Bài 28 :
KHAI THỊ CHO THIỀN NHÂN VÔ SANH.
Cổ
nhân vừa mới phát tâm, chân chánh vì đại sự sanh tử, quyết
chí xuất ly, nên cắt ái từ thân, tham phương tầm cầu thiện
tri thức ; trải qua bao gian nan khổ cực, tâm tâm niệm niệm,
chỉ vì nhắm thẳng vào việc chưa sáng ; ưu bi thống thiết,
như khóc mẹ đã già chết. Gặp được thiện tri thức như
con thấy mẹ. Được nghe một lời hay nửa câu, liền khai
mở tâm địa, như bệnh được thuốc. Một niệm tương ưng,
liễu ngộ nơi tâm, như kẻ nghèo được châu báu. Quăng thân
bỏ mạng, nổi trôi bị bao khinh rẻ, mà chưa từng than van
nản lòng.
Nhị
tổ Huệ Khả vì muốn an tâm mà chặt cánh tay. Lục tổ Huệ
Năng đeo đá giã gạo. Bá Trượng làm chấp sự bao lao nhọc.
Dương Kỳ làm công quả cúng dường đại chúng. Phàm danh
tiết được truyền đăng chiếu soi thiên cổ, chẳng ngoài
sự khắc khổ mà nên. Chư Phật trong đời quá khứ, cầu
vô thượng Bồ Đề, xả thân mạng như số cát vi trần ;
không loài nào mà chẳng thọ thân ; không thân nào mà chẳng
tu khổ hạnh. Trăm kiếp tu nhân, nên cảm thiên thượng nhơn
gian cúng dường vô lượng. Mạt pháp tử tôn, vì lãng phí
thọ dụng nên mất phần công đức bất tận. Sao lại có
trời sanh Di Lặc, và có tự nhiên Thích Ca ! Đau đớn thay
! Đời mạt pháp, đã xa quá thời thánh giáo ; phép tắc pháp
môn để dùng quét đất. Hậu bối xuất gia, không biết vì
việc gì. Sanh ra chỉ biết sợ đói lạnh, nên mãi lo việc
ấm no.
Vừa
bước vào cửa không, bèn trở lại theo tập quán thế tục
; đàm luận suông cả ngày, phủng phệ túng tình, để sáu
căn chạy rong ; chuẩn bị tạo các việc ác ; không làm lụng
cực nhọc mà hưởng thức ăn ngon ; không chăn tằm mà mặc
y đẹp ; hư tiêu của tín thí, lãng phí thời giờ ; chẳng
biết sanh từ đâu đến, chết sẽ đi về đâu ! Sao lại không
biết nhân quả khó trốn thoát, và tội phước không sai chạy
! Đại hạn lâm chung đến, như đá chìm thẳng xuống nước
;
ba đường ác khổ cùng cực ; một quả báo phải chịu cả
năm ngàn năm, biết ngày nào mới được thoát khỏi !
Nhắc
những lời này, lão nhân đau xót chua cay ! Mục kích thời
lưu hiện tại, đều buông lung như thế. Hy vọng người tu
phải như đãi cát lấy vàng, chẳng nên bảo là không có,
vì vàng vẫn còn nguyên. Lao tù ba cõi, gông cùng trong bốn
loài, lửa lớn cháy phừng phựt, nhà sanh tử hiểm hoạ, làm
thế nào để dũng mãnh thoát các khổ, đến nơi vô uý ?
Chẳng
phải là đấng trượng phu đầy đủ linh căn, hàm chứa bao
cốt cách, thì không thể phấn tấn dũng mãnh, vừa siêu vượt
liền nhập vào. Các thầy sanh ra may mắn được gặp Phật
Pháp ; sáu căn đầy đủ, hình vóc nương nhờ y ca sa, sớm
gặp minh sư. Nếu không thống niệm vô thường, nghĩ ngợi
thâm sâu về đại sự, tư duy khổ nơi địa ngục, mà phát
tâm Bồ Đề, sửa đổi tâm tánh, để ngày đêm tinh cần,
sớm cầu xuất ly, mà cứ dần dà sống qua ngày, phóng túng
thân tâm, thì lúc đại hạn đến, hối hận sao kịp ! Hãy
nên cố gắng mà hành. Nếu quên lời khuyên răng nhắc nhở
của tôi thì phụ lòng tôi và cũng chính là tự phụ mình
!
