Duyên
khởi (prat´tya-samutpda) là giáo lý quan trọng nhất của Phật
giáo, nó là giáo lý được đức Thế Tôn chứng ngộ dưới
cội cây Bồ đề (Bodhi), trước khi Ngài trở thành đấng
giác ngộ, bậc Đạo sư cho chư Thiên và loài người. Có thể
nói, Duyên khởi không chỉ là giáo lý chỉ rõ nguyên tắc
vận hành của mọi pháp trong thế gian, từ vật lý cho đến
tâm lý, không một pháp nào hình thành hay biến hoại mà ra
ngoài qui luật này, nó còn là lý thuyết đầu tiên phản bác
hệ thống triết học Vệ Đà của Bà la môn, phủ nhận tư
tưởng sáng tạo của đấng Phạm Thiên (Brahman) để hình
thành tư tưởng “Tự tác tự thọ” (mình làm mình chịu)
đề cao vị trí con người, con người là chủ nhân ông cho
chính mình, không ai khác hơn có thẩm quyền định đoạt cuộc
sống cho mình.
Không
những chỉ có thế, Thế Tôn căn cứ từ đạo lý Duyên khởi
này, phát hiện vô minh (avidy) là nguyên nhân sâu xa tạo thành
những phiền não khổ đau cho con người, đồng thời Ngài
cũng chỉ rõ rằng chỉ có vai trò trí tuệ (P. pa??, S. pra-j?a-paramit)
mới có thể đoạn trừ vô minh đó. Do vậy, Ngài căn cứ
vào lý thuyết Duyên khởi, thiết lập 12 nhân duyên (Dvda§ºgaprat´tyasamutpda)
để thuyết minh quá trình hình thành khổ đau cho con người,
với chi đầu tiên là vô minh và chi cuối cùng là lão tử,
là chi biểu thị trạng thái khổ đau. Nếu đứng về mặt
nhân quả giải thích, nhân là vô minh quả là khổ, như vậy
muốn chấm dứt quả khổ bằng cách diệt trừ cái nhân là
vô minh. Thế thì bằng cách nào để diệt trừ vô minh? câu
trả lời chuẩn xác là 37 phẩm trợ đạo, là phương pháp
tu tập trong thời kỳ Phật giáo Nguyên thủy. Thế nhưng trình
độ hiểu biết của chúng sinh lại không đồng, vì mục đích
giáo dục cho họ không thể không sử dụng pháp phương tiện
nhằm giáo dục chúng sinh, do vậy hình thành tất cả Phật
pháp. Như vậy pháp Duyên khởi là giáo lý quan trọng của
Phật giáo.
Ở
đây chúng ta cũng cần chú ý, pháp 12 nhân duyên là pháp thuyết
minh về sự sinh diệt của khổ đau, thuộc về trạng thái
tâm lý không phải vật lý. Do vậy, phái Thuyết Nhứt Thiết
Hữu Bộ không thể lấy lý thuyết 12 nhân duyên để giải
thích ‘Tam thế thật hữu, pháp thể hằng hữu’, là lý
thuyết cho rằng, các pháp (vật chất) là thật có, cho nên
phái này cũng căn cứ vào lý thuyết Duyên khởi thiết lập
thuyết 6 nhân 4 duyên, nhằm lý giải các pháp hình thành và
tồn tại. Do vậy pháp duyên khởi, 12 nhân duyên và thuyết
6 nhân 4 duyên có sự khác biệt nhau.
Trong
bài viết này, người viết chủ yếu phân tích lý giải ý
nghĩa và sự dị biệt của 3 cụm từ trên.
1.
DUYÊN KHỞI
1.1
Duyên khởi là pháp được đức Phật giác ngộ dưới cội
cây Bồ đề
Theo
“Kinh Thánh Cầu” (Ariyapariyesanasuttam) trong “Kinh Trung Bộ”
(Majjhima Nikaya) Thế Tôn đã trải qua 6 năm tu tập khổ hạnh
với hai vị đạo sư nổi tiếng đương thời là Alara Kalama
và Uddaka Ramaputta. Truyền thuyết cho rằng, trong thời gian tu
tập này, Ngài đã thực hành pháp khổ hạnh cho đến thân
còn xương bọc da, và đã chứng được quả vị cao nhất
của phái tu này. Thế nhưng, Thế Tôn cảm thấy không hài
lòng với mục đích xuất gia tìm đạo của Ngài là sự tìm
cầu giác ngộ và giải thoát cho chính mình cũng như cho mọi
loại chúng sinh, cho nên Ngài đã quyết định từ bỏ hai vị
đạo sư này, tìm đến bờ sông Ni-liên-thiền. Tại đây,
Ngài ngồi dưới cội cây Bồ đề suốt 49 ngày đêm tỉnh
tọa thiền quán, cuối cùng vào đêm thứ 49 Ngài đã thành
tựu mục đích xuất gia của mình, thành đạt giác ngộ và
giải thoát, kể từ đó Ngài được mọi người tôn xưng
là Phật (Buddha).
Giáo
lý mà Thế Tôn chứng ngộ dưới cội cây Bồ đề là gì?
Có người cho rằng là pháp Tứ đế (Catvri-ryasatyni),
vì pháp này có nội dung nói lên 4 chân lý ở thế gian là:
khổ (Duúkha-satya), tập (Samudaya-satya), diệt (Nirodha-satya) và
đạo(Mrga-satya). Nói cách khác, khổ tập là lối sống của
chúng sinh và diệt đạo là cách sống của bậc Thánh, phù
hợp với mục đích xuất gia tìm đạo của Ngài. Nhưng theo
người viết, giáo lý mà Ngài chứng ngộ dưới cội cây Bồ
đề không phải là Tứ đế mà chính là pháp Duyên khởi (prat´tya-samutpda),
vì nội dung pháp Tứ đế cũng chỉ là pháp được hình thành
sau khi chứng pháp Duyên khởi, có nghĩa là căn cứ vào đạo
lý pháp Duyên khởi để giải thích lý do tại sao con người
có đau khổ và bằng cách nào để chấm dứt sự đau khổ
đó, hình thành pháp Tứ đế. Hơn nữa, giáo lý Duyên khởi
là giáo lý cơ bản nhất của Phật giáo, từ nội dung và
ý nghĩa của giáo lý Duyên khởi đi đến việc hình thành
37 phẩm trợ đạo cũng như các pháp khác. Đồng thời, nó
cũng nói lên sự dị biệt giữa quan điểm của đức Phật
với các quan điểm triết học truyền thống và phi truyền
thống của Ấn Độ về nhân sinh và vũ trụ. Cụ thể nhất,
“Kinh Thánh Cầu” trong “Kinh Trung Bộ » được đức Phật
xác nhận như sau:
“"Pháp
này do Ta chứng được, thật là sâu kín... Đối với quần
chúng ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó
mà thấy được định lý Idapaccàyata Paticcasamuppada (Y Tánh
Duyên Khởi Pháp)”[1]
Trong
đoạn kinh vừa dẫn, trong đó đề cập giáo lý sâu xa mà
đức Phật giác ngộ dưới cội cây Bồ đề là Idapaccàyata
Paticcasamuppada (Y Tánh Duyên Khởi Pháp), đó chính là giáo lý
Duyên khởi. Nó vốn là chân lý thế gian, có nội dung và ý
nghĩa thật sâu xa được Thế Tôn phát hiện. Qua đó, nó cho
phép chúng ta đi đến việc khẳng định nội dung mà đức
Thế Tôn chứng ngộ dưới cội cây Bồ đề là pháp Duyên
khởi. Điều đó cũng phù hợp với hệ thống giáo lý của
Ngài, ngoài ý nghĩa tu tập và giải thoát của tôn giáo, còn
mang tính đột phá muốn làm một cuộc cải cách tư tưởng
và thể chế chính trị bất bình đẳng của giai cấp thống
trị tối cao là Bà la môn. Giáo lý Duyên khởi mới là hệ
thống triết lý với lý luận vững chắc, mới đủ sức công
phá học thuyết sáng tạo của Phạm Thiên. Ý nghĩa này chúng
ta sẽ tiếp tục thảo luận ở phần dưới đây
1.2
Ý nghĩa pháp Duyên khởi
Như
trên vừa thảo luận, Duyên khởi (prat´tya-samutpda) là pháp
được đức Thế Tôn giác ngộ dưới cội cây Bồ đề, trước
khi
Ngài thành bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Thế thì nội dung và
ý nghĩa của pháp Duyên khởi này là gì? Chúng ta có thể căn
cứ vào các kinh số: 292~299, 348~350 trong ‘Kinh Tạp A Hàm’
đều đề cập đến câu kệ :
Cái
này có nên cái kia có,
Cái
này sinh nên cái kia sinh;
Cái
này không nên cái kia không;
Cái
này diệt nên cái kia diệt.
