Bài 17 : KHAI
THỊ CHO CƯ SĨ VƯƠNG HIỂN NGUNG.
Thế
nhân dùng thân tâm cảnh giới huyễn vọng mà sinh hoạt sống
còn. Từ sanh đến tử, chưa từng có một niệm giác biết
lại tự tâm bản lai diện mục. Vì chưa giác ngộ, nên không
biết gốc rễ của bịnh tật. Nơi nước lửa xung đột, bốn
đại cùng nhau công phá, đó là thân bịnh. Vọng tưởng phan
duyên, thương ghét thủ xả, đó là tâm bịnh. Thân bịnh thì
thuốc có thể trị, mà tâm bịnh thì không có thuốc để
trị.
Đức
Phật là đấng y vương ở thế gian, có thể điều trị tâm
bịnh của chúng sanh. Ngài tuy dạy bao loại phương tiện, mà
rốt ráo chỉ dùng chánh giác để phá vọng tưởng vô tánh
; đó gọi là lương dược hoàn sanh vi diệu. Học nhân muốn
cầu pháp môn an lạc, trước tiên phải nhận rõ thân
vốn chẳng có bản ngã. Hãy quán xem trước khi cha mẹ sanh
ra, thân máu thịt này từ đâu mà có ? Lúc bốn đại phân
ly, thân này an lập tại nơi nào ? Thời thời quán sát như
thế, lâu ngày đột nhiên sẽ có một niệm tỉnh giác, thì
không còn khổ vì thân này nữa ; đó là thang thuốc vi diệu
trị thân bịnh. Tất cả bịnh tật đều từ tâm vọng tưởng
sanh ra. Thường ngày, dùng niệm quán sát, xem coi nơi khởi
của tất cả niệm thiện ác, tức là phát hiện cội gốc
của bịnh khổ. Dùng niệm lực quán sát nơi khởi, xem coi
nó từ đâu mà nổi dậy, và rốt ráo diệt về đâu ! Lúc
vọng tưởng diệt, phải truy cứu nó diệt tới đâu. Truy
cứu cho đến nơi khởi và chẳng khởi, cùng nơi diệt và
chẳng diệt, mà nhận thấy rằng khởi diệt không từ đâu
đến, thì tâm thể liền an nhiên, đắc đại tự tại. Chặt
đoạn cửa ải trọng yếu như thế, trước sau không ngừng
; trung gian nhất niệm tự cô độc, thì niệm này đứng nơi
độc lập. Lâu ngày thuần thục, thì căn bịnh vọng tưởng
tự nhiên sẽ bị nhổ trừ. Tất cả tâm dơ bẩn cũng không
còn có nơi để nương tựa. Đó là phương thuốc vi diệu
trị tâm bịnh. Vương Tử Ngung thiết chí hướng thượng,
nhưng vẫn còn tầm cầu trên ngôn ngữ văn tự, không biết
hướng vào chính mình mà cầu. Tự tâm vọng tưởng đó vốn
là căn bịnh. Cứ dùng ngôn ngữ của người, cho là pháp thật,
đó gọi là tăng thêm một lớp chướng ngại.
Từ
nay, phải biết phá trừ tự tâm vọng tưởng, không để chúng
trói buộc xoay chuyển. Phải xem xét nơi khởi của vọng tưởng,
quyết không để chúng cứ tiếp tục chạy. Phật bảo rằng
tâm cuồng loạn nếu ngừng, tức là Bồ Đề. Tâm thanh tịnh
sáng soi thù thắng, vốn không từ ngoài mà đắc được. Ngay
nơi tự tâm hiện tiền, tức là pháp môn đại giải thoát.
Lão nhân do ông thỉnh cầu khai thị nên đặt cho pháp danh
là Phước Giác, tức là dùng giác này làm phước vô lượng
bậc nhất. Xin hãy cố gắng !
Bài 18 : ĐÁP
QUAN TRUNG THỪA
TRỊNH CÔN
NHAM.
