Lời
nói đầu
Hãy
nôn nó ra!
Hãy
nôn ra lòng sân hận độc hại khỏi cõi lòng bạn. Sự sân
hận đầu độc và bóp nghẹt tất những gì thiện mỹ nơi
bạn. Tại sao bạn phải hành động chỉ vì con quái vật độc
hại dấu mặt này?
Hãy
nôn nó ra, vứt hết đi, không chừa lại một chút gì cả.
Bạn sẽ cảm thấy dễ chịu khi vứt bỏ nó đi.
Rồi
cõi lòng bạn tràn ngập tình bi mẫn vị tha, thẩm thấu qua
từng lỗ chân lông bạn. Hãy hiển lỗ tâm từ vô nhiễm trào
dâng thương yêu. Hãy để những ai đến với bạn đều nhận
được vầng quang hảo tâm không thể chối từ, cũng như khi
rời xa, họ cảm thấy được cảm thông và can đảm hơn để
đối mặt với cuộc đời đầy gian truân và nghiệt ngã này.
Hãy
lắng nghe, hỡi các bạn! Tương tự một ngọn đèn rực sáng
tuy bé nhỏ nhưng vĩnh hằng, chúng ta có thể thắp sáng nhiều
ngọn đèn nhỏ lại, và nhìn kia! Có thể ta vẫn còn phải
xua tan đêm đen tuyệt vọng, những âm u vọng tưởng để
đem lại ánh sáng trí tuệ và tình thương vô nhiễm…
Sân
hận - một cảm xúc huỷ hoại
Bạn
có tức giận không? Dĩ nhiên tất cả chúng ta không ai phủ
nhận điều đó. Đôi khi ta bực tức, khó chịu, cáu kỉnh.
Chúng ta giận dữ hoặc điên tiết với người này hoặc người
nọ vì lý do này hay lý do kia. Có nhiều sự việc, hoàn cảnh
khiến chúng ta bực mình, khó chịu, thường làm chúng ta nổi
cơn thịnh nộ giận dữ khi sự việc không xảy ra theo
ý mình. Chúng ta muốn mọi việc được thể hiện theo một
chiều hướng nào đó nhưng lại diễn biến theo chiều hướng
khác, thế là ta lại đùng đùng nổi giận.
Đôi
khi ta mong đợi một điều gì đó xảy ra (như tăng lương
chẳng hạn) nhưng nó lại không xảy đến, ta cảm thấy bực
mình, cáu kỉnh. Kế đó có kẻ trêu tức làm tổn thương
lòng tự ái của chúng ta. Họ dễ dàng làm chúng ta nổi khùng.
Quả
thật chẳng thiếu gì những trường hợp làm chúng ta nổi
giận. Nếu chịu khó quan sát phản ứng và lời nói của chúng
ta trong đời sống hàng ngày, ta sẽ thấy nhiều lúc mất bình
tĩnh hoặc suýt chút nữa không kiềm chế được cơn giận.
Sự tức giận qua cung cách nói, thái độ, nét mặt, sự bực
tức trong giọng nói, gắt gỏng và lớn tiếng – và khi không
còn kiềm chế được, chúng ta bắt đầu quát tháo, la hét,
đá, đóng sầm cửa, đập bàn, đặt điện thoại mạnh tay
hoặc thậm chí hành hung một người nào đó. Trong vài trường
hợp cực độ, có người đã qua đời vì tức giận: khi cơn
giận dữ lên cao độ, họ ngã ra chết vì chứng đột quỵ
tim!
Sự
giận dữ thay đổi theo cường độ. Với người nóng tính,
nó dễ bộc phát; với người ôn hoà, họ có vẻ trầm tĩnh.
Có kẻ vẫn nuôi lòng oán hận lâu dài sau khi cơn giận trôi
qua trong khi người khác lại dễ dàng tha thứ. Dù trường
hợp nào đi nữa, thì sự thật là trong chúng ta ai cũng có
cảm giác tức giận, chỉ khác nhau ở mức độ và tần số
cảm xúc. Ngay cả những người ôn hoà nhất cũng có lúc biểu
lộ bực mình khó chịu khi sự chịu đựng vượt quá mức
giới hạn hoặc chịu quá nhiều áp lực căng thẳng.
Chúng
ta nên giận dữ không? Có sự tức giận nào được chấp
nhận không? Giận dữ quát tháo người khác, mất bình tĩnh,
đùng đùng nổi giận, tất cả những điều này đúng hay
sai? Giận dữ là một lối sống giữa những con người trên
cõi đời này chăng? Chúng ta đón nhận nó như thể được
ban tặng và chấp nhận như là một điều tự nhiên không
thể tránh được? Đọc báo hàng ngày, chúng ta thấy dẫy
đầy cơn tức giận và lòng thù địch trên hành tinh chúng
ta. Khi đọc tin tức về cuộc chiến tranh xung đột liên tục
ở nhiều nơi trên thế giới, ta có dừng lại để tự hỏi
tại sao con người không thể sống chung hoà bình như anh chị
em được chứ? Sao chúng ta lại quá nhiều hiềm thù, tàn nhẫn,
thiếu vắng lòng khoan dung? Vì cớ gì một số người sẵn
sàng tàn sát những người vô tội để đạt tham vọng của
mình? Tại sao các nước lại đua nhau chế tạo những vũ khí
hạt nhân huỷ diệt mọi người trên thế giới? Sao lại có
quá nhiều lo âu và ngờ vực lẫn nhau?
Sự
sân giận bắt nguồn từ cõi lòng chúng ta và tình thương
cũng thế. Chúng ta chắc chắn rằng sân hận là tội ác, phải
triệt để ngăn cấm nó hoạt động trong trái tim và tâm hồn
chúng ta. Nó là một cảm xúc mang mầm móng huỷ hoại tạo
ra bao thống khổ trên đời. Nó phát sinh từ tâm, và ngay tại
nguồn gốc khởi thuỷ này, nó phải được kiểm soát để
loại trừ. Trong bài diễn văn mở đầu thành lập Tổ chức
UNESCO của Liên Hiệp Quốc, điều này đã được khẳng định:
“Vì chiến tranh bắt đầu từ tâm ý con người nên sự bảo
vệ hoà bình cũng phải được thiết lập ngay từ nơi đó”.
Santideva trong tác phẩm Bodhicaryavatara (Đường đi tới Giác
ngộ) đã viết: “Ta đã giết biết bao người gây tội ác
cho đủ đây? Số lượng này vô biên như bầu trời. Nhưng
nếu ý niệm sân hận thù địch bị tiêu diệt thì tất cả
kẻ thù sẽ không còn nữa”.
Sân
hận làm đời ta đau khổ, nếu ta tiếp tục chấp nhận và
không cố gắng chế ngự nó, có nghĩa là ta tiếp tục sống
cuộc sống hỗn loạn. Cứ mỗi lần bực mình, khó chịu,
tức giận, chúng ta lại bắt đầu thiêu đốt chính mình.
Cảm giác cháy bỏng gia tăng theo cường độ của cơn giận;
càng giận dữ, ta càng cháy bỏng nhiều hơn. Quả là một
cảm giác vô cùng đau khổ. Bạn có thể quan sát điều này
nơi chính bạn. Khi bạn rơi vào tâm trạng bực mình, tức
tối, hãy quan sát trạng thái của tâm rồi bạn sẽ phát hiện
ra được nỗi đau đớn thống khổ mà bạn đang chịu đựng
trong lúc tức giận hoặc rối loạn.
Sân
hận là tình trạng bất ổn của tâm. Đức Phật không bao
giờ chấp nhận bất cứ sự sân hận nào. Đối với Phật
giáo, hoàn toàn không có cái gọi là sân hận chánh đáng.
Tất cả sự sân hận, dù ở mức độ nhẹ nhất cũng là
bất ổn. Nó được xem như thuốc độc gây hại cho TÂM. Do
đó, đức Phật kêu gọi chúng ta lấy tình thương báo đáp
thay vì thù hận. Phật thuyết: “Lấy oán báo oán, oán ấy
chất chồng. Lấy ân báo oán, oán ấy tiêu tan”. Có lúc Ngài
cũng đã kêu gọi: “ Hãy chinh phục con người đầy thù hận
bằng lòng từ ái”. Để nhấn mạnh điểm này, trong buổi
giảng đoạn pháp so sánh, đức Phật thuyết rằng thậm chí
kẻ cướp chặt đứt chân tay của chúng ta, ta cũng không nên
khởi sân hận dù nhỏ nhặt nhất. Nếu ta khởi lên một chút
sân hận, nghĩa là ta không tuân theo lời chỉ dạy của Ngài.
Thay vào đó, đức Phật khuyên ta nên thương xót kẻ hành
hạ mình. Phật thuyết: “ Vì vậy, các ngươi phải rèn luyện
chính bản thân mình”. Ngài nói tiếp: “Nếu tâm bình thì
ác khẩu không khởi, tâm chỉ còn niềm cảm thông trọn vẹn
và cởi mở, một tấm lòng đầy từ ái, không còn chi phối
bởi bất cứ ác nghiệp nào. Với tâm từ bi rộng lớn, sâu
thẳm vô biên, ta sẽ cảm hoá những kẻ ác nghiệp thoát khỏi
sân hận và oán thù”.
Sự
thành tựu tâm từ bi của đức Phật là thế đấy. Khi còn
là một vị Bồ tát, trải qua vô số tiền kiếp chịu đựng
biết bao tra tấn hành hạ đến chết vẫn không khởi lên
một chút sân hận nào đối với kẻ hại mình. Trong kiếp
cuối cùng đắc quả Phật, Ngài luôn thanh thản, không bao
giờ đánh mất sự trầm tĩnh và an tịnh. Lúc con voi điên
cuồng Nalagiri đâm bổ tới tấn công đức Phật, Ngài đã
khuất phục nó bằng cách hướng lòng bi mẫn thương xót về
nó. Thời gian 49 năm hoằng pháp của đức Phật không ngừng
nghỉ là một minh hoạ về lòng bi thương xót chúng sanh.
Dĩ
nhiên, đức Phật không phải là bậc giáo chủ duy nhất rao
giảng lòng từ bi; các bậc giáo chủ khác đều làm như thế.
Chú Kitô dạy: “Hãy yêu thương láng giềng của con như chính
bản thân con”. “Nếu có ai đó tát vào má phải của con,
con hãy chìa má bên trái ra”. Thánh Mahatma Gandhi, chủ trương
bất báo động, dạy rằng: “Nếu máu phải đổ, thì đó
hãy là máu của chúng ta. Hãy học tập lòng can đảm thầm
lặng, thà chấp nhận chết quyết không giết hại kẻ thù.
Với một kẻ mà sự sống có nghĩa là sẵn sàng chấp nhận
cái chết trong tay đồng bào ruột thịt của mình nếu cần,
thì không bao giờ giết hại họ”. Điều này gợi nhớ đến
câu chuyện một vị sư bị một tay kiếm khách hung tợn đe
doạ. Tay kiếm khách hét lên: “ Bộ nhà ngươi không biết
ta là kẻ giết người không chớp mắt chứ?”. Vị sư đáp
“Vâng, thưa ngài, tôi là kẻ sẵn sàng chết mà không chớp
mắt đây!” . Trước một người dũng cảm như thế, tay kiếm
khách quay bước bỏ đi.
Ngoài
việc gây độc hại cho tinh thần, cơn sân hận và lòng thù
địch còn tạo ra mối nguy hiểm cho cơ thể chúng ta. Y học
đã khẳng định sự tức giận cùng những cảm xúc vô bổ
khác đều góp phần tạo nên bệnh tật. Khi tức giận, cơ
thể phóng thích một số hoá chất làm rối loạn sự điều
hòa cơ thể. Nếu buồn phiền sân hận thường xuyên thì lâu
dài sẽ dẫn đến nhiều bệnh tật như loét bao tử, rối
loạn tiêu hoá, táo bón, cao huyết áp, rối loạn tim mạch,
thậm chí ung thư.
