THƯ VIỆN HOA SEN
[Search][English][Mirrorsite]
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
.
HAI CHỮ MẸ CHA
Chân Hiền Tâm
Nhà xuất bản Thành Phố Hồ Chí Minh 2007
MỤC LỤC
 
Canh bí đao
Xôi nếp đắng
Mạ chồng
Đại sư Hám Sơn
Bài thơ cho cha 
Hai chữ mẹ cha
Phật dạy báo ân
Ân phụ mẫu
Ân chúng sanh
Ân Quốc vương
Ân Tam bảo
Truyền thừa
Kinh HOA NGHIÊM nói : Trong các thứ cúng dường, PHÁP cúng dường là hơn hết. Pháp cúng dường là: 
Hành đúng theo lời Phật dạy để cúng dường
Làm lợi ích cho chúng sanh để cúng dường
Chịu khổ thế cho chúng sanh để cúng dường
Nhiếp thọ chúng sanh để cúng dường
Siêng năng tu tập căn lành để cúng dường
Không bỏ hạnh Bồ tát để cúng dường
Không rời tâm bồ đề để cúng dường


CANH BÍ ĐAO 

Đã bao giờ bạn ăn canh bí đao nấu tôm? Xào tôm, đổ nước, chờ nước sôi bỏ bí đao đợi chín, rồi cắt hành ngò, bỏ tiêu. Nước bí đao nấu tôm thêm chút bột ngọt, ngọt bùi. Ngọt như nước suối pha đường, thấm ruột, thấm gan ... 

Vài ngày, nhà tôi lại nấu canh bí đao. Ngon hay không, nó cũng trở thành món ăn quen thuộc của gia đình. Cao lương mỹ vị bao nhiêu, bí đao vẫn đó. Nó nuôi tôi khôn lớn. Nó tạo vị ngọt trên môi. Nhưng thấm được hương vị ngọt ngào của nó, có lẽ chỉ một lần duy nhất trong đời …

Những năm đầu giải phóng, cơ cực thiếu trước hụt sau không như bây giờ. Người giàu không dám xài tiền. Cũng không có gì để xài. Đèn đuốc loét loe. Chị bếp biến mất. Lò ga không sử dụng được. Mọi thứ đều thay đổi ... Chỉ nồi canh bí đao là còn. Trong ánh sáng lúc tỏ lúc mờ của ngọn đèn dầu, mẹ oằn lưng thổi to ngọn lửa nồi canh bí đao, cho con có cái lùa cơm. Mười mấy năm trời, mẹ đó, canh đó, tôi đó, nhưng chỉ chừng đó rồi thôi không thêm gì nữa. Canh ngọt trên môi, tới ruột, cuối cùng ra khỏi hậu môn, không gì thêm nữa. Bởi mọi thứ quá bình lặng tự nhiên. Sự bình lặng tự nhiên không cho mình thấy những giọt mồ hôi nhọc nhằn ẩn tàng trong đó. Mình nếm vô vàn chất ngọt của tôm, nhưng không nếm được cái ngọt pha lẫn vị mặn của giọt mồ hôi. Những giọt mồ hôi, trong thời đại văn minh vật chất, đã trở mình núp bóng, khiến con trẻ quên đi những nỗi nhọc nhằn lo lắng của mẹ cha. Dù nó vắt kiệt sức con người nhiều hơn những giọt mồ hôi rõ nét hình hài. Chỉ trong hoàn cảnh tranh tối tranh sáng, khi điều kiện vật chất dư giả không còn, nó mới khiến mình nhận rõ những nỗi thương yêu lo lắng, lớn đến dường nào!  

Một chút ánh sáng nhỏ nhoi, giúp con soi tỏ những giọt mồ hôi không hình nơi mẹ. Nhưng phải tự khi làm mẹ, mới thấu vô vàn cái nhọc mẹ mang. Qua bao biến động bể dâu, khổ nạn vất vả không thiếu, ốm đau cực nhọc cũng nhiều, nhưng chưa bao giờ khiến tôi cảm nhận kiếp người là khổ. Một lần sinh nở, liền thấy cái khổ thênh thang ở một kiếp người. Chín tháng cưu mang, nhọc nhằn nôn ọe, không bằng một lần con trẻ chào đời. Cái đau xé ruột để mình còn nhớ, mẹ từng mang nặng đẻ đau, mẹ từng xẻ ruột để ta có đời ... 

Canh bầu, canh bí, canh khoai
Canh nào cũng ngọt
Nồng đầy mồ hôi
Húp canh 
Nhớ tấm thân oằn
Thân đau mới thấm đoạn đường mẹ qua 


XÔI NẾP ĐẮNG  

Anh lớn lên trong bối cảnh không mấy thuận chiều. Cha bỏ mẹ theo vợ bé. Mẹ tảo tần buôn bán tận phương xa. Mẹ cho anh hình hài, nhưng không đủ tình thương. Mẹ nuôi anh khôn lớn, nhưng bỏ anh nửa đường. Anh vất vưởng từ những ngày thơ bé. Bóng mẹ còn xa vời vợi, nói gì hơi hướm chuối ba hương, xôi nếp ngọt hay đường mía lau ... 

