy thuộc vào việc người ta có thành công hay không trong
công việc rèn luyện và thuần hóa tâm thức, chuyển
đạt tâm thức này vào đời sống hàng ngày."
Đến
giờ đức Đạt Lai Lạt Ma tham dự một buổi tiếp tân nhỏ
được tổ chức để tuyên dương một nhóm ân nhân đã mạnh
mẽ ủng hộ cho cuộc vận động giúp đỡ Tây Tạng. Bên
ngoài phòng khánh tiết, quan khách tụ tập đông đảo để
chào đón đức Đạt Lai Lạt Ma và khi gần đến giờ khai
mạc thì đám đông đã đầy nghẹt. Trong số khán giả, tôi
nhận ra một khuôn mặt mà tôi đã gặp vài lần trong tuần
này. Ngoại diện của anh ta rất khó mà xác định tuổi tác
nhưng tôi đoán vào khoảng 25, gần 30, cao và rất gầy ốm.
Bề ngoài lôi thôi xốc xếch của người này khiến tôi chú
ý tới vẻ lo lắng, trầm uất nặng nề trên nét mặt (mà
tôi thường thấy ở các bệnh nhân tâm thần). Tôi cũng nhận
ra các cử động liên tục và không có chủ ý của các bắp
thịt ở quanh miệng người đàn ông. Tôi nghĩ đến chứng
Tardic Dyskinesia, một hiệu ứng thần kinh do việc dùng thuốc
chống rối loạn tâm lý trong một thời gian dài. Tôi nhủ
thầm "Tội nghiệp !" và rồi quên mất anh ta sau đó.
Khi
đức Đạt Lai Lạt Ma xuất hiện, đám đông vốn đã chật
cứng mà ai cũng muốn đến gần để chào đón Ngài. Nhân
viên bảo vệ, đa số làm thiện nguyện, đã rất khó nhọc
để chống lại sức xô đẩy của quan khách hầu giữ được
khoảng trống cho đức Đạt Lai Lạt Ma tiến đến phòng tiếp
tân. Người đàn ông lúc nãy bỗng xuất hiện trong tầm mắt
tôi, anh ta bị đám đông dồn ép đến sát lằn ranh của nhân
viên bảo vệ và nét mặt trông càng bất an, bối rối. Lúc
đức Đạt Lai Lạt Ma đi ngang qua, Ngài thấy người đàn ông.
Ngài nhìn anh ta, tách khỏi đám bảo vệ và đến hỏi chuyện
với người đàn ông này. Đầu tiên anh ta có vẻ sửng sốt
nhưng sau đó đã nói thật nhanh với đức Đạt Lai Lạt Ma
trong khi Ngài chỉ đáp lại rất ít. Vì đứng xa nên
không nghe được họ trao đổi với nhau những gì nhưng tôi
thấy người đàn ông càng nói càng lộ vẻ kích động, bối
rối. Anh ta hỏi một câu gì đó và thay vì trả lời, đức
Đạt Lai Lạt Ma nắm tay anh ta vào giữa hai bàn tay của mình,
vỗ nhẹ. Ngài đứng yên và cúi đầu trong giây lát. Khi cầm
chặt bàn tay và nhìn vào mắt người đàn ông, đức Đạt
Lai Lạt Ma như quên hẳn đám đông quan khách đang vây quanh
Ngài. Vẻ đau khổ và kích động trên nét mặt người đàn
ông bỗng dịu hẳn đi khi hai giọt lệ hiện ra trên khóe mắt
và lăn dài xuống gò má. Anh ta nở một nụ cười tuy vẫn
còn gượng gạo và yếu ớt, ánh mắt người đàn ông đã
lộ vẻ thoải mái, hân hoan.
Đức
Đạt Lai Lạt Ma đã nhấn mạnh nhiều lần rằng các nguyên
tắc nội tại là căn bản của đời sống tâm linh, rằng
chúng là phương tiện không thể thiếu để đạt được hạnh
phúc. Như đã trình bày trong suốt cuốn sách, theo quan điểm
của Ngài, nguyên tắc nội tại bao gồm việc chiến đấu
chống lại những tình trạng tiêu cực của tâm thức như
THAM, SÂN, SI đồng thời phát huy các phương diện tích cực
như HÒA NHÃ, TỪ ÁI, KHOAN NHƯỢNG. Ngài cũng nói rằng một
cuộc sống hạnh phúc được xây dựng trên nền tảng bình
an, không giao động của tâm thức. Công tác hành trì các nguyên
tắc nội tại có thể gồm những kỹ thuật thiền quán nhằm
giúp tâm thức chúng ta được ổn định và tĩnh lặng. Hầu
hết các truyền thống tâm linh trên thế giới đều nhắm
đến sự tĩnh lặng của tâm thức, giúp chúng ta động chạm
đến bản năng tâm linh sâu kín của mình. Để kết thúc tuần
lễ nói chuyện với công chúng tại Arizona, đức Đạt Lai
Lạt Ma đã hướng dẫn thính giả một phép quán nhằm hiểu
rõ bản chất căn để của tâm thức đồng thời giúp chúng
ta an tâm / tĩnh tâm.