Nói
cách khác, sự trầm tĩnh và thanh thản giúp người ta ổn
định tinh thần lẫn thể xác. Chúng ta sẽ khoẻ hơn, hạnh
phúc và sống cuộc sống trọn vẹn hơn. Một số bệnh kinh
niên, chẳng hạn như rối loạn tiêu hoá, sẽ không còn. Những
bệnh trạng khác cũng có thể bị đẩy lùi dần. Sự thanh
thản tươi sáng cuả tâm hồn thư thái biểu lộ qua dáng vóc,
diện mạo chúng ta, đến đâu ai ai cũng quý mến. Chẳng ai
trên đời thích chung đụng với kẻ cáu gắt, dễ nỗi giận
bao giờ; thí dụ như một ông chủ lúc nào cũng chau mày tháo
quát nhân viên, đều bị mọi người xa lánh và chán ghét,
nhân viên sẵn sàng bỏ việc ra đi nếu có dịp. Ngược lại,
một người chủ luôn vui vẻ, tốt bụng, sẵn sàng giúp đỡ,
không bao giờ nổi nóng thì ai ai cũng yêu thương và quý mến.
Với một người chủ như thế thì chẳng nhân viên nào bỏ
đi dù nơi khác có trả lương cao hơn.
Thêm
vào đó, tính tình đức hạnh của bạn gây ảnh hưởng với
tất cả những ai tiếp xúc với bạn. Bạn sẽ là tấm gương
cho người khác noi theo. Để thay đổi thế giới này, ngoài
cách làm gương mẫu cho người khác noi theo còn cách nào khác
tốt đẹp hơn, chân thực hơn nữa chứ? Đúng vậy, bằng
cách thay đổi chính bản thân chúng ta và làm gương mẫu cho
người khác, chúng ta đã thực sự đóng góp tích cực cho
thế giới này tốt đẹp hơn. Điều đáng để chúng ta suy
ngẫm là: Thế giới này là tất cả mọi người, mọi người
làm nên thế giới này. Vậy nếu bạn thay đổi mọi người
có nghĩa là bạn đang thay đổi cả thế giới. Và bạn hãy
bắt đầu với chính bản thân mình. Sau cùng thì bạn cũng
là một con người trong số những con người trên thế giới
này đấy chứ? Do đó, khi bạn thay đổi chính mình có nghĩa
là bạn đã thay đổi thế giới với ý nghĩ rằng thế giới
này đã giảm đi một người nóng tính. Nếu thêm nhiều người
tự thay đổi thì thế giới sẽ thay đổi thêm ở phạm vi
đó. Sự xung đột và rối loạn trên thế giới sẽ sụt giảm
khi có nhiều hơn nữa những người yêu chuộng hoà bình ở
khắp nơi.
Nhận
chân được tai hại mà cơn sân hận đem đến cho ta và tha
nhân, chúng ta hãy xua tan nó đi và mở rộng tình nhân ái,
quan tâm và chịu đựng, hiền hoà và tốt bụng. Đừng cư
xử khắc nghiệt và cũng không nên làm cho kẻ khác bối rối,
hoang mang, ngượng ngùng, sợ hãi. Hãy nhìn xem chung quanh chúng
ta: thế giới này có quá nhiều đau khổ rồi, đừng chồng
chất thêm nữa. Thay vào đó, chúng ta hãy tạo nên một nguồn
sống an lành thanh bình, như thể một ngọn đèn thắp sáng
cho cả thế giới để những ai đến với tình thương đều
sống an lành, hạnh phúc hơn.
Quyết
tâm hạn chế sân hận và ban rải tình thương chỉ là bước
đầu tiên. Bước kế tiếp là làm thế nào để thực hiện
được. Thật không dễ kiểm soát cơn giận khi nó bộc phát.
Cần nhiều nỗ lực và sự khéo léo mới có thể chế ngự
nó. Do đó, trong những trang sau, chúng ta sẽ thảo luận về
phương hướng kiềm chế sân hận. Chủ yếu gồm có chánh
niệm (jati) và quán chiếu sáng suốt (yoniso manasi kàra). Bằng
cách chú tâm, ta có thể bóp tan cơn giận ngay khi còn trong
trứng nước, ngay cả khi nó chuẩn bị khởi lên, và xét đoán
nhiều khía cạnh nguyên nhân tại sao ta không nên bực tức,
điều này sẽ nhắc nhở củng cố ý nguyện tha thiết tống
khứ sự cáu kỉnh ra khỏi tâm thức ta ngay tức thời để
buông bỏ nó như buông rơi một viên gạch nóng bỏng, nếu
có thể nói như thế. Trong phần III, chúng tôi sẽ trình bày
sự quán tưởng lòng từ bi ( mettà bhavanà ), đây là phương
pháp “đối trị” hữu hiệu nhất với sự sân hận. Chúng
tôi tin rằng nếu độc giả chịu khó xét đoán nhiều nguyên
nhân tại sao mình không nên bực tức thì độc giả không
còn muốn sân hận chút nào nữa, và lần kế tiếp nếu sự
tức tối khởi lên, độc giả chỉ muốn buông nó ngay lập
tức. Cùng lúc trau dồi chánh niệm và lòng từ bi, độc giả
sẽ đưa được con ma sân hận đến nơi yên nghỉ.
Nguyện
cho tất cả chúng sanh được an lạc. Nguyện tất cả chúng
sanh nhổ bật cội rễ sân hận oán thù để trở thành hiện
thân của tình thương bao la, trí tuệ và bi mẫn.
Pháp
đối trị sân hận
Quy
luật đầu tiên
Chánh
niệm là người bảo vệ đầu tiên và hữu hiệu chống lại
sân hận cùng với những bất ổn của tâm. Thế
nào là chánh niệm? Đó là sự hiện diện của tâm, thức
giác, biết rõ những gì đang xảy ra ngay thời điểm khởi
phát. Do đó, giây phút sân hận khởi lên, ta phải áp dụng
chánh niệm. Ta phải nhanh chóng nhận thức ra sự khởi lên
của cơn sân hận trong ta. Ta phải chú ý, xác định hoặc
nhủ thầm: “ A! Cơn giận ở trong ta. Cơn giận đang khởi
lên ở trong ta”. Hoặc ngắn gọn như “sân hận, sân hận”.
Và nếu không thích nhủ thầm như thế, ta chỉ cần ý thức
sự hiện hữu của sân hận là được.
Cơn
sân hận khởi lên đây đó và sự hiện diện của nó được
xác nhận, đơn giản chỉ cần nhận biết nó, cũng mang lại
lợi ích trong việc kiểm soát cơn sân hận. Tại sao? Bởi
vì, bất cứ khi nào sự bực tức khởI lên, bao giờ nó cũng
nhận chìm chúng ta trước khi chúng ta phát hiện ra nó. Nó
tạo ra đám mây mù che kín tâm ta và làm tê liệt sự xét
đoán nhạy bén của chúng ta. Nói cách khác, sự giận dữ
hoàn toàn chế ngự tâm thức ta. Vào lúc này, hầu như chúng
ta thực sự không còn tỉnh giác nữa, nếu có còn chăng chỉ
là tâm trạng phẫn nộ trong ta. Thay vì đáp trả, phản ứng
với nó, chúng ta lại để cho nó nuốt chửng mình. Sắc mặt
ta biến đổi, chúng ta bắt đầu ăn nói hằn học, khoa chân
múa tay, thậm chí chửi mắng người nào đó. Chánh niệm giúp
ta giải quyết tất cả vấn đề này; nó ngăn chặn cơn giận
nhấn chìm chúng ta. Nó lập nên sự hiện hữu tối cần của
thức giác. Chỉ cần nhận biết rõ cũng giúp giải toả được
cảm xúc sôi sục. Thay vì đáp trả, phản ứng với cơn sân
hận, chúng ta lặng lẽ quan sát nó, theo dõi cảm xúc bực
tức nóng nảy. Và trong quá trình quan sát như thế, cơn sân
hận lắng dần. Thoạt đầu, nó suy yếu rồi từ từ tan biến
đi.
Hơn
nữa, trong khi quan sát cơn sân hận, ta không hề mảy may đến
người, vật, hoặc bối cảnh khiến ta phẫn nộ. Chúng ta
hướng vào bên trong, chú tâm đến trạng thái tâm thức của
mình, chú ý dõi theo sự hiện diện của cảm xúc giận dữ.
Thật hợp lý, khi chúng ta chuyển dịch sự chú ý từ nguyên
nhân gây phẫn nộ sang sự nhận biết chân thực chính cơn
phẫn nộ đó, vì là một cảm xúc nên cơn giận sẽ giảm
dần. Nếu chúng ta chỉ tiếp tục chú ý đến nguyên nhân
(chẳng hạn như một kẻ nào đó) làm ta bực tức thì dĩ
nhiên ta sẽ trở nên giận dữ hơn. Nhưng khi chánh niệm loé
sáng, sự bực tức không còn phát triển được nữa. Nó bị
chặn đứng, và nếu ta tiếp tục chú ý quan sát, nó sẽ lắng
xuống dần, cuối cùng tan biến đi.
Điều
kỳ diệu là sự tức giận tự tan biến mà không cần phải
đè nén hoặc chống lại nó. Bạn không cần nghiến răng,
nắm chặt bàn tay lại hoặc dùng toàn thể sức mạnh tinh
thần để kiềm chế nó; chỉ cần lặng lẽ quan sát, nó sẽ
giảm dần và biến mất. Đây là phép lạ của chánh niệm.
Điều này thật rõ ràng, nhất là trong giai đoạn tập trung
tư tưởng cao độ của thiền giả, chánh niệm đặc biệt
nhạy bén, có thể hạ gục sân hận hoặc bất kỳ sự bất
ổn nào của tâm bằng biện pháp đơn giản: chú tâm.
Điều
lợi nữa của chánh niệm là cho ta cơ hội lắng tâm và đưa
ra quyết định đúng đắn. Khi chú tâm để nhận ra sự hiện
diện của sân hận, chúng ta không bị cuốn hút theo cảm xúc.
Chánh niệm cho ta thời gian để quán chiếu và quyết định
hướng giải quyết sáng suốt. Trong lúc lắng tâm, chúng ta
có dịp may để thực tập những điều mà đức Phật thường
hay đề cập như là yoniso manasikàra bằng cách quán các pháp
về tội lỗi và tai hại của sân hận, Trong quá trình quán,
sân sẽ tự yếu dần và khi mà càng lúc ta lại càng chẳng
muốn sân nữa thì sân hận sẽ thoái lui. Ý niệm không tức
giận hoặc ý niệm không còn tiếp tục nữa sẽ sanh khởi
và cuối cùng sân hận tan biến.
Do
đó, quy luật đầu tiên là thực tập chánh niệm. Nếu chánh
niệm trở thành thói quen luôn chú tâm đến những thay đổi
đầy ý nghĩa trong tâm thức, thì bạn sẽ trở thành người
có bản lĩnh đến độ có thể “chộp bắt” sự bực tức
ngay thờI điểm nó sanh khởi. Bạn có thể cảm nhận và biết
rõ nó đang lớn dần, và bằng vào nhận thức chân thực đó,
bạn bóp tan nó ngay từ trong trứng nước, loại trừ nó hoàn
toàn trước khi nó hiện trên nét mặt hoặc bộc lộ qua cử
chỉ của bạn. Đó là điều kỳ diệu của chánh niệm –
có khả năng đốn ngã tức khắc sự bất ổn của Tâm.
Vấn
đề kế tiếp là làm thế nào quán tưởng các pháp để loại
trừ sân hận nếu như ta không thể tống khứ hoàn toàn nỗi
bực tức bằng pháp chánh niệm. Có nhiều pháp để quán,
ở đây chúng ta sẽ xem xét nhiều loại pháp quán khác nhau.
Chúng tôi nghĩ rằng nếu bạn tiếp tục đọc đến trang cuối,
bạn sẽ tin chắc là mình sẽ không còn muốn bực tức, cau
có nữa và nhận thức rõ sự tức giận chẳng mang đến lợi
lạc nào cả. Bạn sẽ không bao giờ muốn nổi nóng nữa.