Mẹ ra đi khi nếp nhăn chưa kịp có, khi anh chưa kịp nếm vị ngọt của đậu xôi. Anh căm hận bản thân, gia đình, người thân. Anh hất đổ mọi thứ kể cả tình thương của mọi người. Bởi nó không phải là tình thương của mẹ, chỉ là sự thương hại xót xa. Nó không lấp được khoảng trống mà anh thiếu hụt. Anh đập phá tất cả, hất bỏ mọi tình thương chung quanh, nhưng vẫn không hả giận. Cuối cùng, anh đập bàn thờ, đổ lư hương. Bởi không có bà, anh đã không có mặt trên cuộc đời này. Bà cho anh cuộc đời, bà mang cho anh sự sống, nhưng là cuộc đời thiếu trước hụt sau, một sự sống anh không mong muốn. Một cuộc đời mà với anh, đầy khốn nạn!

Platon, một triết gia trước công nguyên, từng nói “Tình mẫu tử không thể có ngay lúc đó. Nó chỉ lớn dần cùng với đứa con và sự săn sóc của người mẹ. Tình cảm trở nên vĩ đại khi đứa con là sự đúc kết công lao to lớn của bà”. Tình thương là kết quả của một quá trình săn sóc và chăm chút hai chiều, không ở kiếp này thì từ những kiếp trước. Dù có bứt ruột đẻ ra, tình cảm cũng chỉ hình thành trong quá trình tiếp xúc nâng niu. Tình thương tuy là thứ sẵn đủ trong mỗi sinh linh, nhưng vì biến động bể dâu bao lần, đã bị cái tôi che khuất, nên với người bình thường, không thể đòi hỏi ở họ một sự hiếu thuận khi quanh họ chỉ toàn chuối hột đường thiu. Hàng thánh nhân có thể hiếu nghĩa trọn đầy dù trải qua trăm đắng ngàn cay, nhưng người bình thường thì không. Bởi con người là tập hợp của vô lượng vô số si mê tối thượng. Thành muốn được thương yêu, mình phải BIẾT CÁCH yêu thương và chăm sóc tình yêu đó. 
 

Mẹ không phải là người không có tình thương với anh, nhưng anh không hưởng được hương vị đậm nồng, chỉ vì hoàn cảnh không cho phép. Xảy ra nhiều thiếu sót thương tâm, chỉ vì cuộc sống quá khó khăn. Mẹ nếu không hứng chịu phần việc nuôi sống của cha, có lẽ bà có thời gian ấp ủ anh hơn. Anh nếu được dòng sữa đậm tình nơi mẹ, có lẽ không đến nỗi trở tính hất bỏ mọi tình thương quanh mình. Nhưng sao cảnh ấy không rơi vào ai mà rơi vào anh? Phật nói, tất cả đều do nhân duyên từ đời trước.

Cha mẹ, con cái, anh em hiện diện ngày nay, đều bắt nguồn từ những mối nhân duyên trong bao kiếp trước. Đời trước, nếu duyên giữa tôi và anh có, nghĩa là mình từng có những liên hệ ân oán khắn khít với nhau, đời này mình sẽ có sợi dây ràng buộc cùng nhau. Có thể là cha con, anh em, cũng có thể là vợ chồng, mẹ con. Nếu đời trước cái dây ấy là ÂN, thì đời này cha thương con, vợ kính chồng. Nếu đời trước chỉ là OÁN, đời nay mẹ bỏ con, chị oán em, mọi thứ đều trái nghịch. Thầy bói nói cha khắc con, vợ khắc chồng là đó. Chẳng qua vì ân hay oán từ kiếp trước mà ra. Thành có khi đồng là con, nhưng tình thương với đứa này nhiều hơn đứa kia. Có khi đồng là con, mà đứa thì hiếu thảo, đứa lại không. Đó là do cái duyên đời này bị chi phối bởi MỘT PHẦN duyên nghiệp của đời trước. Chính do một phần duyên nghiệp đó, mà cuộc đời như lắm bất công. Nhưng không, chỉ là biểu hiện thường tình của luật nhân quả. Mọi thứ đều có nhân có duyên. Đều có sự tương thích công bằng trong đó.  