Bàn
luận phần đại sự nhân duyên này, thì ai ai cũng đều có
đầy đủ, và mỗi mỗi đều hiện thành, không thiếu một
sợi lông tóc ; chỉ vì từ vô thuỷ đến nay, hạt giống
ái căn, vọng tưởng tình lự, tập khí nhiễm ô thâm sâu,
nên chướng chư tự tánh vi diệu sáng soi, khiến không thể
được chân thật thọ dụng. Cuộc sống dựa trên tâm vọng
tưởng, và thế giới hư huyễn, nên cứ mãi trôi giạt trong
sanh tử.
Phật
Tổ ra đời, dùng ngàn lời muôn lẽ, thuyết thiền, thuyết
giáo, bao loại phương tiện, chẳng ngoài việc tuỳ thuận
theo căn cơ, phá chấp cho chúng sanh, mà hoàn toàn không có
pháp thật và người thật. Bảo là tu, chỉ vì tuỳ thuận
tự tâm, tịnh trừ bóng ảnh của vọng tưởng tập khí, mà
mới dùng lực nơi đó. Nếu nhất niệm vọng tưởng chợt
ngưng, bèn thấy rõ tự tâm, xưa nay vốn tròn đầy sáng soi
bao la, bản nhiên thanh tịnh, chẳng chứa một vật, đó gọi
là ngộ. Trừ ngoài tâm này, chẳng vật gì là có thể tu có
thể ngộ. Tâm như thể tấm kiếng ; vọng tưởng phan duyên
như bóng hình ; làm nhiễm ô chân tâm, nên gọi tướng vọng
tưởng là trần, thức tình là cấu. Nếu vọng tưởng tan
mất, thì bản thể tự hiện. Ví như lao kiếng, sạch bụi
bặm thì ánh sáng tự hiện ra.
Chúng
ta tích tụ tập nhiễm kiên cố đã bao kiếp, nên cội gốc
ngã ái thâm sâu khó nhổ trừ. Đời nay may mắn gặp được
pháp Bát Nhã. Trong huân tập làm nhân. Ngoài nhờ thiện tri
thức dẫn dắt làm duyên. Tự biết bản hữu của tâm tánh,
nên phát tâm chí nguyện hướng đến việc giải thoát khỏi
sanh tử, há là việc nhỏ ư !
Nếu
không phải là người khoẻ mạnh, tự thân đơn độc mang
đao nhập thẳng vào, thì rất là khó khăn. Cổ nhân bảo rằng
như một người mà chống với muôn người, chẳng phải là
lời nói hư vọng. Nói chung, đời mạt pháp người tu hành
rất nhiều, nhưng đắc chân thật thọ dụng lại rất ít.
Phí sức lực thì nhiều, mà đắc lực thì ít. Tại sao ? Vì
không đi thẳng đến nơi hạ thủ công phu, chỉ lo tu trên
ngôn từ thấy nghe tri giải, cùng bám chấp thức tình, đè
ép vọng tưởng, và dụng công phu trên bóng hình. Họ lấy
những lời huyền ngôn diệu ngữ của cổ nhân chấp chứa
trong ngực, mà làm pháp thật, rồi tự cho đó là tri kiến
của mình, chứ chẳng biết trong đó dùng một điểm nhỏ
cũng không thể được. Đó chính gọi là y theo người mà
tác giải, khiến làm bế tắc cửa tự ngộ.
Nay
dụng công phu, trước hết phải chẻ dẹp tri giải, chỉ nhắm
vào nơi một niệm mà dụng công. Phải tin chắc tự tâm, bản
lai thanh tịnh trong sạch, chẳng quảy một tấc dây, tròn tròn
sáng sáng, tràn đầy khắp pháp giới, vốn không có thân tâm
thế giới, cùng chẳng có vọng tưởng tình lự. Một niệm
này, vốn tự vô sanh. Bao loại cảnh giới trước mắt đều
là vọng huyễn không thật, chỉ xuất phát từ trong chân tâm
mà hiện ra bóng hình. Thấy rõ như thế, ngay nơi vọng tưởng
khởi diệt, nhất định tìm xem nó từ đâu khởi và từ đâu
diệt. Dùng lực ép chặt như thế, chẳng màng đến bao vọng
niệm ; kẹp nát chúng khiến tan thành phấn vụn, thì băng
tan ngói bể. Thiết yếu chẳng nên chạy theo chúng, cũng không
thể khởi tâm tương tục.