Chỉ riêng sự tin chắc này thôi, cũng đủ mang lại lợi lạc
trong việc đưa tinh thần bạn đến sự cảm nhận mốI quan
hệ bạn bè thân thiết, chấm dứt bực tức, khó chịu, hướng
đến sự an tịnh và thanh thản. Bằng sự quyết tâm và ước
muốn tốt đẹp này, bạn khó lòng mà chấp nhận nhượng
bộ cơn sân hận, chịu sự sai sử của nó như trước đây
bạn đã từng làm. Hơn nữa nếu sân hận sanh khởi hết lần
sang lần khác có vẻ như nó vẫn tiếp tục kiên trì nhưng
không còn mạnh bạo nữa. Bạn có thể nhớ lại và áp dụng
các pháp đối trị mà chúng ta sẽ thảo luận ở đây.
Một
điều cần lưu ý là trong khi áp dụng chánh niệm và quán
chiếu sáng suốt, tuyệt đối không được đè nén cơn giận.
Sự bực tức tự thoái lui trong quá trình tỉnh giác hơn là
quán chiếu. Ở phương Tây, đôi khi người ta cho rằng khi
cơn giận bị đè nén thì nó tác hại cho sức khoẻ. Vì thế,
theo trường phái tư tưởng này, điều tốt nhất là bộc
lộ cơn giận để giảm bớt căng thẳng. Theo trường phái
khác, có nhiều sự nghiên cứu ở phương Tây cho rằng việc
bộc lộ cơn giận công khai sẽ có hại. Dù thế nào đi nữa
thì đối với Phật giáo, việc tự cho phép mình bộc phát
cơn giận nhằm giảm sự căng thẳng là điều không thích
hợp chút nào cả. Đức Phật không hề đề nghị hoặc cho
phép như thế; ngược lại, Ngài kêu gọi chúng ta biến oán
giận thành tình thương. Cho sự tức giận được tự do bộc
phát có nghĩa là chúng ta để cho tâm thức mình bị ô nhiễm
nặng hơn và tạo thêm nhiều ác nghiệp, đồng thời ta lại
làm cho kẻ khác đau khổ. Trong vài trường hợp cực đoan,
người ta đã gây ra án mạng chỉ vì cuồng nộ mà nạn nhân
đôi khi là những người vô tội.
Phương
pháp giải quyết của Phật giáo mà chúng ta đang thảo luận
không hề có tính cách đè nén sự bực tức. Chánh niệm như
đã đề cập, hoàn toàn không có gì là đè nén mà đơn thuần
chỉ là sự nhận thưc trạng thái tâm khi cơn giận xảy đến
trong ta. Bằng nhận thức và quan sát, cơn thịnh nộ lắng
dần theo chiều hướng tự nhiên của nó. Và việc áp dụng
sự quán chiếu sáng suốt cũng không dính dấp gì đến vấn
đề đè nén.
Giải
pháp tối ưu
duy
trì sự điềm tĩnh
Nghệ
thuật giữ gìn bình tĩnh và thanh thản là điều gì đó hoàn
toàn biến mất trong đời sống hiện đại của chúng ta. Nhịp
sống cuồng nhịp, vội vã, đề cao sự chụp giựt vật chất,
sản xuất và tiêu thụ bừa bãi, tất cả những ảnh hưởng
lan tràn của phương tiện truyền thông quảng cáo cùng nhiều
khía cạnh khác của cuộc sống tân tiến đã góp phần tạo
nên sự xói mòn những giá trị tinh thần và nền tảng đạo
đức, đồng thời khiến cho tâm chúng ta dễ dàng mất đi
sự yên tịnh, luôn hiếu động, bồn chồn, lo sợ và giận
dữ.
Thực
sự đã đến lúc chúng ta cân bằng sự phát triển tinh thần,
tính bình dị, điềm tĩnh và thanh thản. Để phát huy đức
điềm tĩnh, không nhất thiết dùng giới luật thiền quán.
Áp dụng thiền quán chánh niệm cũng là một giải pháp. Tuy
nhiên, đi sâu vào chi tiết thiền quán chánh niệm không nằm
trong phạm vi bài này, bạn có thể tìm hiểu ở một số sách
khác. Sự quán tưởng về tình thương, lòng từ bi là một
pháp tối ưu nhất có hiệu quả đối trị tất cả hình thức
sân hận, oán thù và ác tâm. Đây là một pháp lý tưởng
cho những ai có tính khí hay ganh ghét hoặc dễ cáu giận. Do
đó, chúng tôi sẽ giải thích pháp quán tưởng tình thương
trong phần sau của cuốn sách này.
Trong
lúc này, điều quan trọng là chúng ta cố gắng trau dồi thái
độ điềm tĩnh, thanh thản vào mọi lúc. Nếu chúng ta nỗ
lực kiên trì và có chủ đích khi tiến hành như thế, thì
những cảm xúc hỗn loạn như giận dữ chẳng hạn khó lòng
cuốn hút chúng ta được. Vì vậy, từ giờ trở đi, chúng
ta phải cố gắng duy trì sự điềm tĩnh không gián đoạn
trong tất cả những gì mình làm. Chúng ta nói năng ôn tồn,
có tỉnh giác, không phải phát biểu do bị kích động, để
ý giám sát sự hiếu động, bồn chồn bất cứ khi nào chúng
sanh khởi trong tâm. Chúng ta giữ cử chỉ, hành vi điềm đạm,
thư thái. Nếu chúng ta khởi sự những hoạt động hàng ngày
của mình điềm đạm, chánh niệm và có chủ đích, chúng
ta sẽ cảm nhận được niềm an lạc thư thái đầy thú vị.
Trong cảm giác tĩnh lặng, thanh thản đó, bạn sẽ tìm thấy
nhiều quyền năng và năng lực để hoàn thành nhiệm vụ cùng
mục tiêu của mình.
Do
đó, “pháp đối trị” thứ hai là trau dồi duy trì sự điềm
tĩnh và ổn định. Thánh Abba Dorotheus đã diễn đạt điều
này khá chính xác khi ông nói: “Qua những gì ngươi làm, dù
khẩn cấp hay quan trọng đi nữa, ta không muốn ngươi gây
gổ hoặc lo âu. Để đảm bảo tinh thần thanh thản, mọi
việc ngươi làm, lớn hoặc nhỏ, chỉ chiếm một phần tám
công việc, trái lại giữ cho tâm ổn định không rối loạn
dù dẫn đến thất bại đi nữa, cũng đã đạt được bảy
phần tám còn lại. Tuy nhiên, nếu chỉ để hoàn tất việc
mình mà ngươi bị cuốn hút đi khiến tâm ngươi và tâm kẻ
khác bất ổn qua việc gây gổ, thế thì ngươi không nên đánh
đổi bảy phần tám chỉ vì để giữ lại được một phần
tám”.
Gương
lành của Đức Phật
Với
tư cách là những Phật tử, chúng ta nên để ý đến lời
khuyên và gương tiêu biểu của Đức Phật. Đã nhiều lần,
Ngài biểu lộ đức tính kham nhẫn tột bực khi đối mặt
với sự khiêu khích cực độ. Không khi nào Ngài bực tức,
mà trái lại, Ngài đã ban rải lòng từ bi ngay cả với kẻ
hãm hại mình. Không khởi tâm sân khi Devadatta cố giết Phật
cho bằng được, rồi lúc nàng Cinca vu khống Ngài về thai
nhi trong bụng nàng, kế tiếp Ngài bị vu oan về tội giết
chết người đàn bà lang thang từ phương khác đến.
Không
những chỉ trong kiếp cuối cùng mà còn trong nhiều kiếp trước,
lúc còn là Bồ tát, đức Phật đã biểu lộ lòng kham nhẫn
chịu đựng vô biên. Trong kinh Khantivàdijàtaka (câu chuyện
luân hồi tuyên dương lòng kham nhẫn) cho thấy lòng kiên nhẫn
biết bao của Bồ tát. Truyện kể rằng, có vị vua tàn ác
tên là Kalabu của xứ Kasi đối chất với Bồ tát trong khi
còn là một nhà sư tu khổ hạnh. Vua hỏi: ”Này kẻ ẩn dật
kia, nhà ngươi truyền dạy điều gì?”. Bồ tát đáp: “Thưa
bệ hạ, thần dạy tính kham nhẫn”.
“Tính
kham nhẫn là gì?”.
“Có
nghĩa là không sân hận khi người khác nguyền rủa, đánh
đập hoặc sỉ nhục mình”.
Vua
phán: “Vậy để ta xem tính kham nhẫn của nhà ngươi như
thế nào?”. Vua cho gọi đao phủ hành hình đến, rồi
ra lệnh đánh roi vào Bồ tát cho đến khi rách da, máu tuôn
ra. Vua lại hỏi Bồ tát: “Này nhà sư kia, ngươi truyền dạy
điều gì?”.
Bồ
tát đáp: “Thưa bệ hạ, thần dạy tính kham nhẫn. Bệ hạ
nghĩ kham nhẫn nằm nơi lớp da thịt này, nhưng không phải
thế, bệ hạ không thể nhìn thấy được nó vì kham nhẫn
đã bám rễ vững chắc trong lòng thần”.
Trước
sự chứng kiến của cung phi mỹ nữ và vì lòng ganh tỵ, khiến
vua tức giận bèn lệnh cho đao phủ chặt đứt tay chân Bồ
tát và máu Bồ tát tuôn xối xả.
Một
lần nữa, nhà vua buông lời chế nhạo Bồ tát: “Nhà ngươi
giảng dạy điều gì?”.
“Tâu
bệ hạ thần dạy tính kham nhẫn. Bệ hạ cho rằng tính kham
nhẫn nằm ở chân tay của thần. Không phải thế, kham nhẫn
đã mọc rễ vững chắc nơi sâu thẳm trong lòng thần”.
Vua
ra lệnh: “ Cắt đứt tai, mũi của hắn”. Đao phủ
tuân lệnh. Toàn thân Bồ tát phủ đầy máu. Khi nhà vua hỏi
lần nữa, Bồ tát đáp: “Tâu bệ hạ, thần dạy tính kham
nhẫn. Nhưng đừng nghĩ là kham nhẫn nằm ở nơi tai, mũi của
thần. Kham nhẫn đã mọc rễ chắc chắn ở nơi sâu thẳm
trong lòng thần”.
Vua
nói: “Nhà ngươi có thể ngồi xuống và tán dương tính kham
nhẫn của mình”. Vua đá vào ngực Bồ tát rồi bỏ
đi.
Vị
quan chỉ huy binh lính, có mặt lúc đó đã lau máu trên thân
Bồ tát, băng bó vết thương và ngỏ lời xin Bồ tát tha thứ:
“Thưa sư, nếu Ngài có giận thì giận đức vua chứ đừng
giận vương quốc này”.
Bồ
tát trả lời rằng, Ngài không giận ai hết, kể cả đức
vua. Hơn thế nữa, Ngài còn ngỏ lời chúc tụng vua: “Bệ
hạ vạn tuế, mọi người đều mong thần không giận”. Hôm
đó Bồ tát qua đời, còn vị vua bị mặt đất nuốt chửng
khi rung chuyển vì hành động tàn ác của mình và chuyển vào
cảnh giới địa ngục.
Sự
mô tả tính kham nhẫn không hề sân hận của Bồ tát như
thế là một nguyện vọng, một bài học cho tất cả chúng
ta. Là Phật tử, nếu chúng ta muốn trở thành đệ tử chân
chánh của Phật, chúng ta phải cố gắng chú tâm đến lời
dạy bảo của Ngài. Trong phẩm Dụ cái cưa, thậm chí ở kiếp
cuối cùng, đức Phật dạy rằng: “Ngay cả những kẻ cướp
chặt đứt tứ chi của chúng ta, thì ta cũng không nên đem
lòng sân hận mà hãy nhủ lòng thương xót, nguyện cho những
kẻ cướp này cùng tất cả chúng sanh được an lạc và hạnh
phúc”. Chắc chắn đó là lời răn dạy khó theo nhất, đồng
thời nó cũng nhấn mạnh đến quan điểm: Không hề có mảnh
đất nào dành cho lòng sân hận trong lời dạy của đức Phật.
Vậy chúng ta sẽ làm cho cõi lòng mình tràn ngập tình thương
bi mẫn và buông bỏ tất cả sân hận. Do đó, lưu ý là chúng
ta nên ở tư thế sẵn sàng để kiểm soát sân hận khi nó
sanh khởi.