Một lúc, tôi kịp nhận ra, con trai út mình luôn thiệt thòi hơn hai đứa lớn, dù mình không hề có ý thương đứa lớn hơn đứa nhỏ. Việc trong nhà, thằng út làm nhiều hơn thằng lớn, nên thằng út bị la nhiều hơn thằng lớn. Vì đứa không làm thì không sót lỗi để la. Không phải chỉ trong công việc, chuyện tiền bạc và mọi vấn đề, thứ gì thuộc thằng lớn, được hay không, mình cũng tin tưởng và rộng rãi. Thằng lớn thế nào, mình cũng không thấy khó chịu. Nó nói câu gì, mình cũng thấy bình thường. Nhưng thằng út thì không. Chuyện chưa đâu vào đâu mình đã hét toán. Mình ít có suy nghĩ chính chắn về con. Nó làm gì, cũng khiến mình dễ bực dọc dù có khi nó làm chỉ vì ý nghĩ lo toan. Mình la những cái nó không đúng, nhưng có những cái nó đúng, mình cũng cứ đó mà la. Không chỉ với con mà cháu cũng vậy. Đứa mè nheo thế nào, mình cũng dễ dỗ dành thương yêu, nhưng đứa chỉ mới nghiên cái ly, mình đã thấy bực mình. Mình cứ thế mà sống, thương cái gì mình thương, ghét cái gì mình ghét, như thể đó là chuyện thường tình. Mà không nhận ra rằng, thứ mình cho là thường đó, chính là đầu mối nối dài những oan nghiệt về sau.

Cuộc đời nếu không biết đạo, tai ương hoạn nạn rất nhiều. Nếu không tỉnh giác, vô vàn nghiệp nhân bất hảo xảy ra. Cái quả bất hạnh theo đó mà hiện. Không chỉ đời này mà cả đời sau. Không thể đòi hỏi tình thương nơi con, khi mình luôn sống thiên lệch, dù cái lệch đó xứng đáng với những nghiệp nhân nó đã gây ra trong quá khứ. Không thể đòi hỏi ở con ý thức trách nhiệm hay sự lo lắng gia đình, khi nó cảm thấy mình luôn nghi kỵ tách biệt với việc nó làm. Đó là cái quả gần nhất mình phải gánh chịu. Cái quả tương lai, là nếu mình để những thứ thiên lệch kéo dài, chỉ cần mỗi kiếp một ít, khổ nạn không sao tránh khỏi. Bởi thương yêu và hận thù không có biên giới. Có khi, tình thương càng nhiều, chuyển dịch thù hận càng lớn. 

Ngày nay, con có thể cầm dao giết mẹ, cha có thể đánh nát xương con, chỉ vì những nghịch nhân trong quá khứ đã ra hoa. Nhân đã ra hoa, nhưng không biết đạo, nên mình không tỉnh với những suy tưởng và hành động của chính mình, thành hoa mới thành quả. Thay vì tỉnh giác an phận bỏ qua, hay tỉnh giác không để quả xấu xảy ra, mình lại oán hận phá tán hay thừa thắng xông lên cho thỏa tam bành lục tặc trong mình. Quả xấu, mình bất mãn đối đầu. Quả tốt, mình quá trớn vun tay. Nghịch thuận gì mình cũng vun tay vượt tầm, thành khổ nạn khó vơi. Đó chính là cái nhân để những nghịch quả về sau có cơ phát triển. Kiếp này anh khiến tôi mất mát oán hận. Kiếp sau tôi khiến anh oán hận mất mát. Cứ vậy mà nối tiếp xoay vần … Cho đến khi, tự mình thấu hiểu nhân duyên, tự mình tỉnh giác với những nghịch duyên rồi dừng. Nhân chấm dứt, quả mới chấm dứt. Không thì cứ thế xoay tròn trong oán hận sầu thương, vĩnh kiếp nối dài.

Thức đêm mới biết đêm dài, đoạn trường ai có qua cầu mới hay. Khó mà hiểu được nỗi đau của người, khi mình là kẻ bàng quan. Mình dễ phê phán người khác, nhưng đến phiên mình có khi còn tệ gấp bội. Nhưng thật tình mà nói, oán hận không hề giúp gì cho mình ngoài khổ đau và mất mát. Mình có đánh đổ được mọi thứ chung quanh, cũng không nguôi được cơn giận trong lòng. Chỉ thêm trống rỗng khổ đau. Càng níu kéo, oán hận, càng đau khổ không nguôi. Chỉ có tha thứ và rủ bỏ mới thanh thản nhẹ nhàng. Tha thứ cho những gì trong hiện tại, chính là tha thứ cho những nghiệp nhân mình đã gây tạo trong quá khứ. Rủ bỏ và bình thản với những gì trong hiện tại, chính là rủ bỏ cái nhân bất hảo một thời đã qua. Có vậy, mới chấm dứt được vòng oan nghiệt luân hồi. 