Đại
sư Vĩnh Gia bảo rằng phải đoạn tâm tương tục là như thế.
Tâm thô phù hư vọng, vốn không có chỗ tựa. Chớ nên cho
chúng là thật. Cứ giữ tại ngang ngực, lúc chúng khởi lên
liền quát. Vừa quát chúng liền tiêu. Thiết yếu không đè
ép, hãy để chúng tự nhiên khởi, như nước trên quả hồ
lô, chỉ ném phứt thân tâm thế giới qua một bên. Đơn độc
đề khởi một niệm nghi tình ; vung bảo kiếm trong hư không,
dẫu là Phật là ma, một đao liền chặt hết, như chém dây
nhợ. Phải dùng niệm lực mà giữ chúng. Đó gọi là trực
tâm chánh niệm chân như. Chánh niệm tức là vô niệm. Quán
được vô niệm thì mới gọi là hướng đến tri kiến của
Phật.
Vừa
mới phát tâm tu hành, cần thiết phải tin chắc pháp môn duy
tâm. Phật thuyết ba cõi duy tâm, vạn pháp duy thức. Đa số,
giáo lý Phật Pháp, thường giải thích tám chữ này rõ ràng
để người người tin nhận. Hai đường thánh phàm chỉ nằm
trong hai con lộ mê ngộ của tự tâm. Tất cả nhân quả thiện
ác, trừ ngoài tâm này, chẳng một mảnh gì có thể đắc
được. Diệu tánh thiên nhiên của chúng ta, vốn không nương
nơi ngộ, sao còn có mê ! Hôm nay thuyết mê, chỉ vì chưa nhận
rõ tự tâm vốn không có một vật ; không đạt được lý
thân tâm thế giới vốn không, nên bị chúng làm chướng ngại.
Cứ chuyên cho tâm vọng tưởng sanh diệt là chân thật, nên
nơi cảnh duyên của sáu trần, bao loại huyễn hoá nhận lầm
là thật có. Bây giờ phát tâm tu hành, tiến bước đi ngược
dòng để hướng thượng, thì hoàn toàn phải tận tình vứt
hết những tri giải thuở xưa. Một điểm tri kiến hay pháp
thiện xảo dùng cũng không được. Chỉ việc nhìn suốt thân
tâm thế giới, hoàn toàn là do tự tâm hiện ra sắc thô phù
hình huyễn, như ảnh tượng trong kiếng, như trăng soi mặt
nước. Quán tất cả âm thanh, như gió thổi qua cây. Quán tất
cả cảnh giới, tựa như mây nổi trên nền trời ; chúng đều
là những việc huyễn hoá không thật, và chẳng đơn độc
từ ngoài đến. Vọng tưởng tình lự của tự tâm, và tất
cả hạt giống ái căn, cùng tập khí phiền não, đều là
hư phù huyễn hoá không thật. Quán sát thâm sâu như thế,
phàm một niệm khởi, quyết định nhìn thấu nó đến khi
hạ lạc (đốn ngộ). Thiết yếu không thể khinh nhờn mà
bỏ qua, cũng không để chúng làm che mờ. Phải dụng công
phu như thế, cùng thêm thiết tha chân thật. Trừ pháp này
ra, hợp lại những xảo pháp huyền ngôn tri kiến, hoàn toàn
không có chút liên hệ. Dẫu gọi là dụng công phu, cũng chỉ
là bất đắc dĩ mà làm. Ví như dụng binh, nếu quân không
có vũ khí tốt, thì bất đắc dĩ mới dùng.
Cổ
nhân thuyết tham thiền đề thoại đầu, đều là việc làm
bất đắc dĩ. Công án tuy nhiều, mà đơn độc chỉ có niệm
Phật đích thật mới là thoại đầu, vì dễ dàng tu đắc
lực trong trần lao. Song, bất quá chỉ như đập ngói cửa
thành quân địch, và cuối cùng cũng phải ném vứt đi. Chỉ
là ít vì không dụng được một lần. Nay dụng công phu, phải
có lòng tin vững chắc, tâm quyết định vững chắc, trì giữ
vững chắc, quyết không do dự. Không thể ngày nay như vầy,
rồi ngày mốt như kia, vì sợ không đắc ngộ, và hiềm ngờ
không huyền diệu. Tính toán như thế, đều là chướng ngại.