4 câu
kệ này là nội dung và ý nghĩa của lý Duyên khởi được
đức Phật giác ngộ, nó mang tính định luật, qui luật, qui
tắc. Từ định luật này mà phát triển thành 12 Nhân duyên,
Tứ Đế, nhân quả nghiệp báo...và thậm chí sau này, phái
Hữu Bộ (Sarvstivdin) cũng căn cứ định luật này mà hình
thành thuyết 6 nhân (sad-hetavah) 4 duyên (catvārah pratyayāh).
Hai câu đầu của bài kệ :´Cái này có nên cái kia có, cái
này sinh nên cái kia sinh´ đề cập đến nguyên tắc hình thành
các pháp, nói lên ý nghĩa mối tương quan giữa cái này và
cái khác, ví dụ khái niệm cha và con có mối quan hệ thiết
thân, khi người con vừa ra đời thì khái niệm cha liền xuất
hiện, và khái niệm cha chỉ xuất hiện khi người con ra đời,
không thể không có con mà lại có khái niệm cha. Đây là mối
tương quan bình đẳng giữa cái này và cái khác. Ngoài ra còn
có sự tương quan mang tính nhân và quả, do nhân mà dẫn đến
quả. Ví dụ do có yếu tố cha và mẹ, cho nên có con. Như
vậy, cha mẹ là nhân để hình thành quả là con. Hay nói cách
khác con do cha mẹ sinh ra. Cả hai mối quan hệ này đều mang
ý nghĩa chung là sự hình thành của bất cứ môt vật nào
hay một khái niệm nào cũng đều do nhân duyên họp lại mà
thành, không thể có một pháp nào chỉ có một nhân, một
duyên mà có thể hình thành và tồn tại được. Như vậy,
sự tồn tại của các pháp mang tính vô thường chuyển biến,
vì một yếu tố nào trong đó hư hoại thì các yếu tố khác
cũng hủy hoại theo. Ngược lại, hai câu kệ còn lại : ´Cái
này không nên cái kia không; cái này diệt nên cái kia diệt´,
là đề cập đến qui luật về sự hoại diệt của các pháp.
Ví dụ, cơm từ gạo, nước, lửa, trong đó có cả yếu tố
con người...nấu thành, nếu như một trong những yếu này
không có thì cơm không thành, như vậy là sự hoại diệt của
các pháp.
Do
vậy, 4 câu kệ này mang tính qui luật của tiến trình sinh
và diệt của tất cả pháp, trong đó có cả con người và
ý thức của con người, không có một pháp nào sinh diệt mà
ra ngoài ý nghĩa này.
1.3
Duyên khởi là chân lý của thế gian
Chúng
ta thường cho rằng giáo pháp của Phật là chân lý ở thế
gian. Thế nào là chân lý? Vì nó mang tính qui luật chung cho
thế gian, có nghĩa là bất cứ thời gian và không gian nào
cũng đúng, không phải là đạo lý chỉ phù hợp ở thời
gian này, không phù hợp ở thời gian khác, chỉ đúng với
không gian này, không đúng với không gian khác. Đạo lý đó
được gọi là chân lý của thế gian. Đây chính là ý nghĩa
mà trong kinh đức Phật thường nói:
“Này
các Tỳ-kheo, các Ông đã được ta giới thiệu Chánh Pháp,
Pháp này thiết thực, hiện tại, không có thời gian, đến
để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người
trí tự thân giác hiểu. Này các Tỳ-kheo, Pháp này thiết thực,
hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả
năng hướng thượng, được người trí tự thân giác hiểu..“[2]
Pháp
đây tức chỉ cho đạo lý Duyên khởi, hoặc là pháp được
hình thành từ đạo lý Duyên khởi, pháp đó không những chỉ
có giá trị trong hiện tại mà có giá trị ở thời quá khứ
cũng như cả thời tương lai. Pháp đó không thể hiểu hay
chứng ngộ được bằng lòng tin mà phải bằng trí tuệ, người
nào có trí tuệ cũng thấy đạo lý của pháp này, không phải
chỉ riêng một mình đức Phật. Và bất cứ ai hiểu và thực
hiện đúng với pháp này thì người ấy cũng được giác
ngộ và giải thoát. Lẽ tất nhiên với người ngu si dù không
thấy không hiểu được đạo lý Duyên khởi, điều đó không
đồng nghĩa chân lý ấy không có giá trị với người ấy.
Ví dụ đạo lý sống của con người là phải ăn và uống,
nhưng kẻ ngu cho rằng, con người sống không cần ăn uống.
Do vậy không thể căn cứ vào người ngu mà bảo rằng đạo
lý sống đó sai. Đây chính là định nghĩa thế nào gọi là
chân lý. Căn cứ vào định nghĩa này, giáo lý Duyên khởi
có giá trị như thế nào? Để làm rõ điểm này, ở đây
chúng ta căn cứ “Kinh Tạp A hàm” Kinh số 296, đức Phật
giải thích:
“Dù
Phật có xuất hiện hay chưa xuất hiện ở thế gian thì pháp
này vẫn thường trụ, pháp trụ, pháp giới. Pháp này Như
Lai đã tự giác tri, thành Đẳng chánh giác, vì người diễn
nói, chỉ dạy, hiển bày rằng: duyên sanh nên có già, bệnh,
chết, ưu, bi, khổ, não... ”[3]
Ở
đây đức Phật khẳng định, pháp Duyên khởi mà Thế Tôn
chứng ngộ dưới cội cây Bồ đề là thường pháp của thế
gian, là chân lý của thế gian. Thế Tôn có xuất hiện hay
không xuất hiện thì pháp đó vẫn tồn tại ở thế gian,
sự sinh diệt của các pháp ở thế gian cũng phải căn cứ
vào đạo lý của pháp này. Thế Tôn chỉ là người đầu
tiên phát hiện pháp này, sau khi Ngài thực hành mang lại sự
lợi ích an lạc hạnh phúc, cho nên Ngài vì sự lợi ích cho
chúng sinh, nói lại giáo pháp này mà thôi. Pháp đó không phải
là pháp do Ngài tạo ra, cũng không phải do người khác tạo
ra. Như trong Kinh số 299 “Kinh Tạp A Hàm” như lời vấn đáp
giữa các Tỳ kheo và đức Phật như sau:
“Bạch
Thế Tôn, pháp duyên khởi mà Ngài nói, là do Thế Tôn làm
ra hay do người khác làm ra?”