Một nén hương thơm dâng cha
Chỉ vì ông đã cho ta thân xác con người
Một nén hương thơm dâng mẹ
Chỉ vì bà đã mang nặng đẻ đau
Một nén hương thơm dâng Phật
Nguyện cho oán hận không còn
Nguyện cho thế giới bình an
Nguyện cho hiếu nghĩa luôn đầy
Nguyện cho cha mẹ luôn đầy tình thương  
Vu lan ...
Ngày để cha mẹ thương yêu 
Ngày để con trẻ niệm đức sinh thành 
Ngày để mọi người mở lòng buông bỏ
Cho cuộc đời ... 
Thanh thản, bình yên 

 
MẠ CHỒNG

Nghèo hay giàu, khi nào bà mạ cũng vậy. Tất bật, lo toan … 

Dâu lấy chồng

Không phải anh thương vợ mà bỏ cha mẹ. Nhưng với anh, lễ nghĩa khá xa lạ mà dâu thì không kém. Nên hơn một tuần, dâu con mới về nhà chồng, tận miệt Long Thành cò ho khỉ gáy. Cái miệt chỉ có khoai mì dây lang. Cái miệt chân đi xủi bụi trắng xóa khô cằn. Cơm canh đạm bạc, trưa nắng thiêu người, tối mực đầy đong. Nhưng ông ba bà mạ ân cần, chẳng hề trách móc. Dâu về không động móng tay, ra vô như con gái về nhà ... 

Con đường Bình Sơn 

Oằn èo khô cứng bảy tám cây đường. Mạ chồng lặn lội vác gạo còng lưng. Dâu con bụng mang dạ chửa đi kề. Mạ sợ tốn tiền, dâu còn sinh nở ...  

Anh ở tù

Dâu non ngày non tháng, qua cầu một cột thăm chồng. Cái cột thời buổi văn minh, chỉ toàn xi măng, trơ trơ trụi trụi muốn lọt mấy lần. Con gái nhà giàu lặn lội đường xa, như cây chuối đổ, ói lên ói xuống cực thân mạ chồng. Đồ chưa đủ nặng, còn nặng con dâu. Chất giọng ân cần mấy thuở quên được, đi nổi không con ... 
Con đi không nổi cũng đi
Cho đỡ gánh cò lặn lội đường xa

Ông trời có mắt, cho ba cho mạ mi giàu, con cháu đông đầy hiếu nghĩa. Nhưng dâu thừa hiểu, chẳng qua ba mạ hiền từ, một đời chịu đựng lo toan, với dâu như bát nước đầy. Cái đức muôn đời nuôi dưỡng mạ ba, nào phải ông trời có quyền có lực. Chỉ do cái đức hiền từ bao dung …

Một thoáng  

Cái thuở ban đầu, mẹ dạy hiếu nghĩa vuông tròn, làm dâu phải biết thương cha mẹ chồng nghe con. Nhưng dâu, cái đầu cứng cạnh. Hiếu nghĩa không tròn. Như ngựa chứng hoang, ngang ngang ngạnh ngạnh. Nhưng mà cái ruột mẹ cha, buồn thì để bụng. Dâu về cũng vẫn vui cười, một bề ân cần lo lắng. 

Dâu giờ biết đạo thì mạ đã già, tay ba đã run. Cái ruột xót xa nhưng làm gì được. Hiếu nghĩa ở đời, con cái lo toan như ly nước tràn, dâu không thể sánh. Đổ vô thêm nữa cũng chỉ vậy thôi. Chi bằng nương Phật học đạo, trả ân trả nghĩa như các thiền sư, lấy đó hồi hướng nguyện phúc cho cha, trả ân cho mạ, cũng là hồi hướng cho cõi đất này, tất cả mẹ cha thảy đều sống đạo, nuôi dưỡng cái đức bao dung, thêm tròn cái dạ hiền từ, con cái thêm phần hiếu nghĩa, cho phúc ở đời thêm lớn, quả vị thánh hiền không xa. 

 
ĐẠI SƯ HÁM SƠN    

Mình sinh ra và lớn lên, mỗi người đều có những khoảng đường riêng, như bị một loại định mệnh chi phối. Một loại định mệnh không do ông trời sắp đặt, không do thượng đế ban cho, mà do hành động và những thói quen mình đã gầy ra trong quá khứ.

Những thói quen, mà cái quả của nó đã thành định nghiệp, tức NHÂN đã có, DUYÊN đã đủ, thì mình không thể thay đổi gì nữa.[01]  Đại sư Hám Sơn ra đời với một điềm mộng : Bồ tát Quán Thế Âm mang đến một đứa trẻ, mẹ Sư ôm vào lòng và sinh ra Sư. Cội từ bi đã khai hoa nở nhụy. Đứa con của lòng từ, ắt hẳn phải theo con đường từ bi hỉ xả. Một tuổi, Đại sư đau nặng, bà phải phát nguyện đưa con vào chùa. Định nghiệp tu hành, con đường của bậc Long tượng, lần nữa lại được xác định.

Tôi sinh ra ở Toàn Tiêu thuộc Nam Kinh. Mẹ tôi là một Phật tử mộ đạo, suốt đời bà thờ Bồ tát Quán Thế Âm. Một hôm bà nằm mộng thấy Bồ tát dắt đến một đứa bé, bà ôm vào lòng, sau đó sinh ra tôi. Nhưng được một tuổi thì tôi đau nặng. Sợ con qua không khỏi, bà cầu Quán Thế Âm và hứa, nếu tôi hết bệnh bà sẽ cho tôi vào chùa làm tăng. Vì thế, khi tôi hồi phục, bà ghi tên tôi vào chùa Trường Thọ.