Bài 29 : KHAI
THỊ CHO THIỀN NHÂN TỰ TÔNG.
Phật
dạy đệ tử tu pháp xuất thế, chỉ có hai loại diệu hạnh
là tự lợi và lợi tha. Lợi tha gọi là tu phước. Tự lợi
gọi là tu huệ. Bồ Tát phát tâm, cần cầu đạo Bồ Đề
vô thượng. Bồ Tát tuy biết pháp tánh là lặng lẽ không
tịch, mà chẳng xả bỏ các hạnh hữu vi. Biết các pháp vốn
không tịch tức là tự lợi. Không xả bỏ các hạnh hữu
vi gọi là lợi tha. Từ trên chư Phật Tổ, chưa có ai chẳng
từ hai hạnh này mà được xuất ra khỏi sanh tử. Đức Thế
Tôn muôn kiếp tinh cần tu bao khổ hạnh khó hành. Chúng ta
từ bao kiếp dài lâu, lặn hụp trong biển sanh tử, đầu xuất
đầu mất, xả thân thọ thân, không thể nghĩ bàn, đều là
sống hư chết phí, thì làm sao có một chút gì là hạnh môn
chân thật ! Nếu có hạnh chân thật thì quyết sẽ không như
mặt mũi đời nay. Sao không thống niệm, mà hồi quang phản
chiếu, dũng mãnh tự suy gẫm !
Đời
nay thiền nhân do túc duyên may mắn, sớm đã thoát tục, mãi
rời biển khổ, lại được an cư tại danh sơn, nơi đạo
tràng thù thắng vi diệu mà chư tổ thường thuyết pháp. Đây
là duyên lành muôn kiếp khó gặp. Chính là đói gặp tiệc
vua. Bệnh được gặp vương. Tự phải biết mình may mắn
vô ngần, rồi tận suốt cả đời, xả bỏ thân mạng, làm
các việc công đức, thì vượt trội trăm kiếp ngàn đời
thường sống vô tích sự. Thiền nhân hãy tin lời của lão
nhân ; từ rày về sau, phát tâm kiên cố bất thối, trì chí
dũng mãnh can cường, tận hết sức lực, lượng hết tài
năng, biện một mảnh tâm khăng khít, nhậm duyên tuỳ nguyện,
nhịn tâm nhịn phiền, nhẫn khổ nhẫn lao, thì sẽ có một
ngày thành tựu công đức, tức sống đời hữu ích. Thiền
nhân tự bảo thân yếu thần suy, không thể lãnh nhận công
tác. Cổ nhân quý tại tâm lực cường, nguyện lực lớn,
chứ không kể tại sắc thân khoẻ hay không khoẻ. Nay tuy có
ít bệnh, không quá khổ đau. Nếu tạo nghiệp ác, đoạ nơi
ba đường dữ, thì có cầu như hôm nay bịnh ít, thân tâm
phiền não ít, hay muốn gieo lợi ích trong ruộng phước, cũng
chẳng được.
Phật
bảo chúng sanh, phải nhớ các nỗi khổ nơi địa ngục, mà
phát tâm Bồ Đề, tức là bây giờ phải nên tự thúc đẩy,
phát khởi tinh tấn. Cổ đức bảo rằng thà chết mà có pháp,
còn hơn sống mà chẳng có pháp. Xả bỏ thân mạng này, làm
những diệu hạnh đó ; ví như chiếc thuyền Bát Nhã, có thể
đạt đến bờ giác. Câu nệ chi mà không cố gắng cưỡng
ý chí, để phụ bạc bỏ phí cuộc đời này ! Đã đến núi
báu, lại trở về tay không. Sao không tiếc thay !
Nếu
thường an tâm nơi vô sự, tức là tâm không. Tâm không tức
thần chẳng suy. Thần chẳng suy tức thần không lao nhọc.
Đó là diệu hạnh vô tác. Gặp duyên tức là tông thú tu hành
; quyết không để công việc thường ngày xoay chuyển. Nơi
nơi đều thành tựu môn đại giải thoát. Xin hãy suy gẫm
cho kỹ !