Hãy
nhớ rằng tất cả chúng ta đều phải chết
Cuộc
đời chẳng qua là một bóng mát bên đường, một diễn viên
tồi, bước khập khễnh đầy sầu thảm suốt vai diễn trên
sân khấu, rồi sau đó không còn nghe ai nói đến: vở diễn
là một câu chuyện được kể bởi thằng ngốc, đầy ồn
ào và phẫn nộ, chẳng mang lại ý nghĩa nào cả.
(Shakespeare, Macbeth)
Những
kẻ khác không biết được rằng sống trên cõi đời này
tất cả chúng ta đều phải chết.
Những
ai biết được điều này đều không còn hơn thua nữa.
(Đức Phật, kinh Pháp Cú)
Trong
đoạn thơ trên, Shakespear nhắc nhở chúng ta về sự bất trắc,
cái chết và lối sống ngốc nghếch của chúng ta. Lời nói
của đức Phật cũng là sự nhắc nhở đúng lúc, báo cho chúng
ta biết cái chết hiện hữu mọi nơi, bám sát từng bước
chân của chúng ta. Quả vậy, phải chăng trong phút giây sân
hận, ta thường quên rằng tất cả chúng ta đều phải chết
vào một ngày nào đó? Rồi khi suy gẫm đến cái chết, ta
tự nhủ: “A! Giận dữ để làm gì chứ? Cuộc đời ngắn
ngủi. Nay mai tất cả chúng ta sẽ chết. Tức giận hoặc lo
âu có ích gì đâu, chỉ tổ làm ta thêm xáo trộn. Vậy thì
ta hãy làm những gì mình có thể làm được mà không gây
thêm xáo trộn và phiền phức. Ta sẽ sống thanh thản với
chính mình, với cuộc đời. Sau cùng, ta quyết không gây gỗ
với ai nữa” và v.v… Khi suy nghĩ khôn ngoan như thế,
người ta có thể bình tĩnh lại và quyết định thoát khỏi
sân hận.
Thực
vậy, suy gẫm đến cái chết ít nhất một ngày một lần
quả là lợi ích. Đức Phật đã dạy chúng ta về pháp Maranasati
(Quán tưởng cái chết) để sớm đi vào thiền quán và tu
tập trí tuệ. Quán tưởng về cái chết giúp chúng ta nỗ
lực sống một cuộc đời có ý nghĩa và trọn vẹn, không
lãng phí thời gian vào những cuộc theo đuổi vô ích. Trong
tác phẩm Vipassana (Tuệ giác), đạo sư Joseph Goldstrin diễn
đạt: “Nếu ta xem cái chết là động lực khuyên răng, ta
sẽ sống từng giây phút trọn vẹn đầy sinh lực cho nỗ
lực cuối cùng trên cõi đời này”.
Vì
vậy, thật lợi ích khi ta luôn tâm niệm: “Kiếp người mong
manh và cái chết thì chắc chắn phải đến” hoặc “Than
ôi! Đời người thật ngắn ngủi làm sao!”. Hữu hạn và
phù du, đầy đau khổ. Ta nên tri giác điều này, tạo hành
động thiện nghiệp và sống cuộc đời thánh thiện vì xưa
nay chẳng có kẻ nào vượt thoát được thần chết.
Tác
hại sân hận trên chính mình
Bạn
có muốn gây hại cho mình không? Dĩ nhiên không ai muốn thế.
Nhưng khi tức giận, thực sự ta đã làm hại chính bản thân
mình. Trong bản thiền quán Visuddhi Magga (Thanh tịnh đạo),
điều này được khẳng định: “Khi tức giận ai, bạn có
thể hoặc không làm kẻ đó đau khổ, nhưng điều chắc chắn
trước mắt là chính bạn khổ”. “Trong cơn tức giận, bạn
muốn kẻ đó phải khổ và điều này tương tự như bạn
nhặt lên một cục than hồng đang cháy bỏng hoặc một cục
phân hôi thối, như thế trước tiên chính bạn bị bỏng hoặc
chính bản thân bạn bốc mùi. Ôi, còn ai ngốc nghếch hơn
bạn nữa chứ!”.
Dù
kẻ đó khổ hoặc không khổ, nhưng điều chắc chắn là chính
mình đã gây khổ cho mình. Gây khổ thế nào? Trước tiên,
bằng việc giận dữ, ta đã đầu độc tâm mình, vì sân hận
là trạng thái bất ổn của tâm; khi tức tối, ta gây tổn
hại và ô nhiễm tâm. Là Phật tử, chúng ta nên biết rằng
bất cứ một sự bất ổn nào của tâm (akusala citta) đều
đưa đến những hậu quả rối loạn (akusala vipàka). Vì thế,
nếu ta không muốn tích tụ nghiệp báo ác (kamma vipàka) thì
tốt hơn hết chúng ta nên tránh sân hận và các trạng thái
bất ổn của tâm.
Như
đã nói lúc đầu, những trạng thái biến đổi của tâm đều
tác động lên sức khoẻ của cơ thể. Một nhà nghiên cứu
khoa học kiêm bác sỹ Mỹ, Paul Pearsall, phát biểu: “Mỗi
ý nghĩ cảm xúc đều đi kèm theo sự phóng thích dồn dập
những hoá chất ở não, gây tác động và bị chi phối bởi
hàng tỉ tế bào”. Khi nhấn mạnh đến quan điểm sức khỏe
có thể củng cố, cải thiện bằng cách chủ động những
cảm xúc, trong tác phẩm Super- immunity (Siêu miễn nhiễm),
bác sỹ Pearsall đã viết: “Những cái không nhìn thấy như
ý nghĩ và cảm xúc đều có thể gây bệnh tật và mang lại
sức khoẻ tốt… Mầm bệnh thường xuyên lảng vảng quanh
ta nhưng không thâm nhập bám rễ được trừ phi cơ địa của
ta tạo điều kiện thuận lợi. Cơ địa này chịu tác động
từ ý nghĩ, cách nhận thức, lòng tự ái, sự cảm thụ,…”.
Bác
sỹ U Aung Thein trong bài viết về Thiền Phật giáo với sinh
học (Buddhist Meditation and Bioscience) đã giải thích rằng những
cảm xúc bất ổn có thể làm đảo lộn sự cân bằng sinh
học của cơ thể. Những hoá chất do cơ thể phóng thích là
kết quả từ những cảm xúc này, chúng gây tác hại lên nhiều
cơ phận như tuyến giáp, tuyến thượng thận, bộ tiêu hoá
và cơ quan sinh sản.
Chẳng
hạn sân hận làm phóng thích chất epinefrine lần lượt gây
tăng huyết áp, tăng nhịp đập tim và đẩy mạnh sự tiêu
thụ oxygen. Tình trạng bất ổn kéo dài hoặc lập đi lập
lại thường xuyên sẽ đưa đến nhiều bệnh tật như loét
tiêu hoá, chứng khó tiêu, bệnh tim mạch và thậm chí ung thư.
Qua
những hậu quả của sân hận cùng những trạng thái bất
ổn của thân và tâm, chúng ta phải hết sức ngăn chặn những
cảm xúc khó chấp nhận này. Chúng ta xua tan lập tức bất
cứ lúc nào chúng sanh khởi. Chúng ta phải quyết tâm mạnh
mẽ hơn để điềm đạm và thư thái trong mọi tình huống.
Hãy
nhìn vào gương
Một
người giận dữ là một người rất xấu xí. Nếu bạn nhìn
thấy khuôn mặt nhăn nhó của mình trong gương khi tức tối,
chắc bạn cũng không thể nào yêu mến nổi chính mình. Có
lẽ tất cả chúng ta nên mang theo một cái gương soi nhỏ trong
túi áo phòng khi những lúc bực tức, cau có, ta có thể nhanh
chóng nhìn ngắm chính xác hình ảnh chính mình. Đó cũng là
một pháp tức thời chế ngự con quỷ trong lòng ta.
Ngay
cả một cô gái xinh đẹp nhất cũng trở thành khó coi sau
một thời gian cô ấy có tính khí dễ nổi cáu, dễ bực tức.
Những nếp nhăn xuất hiện sớm, lúc nào cũng nhíu mày cau
có hoặc sẽ có một loại nét xấu làm hư đi toàn bộ vẻ
xinh đẹp, sự khó ưa sẽ khiến mọi người tránh xa. Trái
lại, kẻ luôn mỉm cười, dễ chịu, ít khi nào bực mình
là người đáng yêu mến thực sự. Người này đi đâu cũng
được mến chuộng và chào đón.
Người
ta cho rằng, kẻ nào trong kiếp hiện tại mang dáng vẻ xấu
xí là do kiếp trước tính tình nóng nảy hay sân hận. Luật
nghiệp báo cho rằng, ai có tâm ý sân hận oán thù, nếu tái
sanh vào cõi người sẽ có hình thù xấu xí, thậm chí ghê
tởm. Vì vậy, là Phật tử, chúng ta tin luật nghiệp báo,
cũng là luật nhân quả, chúng ta nên tránh sân hận. Nếu lâm
vào tình huống không tức không được, thì hãy nghĩ nghiệp
báo xấu có thể xảy đến với mình, do vậy ta sẽ nhanh chóng
bình tĩnh trở lại.
Nhớ
rằng chúng ta làm chủ hành động của mình
Chúng
ta làm chủ hành động của mình. Dù tạo tác bất cứ việc
gì, ta cũng phải gánh chịu hậu quả việc mình làm. Khi giải
thích về luật nghiệp báo, đức Phật thuyết: “Này các
Tỳ kheo, chúng sanh làm chủ hành động tạo tác của mình
đồng thời cũng là vật thọ tạo. Hành động tạo tác là
nhân, đưa đến chúng sanh là quả. Chúng sanh liên quan đến
hành động tạo tác của mình. Hành động tạo tác là nơi
nương tựa của chúng sanh. Dù tạo tác bất cứ điều gì,
thiện hoặc ác, chúng sanh đều trở thành vật thọ tạo của
chính mình”.
Xét
như thế, ta cảm thấy thương xót những kẻ có tính khí sân
hận, oán thù. Tại sao? Bởi vì tức giận, căm ghét nên kẻ
đó tích tụ đầy nghiệp ác mà một ngày nào đó phải gánh
chịu quả báo ác. Nếu không sửa đổi hành vi của mình,
thậm chí kẻ đó có thể đi vào cảnh giới địa ngục. Nếu
ta đáp trả lại kẻ đó cũng bằng lòng căm hận, oán hờn,
thì ta cũng chẳng hơn gì kẻ đó. Cả hai đều đi vào cảnh
giới địa ngục.
Khi
quán về luật nghiệp báo, chúng ta sẽ bình thản lại, vì
luật nghiệp báo buộc chúng ta phảt tự chịu trách nhiệm.
Mỗi cá nhân chúng ta phải chịu trách nhiệm hành động tạo
tác của chính mình. Kẻ làm ác phải chịu đau khổ khi nghiệp
quả chín muồi. Về phần chúng ta là phải xua tan sân hận
và những thái độ tạo tác bất thiện.
Xét
đến điểm tốt của kẻ khác
Ai
cũng có vài điểm tốt. Nếu ta xét đến điểm tốt của
người khác, ta sẽ không giận họ. Trước đây, bằng cách
này cách nọ, họ đã giúp ta. Khi nhớ những tính tốt của
họ và những gì họ giúp ta trước đây, lòng ta sẽ dịu
lại và tỉnh táo. Nên nhớ rằng trên đời này không có ai
hoàn hảo, và chính bản thân ta cũng có những sai lầm. Đức
Phật đã dạy tìm lỗi lầm của mình để sửa chữa tốt
hơn là dò xét lỗi lầm của người khác. Thấy một ngàn
lỗi của người không bằng thấy một lỗi của chính mình.
Kiềm
chế
Khi
giận, ta không nên hành động hay nói năng gì, vì trong tâm
trạng đó, những gì ta nói hoặc làm đều vụng về, thô
lỗ, gây ra những tai hại mà sau này ta phải hối tiếc. Thậm
chí khi sự việc đã trôi qua, ta có ngỏ lời hối hận đi
nữa thì cũng đã quá muộn, vì hậu quả tai hại đã hình
thành rồi. Kẻ bị thương tổn không thể thay đổi thành
kiến dành cho ta.