Liễu thoát sinh tử là một trong những đích nhắm của người tu Phật. Đó là việc đã được huân tập từ bao kiếp trước, nên trong cái tuổi đáng nhẽ chỉ biết chơi đùa vô tư vòi vĩnh mẹ cha, Sư lại chú tâm vào việc sống chết. Sống từ đâu có và chết sẽ đi về đâu? 

Năm lên 7, mẹ cho tôi đi học. Một lần đi về, thấy cậu nằm bất động trên giường, tôi hỏi thì mẹ trả lời “Cậu ngủ”. Nhưng tôi gọi cậu mấy lần, cậu vẫn nằm yên. Còn mợ tôi thì gào thét “Trời ơi! mình đi đâu rồi hở mình?”. Bàng hoàng, tôi hỏi “Cậu nằm đó sao mợ nói đi đâu?” Lúc đó mẹ mới nói thật “Cậu con chết rồi”. Tôi hỏi bà “Chết đi về đâu?”. Bà lắc đầu. Từ đó câu hỏi ấy bám chặt vào tâm trí tôi.

Ít lâu sau, mợ tôi sinh được một em bé. Lần đầu tiên đến thăm, tôi hỏi “Đứa bé này vào bụng mợ bằng cách nào?”. Mẹ tôi cười “Vớ vẩn! Thế mày vào bụng mẹ bằng cách nào?”. Sanh tử trở thành mối nghi rất lớn đè nặng tâm trí tôi.

Tình thương của mẹ đối với con là vô bờ. Nhưng cách thể hiện thì không như nhau. Có thứ khiến con trẻ hư hoại bê tha. Có thứ khiến con trẻ đắm chìm trong tình cảm thường tình. Có thứ khiến con trẻ vững vàng rắn rỏi. Túc duyên sâu dày, căn khí thượng thừa sẵn đủ, nên mẹ là hiện thân trợ cho căn duyên đời trước có điều kiện đâm chồi, Tổ thầy là hiện thân trợ cho căn khí thượng thừa được mãi xum xoe, kết lá ra hoa, che mát chúng hữu tình.  

Năm tôi lên 8, để tiện cho việc học hành, Tôi được gởi qua ở nhờ nhà một người bà con cách đó một con sông. Mẹ tôi cho tôi về nhà thăm bà một tháng một lần. Sau ngày nghỉ thường lệ, tôi không muốn trở lại trường và nói với bà “Con không muốn xa mẹ”. Bà nổi xung thiên, đánh và đuổi tôi ra tận bờ sông. Nhưng tới đó, tôi vẫn bám chặt lấy bà. Đang cơn giận, bà túm tóc tôi ném xuống sông rồi bỏ đi thẳng. Khi tôi thoát chết về được đến nhà, bà hét lớn “Để cái đồ vô tích sự đó sống làm gì, thà để nó chết đi còn hơn”. Bà lại đánh và đuổi tôi. Tôi thấy mẹ quá nghiêm khắc và tàn nhẫn, nên quyết từ rày về sau không về nhà nữa. 

Sau này tôi mới biết, bà đã nhiều lần đứng khóc ở bờ sông và nói với ngoại ‘Con phải làm cho nó vượt qua cái tính đa cảm thường tình, để nó có thể học hành nghiêm túc”. 

Năm lên 9, tôi được gởi vào chùa đi học. Khi nghe tụng đến phẩm Phổ Môn, biết Quán Thế Âm có thể cứu độ muôn loài thoát khỏi khổ đau, tôi rất phấn khích. Một lần theo mẹ đến chùa lễ tạ Bồ tát, tôi hỏi “Mẹ có biết kinh của Bồ tát Quán Thế Âm không?”. Bà lắc đầu. Tôi lập tức tụng cho bà nghe. Giọng tôi lúc đó cứ như một ông tăng già, khiến bà thích thú vô cùng. Bà hỏi “Con đã học ở đâu?”. Tôi trả lời là tôi đã mượn kinh về tự nghiên cứu tụng lấy. 

Năm tôi lên 10, bị mẹ ép học quá, tôi buồn lắm. Một lần hỏi bà : Vì sao con phải đi học?

