Bài 25 :
KHAI THỊ CHO THIỀN NHÂN THẠCH NGỌC.
Học
nhân đời mạt pháp, đa số hướng về những sự tu tập
thô phù, mà không đi thẳng đến chỗ chân thật. Vì vậy,
ngay nơi những lời dạy của đức Phật, chỉ chấp trên danh
tự ngôn ngữ, mà không đạt được tông chỉ cứu cánh, khiến
tăng thêm tri kiến, sanh đại ngã mạn. Đây là dùng Phật
Pháp mà kết thêm cội gốc sanh tử, cũng không biết sanh tử
là vật chi, cứ bảo rằng chẳng có can hệ gì. Mê mờ đi
trong đêm tối, nên không thể thấy được chánh lộ tu hành.
Ngôn từ của Phật dạy, đều là pháp xuất ly sanh tử, sao
người đời nay ngược lại bị đoạ ? Việc này chẳng phải
lỗi của Phật, mà lỗi tại học nhân không có chánh tri chánh
kiến, cùng chưa từng thân cận và được thiện tri thức
chỉ điểm thuyết phá trừ căn mê lầm. Học nhân Thạch Ngọc
với lòng chân thật và nghiệp trong sạch, xưa đã từng tham
kiến lão nhân tại ngoài miền Lãnh Nam, Lão nhân đi về miền
đông, sang Ngô Việt, khắc tân sớ sao Lăng Nghiêm Pháp Hoa.
Thạch Ngọc xem lại, tham cứu tinh tường rồi châm chước,
nên đắc được yếu chỉ bên ngoài lời nói của lão nhân.
Nay lão nhân trở về Khuông Sơn dưỡng già. Ngày nay, Thạch
Ngọc có khả năng làm bạn trong không gian u tịch, để tham
cứu việc hướng thượng, mà không bị tập khí văn tự làm
sở tri chướng. Thật hay lắm thay !
Bài 26 : KHAI
THỊ CHO THIỀN SƯ NHƯ THƯỜNG.
Phật
dạy :
- Từ
bỏ cha mẹ, xuất gia tu đạo ; liễu ngộ chân tâm, đạt đến
bổn tánh, giải pháp vô vi, gọi là Sa Môn, thường hành hai
trăm năm mươi giới.
Lại
bảo :
- Đoạn
tham dục tẩy trừ ái chấp, nhận thức nguồn tự tâm ; đạt
được lý thâm sâu của Phật, mà ngộ pháp vô vi.
Lại
bảo :
- Cạo
bỏ râu tóc, mà làm Sa Môn, lãnh thọ Phật Pháp ; bỏ tiền
tài riêng tư ở thế gian, chỉ cầu biết đủ ; ngày ăn một
buổi, mỗi đêm ngủ dưới một gốc cây ; cẩn thận chớ
xoay trở lại. Khiến người bị ngu si che mờ, đều do ái
dục. Những pháp như thế, Phật dặn dò rõ ràng ; chẳng ngoài
việc nhắc nhở chư Sa Môn, lúc vừa xuất gia, hạnh đầu
tiên phải hành là xa rời dục lạc. Hậu thế tử tôn, thân
tuy xuất gia, mà tâm lại say sưa nơi năm món dục ; không biết
sao phải hành pháp viễn ly, và đạo nào là đạo xuất khổ
não, chỉ miên man hôn mê, mà không tự giác ; lại giả bộ
phục sức oai nghi, dối trá hiện tướng oai đức ; ngoài dối
người, trong khi tâm mình ; che đậy lỗi lầm mà chẳng biết
tự giác. Người muốn cầu chân tâm chánh niệm, thật hiếm
có. Kinh Tịnh Danh nói rằng trực tâm là đạo tràng.
Như
Thường có chí cầu pháp xuất ly, phải lấy trực tâm làm
đệ nhất nghĩa. Trân trọng !
Bài 27 : KHAI
THỊ CHO THIỀN NHÂN KHÁNH VÂN.
Người
xuất gia phải rõ đại sự. Thứ nhất, tâm phải chân thật
tha thiết vì sự sanh tử. Thứ hai, phải quyết định phát
khởi ý chí xuất ra khỏi sanh tử. Thứ ba, phải xả mạng
cho đến chết, quyết không thay đổi. Thứ tư, phải chân
chánh biết rõ thế gian là đau khổ, nên cực lực sanh tâm
nhàm chán xa rời. Thứ năm, phải thân cận thiện tri thức
tuyệt thắng, và đầy đủ chánh tri chánh kiến. Thời thời
thưa thỉnh, thừa sự theo lời giáo huấn, rồi y như lời
dạy mà hành, tinh cần không giải đãi ; không để năm món
dục phiền não làm che chướng ; không để tập khí xấu xa
sai sử ; không bị giao động vì bạn xấu ; không bôn ba chạy
theo duyên ác ; không cho rằng vì độn căn mà tự thối thất.
Như thế mà phát tâm và tiến bước, rồi lâu ngày thuần
thục, thì tự nhiên sẽ tương dung hợp với sở cầu nguyện
xưa. Hiện đời, tuy chưa có thể liễu ngộ, thấy rõ tự
tâm, nhưng trăm kiếp ngàn đời, cũng dựa theo ngày nay mà
làm nhân địa sơ khởi tu hành. Nếu không như thế, chỉ dùng
tri kiến thấp kém hẹp hòi, tập khí sôi nổi mỏng manh, tâm
đua đòi theo thói cũ, tâm cuồng vọng, khẩu đầu thiền,
khí trọc uế, căn tà kiến, để làm chánh nghiệp xuất gia,
rồi lấy đó mà vọng cầu xuất ra khỏi biển khổ ; đó
là thích chí siêu việt mà lại an nghỉ, và không chịu đi
mà cầu tiến bước.
Hy
vọng người chánh tín trong đời mạt pháp, và những thiền
nhân đã biết chỗ hướng tới, phải thẩm xét nhận biết
bản tâm, dùng đó làm đệ nhất nghĩa chân thật.
Vi
tính : THÍCH ĐỨC TUẤN
