Ưu
bà tắc kết niệm Phật xã
Ðức Phật trụ thế, thuyết
pháp lợi sanh, khiến bốn chúng đều được đắc độ. Ngài
tùy cơ giáo hóa, mỗi mỗi đều có phương tiện quyền xảo,
khiến tất cả mọi loài đều được lợi ích. Thí như trời
mưa, cỏ cây đều được thấm nhuần, tùy theo loại lớn
nhỏ mà được sung túc, sanh trưởng. Thế nên tuy pháp môn
có thiên sai vạn biệt, nhưng quay về nguồn thì không hai.
Nếu dùng Phật tánh mà quán sát chúng sanh, thì không có loài
nào mà chẳng được độ. Dùng tự tâm mà quán xét Phật
tánh, thì ai ai cũng đều tu được cả. Song, chúng sanh tự
mê muội mà không biết điều này. Lại vì không có thiện
tri thức chân chánh dẫn dắt chỉ dạy, nên phải cam chịu
trầm luân, uổng thọ bao khổ não.
Vì vậy, lúc tổ Huệ Năng
vừa đến, ngũ tổ Hoàng Mai liền hỏi:" Ngươi là người
xứ nào ?"
Ðáp:" Người Lãnh Nam."
Ngũ Tổ hỏi:" Người Lãnh
Nam mọi rợ sao có Phật tánh ư ?"
Huệ Năng đáp:" Người có
phân nam bắc, nhưng Phật tánh chẳng hề có hai."
Lời này lưu bố khắp nhân
gian, như tiếng sấm nổ, khiến loài sâu bọ phải khiếp đảm.
Lời này lưu bố khắp nhân gian. Vùng Lãnh Nam trở thành cội
nguòn của thiền đạo Phật pháp, khiến xuất sanh bao bậc
trí giả và ngộ đạo. Từ khi Lục Tổ hoằng hóa, đạo pháp
được lưu truyền khắp Trung Nguyên. Ngày nay, trước cửa
môn đình, cảnh tượng tiêu điều, cỏ dại mọc khắp nơi
cả ngàn năm. Nhiều người đàm luận cho rằng đó chẳng
phải là vùng đất của thiện căn. Ðây thật chưa đạt được
ý chỉ Phật tánh.
Tôi mông từ ân (của nhà vua)
chuyển đến Lôi Dương vào mùa xuân năm Bình Dần. Ðến mùa
thu năm đó thì tới Ngũ Dương. Trong tường thành chú giải
hoàn toàn bộ kinh Lăng Già. Mùa hè năm Mậu Tuất diễn giảng
cho chư đệ tử. Trong mỗi lần ngồi tọa, thấy chư thiện
nam tử hậu bối, gắng gỏi mà đến. Tôi rất mực khen ngợi.
Lại có hơn mười vị thiện sĩ lễ bái, khất cầu thọ năm
giới của ưu bà tắc. Tôi vui mừng chấp thuận, nên làm pháp
Yết Ma. Họ tự quy tâm ngày một tín thành, dốc lòng lắng
nghe Phật pháp. Tôi thương cho họ chưa liễu ngộ và chưa
biết tấn tu công phu tự độ. Vì vậy, tôi dùng niệm Phật
tam muội, dạy họ chuyên tâm nơi tịnh nghiệp, chán chường
duyên khổ, mà quy hướng Cực Lạc. Trong kỳ hội mỗi tháng,
lập ra quy chế; trong ba thời tu hành xưng danh lễ bái tụng
đọc sám hối. Vì muốn tín tâm ngày càng khẩn thành, tội
chướng ngày càng tie6u bớt, nên phải phát khởi nguyện vãng
sanh. Nếu quả tình hành theo pháp môn này, thì tuy thân tại
trần lao, mà có thể bảo rằng sống không hư, chết không
phóng túng. Chẳng phải là công hạnh chân thật sao !
Phật là giác, tức là Phật
tánh của chúng sanh. Vì mê mà làm chúng sanh. Nếu ngộ thì
gọi là Phật. Ngày nay niệm Phật, tức tự tánh Di Ðà. Cầu
vãng sanh cõi Tịnh Ðộ, tức duy tâm Cực Lạc. Quý vị nếu
thường niệm niệm mà chẳng quên mất, thì tâm tâm Di Ðà
sẽ xuất hiện, và từng bước lần lần sẽ đến quê hương
Cực Lạc. Cần gì vọng mong nơi ngoài mười vạn ức cõi
nước, còn có cõi Tịnh Ðộ để quy hướng ! Thế nên, đạo
tâm tịnh thì cõi nước thanh tịnh. Tâm cấu uế thì cõi nước
uế trược. Do đó, một niệm ác vừa dấy khởi, thì rừng
kiếm cây đao liền vung dậy. Một niệm lành sanh, thì đất
báu hồ sen liền hiện rõ. Thiên đường địa ngục, sao lại
ngoài tâm này ư !
Chư thiện nam tử ! Xin hãy
suy nghĩ chính chắn, phải luôn thống niệm sanh tử đại sự,
vô thường mau mắn. Một khi mất thân này, thì muôn kiếp
khó hoàn phục lại. Mặt trời mặt trăng luôn xoay chuyển,
và thời gian chẳng đợi mình. Nếu phụ duyên này, thì quá
sai lầm. Khi đại hạn đến, hối hận chẳng kịp. Quý vị
mỗi mỗi hãy nỗ lực. Trân trọng ! Trân trọng !