- Để có được một địa vị trong xã hội. 
- Vậy sau này con được địa vị gì?
- Bắt đầu có thể chỉ là một địa vị thấp. Nhưng có thể sau đó sẽ lên chức tể tướng. 
- Cho là con có thể trở thành tể tướng đi, nhưng sau đó thì sao?
- Người ta chỉ có thể lên tới đó mà thôi. 
- Nhưng làm một công chức cao cấp thì có ích gì? Làm việc cực khổ cả đời để chẳng được gì thì thật vô ích. Con muốn làm cái gì đó có giá trị vĩnh hằng.
- Trời đất! Một đứa con vô tích sự như mày, thì chắc chỉ làm được một ông tăng du phương mà thôi.
- Làm một tăng du phương thì có ích gì?
- Tăng là một đệ tử Phật. Ông muốn đi đâu trên thế gian này cũng được. Ông là một người tự do thật sự. Ở đâu, thiên hạ cũng cúng dường và phục dịch ông. 
Tôi thấy rất hứng khởi với việc đó, nên nói : Vậy thì hay lắm. Con muốn làm một ông tăng.
Bà lắc đầu : Ta e con không có tài cán đó.
Thấy tôi ngạc nhiên, bà giải thích : Trên thế gian này có rất nhiều trạng nguyên, nhưng Phật Tổ thì rất hiếm. Hàng tăng mà mẹ Đại sư muốn nói chính là hàng có chí nguyện làm Phật làm Tổ, lấy định tuệ nuôi sống tuệ mạng của mình. 

Nghe vậy tôi quả quyết : Con có khả năng đó, chỉ sợ mẹ không cho con đi.

Bà hứa : Nếu con có khả năng, ta sẽ cho con theo đường của con.

Tôi nuôi trong lòng lời hứa đó của mẹ.
Năm tôi 11 tuổi, thấy gần nhà có vài người đầu đội nón lá, trên vai chất đầy vật dụng, tôi liền hỏi mẹ : Mấy người đó là ai?

- Là những tăng sĩ du phương. 

Nghe vậy, tôi rất thích. Tôi quan sát kỹ mọi thứ. Họ đặt gánh xuống, rồi nghỉ ở một gốc cây bên đường. Một người hỏi mẹ “Có thể kiếm đâu ra thức ăn thưa bà?”. Mẹ trả lời “Xin chờ, tôi sẽ nấu cơm cúng dường”. Rồi bà phục dịch các tăng sĩ với tất cả sự tôn kính của mình.

Ăn xong, các tăng nhân quảy gánh lên vai. Họ dơ một tay lên chào từ biệt và định nói một cái gì đó. Nhưng mẹ vội nói “Xin đừng cám ơn”. Tôi thì không mấy vừa lòng về thái độ từ biệt của mấy ông tăng, tôi nói với mẹ “Mấy ông tăng này quá vô lễ. Không chào hỏi lấy một lời mà đã bỏ đi”. Bà giải thích “Nếu họ cảm ơn, ta sẽ được ít phước hơn với việc cúng dường của mình”. Lúc đó, tôi càng thấy ưu thế của hàng tu sĩ. Cuộc gặp gỡ khiến quyết định làm tăng của tôi càng mạnh mẽ. Nhưng trở ngại duy nhất của tôi lúc này là tôi chưa có cơ hội.

Rồi thời cơ cũng đến. Năm tôi 12 tuổi, nghe ở chùa Báo Ân có một cao tăng tên là Tây Lâm, tôi thưa với cha mình muốn đến đó. Cha không cho đi, nhưng mẹ lý luận “Tốt hơn, nên để cho con theo ý nguyện của nó. Giúp nó thực hiện hơn là ngăn cản”. Và thế là tôi được gởi đến chùa Báo Ân.

Ngay khi thấy tôi, Đại sư liền nói “Thằng bé này không phải thường. Nếu để nó trở thành một ông tăng bình thường thì thật là phí”. Rồi thầy dẫn tôi đến tự viện. Lúc ấy thầy Vô Cực đang thuyết pháp. Thầy Triệu Văn Túc rất thích khi trông thấy tôi, ngài nói “Thằng nhỏ sau này sẽ thành bậc thầy của trời người”. Rồi ngài hỏi tôi “Con thích làm quan hay làm Phật?” Tôi trả lời “Dĩ nhiên là làm Phật”. Ngài cười và quay lại nói với những tăng sĩ khác “Không được coi thường đứa bé này, phải dạy dỗ nó cẩn thận”. Lúc đó tuy không hiểu thầy Vô Cực giảng gì dù chỉ một chữ, tôi vẫn thấy tha thiết và nhiệt thành như thể tôi đang hiểu một thứ gì đó mà không thể bày tỏ bằng lời.

Khi tôi được 19 tuổi, bạn tôi nhiều đứa đã đậu kỳ thi hương. Khi nghe các bạn thúc tôi đi thi, thầy Vân Cư đã khuyến khích tôi tu đạo và nổ lực tham thiền. Thầy kể tôi nghe về hành trạng của rất nhiều cao tăng thời trước, và đưa cho tôi quyển Cao Tăng Truyện. Sau khi đọc xong Trung Phong TruyệnCao Tăng Truyện, tôi cảm động “Đây chính là điều mình muốn làm”. Rồi tôi quyết định hiến đời mình cho đạo Phật từ đó, và xin Đại sư thí phát.