Do
đó, khi sân hận sanh khởi, ta nên kiềm chế, lặng im bất
động như một khúc gỗ. Ta chỉ nói hoặc hành động sau khi
đã xua tan sân hận. Vì thế, ta chỉ hoạt động trở lại
khi tâm lắng dịu và bình tĩnh. Bằng cách đó, những gì ta
làm sẽ trở nên tốt đẹp và không để lại sự hối tiếp
về sau.
Không ai thoát khỏi lời trách mắng
Có
một lần Phật bảo một vị Samôn tên Atula: “Này Atula, không
phải chỉ có hôm nay mà thôi; mà từ xa xưa, điều này đã
xảy ra rồi, im lặng bị trách mắng, nói nhiều cũng bị trách
mắng, nói khiêm cung cũng bị trách mắng, trên thế gian này
chẳng ai là không bị trách mắng”. Nếu chịu khó quan sát
lấy bản thân mình, ta thấy điều đó hoàn toàn đúng: không
ai trên cõi đời này thoát được lời trách mắng. Dù chúng
ta cố gắng cách nào đi nữa, thì kẻ khác vẫn tìm ra lỗi
lầm của chúng ta. Vậy, hiểu được bản chất của cuộc
sống, ta không nên bực mình hoặc tức giận khi bị trách
mắng.
Tuy
nhiên, điều chúng ta nên làm là xem xét lý do trách mắng.
Nếu quả thực ta sai thì hãy bình tĩnh sửa đổi dần, nhưng
nếu bị trách mắng oan, ta không cần nhọc tâm, ta giải thích
lý do hành động đã làm và nguyên nhân trách oan. Sau đó,
ta không nên bận tâm đến lời trách mắng phi lý đó nữa.
Ta nên tập tính bình thản và quán tưởng rằng, ngay cả đức
Phật còn không thoát lời quở trách huống chi mình, chẳng
hạn vào thời đại của đức Phật, Ngài bị chỉ trích về
việc ăn thịt, bị vu khống về việc ăn nằm với nàng Cinca
cùng vụ giết chết người phụ nữ lang thang.
Điều
quan trọng là chúng ta làm những gì mình nên làm. Do đó, chúng
ta sẽ không có lỗi vì rằng, chẳng có ai hiểu biết rõ ràng
lại đi khiển trách chúng ta, trừ phi kẻ đó thiếu sáng suốt
hoặc không hiểu rõ lý do ta hành động. Điều này cũng đúng
thôi, một vấn đề không thể tránh được trong đời sống,
vì cố gắng mấy đi nữa, ta vẫn bị chỉ trích quở trách.
Điều chúng ta cần là cố gắng làm những gì mình phải làm
một cách khéo léo để tối thiểu hoá sự tác động của
lời trách mắng. Sau đó, nếu vẫn còn bị chỉ trích thì
hầu như chúng ta chẳng còn gì để làm nữa.
Tại sao chúng ta giận dữ?
Nếu
tra xét vấn đề tại sao ta tức giận, ta sẽ nhận ra nguyên
nhân là ta có bản ngã và nó phình to ra lúc ta sân hận. Ta
khẳng định cái “tôi”, cái bản ngã, chính điều này khiến
ta cảm thấy bị xem thường và tức tối. Nếu ta không khẳng
định cái “tôi” và hiểu rõ giáo lý vô ngã (anatta) của
đức Phật, ta sẽ không cáu kỉnh, tức giận dù bị trêu
tức thế nào đi nữa. Vào thời đại của mình, đức Phật
đã nhiều lần bị trêu tức, bị thách thức, nhưng Ngài không
khởi sân, không bao giờ đánh mất sự thanh thản của mình.
Trong kinh điểm chúng ta không bao giờ thấy đức Phật tức
giận; ngược lại kinh nhấn mạnh đến đặc tính đoạn diệt
sân hận của Ngài. Thậm chí lúc đức Phật quở trách nghiêm
khắc một vị Sa môn hoặc một đệ tử sai quấy, Ngài thể
hiện một cách nhẹ nhàng, bình thản, không một chút sân
nào.
Tương
tự, các vị A la hán chứng quả giác ngộ cũng đoạn diệt
sân hận. Chẳng hạn Ngài Xá Lợi Phất (Sariphutta), đại đệ
tử của Phật, nổi tiếng về lòng kham nhẫn vô biên và khiêm
tốn. Một hôm, có một số người ngợi khen đức tính cao
quý của Ngài Xá Lợi Phất, tuyên dương: “Vị Trưởng lão
cao quý của chúng ta có lòng kham nhẫn vô biên đến độ bị
lăng mạ, đánh đập mà Ngài không có vẻ gì sân hận cả”.
Một vị Bà la môn không tin điều này, đã hỏi vặn lại:
“Người này là ai mà chẳng sân hận?”, bèn sắp đặt để
trêu chọc vị Trưởng lão. Một hôm, vị này tiến gần đến
sau lưng Ngài Xá Lợi Phất rồi đấm mạnh vào lưng. Tôn giả
Xá Lợi Phất khẽ nói: “Chuyện gì thế?”, rồi tiếp tục
bước đi khất thực mà không ngoái cổ lại để xem. Ngay
lúc ấy, vị Bà la môn cảm thấy hối hận, quỳ mọp dưới
chân Ngài Xá Lợi Phất xin tha thứ. Vị Trưởng lão ôn tồn
hỏi: “Xin lỗi chuyện gì?”. Vị Bà la môn hối hận đáp
lời: “Vì muốn thử lòng kham nhẫn của Ngài, tôi đã đấm
mạnh vào lưng Ngài”. “Không sao, tôi hoan hỷ”.
Vị
Bà la môn bèn Ngài Xá Lợi Phất về nhà dùng cơm nhưng những
kẻ trông thấy hành động của vị Bà la môn đều nổi giận
muốn đánh đập vị này. Ngài Xá Lợi Phất ngăn cản họ
lại bằng cách hỏi: “Kẻ bị đánh là quý vị, là tôi hay
là ông ấy?”. “Chính là Ngài thưa Trưởng lão.” “Vậy
nếu chính tôi bị đánh thì ông ấy đã xin lỗi tôi rồi.
Xin quý vị bỏ đi”. Bằng cách đó, Ngài Xá Lợi Phất giải
tán được đám đông.
Sự
khiêm tốn của Ngài Xá Lợi Phất cũng vô biên như tính kham
nhẫn của Ngài. Có một lần, một chú điệu 7 tuổi bước
đến gần Trưởng lão Xá Lợi Phất và nhìn thấy y của Ngài
không chỉnh tề. Hình như trong lúc lơ đễnh, góc y của Trưởng
lão xệ xuống, khi chú điệu chỉ cho Ngài thấy. Thay vì bực
mình, Ngài lập tức bước sang một bên sắp xếp lại y áo
chỉnh tề rồi đứng trước mặt chú điệu, chắp tay khẽ
nói: “Bây giờ đã chỉnh tề rồi, thưa sư phụ”.
Nhiều
mẫu chuyện như thế về hành vi của bậc A la hán là nguyện
vọng và cũng là bài học đối với chúng ta. Tại sao họ
không còn bực dọc, cáu kỉnh nữa? Vì họ đã nhổ bật gốc
rễ tất cả những trói buộc phát sinh từ ý niệm cái tôi
hoặc bản ngã. Dù hữu hoặc vô ngã, họ không cảm nhận
“chính ta bị xem thường” hoặc “chỉ là một chú điệu
mới 7 tuổi mà dám sửa lưng ta, một Ngài Xá Lợi Phất, đại
đệ tử của Phật!”.
Những
ý nghĩ như thế không bao giờ có đối với Ngài Xá Lợi Phất
vì Ngài đã thấm nhuần giáo lý vô ngã của đức Phật, đã
nhổ bật gốc rễ tất cả sân hận và kiêu mạn.
Như
thế, khi chúng ta còn tức giận, ta nên hiểu rằng vì mình
vẫn còn khẳng định “cái tôi” hoặc bản ngã. Nếu lúc
đó chúng ta quán chân lý vô ngã, rốt cuộc trong đó không
có “cái tôi” thực. “Cái tôi” chỉ là một ý niệm,
một từ ngữ theo thói quen, ta có thể bình tĩnh lại và không
còn tức tối nữa.
Thêm
vào đó, ta xét nghĩ đến trường hợp Ngài Xá Lợi Phất
ở cương vị một đại đệ tử của Phật, bằng cách nào
Ngài vẫn thản nhiên ngay cả lúc bị sỉ nhục và trêu chọc
thậm tệ. Quán tưởng như thế, ta có thể giữ cho mình không
còn sân hận nữa.
Ai tức giận?
Vấn
đề kế tiếp phải xem xét là “Ai tức giận?”, “Cái gì
đang tức giận?”. Bản ngã? Cái tôi? Trong ý nghĩa tối hậu,
hãy nhớ rằng cả bạn và kẻ mà bạn đang tức giận đều
không thực có. Rốt lại, những cái chúng ta cho là mình chẳng
qua chỉ là tâm và thân tứ đại cùng tiến trình sinh diệt.
Do
đó, trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi Magga) dạy chúng ta quán
chiếu thân thể do nhiều phần hợp lại: “Giờ đây, cái
gì đang tức giận bên trong bạn? Tóc? Lông? Móng tay hay nước
tiểu? Hoặc một trong các thứ đất, nước, lửa, gió
cấu tạo thành tóc? Phải chăng những tập uẩn (khandha) bên
trong bạn đang tức giận, hoặc thọ uẩn, tưởng uẩn, sắc
uẩn, thức uẩn nổi giận? Hoặc đó là nhãn căn?…”. Khi
quán như thế này, cơn sân hận của chúng ta không tìm ra được
cơ sở để tồn tại do đó sẽ tan biến.
Hoặc
xét trên khía cạnh tất cả chúng ta đều cấu thành từ tâm
thức và vật thể mà cả hai phần này thường xuyên biến
đổi, nhất là tâm thức biến đổi rất nhanh, ý nghĩ sanh
diệt chớp nhoáng. Trong một tia chớp hay một cái nháy mắt,
hàng triệu ý nghĩ đã trôi qua. Vậy thì cái gì tức giận?
Tức giận ai? Cái tâm thức cùng vật thể tức giận trong
nháy mắt đã trôi qua. Vô số ý nghĩ khác cùng vật thể biến
đổi lại tiếp tục sanh khởi thế vào đó. Nhận thức trên
khía cạnh này, cơn giân sẽ thoái lui.
Chúng ta đều có quan hệ với nhau
Phật
dạy, từ vô thỉ đến nay chúng ta lang thang mãi trong vòng
luân hồi sanh tử bất tận đến nỗi tất cả chúng ta đều
là quyến thuộc của nhau dưới hình thức này hoặc hình thức
khác. Vì thế, Phật nói: “Này các Tỳ kheo, thật khó mà
tìm được kẻ nào trong đời quá khứ chưa từng là
mẹ, cha, anh, chị, em, con cái của các ngươi”. Vậy chúng
ta không nên nuôi lòng sân hận với kẻ từng là quyến thuộc
của ta trong nhiều kiếp quá khứ. Nghĩ khôn ngoan như thế,
cơn giận của ta sẽ tan đi.
Tha thứ
Một
trong những lý do sân hận của ta là ta không thể tha thứ
và bỏ qua. Vì thế, ta dễ tức giận, và hậu quả là ta có
xu hướng nuôi dưỡng niềm cay đắng, phẫn uất hoặc hận
thù vì những đau khổ (thực tế hoặc tưởng tượng) đã
gây ra cho ta. Dù chúng ta có thể nghĩ rằng mình đã tha thứ,
nhưng tận trong sâu thẳm của lòng mình, ta vẫn chưa thực
sự hoàn toàn tha thứ. Một cách ý thức hoặc vô thức, ta
vẫn còn tiềm ẩn nỗi cay đắng hoặc oán hận. Nếu ta biết
bỏ qua, biết tha thứ thật sự và triệt để, ta sẽ sống
một cách hạnh phúc, thoải mái hơn, không phải đeo đẳng
gánh nặng oán hờn, tức tối v.v…
Tha
thứ, chính xác là “tình thương dịu dàng và trìu mến nhất”
và là “hương hoa thơm ngát trên gót chân dẫm đạp”, “giống
như giấy nợ được huỷ bỏ, xé toặc và đốt cháy để
vĩnh viễn không còn làm khổ kẻ khác”. Nếu chúng ta thực
sự thương xót, nếu chúng ta tràn ngập lòng từ ái, nên hoàn
toàn tha thứ bằng cả tấm lòng, vô điều kiện.