Nhìn
quanh thính đường, đức Đạt Lai Lạt Ma bắt đầu nói với
phong cách như thể đang nói chuyện, đang hướng dẫn từng
người chứ không phải nói với cả đám đông. Có lúc như
bất động vì chú tâm, có lúc diễn tả rất hoạt bát với
các động tác như gật đầu, ra dấu, nghiêng người nhằm
giúp thính giả lĩnh hội dễ dàng sự diễn đạt của Ngài.
QUÁN
TƯỚNG VỀ BẢN THỂ CỦA TÂM
"Mục
tiêu của phép quán này là giúp chúng ta nhận diện bản chất
của tâm thức con người." Đức Đạt Lai Lạt Ma bắt đầu:
"Ít nhất là trên bình diện thông dụng. Thông thường, khi
nói đến tâm là chúng ta nói đến một ý niệm trừu tượng.
Nếu không có những kinh nghiệm trực tiếp, người ta thường
cho TÂM = TRÍ tức là bộ óc của chúng ta; hoặc nếu phải
đưa ra một định nghĩa, chúng ta sẽ nói rằng đó là khả
năng hiểu biết, một cái gì rõ ràng và nhận thức được[2]).
Nhưng nếu không nắm bắt được bản chất của tâm bằng
quán sát, các định nghĩa này chỉ là những danh từ trống
rỗng. Cho nên phải hiểu tâm bằng kinh nghiệm trực tiếp
chứ không phải bằng các ý niệm trừu tượng. Và mục đích
của phép quán này là nhận thức, nắm bắt trực tiếp bản
thể của tâm để có thể hiểu được những phẩm chất
như 'trong sáng', 'nhận thức' bằng chính kinh nghiệm của mình
chứ không qua sách vở.
"Phép
quán này giúp chúng ta đình chỉ những ý tưởng liên miên
bất tận trong đầu óc và từ từ kéo dài các thời gian đình
chỉ này. Khi thực hành đều đặn phép quán này, nhiều
lúc chúng ta có cảm giác trống vắng, chân không nhưng nếu
cứ tiếp tục thực hành, chúng ta sẽ dần dà nhận ra bản
chất của tâm, hiểu được tính trong sáng và tính nhận thức
của nó. Cũng giống như một cái ly đựng đầy nước, nếu
nước thật tinh khiết, chúng ta có thể nhìn rõ đáy ly (không
bị một ngăn ngại nào) mà vẫn biết có nước trong ly.
"Hôm
nay chúng ta thực tập phép quán Vô Niệm. Đây không phải
là một tình trạng mờ đục hay rỗng không của tâm thức
mà thực ra, chúng ta đang gây tạo một quyết tâm để đình
chỉ các ý tưởng tán loạn trong tâm thức. Và đây là cách
thực hành:
"Thông
thường thì tâm chúng ta lúc nào cũng theo đuổi hay nghĩ đến
những chủ thể ngoại vi. Sự chú tâm của chúng ta sau các
ý tưởng này do bởi kinh nghiệm đã có, nó phân tích và so
sánh các ý tưởng này ở mức độ ý niệm. Nói cách khác,
sự hiểu biết của chúng ta bị ảnh hưởng bởi các kinh
nghiệm thể chất cũng như ý niệm tinh thần. Với phép quán
này, chúng ta kéo tâm thức của mình vào phía trong, không để
nó chạy theo trần cảnh. Khi làm như vậy, chúng ta phải cẩn
thận, đừng để mình rơi vào trạng thái mê mờ, thiếu tỉnh
thức mà phải hoàn toàn tỉnh táo để nhận ra bản chất
tự nhiên của tâm thức chúng ta, cái bản chất không bị
chi phối bởi kỷ niệm trong quá khứ, sự việc đang xảy
ra trong hiện tại hay những dự phóng trong tương lai ... Đó
là bản chất tự nhiên, vô tính của tâm thức.
"Cũng
tương tự như giòng sông đang chảy xiết , chúng ta không dễ
gì nhìn thấy đáy. Nhưng nếu bằng một cách thế nào đó
mà chúng ta có thể làm cho nước không chảy vào ở đầu
này và cũng không chảy ra ở đầu kia, tức là làm cho nước
ngừng trôi thì chúng ta có thể nhìn rõ đáy sông. Cũng vậy,
nếu có thể giữ cho tâm không chạy theo trần cảnh, không
suy nghĩ đến quá khứ/hiện tại/tương lai đồng thời giữ
vững sự tỉnh thức thì chúng ta sẽ nhận ra bản chất của
tâm bên dưới các diễn biến loạn động của ý thức. Đây
là bản chất tĩnh lặng, trong sáng của tâm thức.
