Bài 11 :
KHAI THỊ CHO NGÔ KHẢI CAO.
Ngô
Khải Cao quy y Tam Bảo và trì trai giới đã bao năm, nay lại
đến Lô Sơn, cầu thọ giơi pháp, làm đệ tử trong pháp môn,
để kết duyên xuất thế trong vị lai. Nhân vì đó mà có
pháp danh là Phước Thường, hiệu cư sĩ Tịnh Tâm ; thọ giới
ưu bà tắc, rồi lại dâng hoa, đến thỉnh vấn. Lão nhân
vì vậy khai thị rằng tất cả nghiệp hạnh ở thế gian,
đều là vô thường, và cứu cánh đều là nhân khổ. Chúng
sanh đồng hội tụ, và cảm sanh đến cõi Ta Bà đau khổ,
nên gọi cõi này là kham nhẫn. Kẻ ngu mê, lấy khổ làm vui,
chuyên thêm tham ái, lại tăng gốc khổ, mà không biết sự
thiết yếu của việc xuất thế ra biển khổ. Thực là điên
đảo ! Thế nhân nếu có một niệm, biết là vô thường,
khổ, không, mà phát tâm cầu xuất ly, tức là người đại
trí huệ. Lại nữa, nếu có một niệm phản tỉnh, phát khởi
tâm chán khổ, tức là bước trên con đường xuất ra khỏi
khổ đau. Ngoài ra, nếu có một niệm nguyện cầu sanh Tịnh
Độ, tức là có căn bản thành Phật.
Phật
thuyết giới pháp, thiết yếu là dạy người ngưng ác hành
thiện. Ác ngưng tức tâm tịnh. Tu thiện tức khổ diệt hết.
Khổ diệt hết tức tăng phước. Tâm tịnh tức làm nhân cho
cõi tịnh. Khổ diệt hết tức làm gốc cho cõi Cực Lạc .
Tăng phước tức làm quả cho thường lạc. Thế nên, biết
rõ rằng một niệm phát khởi tâm thọ giới, tức là các
việc khổ có thể đoạn trừ ; các việc phước lành có thể
hội tụ ; sanh tử có thể ra khỏi ; cõi Tịnh Độ có thể
vãng sanh. Tất cả đều do từ một niệm phát khởi lúc đầu
tiên làm nhân địa.
Cư
sĩ hôm nay đã biết rõ việc này mà phát tâm, nên mọi việc
làm đều là hạnh xuất thế. Tuy chưa xuất gia, mà đã là
Phật tử. Từ nay nếu dùng tâm trì giới và niệm Phật, để
tịnh trừ tập nhiễm xưa (tức tham sân si ái, bao loại phiền
não) thì tâm địa sẽ được thanh tịnh. Dùng tâm tịnh niệm
Phật, và niệm niệm không quên, cùng tâm tâm chẳng đoạn,
thì ngay nơi công việc thường ngày, mọi việc đều là nhân
Tịnh Độ. Bố thí các đồ vật, và tứ sự cúng dường
Tam Bảo, để làm tư lương trang nghiêm cõi Tịnh Độ. Vì
vậy bảo đảm rằng tâm tịnh tức cõi Phật tịnh. Duy tâm
tịnh độ, tự tánh Di Đà vốn không rời một niệm.
Đây
là pháp hạnh chân thật, nên mới có pháp danh chân chánh là
Phước Thường. Do tâm tịnh bên trong, nên mới có hiệu là
Tịnh Tâm. Nếu như cư sĩ tin chắc không nghi, sao còn cầu
Phật Pháp nào chi nữa ! Nếu không hằng làm những việc tầm
thường ở thế gian, thì trước mắt đạo tâm tự kiên cố,
tín tâm ngày càng tăng trưởng. Trân trọng ! Trân trọng !
Bài 12 : BÀI
TỰA VỀ TỊNH ĐỘ CHỈ QUY.