Chúng
ta tha thứ cái gì? Tha thứ những lỗi lầm kẻ khác gây ra
cho ta cũng như ta mong muốn người khác tha thứ những lỗi
lầm mà ta gây cho họ. Chúng ta hoàn toàn không trả thù, cố
nén cơn giận, không nói hoặc làm bất kỳ điều gì tổn
thương hoặc trêu tức kẻ đã lầm lỗi với ta. Chúng ta tha
thứ, không nuôi dưỡng mối ác cảm hoặc lòng thù nghịch
và hiểu rằng tất cả chúng ta, ai cũng có khuyết điểm và
sai lầm.
Do
đó, khi tha thứ kẻ khác cũng có nghĩa là tha thứ cho chính
mình, vì đôi khi trong quá khứ ta cũng từng sai lầm và hiện
ta cũng khó mà tha thứ cho chính mình. Chúng ta đau khổ vì
ăn năn, hối hận. Sự hối hận này khiến ta thống khổ và
tâm trạng bất an. Đức Phật khẳng định rằng, điều mà
chúng ta nên làm không phải là than vãn, hối tiếc những việc
đã qua mà là không lập lại lỗi lầm và sửa đổi được
những gì còn có thể sửa. Chúng ta nên bỏ đau khổ lại
ra phía sau và đừng để những hồi tưởng hối hận thỉnh
thoảng trở về hành hạ chúng ta. Nếu hồi tưởng sanh khởi,
ta nên nhận biết (thí dụ thực hành chánh niệm) và không
nên cố gắng giải quyết nó. Dứt khoát không suy nghĩ vì
hiểu rằng chẳng thể làm gì thêm được nữa ngoại trừ
sửa chữa và không lặp lại lỗi lầm.
Đôi
khi ta lý tưởng hoá chính con người mình. Dẫu sao, ta cũng
nên chấp nhận lỗi lầm rất người của chúng ta vì rằng
tất cả chúng ta, không ai một sớm một chiều trở thành
thánh nhân được. Thật là khó khăn để đi đến thành công,
nhưng nếu chúng ta cố gắng kiên trì thì cuối cùng chúng
ta cũng đến đích. Điều ta cần là sự kiên nhẫn, quyết
tâm và bền chí.
Những lợi lạc của lòng từ ái
Khi
nghĩ đến lợi lạc do lòng từ ái đem lại, ta sẽ không còn
sân hận. Đức Phật khẳng định những ai hành trì quán tưởng
lòng từ ái bi mẫn sẽ đạt được 11 điều lợi lạc: dễ
ngủ, tỉnh dậy tươi tắn, không ác mộng, được quý mến
bởi chúng sanh cõi người và chúng sanh không thuộc cõi người,
được các thiện thần phò trợ, lửa, độc, dược, binh khí
không làm hại được, dễ định tâm, nét mặt thanh thản,
giờ lâm chung sáng suốt ra đi nhẹ nhàng như một giấc ngủ,
nếu không đạt được quả vị A la hán sẽ được tái sinh
ở cõi trời Phạm Thiên thượng đẳng. Ta sẽ bàn luận thêm
về những lợi lạc này ở phần thực hành quán tưởng lòng
từ ái. Tóm lại, sự lợi lạc này rất hấp dẫn và đủ
sức khiến ta dập tắt cơn sân hận mà bình tĩnh lại. Nói
cách khác, nếu chúng ta nhượng bộ cơn sân hận, ta sẽ không
được hưởng những lợi lạc này. Do vậy, sự cám dỗ của
lợi lạc giúp ngăn chặn để chúng ta không bị sân hận đè
bẹp.
Tặng quà
Trong
vài trường hợp, ta có thể tặng quà. Chẳng hạn, như có
người thân thích và hay nói xấu ta; trong trường hợp này,
thật dễ nổi tức và phản ứng lại, nhưng làm thế không
phải cách của một đệ tử Phật. Phương châm đệ tử Phật
là không bao giờ lấy oán trả oán. Mà thay vào đó là lòng
từ bi được đáp trả. Vì thế, ta có thể vượt lên sự
thử thách và làm một chuyện khó làm nhất là mua quà tặng
cho kẻ đó. Đây là dấu hiệu của hành động cao thượng
và tấm lòng bao la, bất chấp ác ý của người, ta không nuôi
dưỡng ý xấu. Sau đó, ta cảm thấy bình thản vì biết rằng
mình đã khước từ dính dấp vào bất kỳ sự xung đột nào
hoặc sôi sục căm hờn oán hận, và thái độ cao quý của
ta có lẽ sẽ khiến kẻ kia xúc động. Có thể họ không còn
giữ lập trường chống đối ta, thậm chí còn trở nên thân
thiện hơn nữa! Vì thế, việc tặng quà có thể tạo ra điều
kỳ diệu và cũng là điều đáng để cho chúng ta xem xét trong
vài tình huống nào đó.
Kết luận
Đến
đây, chúng tôi chấm dứt phần này. Qua các vấn đề nói
nói ở trên, chúng tôi đã thảo luận khá nhiều về thái
độ áp dụng vào việc kiềm chế sân hận và giữ bình thản.
Chúng tôi mong rằng độc giả đã đọc kỹ phần này sẽ
được giải toả nhiều hơn từ trước đến giờ để nhắm
tới từ bỏ sân hận và gieo rắc tình thương. Trong phần
kế tiếp, chúng ta sẽ thảo luận sự thực hành quán tưởng
lòng từ bi.
Tình
thương là niềm vui của thiện nhân,
Điều
kỳ diệu của trí tuệ,
Sự
nhiệm màu của thần thánh
Plato
Tình thương
Tình
thương là gì? Thực chất của nó ra sao? Có bao nhiêu loại
tình thương? Tình thương mà đức Phật rao giảng có khác
biệt với loại tình thương theo hiểu biết thông thường
của chúng ta không? Khởi đầu, chúng ta hiểu biết tình thương
như thế nào? Đây là câu hỏi chúng ta đưa ra trước khi bắt
đầu cuộc thảo luận hoặc viết về các tình thương.
Tình
thương yêu là một từ được dùng rất phổ biến. Chúng
ta viết, nói (là một phần từ vựng hàng ngày của chúng
ta), đọc về nó và xem nó là phần cốt tuỷ của cuộc đời.
Chúng ta đã nghe những lời nói như: “Tình yêu là điều
gì đó rực rỡ huy hoàng”, “Yêu thì không bao giờ tiếc”,
“Tình yêu làm thế giới chuyển biến” và những khẩu hiệu
như: “Hãy tạo tình thương, xoá bỏ hận thù”.
Vậy
chúng ta trở lại câu hỏi “Tình thương là gì?”. Từ điển
định nghĩa tình thương một cách đa dạng như là một cảm
xúc tốt bụng nồng ấm; một cảm xúc thân thương dịu dàng,
sâu đậm, tận tụy ràng buộc với một người hoặc nhiều
người; một cảm xúc về mối quan hệ huynh đệ và tử tế
với mọi người; một cảm xúc mãnh liệt luôn say đắm giữa
người này và người khác trên cơ sở thu hút giới tính và
tính dục.
Thật
đúng lúc khi chúng ta khởi sự định nghĩa loại tình thương
mà chúng ta sẽ thảo luận ở đây. Đó là loại cảm xúc
nồng ấm dành cho mọi người, mong ước họ được an lành,
một cảm giác dịu dàng, quan tâm và trìu mến, không vị kỷ
và không mong đền đáp, cao thượng, vượt qua tất cả rào
cản tôn giáo, giới tính, chủng tộc, quốc tịch, v.v…. bao
gồm tất cả chúng sanh trên thế gian, kể cả côn trùng, cá,
thú vật và vong linh.
Đây
không phải là tình thương tầm thường hoặc say đắm dành
cho một cá nhân: nó không mang ý nghĩa dục tình, không có
sự thoả mãn nhục dục hoặc dục tính. Thực ra mà nói, chúng
ta đều xác nhận có tình thương giữa những kẻ yêu nhau,
giữa những người chồng và những người vợ. Trong mối
quan hệ của họ có thể có sự quan tâm chăm sóc ân cần,
nhưng tình thương của họ không phải là tình thương vô điều
kiện. Nó chỉ là tình thương trộn lẫn với sự cuốn hút
mãnh liệt đầy nhục dục hoặc dục tính và có thể thay
đổi nếu một bên không đáp lại hoặc không thể thoả mãn
nhu cầu hay khát vọng của bên kia. Do đó, tình thương này
có điều kiện, giới hạn và mang tính chủ quan, chúng ta xếp
nó vào loại hạ đẳng, thiếu tính chất cao thượng khi so
với loại tình thương mà ta đang thảo luận hoàn toàn vị
tha và siêu việt.
Tiện
đây, chúng ta cũng nên bàn qua về vấn đề dục vọng. Dục
vọng là gì? Một lần nữa, từ điển định nghĩa đó là
khát vọng thoả mãn những cảm giác, những ham muốn của
xác thân, nhu cầu dục tính, sự thèm khát dục tính quá độ,
nhất là chạy theo sự thoả mãn vô độ, sự thèm khát chinh
phục. Do đó, ta có thể thấy rằng tình thương giữa hai cá
nhân bao gồm mức độ dục vọng nào đó, lòng ham muốn nhục
dục tự bản thân nó đã chứa sẵn niềm khao khát thoả mãn
cảm giác và, như chúng ta đã biết, rất mãnh liệt, đầy
sức áp đảo, mù quáng, đam mê, thậm chí trở nên ám ảnh.
Nó có thể dẫn đến những cơn ghen tức mãnh liệt, sự sân
hận dữ dội và nỗi tuyệt vọng tận cùng khi người mình
thương hướng về kẻ khác hoặc khi tình yêu không được
đáp lại.
Do
vậy, một lần nữa xin nhắc lại đây không phải là loại
tình thương mà chúng ta sẽ thảo luận, đây chỉ là loại
có điều kiện và nô dịch hoá theo khát vọng và ham muốn.
Tuy nhiên, trong đó vẫn có tình cảm trìu mến, chăm sóc và
thân thương không thể phủ nhận giữa những kẻ yêu nhau,
giữa chồng và vợ dù rằng có điều kiện và dựa trên cơ
sở thu hút nhau vì dục tính. Nhưng có lẽ chính từ loại
tình thương kém cao thượng này mà người ta hiểu biết thêm
về tình thương mang tính cao thượng hơn và cuối cùng ca ngợi
và phát triển loại tình thương vượt trên tất cả rào cản,
giới hạn và điều kiện.
Vì
thế, loại tình thương mà chúng ta sẽ thảo luận ở đây
là tình thương truy tìm và hân hoan trong niềm an lạc của
tha nhân. Nó cao thượng, vị tha, không mong đền đáp kể cả
sự cảm kích và lòng biết ơn. Tình thương cho đi vì lý do
duy nhất là chỉ để cho đi, thế thôi. Nó hân hoan khi nhìn
thấy (kết quả tình thương và chia sẻ) niềm vui và
hạnh phúc bừng sáng trong ánh mắt và khuôn mặt của người
khác. Đó là phần thưởng tương xứng, nếu có thể nói như
thế, cần cù nổ lực và “công sức bỏ ra vì tình thương”
thật đáng giá. Ước mong tha nhân được mọi điều tốt
lành, cầu chúc cho họ gặp niềm an lạc hạnh phúc và thoát
ly đau khổ.
Do
vậy, theo “công thức tình thương” truyền thống của Phật
giáo, chúng ta chúc: “Nguyện cho tất cả chúng sanh an lạc
và hạnh phúc. Nguyện cho tất cả thoát ly nguy hại. Nguyện
cho tất cả thoát ly phiền não. Nguyện cho tất cả thoát ly
khổ ách. Nguyện cho tất cả sống an lạc”.
