Bài 31 :
KHAI THỊ ĐẠI CHÚNG.
Gần
đây các thiếu niên ở khắp nơi, thường tự bảo có chí
tham thiền. Song lúc tương kiến đối đầu, tôi nhận thấy
họ đều là những kẻ điên đảo. Họ gìn giữ vọng tưởng
làm thệ nguyện, dùng sự làm biếng giải đãi làm công phu
khổ nhọc, dùng phô trương ngã mạn làm hạnh cao, dùng môi
lưỡi giỡn chơi làm cơ phong, dùng chấp ngu si làm sự hướng
thượng, dùng việc phản bội Phật Tổ làm tự thị, dùng
trí huệ ranh manh làm diệu ngộ.
Thế
nên, mỗi khi vào tùng lâm, thân nghiệp không thể nhập vào
đại chúng, và miệng ý không thể hoà với mọi người. Buông
lung tình ý, chẳng tu ba nghiệp, mà cho lễ bái tụng niệm
là hạ liệt, cho hạnh môn (công việc trong chùa) là thấp
kém, cho Phật Pháp là oan gia, cho văn lượm lặt làm tri kiến
của mình.Tuy họ có khả năng khởi công phu khán thoại đầu,
nhưng lại đem tâm tầm cầu giác ngộ. Ngồi trên tấm bồ
đoàn chưa vững, ngủ gật chưa tỉnh, mộng cũng chưa thấy
chính mình, mà cống cao tự phụ, rồi viếng thăm chư thiện
tri thức, thuyết huyền thuyết diệu, trình ngộ trình giải,
và đưa câu cú chưa hạ lạc (liễu ngộ), hàm đồ cầu chứng.
Nếu có phước duyên, gặp minh nhãn thiện tri thức, được
đập vỡ khuôn sáo sai lầm, thì đó là điều may mắn. Nếu
không may mắn, chỉ gặp những kẻ với tay khua đàn, tu thiền
mù, thường dùng ấn giả đóng dấu, rồi bị ném xuống hang
hố ngoại đạo, khiến bị đoạ lạc trăm ngàn muôn kiếp,
không có cơ may ngoi đầu lên được. Chẳng đáng thương lắm
sao ! Những kẻ hậu bối ngu si này, tự làm mất chánh nhân,
vì gặp nạn tà độc. Nếu gặp được Lâm Tế hay Đức Sơn,
chắc cũng không thể cứu giải mê chấp cho họ. Thật đáng
thương thay ! Bệnh trạng của thiền môn là tại chỗ này.
Xin hãy xem rõ, từ xưa cổ nhân quyết không phải như thế.
Tổ Bá Trượng hầu Mã Tổ, và thường ra đồng làm ruộng,
cùng hành công án “chạm vào cái xuổng” và “vịt trời”
để nghiệm công phu chân thật.
Thế
nên, tổ Bá Trượng mới để lại lời răn nhắc :
- Một
ngày không làm là một ngày không ăn. Lại nữa, thầy Dương
Kỳ là tri sự cho ngài Từ Minh ; hơn hai mươi năm hành môn
chấp sự tháo vát, chịu trăm ngàn khổ cực, mà chưa từng
nản lòng hay than phiền vì lao nhọc, nên đắc được tạng
quang minh rộng lớn, soi sáng cổ kim. Ngài Lại Dung lưng vác
gạo, và tổ Hoàng Mai xay gạo ; xem qua cổ nhân, không ai chẳng
trải qua bao khổ nhọc mới đạt thành tựu. Làm thế nào
mà những kẻ thiếu niên, vừa vào tùng lâm, liền muốn lấy
việc tham thiền làm hướng thượng, chỉ vẽ toà ngồi, cho
là nơi thọ dụng, chứ không lay động tay áo, chẳng nhặt
một cọng cỏ nhánh cây. Những người bạc phước, tuyệt
không có tâm xấu hổ. Dẫu có diệu ngộ, mà chỉ biến thành
những điều trơ trẽn, nên không được trời người cúng
dường. Huống là không chân thật dụng công tu hành, chỉ
làm hư tiêu của tín thí, cam đoạ trầm luân !
Nếu
người vì sự sanh tử, phải quán xem đức bổn sư Thích Ca
Mâu Ni Phật, nơi ba ngàn đại thiên thế giới, không có một
hạt cải vi trần nào mà chẳng phải là nơi xả bỏ đầu
mắt tuỷ não để cầu Bồ Đề. Phải phát tâm dõng mãnh
như thế. Phải xả bỏ tận cùng tánh mạng. Bố thí bộ xương
thúi cho mười phương, và cúng dường thân sắc cho đại chúng.
Nơi tất cả hạnh môn, chuyên cần khổ nhọc tháo vát mà
hành. Làm những việc khó làm. Nhẫn những việc khó nhẫn.
Trong những hoạt động hằng ngày, nơi cửa ngõ của sáu căn,
nhìn xuyên và thấu suốt, thì đắc được pháp giải thoát.
Cổ
nhân bảo :
- Thuận
theo nhân duyên mà nhập vào, liền được tương ưng. Dụng
tâm như thế, trong ba mươi năm không thay đổi, nếu chưa ngộ
đạo, quyết sẽ là người đầu đội trời chân đạp đất.