Chỉ
quy Tịnh Độ : Chỉ tức ý chỉ tu hành ; quy tức quy về cõi
Tịnh Độ. Đức Thế Tôn nhiếp hoá quần sanh, thuyết ra bao
loại pháp môn, phương tiện chẳng có một, mà pháp yếu thuỷ
chung vốn có hai tông tánh và tướng. Vì căn cơ có đại tiểu,
nên giáo có thi thiết đốn tiệm. Người sau phân hai môn thiền
giáo. Giáo tức là nhiếp cả ba căn. Thiền tức là đốn ngộ
nhất tâm. Như cả Đại tạng kinh Đại Thừa, cùng một ngàn
bảy trăm công án, thì hướng về cái nào ! Pháp môn Tịnh
Độ, bao trùm ba căn, đốn tiệm đều được cứu độ ; không
có căn cơ nào mà chẳng nhiếp thọ. Vì vậy bảo rằng siêu
vượt ra ba cõi, đây là pháp môn tối thắng nhất.
Từ
trên chư tổ, dưới đến các bậc đại sĩ liễu ngộ chân
tâm, chưa từng có ai không quy hướng vào đó. Bồ-tát Long
Thọ, Mã Minh, cực lực xiển dương, tán thán. Có người bảo
rằng pháp môn này chỉ vì những người căn cơ trung hạ,
tức là họ không biết yếu chỉ Tịnh Độ. Tất cả chúng
sanh trong mười phương thế giới, cùng chánh báo y báo, tuy
có khác biệt về sự hơn kém tịnh uế, mà đều do từ một
tâm cảm hiện ra. Vì vậy, bảo rằng tâm tịnh tức cõi nước
tịnh, nên gọi duy tâm tịnh độ ; cõi tịnh độ này không
ngoài tâm. Thanh tịnh tâm do nhất tâm bất loạn. Các vị chưa
liễu ngộ được chân tâm, sao không muốn an cư nơi Tịnh
Độ !
Thiền
gia thượng thượng căn, chưa từng có ai không quy về tịnh
độ. Các bậc trung hạ căn, tu trì tịnh giới, chuyên tâm
chú niệm, quán niệm tương tục, lâm chung sẽ được vãng
sanh. Tuy có tướng đến đi, mà tướng hảo Di Đà, đài hoa
rừng báu, thật do tự tâm cảm hiện ra. Ví như những việc
trong mộng, chẳng từ ngoài vào. Những kẻ ngu phu ngu phụ,
thường tu thập thiện, tinh trì năm giới, chuyên tâm niệm
Phật, lúc sắp lâm chung, tất được vãng sanh. Đây là nhờ
Phật lực gia trì, và hành nhân niệm tưởng được tăng ích
thù thắng. Những niệm tưởng thù thắng kia do đại nguyện
mà có. Nguyện cùng niệm giao tiếp, và tự tâm cùng Phật
thầm mặc tương ưng. Tuy cảnh tịnh độ chưa hiện, mà công
phu vãng sanh đã thành, thật do lực của tự tâm thầm cảm
nên, mà chẳng từ ngoài vào.
Những
kẻ thường gieo mười điều ác, thì lúc lâm chung sẽ bị
nghiệp lôi kéo, và bao việc khổ trong địa ngục hiện ra
trước mắt. Vì khổ quá bức bách, nên mới có tâm thiết
tha muốn thoát khổ. Tâm này cộng với ý cùng cực khổ não
mà thành niệm lực, nên khởi tâm thiết tha sám hối. Tâm
sám hối đã thiết tha, thì ngay nơi ấy toàn thể ý niệm
chuyển biến, nên trong một niệm, bèn tương ưng với chư
Phật. Nhờ Phật lực gia trì, cảm ứng, khiến núi đao hoá
thành rừng châu báu, và vạc lửa biến thành ao sen, nên những
kẻ ác này cũng được vãng sanh. Cảnh Tịnh Độ do toàn thể
công lực của tự tâm chuyển biến, chứ chẳng do từ ngoài
mà được. Vì vậy quán thấy, vạn pháp trong ba cõi, chẳng
có pháp nào mà không xuất sanh từ tâm. Cảnh tịnh uế, chẳng
có cảnh nào là không do tâm hiện. Thế nên, pháp môn Tịnh
Độ, không luận là người đã ngộ hay chưa ngộ, bậc thượng
trí hay kẻ hạ ngu, nếu tu thì tất định sẽ được vãng
sanh ; tất cả đều do tự tâm, tức là ý chỉ duy tâm tịnh
độ, trắng đen rõ ràng. Thể tánh của chư Phật như hư không.