Chính
đời sống đức Phật là một minh hoạ về tình thương và
lòng bi mẫn, chính hai đức tính này khiến Ngài từ bỏ cuộc
sống cung vàng điện ngọc, ra đi tìm chân lý để diệt tất
cả đau khổ cho thế gian. Khi giác ngộ, Ngài truyền giảng
chánh pháp cho tất cả chúng sanh, mong tất cả thể nhập chân
hạnh phúc vô lậu, sự an lạc Niết bàn mà tất cả có thể
đạt được trong chính kiếp sống này bằng cách thanh tịnh
hoá tâm thức.
Ngài
cho đệ tử đi khắp nơi hoằng hoá chánh pháp để mọi người
hiểu rằng họ cũng có thể đạt được pháp hỷ lạc tự
tại thoát ly đau khổ. Chính đấng Đạo sư đã dẫn đầu
Tăng đoàn đi khắp Ấn Độ hoằng pháp không mệt mỏi cho
tất cả giai cấp xã hội trong thời gian 49 năm từ lúc giác
ngộ cho đến khi nhập Niết bàn ở tuổi 80.
Đức
Phật thường xuyên dạy các tu sĩ và đệ tử ban rải lòng
từ bi. Ngài yêu cầu họ hãy để tâm từ bi “lan rộng, toả
khắp vô biên” tràn ngập mọi nơi trên khắp thế gian. Ngài
dạy họ dù ở hoàn cảnh nào, đi, đứng, nằm, ngồi phải
luôn khởi tâm thương yêu tất cả chúng sanh. Trong giáo pháp
của Ngài, không hề tìm thấy một mảy may thù hận hoặc
tâm nguyện xấu. Tình thương như thế thật cao quý vô cùng.
Thật khó mà yêu thương hoàn toàn chân thành không mong đền
đáp gì cả. Điều này chắc vô cùng khó khăn cho chúng ta
khi phát triển tình thương đến mức độ vô lậu mà đức
Phật đã thành tựu - một tình thương bao trùm tất cả chúng
sanh, không đốt cháy hoặc làm khô héo tất cả, ngược lại
khiến tất cả dịu mát và thanh thản, một tình thương được
thành tựu bởi trí tuệ và thanh tịnh.
Chúng
ta bắt đầu gieo chủng tử tình thương như thế khi thực
hành tình thương bi mẫn và pháp thiền quán tuệ giác (vipassanà).
Thiền quá mettà hoặc tâm từ bi là vũ khí đặc biệt có
hiệu quả chống lại sân hận oán thù. Trong quá trình thực
hành thiền quán tuệ giác, tình thương và lòng bi mẫn có
thể chớm nở khi ta thấu hiểu chân thật rằng, tất cả
chúng ta đều cùng chung số phận cộng nghiệp khổ trong vòng
luân hồi (samsàra), nói cách khác là cùng chung con thuyền.
Trong
các trang sau, chúng ta sẽ hạn chế cuộc thảo luận trong phạm
vi phát triển tâm từ (mettà). Về phần thực hành tuệ giác
(vipassana) đã được nói trong cuốn sách nhỏ khác với nhan
đề “Đi đến tuệ giác” (Invitation to vipassana).
“Kiếp
người ngắn ngủi,
nhưng
tình thương thì lâu bền”
Tenny
Son
Quán tâm từ (Mettà Bhàvanà)
Gieo
chủng tử từ bi
Quán
tâm từ đặc biệt thích hợp cho người nóng tính, thí dụ
như người dễ nổi giận, nuôi dưỡng ác cảm, khó quên,
khó tha thứ, ôm ấp hận thù, oán hận. Những kẻ nóng tính,
dễ cáu, sau khi thực hành quán đều đặn thì tính khí xấu
này không còn nữa. Đối với kẻ đằm tính thì phép quán
này đem đến nhiều lợi lạc, vì tất cả chúng ta ai cũng
thường xuyên bực mình, khó chịu, pháp quán này giúp chúng
ta bình thản, dễ chịu hơn. Ngoài ra, cũng còn nhiều điều
lợi khác sẽ thảo luận sau. Tuy bây giờ nói về lợi lạc,
nhưng cuối cùng sự thực hành tâm từ sẽ phát triển loại
tình thương mà khi thương chỉ vì thương xót, chỉ nhằm giảm
bớt đau khổ của tha nhân và đẩy mạnh thiện tâm, lòng
dũng cảm, niềm an lạc hạnh phúc. Những điều lợi chúng
ta nói ra ở đây, lúc đó sẽ trở nên thứ phụ không quan
trọng nữa, nhưng ban đầu chúng được xem như nguyên động
lực đưa ta đến thực hành.
Một
trong những mục tiêu thiền quán là đạt được sự tập
trung tình thương hoặc trụ tâm vào một điểm. Khi tâm trụ
vào một điểm, nó ngừng lại và trở nên lặng lẽ, an tịnh.
Lúc đó, khuynh hướng lang thang của tâm dừng lại, ít nhất
cũng trong lúc tâm trụ lại hoặc chăm chú vào mục tiêu quán
tưởng của nó. Tâm rất lặng lẽ và dịu đi tính lăng xăng
khi ta đạt tới loại tĩnh lặng này, một sự tĩnh lặng không
tư duy, sự tĩnh lặng của tâm an trụ trên một điểm duy
nhất là mục tiêu của nó. Tâm trở nên tĩnh lặng như ánh
nến cháy đều đặn không chao đảo khi gió không còn nữa.
Trạng
thái tĩnh lặng đó, dĩ nhiên hành giả phải trải qua mới
hiểu được.
Lúc
đó, trên nguyên tắc, là làm tâm trụ vào một điểm, dán
chặt vào mục tiêu quán tưởng. Trong trường hợp quán tình
thương bi mẫn, thì mục tiêu là ý niệm tình thương, mong
ước tất cả chúng sanh được an lành. Có nhiều phương cách
sử dụng để lan toả tình thương đại bi và an trụ tâm
vào một niệm. Ở đây, chúng ta sẽ thảo luận một trong
những phương cách có thể áp dụng thành công.
Trước
tiên, phương cách này được diễn tả trong bốn câu:
“Nguyện
cho tất cả chúng sanh thoát ly nguy hại,
Nguyện
tất cả thoát ly phiền não,
Nguyện
tất cả thoát ly khổ ách,
Nguyện
tất cả an lạc hạnh phúc”
Bốn
câu nguyện này dễ nhớ. Hành giả phải đọc đi đọc lại
bốn câu này trong tâm thức (nghĩa là chỉ cần nhủ thầm
trong tâm, không cần đọc lớn) với tính cách thuộc lòng.
Tâm có thể so sánh như một máy tính và ý niệm là lập trình
với tư tưởng mong ước tha nhân được an lành cho đến khi,
nói cách khác, nó tràn ngập tư tưởng này, tràn ngập tình
thương. Khi nhủ thầm trong trí, tâm sẽ khởi sự tập trung
vào ý niệm tình thương, mong ước an lànhcho tha nhân. Những
tư tưởng không cần thiết cuối cùng không còn chổ để
chen vào, lúc đó tâm sẽ an trụ tại một niệm và hành giả
trải qua sự tĩnh lặng đặc biệt mà chúng ta đã đề cập.
Trước
khi đi xa hơn, chúng ta cần giải thích ý nghĩa của bốn câu
nguyện thuộc lòng. Một khi hiểu được ý nghĩa của chúng,
đương nhiên ta sẽ biết chúng muốn ám chỉ điều gì khi
ta nhủ thầm trong tâm hoặc hướng tư tưởng tình thương
ra ngoài.
1
Nguyện
tất cả chúng sanh
thoát
ly nguy hại
Có
hai loại nguy hại – trong và ngoài.
Nguy
hại bên trong ám chỉ sự ô nhiễm tâm (kilesas) như: tham lam,
oán ghét, ảo tưởng, lo âu, bồn chồn…gây cho ta nhiều phiền
não. Nguy hại bên ngoài như tai nạn xe cộ, thiên tai (hoả
hoạn, bão lụt, chuồi đất, động đất,…) và hiểm nguy
do kẻ khác hãm hại. Không ai mong những nguy hại này cả trong
lẫn ngoài, dù rằng sự nguy hại bên trong xem ra còn tệ hại
hơn bên ngoài. Khi lời nói thốt ra, ta trở thành kẻ thù nguy
hiểm nhất của chính mình. Nếu ta khắc phục được những
ô nhiễm bên trong tâm thức, ta có thể đối mặt với những
chướng ngại bên ngoài một cách bình thản.
2
Nguyện
tất cả chúng sanh
thoát
ly phiền não
Ý
nghĩa quá rõ ràng. Nó ám chỉ tất cả những đau khổ tinh
thần, kể cả cái vi tế nhất. Nó bao gồm: lo âu, bồn chồn,
sợ hãi, chán nản, buồn phiền, tuyệt vọng hoặc bất kỳ
một trạng thái bất ổn nào của tâm dẫn đến khủng hoảng,
đau buồn hoặc khắc khoải, dằn vặt. Không ai muốn phiền
não, chúng ta đều muốn sống an vui bình thản.
3
Nguyện
tất cả chúng sanh
thoát
ly khổ ách
Ý
nghĩa câu này cũng dễ hiểu, nó bao gồm những đau đớn của
thân xác, từ những khó chịu sơ sài của cơ thể, đau nhức
và những chứng bệnh như cảm cúm, nhức đầu cho tới những
bệnh tật nghiêm trọng như ung thư và bệnh tim mạch – không
ai muốn thân xác mình đau đớn.
4
Nguyện
tất cả chúng sanh
sống
an lành hạnh phúc
Tất
cả chúng ta cần cố gắng hoàn thành công việc và trách nhiệm
của mình. Học sinh phải học hành trong khi người lớn phải
kiếm sống. Chúng ta phải hoà thuận với mọi người trong
môi trường tiếp xúc, như là đồng nghiệp, bạn bè, thân
nhân, thành viên trong gia đình và những người mình yêu thương
- cuộc sống sẽ gặp nhiều khó khăn nếu ta không quan hệ
tốt với tha nhân, vì thế cần có sự giao hảo với mọi
người, tối thiểu hoá các mối bất đồng hoặc không để
xung đột xảy ra, tăng cường hảo ý và niềm thông cảm lẫn
nhau. Kế đó, ta cũng phải hoàn thành tốt nhiệm vụ, bổn
phận của mình. Chúng ta cần phải làm việc có hiệu quả,
ngược lại ta sẽ gặp nhiều rắc rối.
Thêm
vào đó, ta phải để ý đến thân và tâm hàng ngày. Về thân,
ta cần ăn, mặc, thuốc men khi cần thiết, đáp ứng những
nhu cầu tự nhiên v.v… Cũng có những công việc lặt vặt
hàng ngày phải làm trong sự hân hoan thanh thản. Về tâm, cũng
cần để ý thanh lọc bằng cách thực hành thiền quán,
tập tự chủ, trau dồi thái độ thích hợp và suy nghĩ sáng
suốt.
Vậy
khi ta nói “Nguyện tất cả chúng sanh sống an lành, hạnh
phúc”, có nghĩa là câu nguyện bao trùm tất cả mọi
khía cạnh đời sống sinh hoạt hàng ngày. Do đó, người ta
có thể hiểu rõ bốn câu nguyện bắt đầu từ “Nguyện
tất cả chúng sanh thoát ly nguy hại” bao hàm toàn bộ những
điều mà mọi người mong ước. Hiểu được toàn ý của
bốn câu nguyện thì sự trải rộng tâm từ bi của ta sẽ
có nhiều ý nghĩa hơn.
ÁP
DỤNG THỰC TIỄN
Ngồi
ở tư thế thiền quán bình thường, chẳng hạn như ngồi
bán già, lưng thẳng (có thể ngồi trên ghế nếu không thể
ngồi trên nền nhà). Khép mắt, giữ thân thể thư giãn, nhủ
thầm bốn câu nguyện.
Nhủ
thầm bốn câu nguyện lặp đi lặp lại khoảng 10 phút, 30
phút hoặc 1 tiếng. Nhủ thầm liên tục khoảng 100 lần, 1.000
lần, 100.000 lần, 1.000.000 lần, …Kéo dài bao lâu cũng được,
chỉ cần nhủ thầm, nhủ thầm và nhủ thầm trong tâm. Đó
là một cách lập trình tâm thức, chúng ta lập trình tâm thức
bằng tư tưởng đại bi và hảo ý cho tất cả chúng sanh.