Bài 30 : KHAI
THỊ CHO THIỀN NHÂN TỰ GIÁC.
Phật
bảo chư tỳ kheo rằng mỗi sáng sớm phải tự lấy tay xoa
đầu. Lời này thật thâm thuý. Lão nhân mỗi mỗi suy gẫm,
đức Phật từ bi thống thiết triệt xương tuỷ. Ngài hằng
bảo rằng mạt pháp tỳ kheo, đa số thường thích thọ dụng,
an nhiên hưởng thụ tứ sự cúng dương. Mỗi mỗi tự bảo
đó là điều ưng phải được, mà không xét coi mình là người
gì, cùng vật cúng dường từ đâu đến, và làm thế nào
mà thọ nhận ! Người biết ân thì hiếm, và người báo ân
thì ít, chỉ vì chưa chịu rờ đầu. Nếu chịu xoay lại rờ
đầu, thì bất giác tự hoảng sợ, thốt lời rằng tại sao
mình cắt bỏ râu tóc, không mặc y phục người thế tục
! Biết hình dạng khác tục, nên không dám cư trú gần người
thế tục ; thân không dám vào chốn thế tục ; tâm không dám
niệm nhớ thế tục. Như thế tức là an lạc nơi hạnh viễn
ly. Không đợi thiện tri thức dạy bảo, mà tự phát tâm dõng
mãnh ; vào núi chỉ sợ núi không sâu.
Song,
có những hạng thầy tu lại an nhiên trú ngụ trong phồn hoa
đô thị hỗn tạp ; phóng túng thân tâm, để làm người vô
loại, và hành bao hạnh vô ích. Thiền nhân Tự Giác vốn trụ
ở nhân gian, nay đến Khuông Sơn lễ bái lão nhân, nguyện
khô tâm trụ núi, tu hạnh xuất thế. Lão nhân vì đó chỉ
dạy hạnh phước huệ song tu. Tu hụê tức tại quán tâm.
Tu phước tức hành nơi vạn hạnh. Quán tâm dùng niệm Phật
làm phương pháp tối thắng. Vạn hạnh dùng sự cúng dường
làm đầu. Hai việc này, chính là hạnh tổng trì.
Trong
cuộc sống hằng ngày, chúng ta khởi tâm động niệm, đều
là vọng tưởng, (tức cội gốc của sanh tử), nên phải chiêu
lấy quả khổ. Ngày nay dùng tâm vọng tưởng đó, chuyển
làm tâm niệm Phật, tức niệm niệm thành nhân Tịnh Độ,
đó là quả an lạc. Nếu niệm Phật mà tâm tâm không gián
đoạn, thì vọng tưởng sẽ tự tiêu diệt. Ánh sáng của
tự tâm phát lộ, và trí huệ hiện tiền, tức trở thành
pháp thân Phật. Chúng sanh bần cùng không phước huệ, do sanh
sanh thế thế, chưa từng có một niệm cúng dường Tam Bảo,
để cầu phước đức. Sanh tử làm khổ thân ; niệm niệm
tham cầu sự vui của năm món dục lạc, mà đó chính là tư
lương của gốc khổ. Bây giờ, dùng tâm tham cầu, chuyển
thành tâm cúng dường Tam Bảo. Đem thân mạng hữu hạn, tuỳ
tâm lượng lực, mà cúng dường mười phương. Dùng một cây
hương, một nhánh hoa, một hạt gạo, một cọng rau, để cúng
dường Tam Bảo như nhỏ một giọt nước vào biển cả, và
như một hạt bụi vi trần rơi xuống đất. Biển có lúc khô,
và đất có lúc cùng tận, mà phước báo kia chẳng cùng tận,
nên cảm Phật quả, trang nghiêm cõi Hoa Tạng, để làm nơi
tự thọ dụng trong tương lai. Bỏ hạnh này thì không có diệu
hạnh thành Phật khác.
Thiền
nhân nếu sanh mỏi mệt chán chường, hãy lấy tay xoa đầu,
tức sẽ tự phát tâm dũng mãnh vô lượng.
Vi
tính : THÍCH ĐỨC TUẤN