Phật
bảo Tỳ-kheo: “Pháp duyên khởi chẳng phải do Ta tạo ra,
cũng chẳng phải do người khác tạo ra. Nhưng dù Như Lai có
xuất hiện hay chưa xuất hiện ở thế gian thì pháp giới
này vẫn thường trụ. Như Lai tự giác ngộ pháp này, thành
Đẳng chánh giác, vì tất cả chúng sanh mà phân biệt, diễn
nói, chỉ dạy hiển bày; đó là: Cái này có nên cái kia có,
cái này khởi nên cái kia khởi. Tức là do duyên vô minh nên
có hành, … cho đến việc tụ tập thuần một khối khổ
lớn. Do vô minh diệt nên hành cũng diệt,… cho đến việc
thuần một khối khổ lớn tụ tập cũng bị diệt.”[4]
Nếu
như pháp Duyên khởi là đạo lý chung cho thế gian, điều đó
có nghĩa là bất cứ người nào ở trên thế gian, dù cho người
nào ở đâu thuộc tôn giáo nào cũng phải tuân thủ đạo
lý này. Nếu ai làm đúng theo đạo lý này sẽ được an lạc
hạnh phúc; ngược lại, bất cứ ai không tuân thủ đạo lý
Duyên khởi mà hành thì người đó sẽ chuốc lấy phiền não
khổ đau.
1.4
Ai thấy pháp Duyên khởi người ấy thấy Phật[5]
Như
đã được trình bày, giáo lý mà đức Thế Tôn giác ngộ
dưới cội cây Bồ đề là Duyên khởi, nhờ giác ngộ lý
Duyên khởi biết được vạn pháp đều vô thường, do vì
biết các pháp là vô thường, nhờ vậy hiểu rõ con người
là vô ngã và vô ngã sở. Do vô thường mà chấp là thường,
do vô ngã mà chấp là ngã cho nên sinh ra khổ, muốn chấm dứt
nổi khổ ấy phải diệt trừ tính cố chấp hay là vô minh,
do vậy, hình thành 37 phẩm trợ đạo và tất cả Phật pháp.
Như vậy, Duyên khởi là pháp rất quan trọng trong hệ thống
giáo lý nhà Phật. Đó chính là lý do tại sao trong Kinh A hàm
hay Nikaya có câu:
"Ai
thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được pháp;
ai thấy được pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi"[6]
Thật
ra, lời dạy này mang ý nghĩa rất xâu sắc, Ngài muốn xác
định rằng, tất cả Phật pháp đều dựa vào ý nghĩa duyên
khởi mà hình thành; Duyên khởi là chân lý, là pháp thường
trụ của thế gian, cho nên Phật pháp cũng là pháp mô tả
về chân lý của thế gian. Như vậy pháp đó, nhất định
có liên hệ đến đời sống con người và con người có thể
hiểu và thực hành được. Điều đó có nghĩa, ai muốn hiểu
được tinh thần Phật pháp trong các kinh điển, người ấy
phải hiểu đạo lý Duyên khởi, và ngược lại ai muốn hiểu
rõ lý Duyên khỏi cũng phải hiểu rõ Phật pháp, có nghĩa
là ngang qua tam tạng giáo điển, chúng ta mới có thể hiểu
rõ ý nghĩa giáo lý Duyên khởi.
Ngoài
ra, trong Phật pháp còn có câu tương tợ: ’Ai thấy pháp người
ấy thấy Phật, ai thấy Phật người ấy thấy pháp.’
Thật
ra lời dạy này, xuất xứ từ “Kinh Tương Ưng“. Câu chuyện
được ghi lại với ý nghĩa, Tỳ kheo Vakkali bị bịnh nặng,
sắp bỏ thân này, vị Tỳ kheo này rất muốn được đảnh
lễ Thế Tôn lần cuối, nhưng vì bịnh nặng không đi nổi.
Thế Tôn biết được ước nguyện của ông, cho nên đức
Thế Tôn đích thân đến thăm và hỏi ông có điều gì muốn
nói không? Vakkali trả lời, ông chỉ hối hân một điều không
được đích thân đến đảnh lễ và chiêm ngưỡng dung nhan
đức Thế Tôn. Cho nên Thế Tôn đã dạy ông:
“Thôi
vừa rồi, này Vakkali, có gì đáng thấy đối với cái thân
hôi hám này. Này Vakkali, ai thấy Pháp, người ấy thấy Ta.
Ai thấy Ta, người ấy thấy Pháp. Này Vakkali, đang thấy Pháp,
là thấy Ta. Ðang thấy Ta, là thấy Pháp.”[7]
Trong
câu trả lời của Thế Tôn cho Vakkali có 2 vấn đề chúng
ta cần chú ý. Thứ nhất, Ngài nói: “có gì đáng nói cái
thân hôi hám này”. Câu này xác định, thân thể của Đức
Phật cũng giống như thân thể của mọi người, cũng ăn,
cũng uống, cũng bài tiết các chất dơ bẩn, cũng hôi thúi
giống như mọi chúng sinh khác… Thế thì giữa đức Phật
và chúng sinh không khác gì sao? tất nhiên là có. Sự khác
biệt đó chính là cái tâm của Ngài. Tâm của Ngài là tâm
không còn tham lam, sân hận và ngu si, còn tâm của chúng sinh
thì ngược lại, gặp sắc đắm sắc, gặp chuyện trái lòng
sinh tâm sân hận, và lòng tràn đầy sự ngu si mê muội. Thứ
hai, câu: “Ai thấy Pháp, người ấy thấy Ta. Ai thấy Ta, người
ấy thấy Pháp”. Có thể nói câu này biểu thị quan điểm
của Ngài về thái độ chúng sinh nên cư xử với Ngài như
thế nào cho hợp lý. Ngài khuyên chúng ta không nên tôn sùng
lễ bái, đến với Ngài qua hình tướng bề ngoài, nên đến
với Ngài bằng hiểu biết và làm theo những gì mà Ngài đã
dạy. Điểm đặc thù của đức Phật là sự giác ngộ và
sống cuộc đời giải thoát không có buồn phiền thù hận,
cử chỉ và lời nói (pháp) của Ngài là đạo lý của giác
ngộ và giải thoát, như vậy ai đó sống trong giác ngộ và
giải thoát, người ấy thấy được Phật và cũng thấy được
pháp, Phật và pháp tuy hai mà một, vì Phật chính là pháp,
pháp cũng chính là Phật. Do vậy, chúng ta tỏ lòng biết ơn
cung kính lễ lạy Ngài bằng cách hiểu rõ giáo lý của Ngài,
sống trong sự hiểu biết và giải thoát. Đây chính là ý
nghĩa trong “Kinh Kim Cang” đức Phật dạy: “Nhược dĩ sắc
kiến ngã, dĩ âm thinh cầu ngã, thị năng hành tà đạo, bất
năng kiến Như Lai — Nếu ai đó muốn nhìn thấy ta qua hình
tướng, hoặc tìm cầu ta qua âm thanh. Đó là cách của kẻ
tà đạo, người ấy không bao giờ thấy được Như Lai.”
Đến với đạo Phật là đến để thấy và biết không phải
đến để tin, nơi đâu có sự hiểu biết, nơi ấy có giác
ngộ; nơi nào có giác ngội, nơi ấy có giải thoát; nơi nào
có giác ngộ và giải thoát, nơi ấy có Phật , cảnh giới
ấy là cảnh giới của Phật.