Trước hết phải phá sạch chúng, để lúc lâm chung không
sanh nghi ngờ. Lúc công phu đến nơi đắc lực, ngoại cảnh
không thể nhập, chỉ có phiền não trong nội tâm, đột nhiên
ngang ngạnh khởi ; hoặc dục niệm chợt phát, hoặc tâm sanh
ưu sầu, hoặc khởi bao loại phiền não, cho đến tâm mỏi
lực mệt, không thể làm gì được.
Đây
là trong thức thứ tám, hàm chứa bao hạt giống tập khí trong
vô lượng kiếp. Nay bị công phu bức bách, đều hiện xuất
ra. Việc quan trọng nhất là phải sớm nhận biết ra chúng.
Trước tiên phải nhận thức phá trừ, nhìn thấu suốt ; quyết
không để chúng giam nhốt ; quyết không để chúng khống chế
; quyết không cho đó là thật, mà chỉ phấn chấn tinh thần,
phát khởi tâm dũng mãnh, đề khởi câu thoại đầu đang tham
cứu. Nơi thoại đầu vừa khởi, thì bèn chống cự đuổi
chúng đi. Bản ngã chân thật nguyên chẳng có những việc
như thế. Hỏi nó đến từ chỗ nào, rốt ráo là gì ! Quyết
định phải nhìn đến khi hạ lạc (đốn ngộ).
Như
thế mà ép đuổi chúng đi, thì khiến quỷ thần đều khóc
lóc, tuỵêt tung ẩn tích ; phải đuổi tận giết tuyệt không
lưu một tấc dây. Dụng lực như thế, tự nhiên sẽ nghe tin
tức lành. Trong một niệm nếu phá được chúng, thì tất
cả vọng tưởng nhất thời đều rơi, như hoa rụng từ trên
hư không, khiến tâm thể sáng soi tĩnh lặng.
Qua
được chặng này, thì đắc được vô lượng khinh an tự
tại. Song, đây chỉ là nơi đắc lực của người sơ phát
tâm, chẳng phải là huyền diệu. Nơi bình lặng khinh an tự
tại, chớ sanh tâm vui mừng, vì nếu như thế, sẽ bị con
ma vui mừng bám vào tâm, tức tăng thêm chướng ngại. Ngay
nơi tạng thức, hạt giống tập khí ái căn kiên cố thâm
sâu ẩn tàng, không thể dụng lực thoại đầu nổi lên, quán
chiếu tâm cũng không được, tự mình hạ thủ công phu không
xong, thì phải lễ Phật tụng kinh sám hối ; lại cần phải
mật trì tâm chú, nương nhờ mật ấn của chư Phật mà tiêu
trừ chúng. Các bài mật chú, như bảo xử kim cang đập nát
tất cả vật. Vật vừa chạm vào bèn bị tan nát như hạt
bụi. Từ trên Phật Tổ tâm ấn mật quyết, đều không vượt
ngoài lý này. Vì vậy, bảo rằng mười phương Như Lai, nhờ
trì tâm chú này, mà đắc thành đạo vô thượng chánh đẳng
chánh giác. Lời của Phật rõ rằng ; sợ môn hạ của tổ
sư bị lạc vào thường tình, nên thầm thuyết mật chú, chẳng
phải là vô dụng.
Thế
nên, ngày thường phải định thời khoá, thì lâu sau thuần
thục, đắc lực được nhiều, nhưng không thể hy vọng cầu
mong thần thông cảm ứng. Phàm người tu hành, có ngộ rồi
mới tu, hay tu rồi mới ngộ, mà ngộ có giải và chứng không
đồng. Nếu y theo ngôn giáo của Phật Tổ mà minh tâm giải
ngộ, thì đa phần lạc vào tri kiến. Nơi mọi cảnh duyên,
đa phần không thể đắc lực. Tâm cảnh đối lập nhau, không
thể dung hoà, nên trở thành ngưng trệ, và đa phần tự làm
chướng ngại.
