Bài 9 :
KHAI THỊ CHO NHAN TRUNG TIÊN
TRÌ CHÚ CHUẨN
ĐỀ.
Cư
sĩ tại gia, thọ năm món dục lạc nồng hậu, cội rễ phiền
não sâu dày. Nơi việc hằng ngày thường mê muội trước
mắt, như nước sôi sùng sục. Vừa an được một niệm trong
sạch, bèn phát tâm tu hành, nhưng khó bề hạ thủ công phu.
Người thông minh xem kinh giáo ; bất quá chỉ học theo đường
tri kiến, rồi đàm luận lăng xăng, chẳng có thật dụng.
Họ lại xem việc niệm Phật rất ư tầm thường, nên chẳng
quyết tâm tu ; hoặc tuy muốn nhưng lại không đắc lực, và
chỉ khởi vọng niệm thô phù. Tập khí trong tạng thức ẩn
tàng lưu chuyển, hoàn toàn không thể thấy được, nên dẫu
có niệm Phật nhưng không thể được chánh niệm. Niệm Phật
nếu đắc lực, sao còn cầu những việc huyền diệu khác
nữa ! Nghe có pháp nhất đẳng thâm cao lạ lùng nên ngưỡng
mộ. Nghe tham thiền đốn ngộ, tự phụ cho là bậc thượng
căn, mà không màng tu hành, vì sợ lạc vào thứ lớp. Trên
cơ duyên của các bậc cổ đức, ghi nhớ làm nơi hợp đầu
ngữ ; mở miệng đàm luận lăng xăng ; chỉ vui thích vẻ vời,
rồi cho đó là cơ phong thiền môn. Những kẻ này thật rất
đáng thương !
Nếu
chân thật phát tâm vì sợ sanh tử, mà chưa có thể nhập
vào môn trì chú, thì trước tiên phải dùng tâm khẳng khái
thiết thực, thì mới dễ dàng đắc được. Nhan tiên sanh
có phước trì chú, lại vấn hỏi cách tu hành thiết yếu,
nên tôi mới khai thị những lời này. Người xem chớ cho là
đạo lý, vì đạo lý này làm lầm ngộ biết bao người !
Bài 10 : KHAI
THỊ CHO TỪ TỊNH CHI.
Phật
dạy rằng pháp ở trên và dưới ba cõi, chỉ do một tâm tạo
tác. Trên ba cõi, tức bốn thánh vị xuất thế gian, là Phật,
Bồ-tát , Thanh Văn, Duyên Giác. Dưới ba cõi, tức sáu đường
phàm phu, là trời, người, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh,
và A Tu La. Ba đường ác cũng nằm trong mười pháp giới. Tất
cả thánh phàm, nhân quả thiện ác, chánh báo y báo trang nghiêm,
đều do một tâm tạo tác. Tâm này không khác với tâm liễu
tri phân biệt thường ngày của chúng ta.
Thế
nên, tất cả đều do tâm này, mà không có gì khác tạo ra.
Hiện tiền, trong cuộc sống hằng ngày, niệm niệm tạo nghiệp,
nên lưu chuyển trong mười pháp giới. Nếu một niệm do tham
sân si mà tạo ra mười việc ác (thân ba : giết hại, ăn căp,
tà dâm ; tâm ba : tham lam, sân hận, si mê ; miệng bốn : nói
láo, nói lưỡi đôi chiều, nói lời ác độc, nói lời thêu
dệt) thì đó là tạo nhân khổ trong ba đường ác. Nếu trong
một niệm mà chuyển mười việc ác thành mười điều lành,
thì gieo nhân diệu lạc ở cõi trời người. Nếu nơi một
niệm, thiện ác đều mất, trong không thấy có Ta, ngoài không
thấy có người, nhất tâm tịch tĩnh, tức gieo nhân Thanh Văn
vượt xuất khổ đau. Nếu quán thấy trước mắt những việc
khổ vui, thuận nghịch đều do nhân duyên sanh diệt, hay lưu
chuyển sanh diệt, tức là thành nhân của Duyên Giác. Nếu
một niệm liễu ngộ nhân duyên của nhân pháp vô ngã, và
hiểu rõ tánh vốn không, chẳng có kẻ làm người thọ, mà
không ngại hiện hành bố thí, trì giới, nhẫn nhục, cùng
những thiện hạnh trong sáu đường, để hoá độ chúng sanh,
tức là nhân của Bồ-tát . Nếu một niệm đốn ngộ tự
tâm, gốc vốn quang minh quảng đại, bao trùm muôn vật, cứu
độ muôn loài, liễu ngộ không một pháp tình lự, chúng sanh
và Phật đồng bình đẳng, tức là nhân thành Phật.
Tâm
này quảng đại bao la, bổn lai thanh tịnh, tròn đầy trong
sáng. Nếu thường ngày niệm niệm ngộ tâm này thì tuy cư
nơi trần lao, mà làm người xuất thế. Thế nên, Duy Ma Cật
xưng đây là pháp môn không hai. Cư sĩ nếu có thể hội được
mà hành, thì tất cả oán ân, thị phi, nhân ngã, phiền não,
căn tình, đều ứng theo niệm mà hoá thành tạng quang minh.
Nơi mọi cảnh giới trong thường ngày, hãy dùng niệm giác
sát, xem xét. Nếu vừa thấy mình không thể an nhẫn vì bị
phiền não làm chướng ngại, phải đề khởi câu kệ “xưa
nay vốn không một vật” của Lục Tổ, như dùng bảo kiếm
Kim Cang chặt đứt mọi phiền não, thì băng giá liền tan,
và thân tâm hoá thành hồ nước trong xanh. Dùng lực hành như
thế, và năng tinh tấn bất thối, tức đốn ngộ chứng đắc
nơi tràng đại giải thoát. Sao còn chạy bên ngoài mà cầu
Phật Pháp !
Vi
tính : THÍCH ĐỨC TUẤN.