Tự tâm lặng lẽ thanh tịnh, thì ứng hợp với chư Phật.
Tuy giả lập khởi một niệm nguyện lực trang nghiêm, mà cảnh
giới tịnh độ liền hiện, chứ không cần vay mượn công
huân. Đó là bậc thượng thượng, chẳng phải là việc mà
kẻ trí hẹp hay lòng tin cạn cợt có thể đạt đến. Các
vị trung căn hạ căn, hãy nên liên tục quán xét tâm niệm,
chớ để duyên ái hay tập nghiệp làm khuynh đảo. Căn tuy
khiếm khuyết, mà chí thật thượng thượng. Việc tu khó,
chỉ vì khó đoạn ái căn.
Những
kẻ ác được vãng sanh lại còn khó hơn. Tuy bảo rằng đới
nghiệp vãng sanh, nhưng thật ra do tập khí của thiện căn
trong bao đời đã huân tập mà phát khởi. Tuy căn tánh xấu
xa thấp kém, nhưng nếu phát khởi một tâm niệm dũng mãnh,
thì siêu vượt lên bậc thượng thượng. Vừa bỏ dao đồ
tể, bèn làm Phật sự, còn gì thù thắng bằng ! Song, chúng
sanh mỗi mỗi không giống nhau. Thế nhân nếu mong đợi cầu
vãng sanh thì là sai lầm. Căn tánh không lớn nhỏ ; cứu cánh
chỉ do một niệm hướng thượng mà thành tựu. Vì vậy pháp
môn này, há chẳng phải đặc biệt quyền thiết cho trung hạ
căn thôi sao !
Tông
chỉ của Tịnh Độ Chỉ Quy là dựa vào kinh mười sáu phép
quán, và phát minh những chỗ khó hỏi, để hiển lộ yếu
chỉ của pháp môn tịnh độ. Kế đến dẫn các thuyết từ
Liên Tông cùng Long Thư, để biểu thị tín nguyện chánh hạnh.
Thứ đến, liệt kê tiểu sử từ ngài Huệ Viễn, xuống tới
hai mươi sáu vị khác, để dùng làm thật chứng. Sau đó,
diễn giảng khuyến khích, cùng phát huy nghĩa lý niệm Phật,
hay dẫn dụ nhân quả, hầu mong hành giả tiến bước tu hành,
và chân thành chú tâm nơi pháp môn này. Tôi gọi là tập chỉ
nam của Tịnh Độ. Lý và sự đêu phải tu ; lý nhân quả
đều hiển lộ. Người xem lấy đây làm nơi nương tựa. Đó
là cảnh giới diệu lạc, sáng soi tâm mắt. Cần gì phải
cầu ngoài muôn quốc độ, mới thọ được sự an lạc vi
diệu thù thắng ! Những điều này, hiển hiện ngay trong công
việc hằng ngày, chứ không đợi quả báo đến hay lúc thần
thức đã siêu sanh, mà sau mới thật chứng. Lợi ích của
bài này là làm chiếc thuyền từ bi trên biển khổ, và làm
ánh đuốc huệ trong đêm dài tăm tối. Chớ coi là việc nhỏ
!
Vi
tính : THÍCH ĐỨC TUẤN