Đây
gọi là danh tướng tựa như Bát Nhã, chẳng phải là nơi tham
cứu chân thật. Người chứng ngộ, mọi việc từ trong tự
tâm, thật đã xả bỏ hết. Bức ép đến nước cùng non tận,
thì một niệm chợt ngưng, khiến thấy rõ tự tâm, như giữa
ngã tư đường, gặp lại cha mình.
Lại
nữa, không thể nghi ngờ ; ví như người uống nước, lạnh
nóng tự biết ; không thể thố lộ với người ; đó mới
là tham cứu chân thật và liễu ngộ chân thật. Sau đó, dùng
nơi chỗ ngộ mà dung hội tâm cảnh, để tịnh trừ nghiệp
chướng đang lưu chuyển trong hiện tại. Ý thức vọng tưởng
tình lự, đều chảy tan ra thành một vị chân tâm, tức là
chứng ngộ.
Chứng
ngộ này, sâu cạn không đồng. Từ cội rễ mà khởi công
phu, phá được hang hố của thức thứ tám, lấp trừ hầm
hố của vô minh ; vừa siêu thoát liền nhập vào, mà không
có thừa pháp nào khác. Đây là nơi chứng đắc thâm sâu của
bậc thượng thượng căn ; còn lại thì là tiệm tu, sở chứng
rất ít. Việc đáng sợ nhất là thường lấy ít cho là đủ,
khiến lạc nơi bóng ảnh. Chưa phá trừ được cội gốc của
tám thức, sao mãi buông lung làm bậy !
Đó
là việc bên ngoài thần thức. Nếu cho rằng chúng là thật,
tức nhận giặc làm con. Cổ nhân bảo rằng người học đạo,
không nhận thức chân thật được, chỉ vì nhận lầm
thần thức trước mắt. Cội gốc sanh tử từ vô lượng kiếp
đến nay, người ngu nhận lầm chính là mình. Ngay nơi đó,
việc tối trọng là phải nhìn thấu suốt. Thế nên, bảo
rằng đốn ngộ rồi tiệm tu, nghĩa là trước ngộ đã triệt
thấu, nhưng vẫn còn tập khí, chưa có thể tẩy rửa liền.
Ngay trên tất cả cảnh duyên, dùng lý ngộ này, khởi lực
quán chiếu, duyệt cảnh kiểm nghiệm tâm. Dung hoà đắc được
một phần cảnh giới, thì chứng đắc một phần pháp thân,
tiêu một phần vọng tưởng, hiển lộ một phần căn bản
trí ; tất cả hoàn toàn đều do nơi công phu liên tục. Dụng
công ngay trên cảnh giới, thì mới đắc lực.
Đối
với người lợi căn, tín tâm dũng mãnh, lúc dụng công phu,
sự chướng dễ trừ, nhưng lý chướng khó thay đổi. Bịnh
này lược kê có vài phần.
Trước
nhất, không thể tham cầu huyền diệu. Việc này vốn thanh
tịnh khắng khít, thật hiển nhiên rõ ràng, chỉ là một vị
bình thường, chẳng có chi là huyền diệu. Thế nên cổ nhân
dạy rằng đã ngộ đồng với chưa ngộ ; y nhiên chỉ như
người xưa, lại chẳng có huyền diệu. Công phu nếu đủ,
thì tự nhiên trở nên bình thường chân thật, và tập khí
tri giải sẽ được tẩy trừ. Ngược lại, bên trong huân
tập trí Bát Nhã ; khởi các huyễn hoá xảo kiến bao đời,
rồi buộc ràng tâm đó, mà gọi là huyền diệu, và chấp
vào không xả. Đó chính là bóng ảnh của thần thức, và
là cội gốc vọng kiến phân biệt, cũng gọi là kiến chấp,
khác biệt với vọng tưởng thô phù khi trước. Song, sanh diệt
vi tế vẫn còn trôi chảy, cũng gọi là tri chướng, chính
làm ngăn ngại chánh tri kiến. Người nào nhận lầm đó là
chân thật, bèn khởi bao loại kiến chấp điên cuồng. Phải
nên bỏ đi. Thứ đến, không thể đem tâm chờ ngộ. Chân
tâm vi diệu tròn đầy, xưa nay vốn không có mong chờ. Nhân
vì vọng tưởng kết tụ, khiến tâm cảnh căn trần đối
đãi, nên khởi mê hoặc tạo nghiệp. Nay người tu hành, chỉ
nên nhất niệm xả bỏ thân tâm thế giới. Đơn độc đề
khởi niệm này hướng về phía trước. Cần thiết là chẳng
màng ngộ hay không ngộ, chỉ lo là niệm niệm bước bước
chưa vững được. Công phu nếu đến nơi đến chốn, thì
tự nhiên sẽ thấy bản lai diện mục, sao còn tính toán chi
! Dùng tâm mong đợi ngộ, tức nó là gốc rễ của sanh tử.
