Bài 13 :
QUY CHẾ NIỆM PHẬT TRONG
MƯỜI HAI THỜI
TẠI CHÙA HỒ TÂM.
Phật
dạy rằng sự sanh tử của chúng sanh, cứ tương tục luân
chuyển trong bao số kiếp mà không ngừng nghỉ, chỉ vì niệm
niệm vọng tưởng phan duyên, chưa hề dứt đoạn. Vì vọng
tưởng không đoạn, nên sanh tử không cùng tận, rồi bị
lôi kéo luân chuyển không dừng. Phật thuyết bao phương pháp
chế ngự tâm, đều là muốn bánh xe luân hồi dừng lại.
Pháp môn tuy nhiều, mà chúng sanh trần cấu nặng nề, tâm
thức mê muội khó nhiếp nhập, nên chỉ có pháp môn niệm
Phật là thẳng tắt và cần yếu nhất. Thế nên bảo rằng
nhớ Phật niệm Phật, hiện tiền và tương lai, nhất định
thấy Phật. Tất cả vọng kiến của chúng sanh đều nương
nơi sanh tử. Do đó, đơn độc chỉ có chánh kiến thấy được
Phật là pháp xuất khỏi sanh tử. Do có lòng nhớ đến, nên
mới thấy được chư Phật.
Lúc
vọng niệm ngày đêm không gián đoạn, phải dùng niệm Phật
để đoạn trừ chúng. Đây là cách thức mà liên xã của
ngài Huệ Viễn thường hành trong sáu thời khắc tại Lô Sơn.
Đương thời, trong liên xã có một trăm hai mươi người, mà
chỉ có mười tám vị được xưng là cao hiền, tức là những
vị chân thật niệm Phật ; những vị còn lại đa số chưa
đắc được nhất tâm niệm Phật. Hiện nay, xem thấy người
niệm Phật thường thuộc hàng mạt phẩm. Sao không chân thật
nhận biết !
Đời
cận đại, người người thường lấy trâu núi làm hạnh
niệm Phật, và lấy việc luyện ma làm danh ; nghĩa là kềm
chế quá cứng chắc. Tuy ngày đêm niệm Phật không gián đoạn,
nhưng chỉ trong ba mùa đông là thối thất. Người người
tu hành chẳng giống nhau. Hiếm có ai tâm tu hành dài lâu. Tuy
ngày đêm có bốn thời, mà tối đến lại hôn mê. Tu hành
thiếu sự liên tục ! Thật phí cho những lời cảnh tỉnh.
Nay
pháp sư Phật Thạch Huyền Tân, phát tâm trong mười hai thời
thường thưa thỉnh. Pháp này phải liên tục tu trì. Trong động
tịnh như lúc ăn uống rất khó niệm đến nhất tâm. Nếu
điều phục chừng mực, thì mới niệm thành thục được.
Đối với quy chế xưa nay, Pháp sư muốn thỉnh vấn. Lão nhân
vì thế mà thiết lập quy chế, giá sự không phức tạp, để
nhân tâm tập trung, mà hành diệu hạnh vi mật. Những quy chế
giáo điều này chỉ là phụ trợ. Phàm kiến lập pháp hội
niệm Phật, phải tuỳ theo người và tuỳ theo nguyện, rộng
hẹp không đồng. Nếu có nhiều người thì lập ra nhiều
pháp đường. Nếu có ít người thì chỉ cần lập một pháp
đường. Song, không luận là người nhiều ít, phải phân thành
sáu nhóm ; ngày đêm mỗi nhóm hành hai thời, thay phiên dâng
hương ; lúc ra ngoài thì lễ bái tụng kinh, hành đạo sám
hối ; những thời gian còn lại đều ngồi tĩnh toạ, rồi
nương theo âm thanh mà mặc niệm, hoặc tập môn quán tưởng
; người nào thích gì thì tuỳ theo đó mà hành. Nơi đây phải
tĩnh lặng nhiều mà động ít ; không khẩn trương không loạn
động, và tiếng niệm Phật không gián đoạn, thì vọng tưởng
không thể sanh khởi, như vừa kêu gọi ; không mê không tán
loạn ; lúc nhập vào chánh niệm thì động tịnh như nhau ;
mình người không hai không khác ; thức ngủ thường tỉnh
giác. Được như thế, thì không cần rời khỏi toà ngồi,
bèn thấy được Phật A Di Đà. Đây chính là diệu hạnh như
ý bậc nhất. Lúc ăn uống cũng phải như pháp mà điều phục.
Lúc làm việc, trong ngoài đều nhất như, tức là nhân và
ngã đều mất, thị phi đều lặng. Đạo tràng vắng lặng
tịch tĩnh, cũng chưa vi diệu bằng như thế.
Lão
nhân suy nghĩ sâu xa về pháp này, tự thẹn gót chân chưa vững,
nên vẫn chưa toại ý, nhưng đặc biệt nói ra những lời
này. Đa phần tâm niệm chỉ rong ruỗi chạy đó đây. Ngày
nào thấy nghe được chúng, thì nơi nơi đều an lạc, rồi
đem tông Tịnh Độ phổ biến khắp nơi. Đây là niềm hy vọng
của lão nhân.
Vi
tính : THÍCH ĐỨC TUẤN