1.5
Duyên khởi là đạo lý phản bác tư tưởng sáng tạo của
Phạm Thiên
Chân
lý mà đức Phật giác ngộ dưới cội cây Bồ đề là giáo
lý Duyên khởi, nó không những là chân lý của thế gian, mặt
khác nó còn mang ý nghĩa phản bác lý thuyết Phạm Thiên -
đấng sáng tạo ra thế giới này. Đây chính là lý do tại
sao trong ‘Kinh Thánh Cầu’ trong “Kinh Trung Bộ” được
đức Phật xác nhận như sau:
“Này
các Tỷ-kheo, rồi Ta suy nghĩ như sau: "Pháp này do Ta chứng
được, thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh,
cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ người trí mới hiểu
thấu. Còn quần chúng này thì ưa ái dục, khoái ái dục, ham
thích ái dục. Đối với quần chúng ưa ái dục, khoái ái
dục, ham thích ái dục, thật khó mà thấy được định lý
Idapaccàyata Paticcasamuppada (Y Tánh Duyên Khởi Pháp); sự kiện
này thật khó thấy; tức là sự tịnh chỉ tất cả hành,
sự trừ bỏ tất cả sanh y, ái diệt, ly tham, đoạn diệt,
Niết-bàn. Nếu nay Ta thuyết pháp mà các người khác không
hiểu Ta, thời như vậy thật khổ não cho Ta, như vậy thật
bực mình cho Ta!”[8]
Trong
đoạn kinh vừa dẫn, trong đó đề cập giáo lý sâu xa mà
đức Phật giác ngộ dưới cội cây Bồ đề là Idapaccàyata
Paticcasamuppada (Y Tánh Duyên Khởi Pháp), là giáo lý mà chúng
ta thường gọi là Duyên khởi, cho rằng các pháp do nhân duyên
hợp lại mà thành, không do ai có thể sáng tạo, đây là đạo
lý ngược lại với tư tưởng truyền thống Ấn Độ, đó
chính là lý do tại sao đức Phật nói rằng : giáo lý mà Ngài
chứng được thậm thâm vi diệu, khó thấy khó hiểu, chỉ
có người trí mới có thể hiểu được. Điều đó phù hợp
với thực tế xã hội dưới một chế độ bất bình đẳng
và có quá nhiều sự ngang trái, do giai cấp Bà la môn thiết
lập, bằng thủ đoạn cho rằng, Phạm Thiên là đấng sáng
tạo con người và vũ trụ[9]. Con người đã do Phạm Thiên
sáng tạo, do vậy thân phận con người cũng phải do Phạm
Thiên định đoạt, đây chính là ý đồ hình thành xã hội
giai cấp. Ngang qua chế độ đẳng cấp này, người Bà la môn
muốn khẳng định quyền cai trị đất nước Ấn Độ thuộc
2 giai cấp Bà la môn và Sát đế lợi, hai giai cấp còn lại
chỉ là giai cấp phục dịch. Đồng thời, xem các thánh điển
Vệ Đà cũng như các luận thư như là bản Hiến pháp cho giai
cấp thống trị.
Nếu
như Kinh điển Vệ Đà, Luận thư được giai cấp thống trị
xem như bản Hiến Pháp của đất nước, thế mà pháp Duyên
khởi có nội dung phản bác lại tư tưởng Vệ Đà, điều
đó đồng nghĩa Thế Tôn chống lại giai cấp thống trị,
đây là việc hết sức mạo hiểm. Nếu như giáo lý đó được
Ngài công bố thì khó tránh khỏi sự nguy hiểm đến cho Ngài.
Ngược lại, nếu như Ngài không tuyên bố chân lý này, thì
điều đó đồng nghïa Ngài mặc cho giai cấp thống trị chà
đạp nhân phẩm giai cấp 3 và 4. Đây chính là lý do tại sao
đức Phật nói: “Nếu nay Ta thuyết pháp mà các người khác
không hiểu Ta, thời như vậy thật khổ não cho Ta, như vậy
thật bực mình cho Ta”. Từ ý nghĩa này, nó cũng gợi ý cho
chúng ta lý giải tại sao Ngài muốn nhập Niết bàn không muốn
nói pháp. Chính sự khó khăn này là lý do để hình thành câu
chuyện Phạm Thiên thỉnh Phật nói pháp. Đằng sau câu chuyện
đó, lại mang ý nghĩa khá thâm trầm, thật sâu sắc. Nếu
như Bà la môn xem đấng Phạm Thiên là đấng tối cao, có quyền
quyết định vấn đề nhân sinh và vũ trụ, mà người cung
thỉnh đức Phật ở lại trần gian và tuyên dương giáo pháp
chính là Phạm Thiên. Thế thì ai là người dám phản đối
lời cung thỉnh của Phạm Thiên? Nói cách khác, không ai có
thẩm quyền phản bác ý kiến Phạm Thiên. Câu chuyện này
được tung ra lưu truyền trong xã hội, do vậy, giai cấp thống
trị không ai có thể đụng đến đức Phật. Câu chuyện
ngụ ngôn đó, nó không những cứu Ngài thoát khỏi sự nguy
hiểm mà còn giúp Ngài mạnh dạn trong việc hoằng pháp lợi
sinh.
Chính
lý thuyết Duyên khởi này mới đủ cơ sở lý luận để phá
vỡ học thuyết sáng tạo của Bà La môn và hệ thống tín
ngưỡng cúng bái tế lễ vô ích. Từ đó, mới có thể đi
đến phản bác chế độ phân chia giai cấp, bất bình đẳng
nhằm phục vụ cho giai cấp thống trị. Không những chỉ có
thế, đạo lý Duyên khởi còn là cơ sở để hình thành lý
thuyết Nhân quả nghiệp báo để phản bác các hệ tư tưởng
vô thần với chủ trương hưởng thọ dục lạc, vô đạo
đức của xã hội Ấn Độ đương thời.
2.
NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA 12 NHÂN DUYÊN
Như
đã được trình bày, Duyên khởi (S. prat´tya-samutpda, P. paÊcca-samuppda)
là thường pháp, chân lý của thế gian, nói một cách dễ
hiểu là qui luật hình thành và hoại diệt của các pháp thuộc
vật lý và tâm lý, do vậy không ai có quyền thay đổi qui
luật đó. Thế nhưng, đây chỉ là định luật chung, làm thế
nào để giải thích nỗi khổ con người từ đâu sinh diệt,
định luật này không thể giải thích rõ ràng, do vậy đức
Phật căn cứ vào nguyên lý của định luật này, thiết lập
12 nhân duyên (Dvda§ºgaprat´tyasamutpda) là pháp lý giải
quá trình sinh và diệt của phiền não. Liên quan đến ý này,
’Kinh Đa Giới’ (Bahudhtukasuttam) trong “Kinh Trung Bộ" (Majjhima-
Nikya) tập 3, đức Phật giải thích:
“Ở
đây, này Ananda, Tỳ-kheo biết như sau: Nếu cái này có, cái
kia có; do cái này sanh, cái kia sanh. Nếu cái này không có,
cái kia không có; do cái này diệt, cái kia diệt. Tức là vô
minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh
sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ,
thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu; hữu duyên sanh;
do duyên sanh lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như
vậy, này Ananda, là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn
này.