Đợi đến cùng kiếp, cũng không thể ngộ.
Thế
nên, không thể mong đợi chân tâm, mà bảo rằng sẽ có. Tâm
mong đợi nếu không trừ, thì dễ dàng sanh mỏi mệt chán
chường, và đa phần trở thành thối đoạ. Ví như tìm vật
mà không thấy, thì khởi tâm muốn nghỉ ngơi. Lại nữa, không
thể hy vọng mong cầu diệu quả. Vọng tâm sanh diệt, nguyên
là thể tánh chân thật của Như Lai. Ngày nay, sống trong mê
muội, khiến thần thông diệu dụng của chư Phật, biến thành
vọng tưởng tình lự, và tri kiến phân biệt. Đem pháp thân
chân thật thanh tịnh biến thành chất nghiệp sanh tử. Đem
cõi thanh tịnh vi diệu, biến thành cảnh giới sáu trần. Dụng
công phu hôm nay, nếu một niệm đốn ngộ tự tâm, thì như
cái lu đỏ hồng chảy tan thành muôn hình tượng. Thân tâm
thế giới, vốn là thể tánh chân thật của Như Lai. Vọng
tưởng tình tự, vốn là thần thông diệu dụng. Thay danh
chứ không đổi thể.
Đại
sư Vĩnh Gia bảo : - Vô minh thật tánh, tức Phật tánh. Huyễn
hoá không thân tức pháp thân. Liễu ngộ được pháp môn này,
thì việc chấp xả đều mất ; tâm vui mừng chán chường
đều ngừng ; bước chân đến mọi nơi đều là cõi tịnh
độ Hoa Tạng ; tâm tâm đều là Di Lặc hạ sanh. Vọng tâm
vừa cầu diệu quả, (tức tâm hy vọng mong cầu), thì đó
là cội rễ của sanh tử, làm chướng ngại chánh tri kiến.
Càng cầu càng đi xa, nên lực mong cầu mỏi mệt, bèn sanh
tâm chán chường.
Lại
nữa, không thể tự sanh nghi ngờ. Phàm dụng công, chỉ việc
xả bỏ thân tâm, tuyệt dứt kiến văn tri giải ; phải thoát
khỏi bước đó. Kẻ mù vọng hướng đến nơi chẳng phải
chỗ an thân lập mạng ; thấy không có liễu ngộ được gì,
nên thối thất dừng nghỉ. Trước sau nếu do dự, thì sanh
tâm nghi ngờ, rồi khởi vô lượng tính toán, suy lường được
mất ; hoặc lại sanh ức kiến phỏng đoán, phát động tà
tư, làm ngăn ngại chánh tri kiến. Phải nên nhìn thấu việc
này, quyết định đi thẳng vào, không còn xoay đầu lại.