Quý
vị ! Lão nhân nay yết cáo với chư đồng tham học !
Bài 32 : KHAI
THỊ CHO THIỀN NHÂN
BẢO QUÝ BỔN
TỊNH
Thiền
nhân Bảo Quý, tự dụng tâm thủ hộ Phật Pháp. Lúc trẻ
viết kinh Pháp Hoa và các bộ kinh khác. Mộ tiền tạo hai thánh
tượng Thích Ca và Di Đà bằng chiên đàn, để nơi Đỉnh
Hồ ở Đoan Châu. Lúc qua lại Ngũ Dương, nghiêng đầu thỉnh
vấn. Tôi bảo rằng Phật dạy các pháp từ duyên sanh, các
pháp từ duyên diệt ; duyên hội mà sanh, tức là duyên chưa
sanh thì không có ; duyên chưa có, tức là tuy có mà tánh thường
tự không. Tánh không tức là chư pháp vốn chẳng có tự tánh.
Vì vậy bảo rằng biết pháp thường vô tánh. Hạt giống
Phật từ duyên khởi. Người năng đạt duyên khởi vô tánh,
tức là hạt giống chân chánh thành Phật.
Thiện
tai Phật tử ! Thầy đã viết các quyển kinh pháp, cùng tạo
các thánh tượng Như Lai bằng gỗ chiên đàn. Dùng tín lực
làm nhân, và mượn các việc huyễn hoá làm duyên ; đó là
Phật từ duyên khởi, mà pháp cũng từ duyên sanh. Nơi trong
pháp tánh, pháp tức là Phật, và Phật cũng là pháp.
Song,
nếu không xem xét kỹ rằng pháp tánh là không, thì tánh chẳng
không. Nếu bảo tánh không, tức nay thấy tướng hảo trang
nghiêm của Phật, quang minh sáng chói, hừng thạnh như núi
báu, mà tám mươi quyển kinh linh văn Hoa Nghiêm, thứ lớp ba
mươi chín phẩm, năm vòng nhân quả hạnh bố, bốn mươi hai
quả vị sâm nghiêm, không thiếu một chữ. Ba lần thọ ký
trong kinh Pháp Hoa, cùng lễ lạy chư Phật trong hồng danh sám
pháp, không thiếu một người. Hình thể sáng soi, rực rỡ
đầy khắp, có thể bảo là tánh không vô vật chăng ? Nếu
bảo tánh này chẳng phải là không, thì lúc duyên hội tụ,
giấy vẫn là giấy, mực vẫn là mực, vàng tự là vàng, hương
tự là hương. Giấy mực như thế, đều vì thế đế mà lưu
bố. Vàng hương như thế đều vì ác nghiệp mà trang nghiêm.
Danh từ Phật Pháp từ đâu mà có ! Cầu kia vốn không, tức
tánh tự không. Nay do duyên tụ hội, tức dùng vàng hương
của thế đế mà cho là tượng Phật, và dùng giấy mực của
thế đế mà cho là kinh. Hiện thời, tướng giấy mực không
khác, và xưa kia thể không tăng. Danh từ Phật Pháp đã rõ
rêt ; người thành thục bèn khởi tâm cung kính hay ngạo mạn
khiến cách ngăn, mà cơ thiện ác thấu suốt trời xanh. Do
đó, quán xét tất cả pháp, vốn không tự tánh, rõ ràng chỉ
từ duyên khởi mà sanh. Năng liễu đạt Phật Pháp vốn không
có tự tánh, đấy chính là hạt giống chân chánh thành Phật.
Song,
tuy tạo bao nghiệp lành thù thắng, mà không thẩm xét liễu
đạt vô tánh mà làm, thì do làm nên sau này sẽ liễu đạt
được vô tánh. Nếu liễu đạt vô tánh mà làm, tức Phật
Pháp ngay nơi mình mà không ở nơi vật. Nếu không liễu đạt
mà làm, thì Phật Pháp ngay nơi vật chứ không ở trong tâm
mình. Nếu do làm mà sau này được liễu đạt, thì mình và
vật đồng vô tánh. Đạt được vô tánh, tức là không có
người năng tác. Đạt được pháp vô tánh, tức là không
có pháp để làm. Người và pháp đều không, thì thị phi
đều tiêu mất ; mình và vật đều không còn dấu tích, sao
còn phân biệt chỗ nào ! Nếu đạt được như thế thì
công đức không thể nghĩ bàn. Đạo Bồ Đề cũng không thể
nghĩ bàn. Chư Phật tử ! Hiểu biết như thế, chính là hiểu
biết chân chánh. Hành được như thế, thì chính là diệu
hạnh. Sao dùng tâm suy nghĩ mà làm những việc Phật sự khó
suy tư ! Ví như tay cầm lửa đom đóm mà muốn đốt núi Tu
Di, thì chỉ tự mệt nhọc chứ có ích lợi gì, và cứu cánh
ở chỗ nào !
Lành
thay chư Phật tử ! Hãy quán xem pháp vương pháp. Pháp vương
pháp là như thế ; phải nên biết mà hành và trì theo đó,
mới gọi là vượt trên hết các loài hữu tình !
Vi
tính : THÍCH ĐỨC TUẤN