Khi nhủ thầm, ta không cần suy nghĩ của từ ngữ vì ta đã
biết rồi. Nhủ thầm như thế, dần dần và tự nhiên, cảm
giác bi mẫn hảo ý dành cho tất cả chúng sanh sẽ tràn ngập
ta, ta thấy tràn ngập tình thương yêu, ta không muốn làm hại
bất cứ ai hoặc nuôi dưỡng tâm sân hận oán thù bất kỳ
kẻ nào. Thật là một cảm xúc tuyệt vời!
Khi
nhủ thầm hoặc trải rộng tâm đại bi liên tục bằng cách
này, tâm thức sẽ an trụ và tự nguyện dừng lại, nó trở
nên yên tĩnh và lặng lẽ. Những câu nguyện tự tuôn chảy
xuôi dòng tương tự máy thu thanh đã mở máy. Đôi khi tâm
dừng lại dù trong lúc ta quên nhủ thầm lời nguyện hoặc
ta đọc lộn vị trí các câu, điều này không hề gì, khi
nhận biết, ta chỉ cần đọc lại như thường lệ. Bằng
cách này, sự tập trung tư tưởng sẽ phát triển theo chiều
hướng tự nhiên, ta không cần nóng lòng hoặc thúc ép sự
tập trung như mong muốn. Nó sẽ tự động xuất hiện khi ta
làm công việc nhủ thầm trong tâm.
SỰ
ĐỊNH TÂM XẢY ĐẾN NHƯ THẾ NÀO?
Khi
đọc thầm câu nguyện là ta đang trải rộng tâm từ bi. Lời
nguyện cầu trào dâng và tâm an trụ, định lại ở một niệm
(đối tượng của tâm) chẳng hạn như lòng từ bi hoặc sự
trải rộng tâm từ bi. Lúc đó, tất cả tính lăng xăng của
tâm thức dừng lại và tâm an trụ nơi sự lan toả lòng bi
mẫn. Khi trạng thái lăng xăng của tâm ngừng lại tức là
mọi ý niệm về chuyện này, chuyện nọ, lo âu, suy nghĩ, toan
tính, v.v…dừng lại, thì tâm thức đạt được trạng thái
định, sự an trụ ở một niệm. Trong trạng thái định, tâm
tự lặng lẽ và yên tịnh, hành giả cảm thấy hỷ lạc,
sáng suốt và thoả mái. Đây là một cảm nhận vô cùng thú
vị và tuyệt vời - một sự khai phóng to tát thoát ly khỏi
thói quen ràng buộc tâm thức từ trước đến nay khiến tâm
mệt mỏi đuối sức vì vô số ý tưởng, suy nghĩ lung tung,
bồn chồn. Sự tĩnh lặng của trạng thái định rất êm dịu
và phi nhục dục - một thứ hỷ lạc tối thượng mà những
kẻ “tâm linh” miệt mài thích thú. Đây là niềm hạnh phúc
mà đức Phật tán thán, nó không phải là thứ hạnh phúc
phát sinh từ cảnh sắc, âm thanh, hương vị, xúc chạm thích
thú của thế gian mang tính nhục dục. Thứ hạnh phúc dục
lạc của thế gian được đức Phật mô tả là thấp hèn,
thường tình chỉ dẫn đến phiền não vì nó làm ô nhiễm
tâm thức. Tuy nhiên, niềm hạnh phúc, sự hỷ lạc của trạng
thái định phải được tự chứng, tự cảm nhận. Một khi
trải qua niềm hỷ lạc này, hành giả không còn bị lôi cuốn
theo thói vui dục lạc: chấm dứt tình trạng nô lệ cho những
cám dỗ của thế gian. Đã nhận biết được hạnh phúc tinh
thần tối thượng phi thế gian, hành giả có khả năng kiểm
soát được những ham muốn dục lạc của mình hiệu quả
hơn và cảm thấy thú vị với niềm hỷ lạc vô biên hơn
là thứ hạnh phúc thường tình của thế gian.
Về
mặt thực hành, khi tâm định thì ngũ triền cái (nirvaranas)
đều bị chế ngự. Ngũ cái gồm: 1. Tham dục, 2. Sân nhuế,
3. Thuỳ manh, 4. Trạo hối, 5. Nghi (nghi ngờ khả năng định
tâm của mình v.v…). Do vậy, khi đạt trạng thái định, tâm
không còn chao đảo và ngũ triền cái gồm các trạng thái
bất ổn của tâm sẽ tự động tan biến. Ngũ cái không hiện
diện, tâm đi vào trạng thái định, không còn khát ái đối
với dục lạc, không sân hận ác cảm, không mê mệt trễ
nhác, không lăng xăng với chuyện Đông – Tây, không nghi ngờ,
thường xuyên tĩnh lặng và hỷ lạc. Trong trạng thái lặng
lẽ này, năm thiền chi xuất hiện, đó là:
1-
Tầm chi (vitakka) có nghĩa là hướng tâm đến mục tiêu quán
tưởng để tâm không còn lăng xăng.
2-
Tứ chi (vicàra) có nghĩa là tâm dán chặt vào mục tiêu quán
tưởng, an trụ nơi đó và tác động lên nó.
Tầm
là hướng tâm đến mục tiêu, trong khi tứ khiến tâm tác
động và an trụ nơi đó.
3-
Hỷ (pìti): niềm vui tinh thần bộc phát. Hành giả cảm thấy
thoả mái nhẹ nhàng, thích thú với nhiều cảm giác thú vị,
chẳng hạn như những sự rung động kỳ diệu lan tràn khắp
cơ thể. Đôi khi hành giả cảm nhận niềm hân hoan khi trải
qua cảm giác nâng bổng lên, thí dụ như bất ngờ tay chân
giơ lên, được nâng lên hoặc được đẩy mạnh lên hoặc
toàn bộ cơ thể lơ lửng, hành giả có cảm giác mình nổi
bềnh bồng trong không khí.
4-
Lạc (sukha): hơi giống với hỷ, chỉ khác ở điểm tinh tế
và mức độ cao hơn. Vì thế, khi lạc xuất hiện thì hỷ
lặn đi, hành giả cảm thấy vô cùng nhẹ nhàng, dễ chịu,
kinh điển mô tả giai đoạn này là “an lạc hiện tiền”.
Hành giả vui thích, không còn khát ái dục lạc thế gian, thứ
dục lạc mà bấy giờ hành giả cảm thấy tầm thường, thô
tục, bất an và biến đổi khi so với niềm hạnh phúc dịu
êm an tịnh do định tâm mang lại.
5-
Nhất tâm (ekaggatà): sau cùng trạng thái nhất tâm xuất hiện.
Tâm an tịnh và ổn định, an trụ tại một điểm giống như
ánh nến không còn chao đảo ở một nơi lặng gió, như thể
một cột trụ ổn định vững chắc, không lắc lư. Trong trạng
thái nhất tâm, hành giả có thể cảm nhận rõ nét tâm mình
đang lặng lẽ, an tịnh như một tảng đá không lay chuyển.
Năm
thiền chi này cũng hiện diện trong trạng thái cận định
(upacàra samàdhi), một trạng thái chuẩn bị tiến qua giai đoạn
thiền, một sự định tâm trước khi nhập thiền. Ở trạng
thái cận định, năm thiền chi vẫn chưa ổn định và ngũ
triền cái vẫn có khả năng tái xuất hiện phá vỡ định
tâm. Tuy nhiên, khi thâm nhập thiền giới (jhanà), các thiền
chi trở nên ổn định vững chắc và ngũ triền cái hoàn toàn
biến mất hẳn. Do vậy, rất ít có khả năng giai đoạn thiền
bị gián đoạn, và ở giai đoạn này, hành giả có thể thiền
quán 5, 10, 20, 30 phút, 1 giờ hoặc hơn nữa mà không bị ngũ
triền cái quấy rối. Thời gian nhập thiền giới bao lâu tuỳ
thuộc vào trình độ tu tập và mức độ định (samàdhi) của
hành giả. Ngay cả khi bị gián đoạn, hành giả cũng dễ dàng
nhập định trở lại bằng cách tiếp tục lan toả tâm từ.
Điều này được xác định trong các sách giảng dạy về
thiền rằng, nếu một thiền giả thiện xảo rơi khỏi thiền
định vì lý do không quan trọng, thiền giả có thể tái nhập
lại một cách dễ dàng.
Quán
tưởng tâm từ là một phần trong pháp thiền quán vô lượng
tâm (Brahma-vihàra) gồm có từ (mettà), bi (karunà), hỷ (mudità)
và xả (upekkhà). Theo bản Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi Magga), hành
giả có thể đạt tới cấp độ tam thiền bằng pháp từ,
bi, hỷ và với pháp xả, hành giả đạt tới cấp độ Tứ
thiền. Những phương pháp hướng dẫn thực hành nhằm mục
đích tu tập thiền định đều được mô tả trong bản Thanh
Tịnh Đạo, nên ở đây chúng ta không đi sâu vào chi tiết
vì chỗ trống trong bài này không cho phép. Tuy nhiên, khi hành
giả thực hành theo công thức bốn câu nguyện mà chúng ta
đã thảo luận ở trên, hành giả cũng có thể đạt được
mức độ định khá tốt. Ai nhận biết rõ được liệu mình
thực hành có tinh tấn kiên định hay không, hoặc sự thực
hành của mình có thể tạo lập nền tảng cho sự phát triển
thiền định sau này, kẻ đó đạt được trạng thái thiền
thức. Như chúng ta đã thảo luận ở phần đầu, nguyên tắc
phát triển trạng thái định tâm là đẩy lùi ngũ triền cái
và phát triển củng cố rõ nét ngũ triền cái.
TA
NÊN TRẢI RỘNG TÂM TỪ TRONG BAO LÂU?
Càng
lâu càng tốt, trong trường hợp trau dồi cao độ, hành giả
có thể trải rộng tâm từ ngày đêm, luân phiên đi, đứng,
nằm, ngồi, luôn cả trong sinh hoạt hàng ngày như ăn, tắm,
giặt, rửa v.v… Hành giả có thể trau dồi nhiều ngày, nhiều
tuần và nhiều tháng một cách chuyên cần bằng hình thức
này.
Nhưng
đối với đa số không có khả năng thực hành như thế, thì
họ cũng có thể thực hành trong khả năng cho phép. Bạn có
thể áp dụng từ 10 phút cho đến 1 giờ sau khi thức dậy
vào buổi sáng, thậm chí 5 phút cũng được còn hơn không
có gì cả. Vào ban ngày, trong lúc loanh quanh với công việc
lặt vặt, bạn có thể thực hành bất cứ lúc nào và bất
kỳ ở đâu. Bạn có thể áp dụng trong lúc đi bộ đến nơi
này nơi kia, khi ở văn phòng, nơi làm việc, lúc ăn, tắm rửa
v.v… Trải rộng tâm từ bằng cách nhủ thầm bốn câu nguyện
không khó khăn gì và cuối cùng bạn sẽ đến đích dễ dàng,
thuận lợi. Vào lúc chiều tối, ngoài giờ làm việc, bạn
thực hành trịnh trọng trong tư thế tọa thiền. Khi đi ngủ,
bạn vẫn áp dụng cho tới khi thiếp đi.
Do
kiên trì trau dồi, hành giả cảm nhận lợi lạc và sau cùng,
lòng tràn đầy từ tâm thiện ý dành cho mọi người. Hành
giả không còn nuôi lòng oán ghét, thù địch, cũng chẳng còn
ham muốn làm như thế, không còn sân hận, nhàm chán những
cáu kỉnh, bực dọc, tâm hồn trở nên kiên nhẫn và rộng
lượng bao dung. Thật là một pháp hành tuyệt vời và hiệu
quả. Tất cả chúng ta nên tạo cho mình thói quen trải rộng
tâm từ. Chính đức Phật phát rải tâm từ hàng ngày và dạy
các đệ tử làm như thế.
Trải
rộng tâm từ là một pháp thích hợp giữ tr