Nhưng
do sự diệt trừ, sự ly tham hoàn toàn của chính vô minh này,
các hành diệt; do các hành diệt, danh sắc diệt; do danh sắc
diệt, lục nhập diệt; do lục nhập diệt, xúc diệt; do xúc
diệt, thọ diệt; do thọ diệt, ái diệt; do ái diệt, thủ
diệt, do thủ diệt, hữu diệt; do hữu diệt, sanh diệt, do
sanh diệt, lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não đoạn diệt. Như
vậy là sự đoạn diệt hoàn toàn của khổ uẩn này. Cho đến
như vậy, này Ananda, là vừa đủ để nói: "Tỳ-kheo thiện
xảo về duyên khởi".
Qua
đoạn kinh vừa trích dẫn cho thấy, câu: “ cái này không
có, cái kia không có; do cái này diệt, cái kia diệt" là nội
dung của định luật pháp Duyên khởi. Vì để giải thích
những sầu bi khổ ưu não con người từ đâu có, cho nên đức
Thế Tôn đã căn cứ định luật này thiết lập 12 nhân duyên
bắt đầu từ: Do (1) vô minh duyên hành, (2) hành duyên thức,
(3) thức duyên danh sắc, (4) danh sắc duyên lục nhập, (5) lục
nhập duyên xúc, (6) xúc duyên thọ, (7) thọ duyên ái, (8) ái
duyên thủ, (9) thủ duyên hữu; (10) hữu duyên sanh; (11) do duyên
sanh (12) lão tử, sầu, bi, khổ, ưu. Đó là quá trình sanh khởi
của khổ đau. Điểm khởi đầu từ chi thức nhất là vô
minh và chi thứ 12 là lão tử. Lão tử là trạng thái khổ
đau nhất của đời người, cho nên lấy lão tử làm chi cuối
cùng, biểu thị cho trạng thái tâm lý khổ đau. Như vậy,
vô minh là nhân của khổ. Đây là quan điểm chung nhất của
Phật giáo.
Ở
đây ý nghĩa của từng chi như thế nào, trong đoạn kinh vừa
dẫn vẫn chưa giải thích, do vậy người viết căn cứ “Kinh
Tạp A Hàm" Kinh số: 298 giải thích ý nghĩa từng chi, trước
hết là chi Vô minh:
“Tức
là, duyên vô minh nên có hành. Thế nào là vô minh? Nếu chẳng
biết tiền tế, chẳng biết hậu tế, chẳng biết cả tiền
hậu tế; chẳng biết trong, chẳng biết ngoài, chẳng biết
cả trong lẫn ngoài; chẳng biết nghiệp, chẳng biết báo,
chẳng biết nghiệp báo; chẳng biết Phật, chẳng biết Pháp,
chẳng biết Tăng; chẳng biết Khổ, chẳng biết Tập, chẳng
biết Diệt, chẳng biết Đạo; chẳng biết nhân, chẳng biết
pháp sanh khởi bởi nhân; chẳng biết thiện, bất thiện, có
tội, không tội, tập, không tập; hoặc kém, hoặc hơn; nhiễm
ô, hoặc thanh tịnh; phân biệt duyên khởi, tất cả đều
chẳng biết; đối với sáu xúc nhập xứ không giác tri như
thật, đối với các pháp này không thấy không biết, không
hiện quán, bị si ám, không có minh, tối mù mịt, đó gọi
là vô minh."
Vô
minh (S. avidy) là chi đầu tiên trong 12 nhân duyên, nó được
định nghĩa là không biết. Không biết về cái gì? Ở đây
giải thích tuy nhiều nhưng qua đó, chúng ta có thể tóm tắt
mấy điều: 1. không biết bản chất của ngã và ngã sở;
2. không biết về nhân quả nghiệp báo; 3. không biết về
bốn Thánh đế; 5. không biết về ba ngôi Tam bảo; 6. không
biết cái gì là pháp thiện và pháp bất thiện...Do vì không
như thật rõ biết về các pháp này, cho nên không như lý tác
ý hay còn gọi là chánh tư duy, do vậy lẽ ra các pháp đáng
được tư duy lại không tư duy, pháp không đáng tư duy lại
tư duy, cho nên dẫn đến thân hành động sai lầm, miệng nói
lời sai lầm, từ đó dẫn đến khổ đau. Tóm lại vô minh
chính là sự không biết không thấy, nó là nhân sinh ra đau
khổ. Thế nào gọi là hành? Cũng trong kinh này giải thích:
“Duyên
vô minh nên có hành. Thế nào là hành? Hành gồm có thân hành,
miệng hành, ý hành.”
Hành
(S. saµskra) là chi thứ 2 trong 12 nhân duyên. Ở đây hành
được định nghĩa là : Thân hành, khẩu hành và ý hành. Nếu
đứng về mặt hình thức mà nói, thân và khẩu hành là thuộc
về thân (cơ bắp) ; ý thuộc về tâm lý. Như thế thì hành
(S. saµskra) thuộc về loại nào trong 2 loại này? Thật ra
khái niệm saµskra ở đây ám chỉ cho ý hành, tức là sự
tạo tác của ý thức, nhưng sở dĩ thân hành và khẩu hành
cũng được gọi chung là hành, vì 2 loại hành này cũng được
chỉ đạo bởi ý hành, vì chỉ có ý hành mới có thể tương
tác đến thức (S. vij?na), và làm nhân cho thức sanh khởi.
Hơn nữa, vô minh thuộc trạng thái tâm lý, nó tương tác đối
tượng cũng phải là tâm lý, không thể là vật lý, do đó
khái niệm hành ở đây dẫu rằng có thân và khẩu hành, nhưng
cũng được hiểu là có liên hệ đến ý hành cho nên nó được
gọi là saµ (cùng nhau). Đó là ý nghĩa chữ hành trong 12 duyên
khởi. Kế đến là thức, khái niệm này cũng được kinh này
định nghĩa:
“Duyên
hành nên có thức. Thế nào là thức? Chỉ sáu thức thân:
nhãn thức thân, nhĩ thức thân, tỷ thức thân, thiệt thức
thân, thân thức thân, ý thức thân.”
Thức
(S. vij?na) là chi thứ 3 trong 12 nhân duyên. Ở đây nói, do
duyên hành mà có thức, có nghĩa do có hành cho nên mới có
thức, nếu như hành là nhân thì thức là quả. Ở đây, định
nghĩa thức gồm có 6 loại là : (1) nhãn thức thân (P.cakkkhu-vi??öa),
(2) nhĩ thức thân(P.sota-vi??öa), (3) tỷ thức thân (P.Ghna-vi??öa),
(4) thiệt thức thân (P.jivh-vi??öa), (5) thân thức thân (P.Kya-vi??öaµ),
(6) ý thức thân (vi??öaµ). Đây là 6 cơ quan nhận thức khác
nhau của con người. Tại sao con người phải cần đến 6 cơ
quan nhận thức? Chúng ta thử phân tích vấn đề này. Sở
dĩ phải có 6 cơ quan nhận thức, vì mỗi cơ quan có chức
năng nhận thức khác nhau. Ví dụ, con mắt chỉ có thể nhận
thức được hình tướng và màu sắc, nhưng mắt không thể
thay thế cho tai nghe tiếng, cũng vậy tỷ thức chỉ có thể
nhận thức mùi vị, không thể thay thế cho các cơ quan để
nhận thức đối tượng khác. Điều đó mang ý nghĩa ý thức
(vi??öaµ) chỉ có thể nhận thức đối tượng của nó là
pháp (dhamma), là hình ảnh, ảnh tượng của sắc, thinh, hương,
vị, xúc, ý không thể trực tiếp nhận thức các sắc, thinh,
hương, vị và xúc. Hay nói một cách khác, ý thức có chức
năng tổng hợp và phân tích các đối tượng của 5 trần,
từ đó cho chúng ta nhận thức về đối tượng đó. Do vậy
khái niệm thức trong 12 nhân duyên chính là chỉ cho ý thức
là sự tổng hợp phân tích hình thành quan điểm, nhưng sự
tổng hợp phân tích này không thể tách rời 5 cơ quan khác,
cho nên nói bao gồm là 6 thức. Kế đến là Danh sắc, được
kinh này định nghĩa như sau:
“Duyên
thức có danh sắc; thế nào là danh? Chỉ bốn ấm vô sắc:
thọ ấm, tưởng ấm, hành ấm, thức ấm. Thế nào là sắc?