Tựu
chung, không màng có dụng được công phu hay không, đó mới
là nơi đắc lực. Lại nữa, phải khiến tinh thần tăng thêm
sự sảng khoái, mà không thối thất. Ngược lại, sẽ bị
đoạ làm ma ưu sầu. Ngoài ra, chớ sanh tâm sợ hãi. Công phu
niệm lực nếu cấp thiết bức ép, thì vọng tưởng trong
một niệm liền ngưng. Thân tâm đột nhiên trống không, rồi
thấy đại địa chẳng có một tấc đất, thậm chí đến
tận vô cực, bèn sanh tâm sợ hãi. Không nhìn thấu cảnh giới
này, bèn chẳng dám tiến bước ; hoặc ngay nơi đó chợt đạt
lý không, bèn cho là vi diệu thù thắng. Nhận lầm lý không
này, khiến sanh đại tà kiến, rồi bác không nhân quả. Đây
là việc rất nguy hiểm. Lại nữa, quyết định tin tự tâm
là Phật. Phật chẳng khác Phật. Lý duy tâm là như thế. Pháp
chân thật của Phật giống như hư không. Đạt được vọng
tưởng vốn không, thì bản hữu pháp thân tự hiện, quang
minh tịch chiếu, tròn đầy biến khắp, chẳng thiếu chẳng
thừa. Không thể đem tâm hướng ngoại truy cầu. Bỏ tâm này
mà chạy đi tìm cầu bên ngoài, thì trong tâm khởi ra vô lượng
cảnh giới mộng tưởng. Đấy chính là thần thức biến hiện,
quyết không cho là kỳ đặc. Trong tâm thanh tịnh của chúng
ta, vốn không một vật, cùng không có một niệm. Vừa khởi
tâm động niệm, liền đi ngược với pháp thể. Người dụng
công ngày nay, đa số không biết tự tâm vọng tưởng, nguyên
là hư vọng. Đem vọng tưởng này, nhận lầm là chân thật,
chỉ chuyên cùng nó đối đầu, như trẻ em đùa giỡn với
lửa ; càng giỡn càng không có liên hệ gì ; đùa mãi bèn
tự sanh tâm sợ hãi. Lại có người sợ vọng tưởng, rồi
hận không thể nắm bắt được, bèn liệng qua một bên. Ví
như bắt gió nắm hình, cả ngày đùa giỡn phí tận khí lực.
Lúc chưa có một niệm nào ngưng được, lâu dài ngày càng
bị trói buộc, thì tín tâm càng mỏi mệt, rồi bảo rằng
tham thiền không linh nghiệm, bèn sanh tâm huỷ báng, hoặc sanh
tâm sợ hãi, hoặc sanh tâm thối sụt.
Đây
là bịnh của kẻ sơ phát tâm, chẳng có gì khác hơn. Do chưa
đạt được chân tâm thường trụ, tánh không sanh diệt, nên
nhận lầm vọng tưởng là pháp thật. Gặp những cảnh giới
này, cần yếu phải nhìn xuyên thấu. Vượt qua được cửa
ải này, thì tự nhiên có con đường hướng thượng ; chỉ
nên rời tâm ý thức mà tham khán, và xa lìa tâm vọng tưởng
mong cầu cảnh giới. Nơi một niệm vừa khởi, chẳng màng
lành hay dữ, hãy ném phứt chúng đi, chớ cùng chúng đối
đầu. Tin chắc trong tự tâm, vốn không có những việc đó,
rồi đề khởi câu thoại đầu xưa, như bảo kiếm kim cang,
ma Phật đều chém. Nơi đây phải có đại lực dũng mãnh,
đại tinh tấn, đại nhẫn nhục, quyết không nghĩ trước
tính sau ; quyết không khiếp nhược. Phải trực tâm chánh
niệm, thẳng bước hướng phía trước, thì tự nhiên đường
đường cao ngất ; chớ bị những vọng tưởng này trói buộc,
như thoát khỏi mồi chim ưng, thì trong mười hai thời, nơi
tất cả cảnh duyên, tự nhiên không bị ràng buộc, và tự
nhiên đắc đại khinh an cùng đại tự tại. Đây là nơi đắc
lực đầu tiên của người sơ phát tâm.
Những
lời lẽ bên trên, giống như vẽ thêm chân rắn, cũng chỉ
là lời phương tiện, chẳng phải là cứu cánh chân thật.
Vừa bước ra cửa, ngay bên đường lộ, sợ đi lầm lạc,
uổng phí tâm lực, lãng phí thời giờ, thì phải thẳng dùng
pháp môn chân chánh, siêu xuất trên con đường vi diệu trang
nghiêm. Đó gọi là bước trên chánh lộ bằng phẳng. Nếu
cố gượng tu hành mau gấp, mong sớm thành tựu, thì kiếp
sống luân hồi lại càng dài thêm. Phải bước theo đường
lộ hướng thượng của Phật Tổ, mà không màng đến những
lộ trình khác. Đây là phương tiện cho người sơ phát tâm.
Phải nhìn xuyên thấu đáo.
Vi
tính : THÍCH ĐỨC TUẤN