Gạt bỏ thế sự và việc học hành, tôi tập trung cho việc nghiên cứu thiền nhưng chẳng đến đâu. Tôi bắt đầu chuyên tâm niệm danh hiệu đức A Di Đà  ngày đêm không gián đoạn. Không bao lâu, tôi nằm thấy ngài hiện ra trong giấc mộng. Ngài ngồi trên trời cao và hướng về phía mặt trời lặn, gương mặt từ bi linh động trong sáng. Tôi phục dưới chân ngài với tâm trạng khó tả. Khi tôi vừa nghĩ “Vậy còn Bồ tát Quán Thế Âm và Đại Thế Chí ở đâu”, liền thấy chư vị hiện ra. Nhờ giấc mơ đó tôi càng tin tưởng và nổ lực tiến tu. Tôi tin, việc tu hành của mình sẽ có kết quả tốt đẹp.

Mùa động năm ấy, tự viện chúng tôi mời thầy Vô Cực đến giảng Hoa Nghiêm. Khi giảng đến Thập Huyền Môn, hải ấn xum la thường trụ xứ, tôi bỗng nhận ra yếu chỉ pháp giới viên dung vô tận. Quá hăm mộ ngài Thanh Lương, người đã sáng lập tông Hoa Nghiêm, tôi lấy đó làm danh hiệu của mình, và lấy tên tự là Trừng Ấn.

Tôi trình bày chỗ nhận của mình lên thầy Vô Cực, thầy nói “Vậy là con muốn theo con đường Hoa Nghiêm. Nhưng con có biết vì sao ngài lại lấy tên là Thanh Lương? Vì ngài thường ở trên núi Thanh Lương. Mùa hè thì mát, mùa đông thì băng giá”. Từ đó, tôi cứ thấy thế giới kỳ diệu của băng tuyết hiện ra trước mắt. Tôi quyết tâm đến trụ ở ngọn núi ấy. Không gì trên thế gian có thể mê hoặc tôi được nữa. Cái khao khát lìa bỏ thế giới này không ngừng sống dậy trong tôi.

Khi tôi 20 tuổi thì Đại sư qua đời. Trước khi thị tịch ngài gọi môn chúng lại và nói “Ta đã 83 tuổi, chẳng bao lâu sẽ rời bỏ cõi đời này. Ta có khoảng 80 đệ tử nhưng kẻ nối pháp của ta chính là Hám Sơn. Sau khi ta đi các con phải nghe lệnh chú ấy. Đừng lơ là mệnh lệnh chỉ vì vấn đề tuổi tác”. Ngài cho họp tất cả tăng chúng, tập trung niệm danh hiệu A Di Đà trong suốt năm ngày liền. Tràng hạt trong tay, ngài ngồi kiết già, bình tĩnh niệm danh hiệu Di Đà rồi thoát. Không lâu sau, căn phòng ấy bị cháy rụi, như thể báo một điềm gì đó cho các môn đồ.

Vào tháng 10 năm đó, thầy Vân Cốc mở Thiền hội. Nhờ sự tiến cử của thầy, tôi được nhập hội. Thoạt đầu tôi không biết phải dụng công thế nào và rất khổ sở với sự vô minh của mình. Sau khi đốt hương dâng thầy, xin thầy chỉ dạy, tôi thiền định suốt ba tháng liền. Suốt thời kỳ này, tôi không chú ý tới bất cứ ai trong hội hoặc bất cứ gì xảy ra quanh tôi. Phần tiếp theo, nói về quá trình tu tập thiền định và những cảnh giới tự tâm mà Đại sư Hám Sơn đã chứng nhập, thuộc phần công phu tu chứng, nên không trích ra đây.

Năm 40 tuổi, tôi bắt đầu đọc Đại tạng, giải kinh Pháp Hoa và luận Đại Thừa Khởi Tín. Từ ngày rời Ngũ Đài Sơn, tôi đã có ý định về thăm song thân, nhưng lại sợ những hệ lụy thế gian làm mờ mắt, nên hơi do dự. Nhưng trong khi thiền định, tôi đã làm bài kệ :

Ngày ngày sóng nổi ngập thái không
Chim cá cùng bơi một kính trong
Đêm qua trăng bỗng rụng bên trời
Sáng bừng như lẫn ngọc ly long

Vì thế, tôi gọi thị giả vào và bảo với ông ấy  tôi đã có thể về quê thăm cha mẹ.

Ở quận nhà, chùa Báo Ân từ lâu vẫn muốn xin trọn một bộ Đại Tạng. Tôi đi Kinh Sư thỉnh kinh và về đến chùa Báo Ân tháng mười một. Trước khi bộ Đại tạng về, trong chùa phát sáng mấy ngày. Kinh về đến nơi thì ánh sáng biến hình như một chiếc cầu vồng trải từ trời xuống đất. Người đến xem, mỗi ngày có đến vạn người.