Chỉ bốn đại, sắc do bốn đại tạo thành. Sắc này hợp
cùng với danh đã nói ở trên, gọi là danh sắc.”
Danh
sắc (S. nma-rèpa) là chi thứ 4 trong 12 nhân duyên. Thật
ra chi này gồm 2 yếu tố là danh (nma) và sắc (rèpa). Nếu
căn cứ vào 5 uẩn (pa?ca-skandha) mà phân tích thì danh (nma)
bao gồm 4 yếu tố : Thọ (Vedan), tưởng (Sa×j?), hành (Sa×skra)
và thức (Vij?na) ; sắc (rèpa) là sắc uẩn (rèpa-skandha)
trong 5 uẩn. Ở đây nói : duyên thức cho nên có danh và sắc,
tức do ý thức được dắt dẫn bởi vô minh, cho nên ý dục
đó đầu thai làm người, hình thành 5 uẩn trong đó có danh
và sắc. Kế đến là lục nhập, khái niệm này được kinh
này giải thích:
“Duyên
danh sắc nên có sáu nhập xứ. Thế nào là sáu nhập xứ?
Sáu nội nhập xứ; nhãn nhập xứ, nhĩ, tỷ, thiệt, thân,
ý nhập xứ.”
Lục
nhập (S. ·ad-yatana) là chi thứ 5 trong 12 nhân duyên. ở
đây 6 nhập xứ còn gọi là 6 nội xứ, là 6 cơ quan nhận
thức 6 ngoại xứ hay 6 trần, là thế giới khách quan. 6 nhập
xứ bao gồm : (1) nhãn nhập xứ, (2) nhĩ nhập xứ, (3) tỷ
nhập xứ, (4) thiệt nhập xứ, (5) thân nhập xứ, (6) ý nhập
xứ. Đây là 6 cơ quan để tiếp nhận thế giới bên ngoài
là 6 trần: (1) màu sắc, (2) âm thanh, (3) mùi hương, (4) vị
ngon ngọt, (5) cảm gác từ thân, (6) pháp (là hình ảnh của
tiền 5 trần). Nhờ có 6 cơ quan này, con người mới có thể
nhận thức được thế giới. Kế đến là xúc, từ này được
định nghĩa như sau:
“Duyên
sáu nhập xứ nên có xúc. Thế nào là xúc? Chỉ sáu xúc thân:
nhãn xúc thân, nhĩ xúc thân, tỷ xúc thân, thiệt xúc thân,
thân xúc thân, ý xúc thân.”
Xúc
(S. spar§a) là chi thứ 6 trong 12 nhân duyên. Xúc chỉ cho sự
tiếp xúc, sự tương tác giữa căn và trần. Xúc này cũng
bao gồm 6 loại khác nhau : (1) nhãn xúc thân, (2) nhĩ xúc thân,
(3) tỷ xúc thân, (4) thiệt xúc thân, (5) thân xúc thân, (6)
ý xúc thân, tức là khi 6 cơ quan này tiếp xúc tương tác với
6 trần được gọi là xúc. Nhờ có sự tiếp xúc này mới
dẫn đến cảm thọ. Chi này được định nghĩa như sau:
“Duyên
xúc nên có thọ. Thế nào là thọ? Ba thọ: thọ khổ, thọ
vui, thọ chẳng khổ chẳng vui.”
Thọ
(S. vedan) là chi thứ 7 trong 12 nhân duyên. Thọ gồm có 3 thọ
: Khổ thọ, lạc thọ và bất khổ bất lạc thọ. Khổ thọ
xuất hiện khi tiếp xúc với đối tượng không thích, như
gặp người thù, tiếp xúc với sự kiện không ưa, cho nên
sinh khổ thọ ; ngược lại khi tiếp xúc với đối tượng
ưa thích, tốt đẹp, như gặp người yêu, vật ưa thích, cho
nên lạc thọ xuất hiện ; ngoài hai cảm thọ này còn có một
loại cảm thọ không vui cũng không buồn, khi tiếp xúc với
đối tượng không ghét cũng không thương, cho nên trạng thái
tâm lý không vui cũng không buồn. Trong 3 cảm thọ này lạc
thọ và khổ thọ đều là nguyên nhân dẫn đến đau khổ,
vì nhân của nó là vô minh. Ở đây, đề cập duyên xúc cho
nên sinh thọ, là đề cập mối quan hệ nhân và quả, vì thọ
lấy xúc làm nhân làm duyên cho nên sinh thọ. Như vậy xúc
là nhân và thọ là quả. Kế đến là ái, chi này được kinh
này định nghĩa:
“Duyên
thọ nên có ái. Thế nào là ái? Ba ái: dục ái, sắc ái, vô
sắc ái.”
Ái
(S. t¨·ö) là chi thứ 8 trong 12 nhân duyên. Ở đây ái được
định nghĩa là : dục ái, sắc ái và vô sắc ái. Dục ái
là tham đắm về dục lạc ; sắc ái là sự tham đắm về
cảnh giới của sắc (rèpa), bao gồm : màu sắc, âm thinh, mùi
hương, vị ngon ngọt và cảm xúc; Vô sắc ái là đam mê cảnh
giới của vô sắc (arèpa) là cảnh giới thuộc tư tưởng.
Thế thì tại sao gọi duyên thọ nên có ái, vì khi tiếp xúc
với đối tượng ưa thích dễ thương, cho nên ái khởi lên.
Mối quan hệ này được gọi là thọ sinh ái. Chính do ái mà
dẫn đến thủ. Thủ được định nghĩa như sau:
“Duyên
ái nên có thủ. Thế nào là thủ? Bốn thủ: dục thủ, kiến
thủ, giới cấm thủ, ngã luận thủ.”
Thủ
(S. updna) là chi thứ 9 trong 12 nhân duyên. Thế nào gọi
là thủ (updna) là sự cố chấp, có nghĩa là sự kiện
đã qua đi rồi, không còn giá trị nữa, cố tình trì níu
nó lại, nên gọi là thủ hay cố chấp. Ví dụ quan điểm
đó không còn giá trị nữa, nhưng chúng ta vẫn giữ quan điểm
đó, cho nên gọi là cố chấp. Thủ bao gồm 4 loại : (1) dục
thủ (S,P. kamopdna), (2) kiến thủ (S. d¨t·Êy-updna, P.diÊÊhi-updna),
giới cấm thủ (S. §´la-vratopdna, P.s´la-bhata- updna),
ngã luận thủ (S. tma-vadopdna, P. Atta-vadupdna). Dục
thủ là sự cố chấp đối vớ 5 dục; Kiến thủ là sự cố
chấp đối với điều thấy biết của mình; Giới cấm thủ
là sự cố chấp về những giới điều hay qui định của
mình; Ngã luận thủ là sự cố chấp về quan điểm của mình.