"Giai
đoạn đầu của phép quán này rất khó thực hành cho nên
chúng ta hãy bắt đầu từ chỗ này: Đầu tiên, khi nhận ra
bản chất tự nhiên của tâm thức, chúng ta có cảm tưởng
trống rỗng. Đấy là vì chúng ta vốn quá quen thuộc với
lối hiểu tâm qua trần cảnh, qua các chủ thể ngoại vi, chúng
ta có khuynh hướng nhìn thế giới qua những ý niệm, những
ấn tượng của chính mình. Và khi kéo tâm rời khỏi trần
cảnh, chúng ta gần như không nhận ra tâm nữa vì cảm giác
trống vắng rỗng không. Tuy nhiên, nếu cứ tiếp tục, cứ
làm quen với trạng thái này, dần dà, chúng ta sẽ nhận ra
bản chất trong sáng, chiếu rọi của tâm. Và đây là lúc
mà con người nhận thức, chứng ngộ được bản thể tự
nhiên của tâm thức.
"Rất
nhiều những kinh nghiệm quán sát sâu xa và chân chánh đều
cần đến sự tĩnh lặng của tâm thức ... " Đức Đạt Lai
Lạt Ma cười và tiếp: "Nhưng tôi xin lưu ý quý vị là thực
hành phép quán này rất dễ bị buồn ngủ, lý do là vì không
có mục tiêu nào để chú tâm. Nàọ chúng ta hãy bắt đầu.
"Chúng
ta hít vào và thở ra ba lần. Tập trung tất cả tư tưởng
vào hơi thở. Hít vào-thở ra, hít vào-thở ra, hít vào-thở
ra. Và chúng ta bắt đầu quán tưởng ..."
Đức
Đạt Lai Lạt Ma gỡ mắt kiếng xuống, xếp hai tay lên đùi
và ngồi bất động. Một sự yên lặng hoàn toàn bao phủ
thính đường khi 1,500 người quay về với nột tâm, tìm vào
sự biệt lập của 1,500 tiểu thế giới, cố gắng định
tĩnh giòng tư tưởng miên man với hy vọng thoáng thấy được
bản tâm của mình. Sau 5 phút, bầu không khí yên tĩnh của
căn phòng được giải tỏa bằng âm điệu trầm bổng của
lời kinh do đức Đạt Lai Lạt Ma xướng lên để chấm dứt
buổi quán niệm.
Khi
buổi nói chuyện kết thúc, theo thói quen, đức Đạt Lai Lạt
Ma chắp tay vái chào thính giả với vẻ kính trọng và trìu
mến. Ngài đứng lên và rời khỏi phòng xuyên qua đám đông
thính giả. Hai tay vẫn chắp lại, Ngài cúi chào mọi người
thấp đến nỗi chỉ đứng cách xa ít thước là không thấy
được Ngài. Đức Đạt Lai Lạt Ma như chìm hẳn vào biển
người lố nhố. Tuy nhiên, từ đằng xa người ta vẫn thấy
được chỗ Ngài vừa đi qua do sự xê dịch của đám đông
thính giả. Làm như thể đức Đạt Lai Lạt Ma đã biến mất
trong tầm mắt của mọi người và sự hiện diện của Ngài
chỉ còn là một cảm giác.
VÀI
TÁC PHẨM CHỌN LỌC CỦA ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA
(Chúng
tôi xếp theo thứ tự thời gian và ghi tên nhà xuất bản để
quý độc giả dễ tìm mua)
Kindness,
Clarity and Insight
Ithaca:
Snow Lion Publication 1984
The
Dalai Lama: A Policy of Kindness
Ithaca:
Snow Lion Publication 1990
Freedom
in Exile, The Autobiography of The Dalai Lama
New
York: Harper Collins 1991
A Flash
of Lightning in the Dark of Night
Boston:
Shambhala Publication 1994
The
World of Tibetan Buddhism
Boston:
Wisdom Publication 1995
The
Four Noble Truths
London:
Thorsons 1998
[1]
Bồ Tát hạnh là ước nguyện đạt được phẩm vị Bồ Tát
của một hành giả tâm linh. Bồ Tát theo từ nguyên có nghĩa
là "chiến sĩ tĩnh thức" tức là những người đã thoát khỏi
sự trói buộc của sinh tử luân hồi, đã có khả năng đạt
đến tình trạng giác ngộ tối thượng nhưng vì lòng yêu
thương từ ái vô cùng vô tận đã tình nguyện trở lại cõi
ta bà để cứu độ muôn loài cho đến khi không còn một chúng
sinh nào bị khổ não nữa.
[2]
Đối với quần chúng Tây phương, chữ MIND đơn thuần là
TRÍ hay TRI THỨC tức là chức năng của não bộ. Đa số ngôn
từ Âu Tây không có từ nào tương đương với chữ TÂM của
Á Đông nhất là trong tư tưởng Phật giáo. Do vậy, đức
Đạt Lai Lạt Ma đã giải thích rành mạch về chữ tâm hay
tâm thức theo phạm trù Phật giáo để người Tây phương
không hiểu lầm. Xin xem lại phần đầu của chương I. (Phụ
chú của dịch giả)