Do có ái cho nên có thủ, có nghĩa là do vì đối tượng quá
dễ thương, cho nên sinh tâm cố chấp cố trì níu, nắm giữ
đối tượng đó lại, không muốn nó vượt khỏi tay mình,
cho nên gọi do ái sinh thủ. Chính do lòng chấp thủ này mà
sinh ra hữu. Từ này được kinh này định nghĩa:
“Duyên
vào thủ nên có hữu. Thế nào là hữu? Ba hữu: dục hữu,
sắc hữu, vô sắc hữu.”
Hữu
(S. bhva) là chi thứ 10 trong 12 nhân duyên. Hữu là sự tồn
tại, là sự hiện hữu,. Hữu có 3 loại: (1) dục hữu, (2)
sắc hữu, (3) vô sắc hữu. Dục hữu chỉ cho sự hiện hữu
những nhân tố của cõi dục; sắc hữu là sự hiện hữu
nhân tố của cõi sắc; Vô sắc hữu là sự tồn tại hiện
hữu những nhân tố của cõi vô sắc. Hữu là để cho sanh
xuất hiện. Sanh được định nghĩa như sau:
“Duyên
hữu nên có sanh. Thế nào là sanh? Nếu mỗi mỗi chúng sanh
kia nơi mỗi mỗi chủng loại thân kia, siêu việt, hòa hợp,
xuất sanh, được ấm, được giới, được nhập xứ, được
mệnh căn. Đó gọi là sanh.”
Sanh
(S. jti) là chi thứ 11 trong 12 nhân duyên. Sanh là sự xuất
sanh, sự sanh khởi, là kết quả của hữu (bhva), vì cái
nhân tố để sanh khởi làm con người đã trồng thì chắc
chắn con người phải xuất hiện. Sự xuất hiện này là sanh
(jti). Đó là ý nghĩa của câu : do duyên hữu nên có sanh.
Sanh cũng là nhân để hình thành lão tử. Chi này được giải
thích như sau:
“Duyên
sanh nên có già chết. Thế nào là già? Như tóc bạc đầu
hói, da nhăn, các căn suy sụp, tay chân yếu ớt, lưng còm,
đầu cúi, rên rỉ, hơi thở ngắn, mệt nhọc, chống gậy
đi, thân thể đen sạm, tay chân nổ ban đốm, lú lẫn, làm
việc gì cũng khó khăn, kém cỏi. Đó gọi là già. Thế nào
là chết? Là mỗi mỗi chúng sanh kia nơi mỗi mỗi chủng loại
thân kia chết đi, tuổi thọ chấm dứt, thân hoại, đổi dời,
hơi ấm lìa thân, mệnh sống kết thúc, là đã đến lúc từ
bỏ cái ấm thân. Đó gọi là chết. Chết này cùng già đã
nói trước, gọi chung là già chết. Đó là thuyết nghĩa duyên
khởi.”
Lão
tử (S. jarmaraöa) là chi cuối cùng của 12 nhân duyên.
Là sự già nua và cuối cùng là chết. Chết là nổi đau khổ
nhất của đời người, nó là chi biểu thị sự đau khổ,
cho nên chi thứ 12 là lão tử lại thêm sầu bi khổ ưu não,
đều mô tả cho nổi khổ đau của con người. Vì 12 nhân duyên
là quá trình hình thành nổi khổ đau cho con người, vô minh
trở thành nguyên nhân sâu xa của khổ đau, sầu bi khổ ưu
não là hệ quả của vô minh. Ngang qua quá trình này, nó gợi
ý cho chúng ta thấy, muốn chấm dứt sự khổ đau đó chỉ
có một con đường duy nhất là diệt trừ cái nhân vô minh.
Nếu như đạo Phật có đề cập, chúng sinh có tám muôn bốn
ngàn phiền não, do vậy Phật pháp cũng có tám muôn bốn ngàn
pháp môn tu tập. Phương pháp thì có rất nhiều, nhưng điểm
chung nhất vẫn là tập trung diệt trừ vô minh. Do vậy nếu
như vô minh là chi đầu tiên của 12 chi, kế đến là hành....lão
tử sầu bi khổ ưu não, là quá trình hình thành khổ đau,
muốn chấm dứt sự khổ đau đó phải diệt trừ vô minh,
nếu vô minh diệt nên hành diệt, hành diệt nên thức diệt,
thức diệt nên danh sắc diệt, danh sắc diệt nên lục nhập
diệt, lục nhập diệt nên xúc diệt, xúc diệt nên thọ diệt,
thọ diệt nên ái diệt, ái diệt nên thủ diệt, thủ diệt
nên hữu diệt, hữu diệt nên sinh diệt, sinh diệt nên lão
tử sầu bi khổ ưu não diệt. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn
diệt. Hay nói cách khác, do lão tử sầu bi khổ ưu não không
còn, nên biết sanh không còn, sanh không còn nên biết hữu
không còn.....do hành không còn cho nên biết vô minh không còn.
Cách lập luận nào cũng đúng.
12
nhân duyên là đạo lý thuyết minh về quá trình sinh diệt
của khổ đau. Quá trình này không thể lý giải các pháp thuộc
vật chất tại sao sinh và diệt, đó là lý do tại sao các
nhà Hữu bộ đã căn cứ đạo lý pháp Duyên khởi thành lập
lý thuyết 6 nhân (sad-hetavah) và 4 duyên (catvārah pratyayāh)
: 6 nhân gồm : (1) Tương ưng nhân (samprayukta-hetu)﹔(2) Câu
hữu nhân (sahabhè-hetu)﹔(3) Đồng loại nhân (sabbga-hetu)﹔(4)
Biến hành nhân (sarvatraga-hetu)﹔(5) Dị thục nhân (vipka-hetu)﹔(6)
Năng tác nhân (kraöa-hetu). 4 duyên gồm : (1) Nhân duyên (hetu-pratyaya)﹔(2)
Đẳng vô gián duyên (samanantara-pratyaya)﹔(3) Sở duyên duyên
(lambana-pratyaya)﹔(4) Tăng thượng duyên (adhipati-pratyaya).
Thuyết 6 nhân 4 duyên này nhằm mục đích giải thích quá trình
hình thành các pháp thuộc vật chất. Đó là sự dị biệt
giữa thuyết Duyên khởi (S. prat´tya-samutpda, P. paÊcca-samuppda),
12 nhân duyên (Dvda§ºgaprat´tyasamutpda) và thuyết 6 nhân
(sad-hetavah) và 4 duyên(catvārah pratyayāh). Do vậy, ‘Phẩm quán
nhân duyên’ trong “Trung Luận” (Mèlamadhyamaka-krik) Đối
tượng mà Long Thọ (Ngrjuna) phản bác là thuyết 6 nhân
4 duyên, không phải là thuyết Duyên khởi hay 12 nhân duyên.
Đây là điểm chúng ta cần chú ý. Vì lẽ nếu như Long Thọ
phản bác lý thuyết Duyên khởi thì tại sao cũng trong luận
này ở ‘Phẩm Quán Tứ Đế’ thứ 22 Ngài lại nói bài kệ
:
Chúng
nhân duyên sinh pháp,
Ngã
thuyết tức thị vô,
Diệc
vi thị giả danh,
Diệc
thị trung đạo nghĩa.
Ở
đây câu : ‘Chúng nhân duyên sinh pháp’ mang ý nghĩa xác định
các pháp đều do nhân duyên mà sinh. Chữ nhân duyên ở đây
chính là chỉ qui luật Duyên khởi. Do vậy, chúng ta có thể
nói Long Thọ lấy thuyết Duyên khởi phản bác lý thuyết 6
nhân 4 duyên, không phải phản bác lý thuyết Duyên khởi.
3.
LỜI KẾT
Nội
dung đức Thế Tôn giác ngộ dưới cội cây Bồ đề là pháp
Duyên khởi (S. prat´tya- samutpda, P. paÊcca-samuppda), pháp
này là chân lý của thế gian, Thế Tôn có ra đời hay không
ra đời thì pháp này vẫn thường trụ bất biến, sự hình
thành hay biến hoại của các pháp dù là tâm lý hay vật lý,
nhỏ như hạt vi trần lớn như sơn hà đại địa, từ ý niệm
thô sơ cho đến hệ thống triết học thâm áo, tất cả đều
dựa vào đạo lý này mà hình thành, không một pháp nào tồn
tại hay biến hoại ngoài đạo lý này, do vậy cho nên được
gọi là chân lý. Pháp Duyên khởi không do ai tạo ra và cũng
không ai có thể hủy diệt thay thế nó bằng một đạo lý
khác, Thế Tôn chỉ là người đầu tiên phát hiện nguyên
lý này, vì lòng thương cho nên Ngài tuyên thuyết đạo lý
này mọi người nghe và hiểu. Nhờ sự hiểu biết đó mà
con người thoát khỏi những khổ đau phiền não mình tạo
ra hay do kẻ khác tạo ra.
Duyên
khởi là đạo lý thuyết minh về sự hình thành của các pháp
là do nhân duyên kết hợp mà thành, nhân duyên ly tán các pháp
liền tan ra. Đạo lý này mang hai ý nghĩa: Thứ nhất, Duyên
khởi là pháp phản bác lý thuyết ‘Sáng tạo của Phạm Thiên’
được những người Bà la môn chấp nhận và tôn sùng. Thật
ra, không có một đấng siêu nhiên có quyền năng sáng tạo
hay hủy diệt sự tồn tại của một thật thể. Thứ hai,
nếu như các pháp do nhân duyên kết hợp mà thành thì pháp
ấy
không thể tồn tại độc lập, cần phải nương tựa vào
nhau. Như vậy, bản chất của các pháp là vô thường, trong
đó có cả con người. Các pháp là vô thường, thế nhưng
ý thức con người lại cố chấp ‘cái này là tôi, là của
tôi’ có nghĩa là không chấp nhận sự vô thường chuyển
biến của chúng, cho nên sinh ra khổ.
Như
vậy giáo lý Duyên khởi chỉ cho chúng ta thấy rõ thực tướng
của các pháp, để thoát khỏi hai nỗi khổ : Khổ do mình
tự tạo ra và loai khổ do những người Bà la môn tạo ra.
Mục
đích giáo dục của Phật là giác ngộ và giải thoát, có
nghĩa là khi có giác ngộ mới có giải thoát. Giác ngộ là
sự hiểu biết đúng về thế gian về con người, không phải
là sự hiểu biết những vấn đề xa vời thiếu thật tế.
Chân lý của thế gian là pháp Duyên khởi, như vậy mục tiêu
của đạo Phật là giúp cho con người hiểu rõ chân lý thế
gian và sống theo chân lý đó, để được giải thoát khổ
đau. Nếu như Duyên khởi là chân lý của thế gian thì đây
chính là điểm cốt lõi để hình thành tất cả Phật pháp.
Nói một cách khác, tất cả hệ thống giáo lý Phật giáo
bằng nhiều cách khác nhau chỉ để mô tả về chân lý này.
Giáo
lý Duyên khởi (Cái này sinh, nên cái kia sinh, cái này diệt
nên cái kia diệt) là nguyên tắc chung giải thích về sự hình
thành hay hủy diệt của các pháp. Vì là nguyên tắc chung,
nên thật không dễ dàng để giải thích quá trình sinh và
diệt của phiền não ; khổ đau của con người, cho nên đức
Phật đã căn cứ đạo lý Duyên khởi này thành lập giáo
lý 12 nhân duyên để giải thích tiến trình sinh và diệt phiền
não.
Cũng
vậy, đạo lý Duyên khởi chỉ mang tính định lý nguyên lý,
muốn lý giải trạng thái khổ đau con người từ đâu mà
sinh, cách nào chúng diệt thì phải lấy pháp 12 nhân duyên,
là giáo lý chuyên giải thích về mặt tâm lý. Thế nhưng không
thể sử dụng pháp 12 nhân duyên để luận giải tướng trạng
sinh diệt của các pháp về vật lý. Do vậy, các nhà Hữu
Bộ vì mục đích giải thích tư tưởng ‘Các pháp là thật
có’, cho nên các luận sư của phái này cũng dựa vào đạo
lý Duyên khởi thiết lập lý thuyết 6 nhân 4 duyên để giải
thích điều kiện nào mà các pháp vật chất được hình thành.
Taipei,
ngày 15 tháng 11, năm 2007
KINH
SÁCH THAM KHẢO
-
HT. Minh Châu dịch, “Kinh Tương Ưng Bộ” tập 3, Viện NCPHVN
ấn hành 1993.
-
HT. Minh Châu dịch, “Kinh Trung Bộ” tập 1, Viện NCPHVNấn
hành 1992
-
HT. Minh Châu dịch, “Kinh Trung Bộ” tập 3, Viện NCPHVN ấn
hành 2001
-
Thích Đức Thắng dịch, “Kinh Tạp A hàm” trong “Linh Sơn
Pháp Bảo Đại Tạng Kinh” tập 5, Hội Văn Hóa Giáo Dục
Linh Sơn Đài Bắc xuất bản, năm 2000.
-
高楠順次朗。木村賢泰著,高觀虜譯《印度哲學宗教史》台灣商務1971.
[1]
HT. Minh Châu dịch, “Kinh Trung Bộ” tập 1, ‘Kinh Thánh Cầu’,
Viện NCPHVNấn hành 1992, trang 374~375.
[2]
HT. Minh Châu dịch, “Kinh Trung Bộ” tập 1, ‘Đại Kinh Đoạn
Tận Ái’, Viện NCPHVN ấn hành, trang 581.
[3]
Thích Đức Thắng dịch, “Kinh Tạp A hàm” trong “Linh Sơn
Pháp Bảo Đại Tạng Kinh” tập 5, Hội Văn Hóa Giáo Dục
Linh Sơn Đài Bắc xuất bản, năm 2000, trang 953.
[4]
Thích Đức Thắng dịch, “Kinh Tạp A hàm” trong “Linh Sơn
Pháp Bảo Đại Tạng Kinh” tập 5, Hội Văn Hóa Giáo Dục
Linh Sơn Đài Bắc xuất bản, năm 2000, trang 958~959.
[5]
Xin tham khảo: Thích Hạnh Bình ‘Ai thấy Pháp người ấy thấy
Phật’.
[6]
HT. Minh Châu dịch, “Kinh Trung Bộ” tập 1, ‘Đại Kinh Ví
Dụ Dấu Chân Voi’, V.N.C.P.H.V.N ấn hành, trang 422.
[7]
HT. thích Minh Châu dịch, “Kinh Tương Ưng Bộ” tập 3, Viện
NCPHVN ấn hành 1993, trang 219.
[8]
HT. Minh Châu dịch, “Kinh Trung Bộ” tập 1, ‘Kinh Thánh Cầu’,
Viện NCPHVNấn hành 1992, trang 374~375.
[9]
Tham khảo: 高楠順次朗。木村賢泰著,高觀虜譯《印度哲學宗教史》台灣商務1971,p.205~210。
01-19-2008
11:23:12