Khi mẹ hay tin tôi về. Bà cho người đến hỏi khi nào tôi về thăm nhà. Tôi trả lời “Triều đình phái con đi hộ tống kinh, không phải để về nhà. Nhưng nếu mẹ có thể tiếp con một cách vui vẻ không sầu thương như con chưa từng rời đi, thì con sẽ về nhà hai đêm”. Nghe vậy, bà nói “Cuộc gặp gỡ này giống như vừa tìm lại được người nhà trong một kiếp khác, làm sao mụ có thì giờ để khổ đau. Mụ rất hài lòng nếu gặp được con mình dù chỉ tích tắc. Hai đêm là quá nhiều so với sự mong mỏi của mụ”. Khi tôi về nhà, mẹ rất vui. Thật là ngạc nhiên!

Buổi chiều, họ hàng đến thăm, một người hỏi “Thầy đến bằng thuyền hay đường bộ?”. Mẹ lập tức trả lời “Nói vậy là ngụ ý gì?”. “Điều tôi thực sự muốn biết là thầy ấy từ đâu về”. Bà trả lời “Từ cái không về với chúng ta”.

Tôi rất ngạc nhiên khi nghe bà nói vậy. Chẳng lạ gì bà cụ cho tôi đi tu. 

Rồi tôi hỏi mẹ : Từ khi con rời khỏi nhà, mẹ có nghĩ đến con?

Bà đáp : Dĩ nhiên là có, làm sao không được.

- Vậy mẹ làm gì để khuây khỏa?

- Thoạt đầu mụ không biết làm gì. Rồi nghe người ta nói con ở Ngũ Đài Sơn, mụ hỏi một thầy tăng “Nơi đó ở đâu?”, thầy bảo “Ngay dưới sao Bắc đẩu”. Mụ đảnh lễ sao bắc đẩu và niệm danh hiệu Bồ tát. Mụ thấy khuây khỏa và không còn nghĩ tới con nữa. Mụ nghĩ con đã chết. Mụ thấy không còn khổ não, không còn nghĩ đến con. Bây giờ mụ gặp con như thể trong một kiếp khác.

Sáng hôm sau, tôi đi thăm mộ tổ tiên và chọn địa điểm làm mộ cho song thân. Lúc đó cha tôi đã 80 tuổi. Tôi nói đùa “Hôm nay con đào huyệt cho cha, giúp cha không phải trở lại thế gian này nữa”. Vừa nói tôi vừa gõ cuốc xuống đất. Mẹ tôi giựt cuốc khỏi tay tôi và nói “Để mụ tự đào mồ lấy, không cần ai lo cho mụ”. Rồi bà bắt đầu đào huyệt một cách vui vẻ.

Tôi từ giã gia đình sau đó ba hôm. Khi tiễn đưa, mẹ tôi vẫn vui vẻ. Đến lúc đó, tôi mới hiểu, bà là một người rất khác thường.

(Phần tự thuật của Đại sư Hám Sơn, lược trích trong Thiền Đạo Tu Tập của Chang Chen Chi)              

 
BÀI THƠ CHO CHA

Bài thơ là nỗi lòng của anh dâng cha với những ân hận xót xa. Ân hận để … trải lòng ra cùng Phật pháp con đi, để xẻ chia cùng ba và tất cả. Nó đến vào lúc tập sách cho mùa Vu lan sắp hoàn thành. Thật là nhân duyên trong đời khó mà nói hết. Nhân duyên nối tiếp nhân duyên, để ta cảm nhận dòng thơ của người ...  

Một lần đến thăm gia đình người em trai, chú ấy nhờ tôi trả giúp người dì mấy quyển sách. Trong đó có hai quyển sách của Chân Hiền Tâm. Chú nói “Lúc này dì Tư đọc toàn sách gì đâu. Sách của cư sĩ viết mà cũng mua, cũng thỉnh về đọc”. Ý chú chỉ thích đọc sách của Sư Ông. Tôi đem sách về trả cho dì, dì nói “Vợ chồng mày có coi thì đem về mà coi, tao nhiều sách quá đọc không xuể”. Tôi đọc hai quyển của Chân Hiền Tâm xong, thấy hay chuyển cho vợ. Vợ thấy hay chuyển cho con. Con thấy hay chuyển cho bạn … rồi quyển Hương Của Người Đã Chết không thấy khứ hồi.

Vừa rồi, hai cha con ngồi trò chuyện, khi nói đến việc học hành và việc làm của cháu. Cháu bèn dẫn chứng trong quyển Hương Của Người Đã Chết rồi nói “Tính gì được khi nghiệp nhân đã có? Đủ duyên rồi nghiệp quả xảy ra”. Tôi không bằng lòng  “Ba nghĩ tác giả nói không có hàm ý bi quan như con. Con đọc lại đi”. “Con sẽ đòi lại đọc. Bạn con mượn rồi chuyền tay nhau đâu mất. Tụi nó cũng thích cuốn đó”. Tôi trả lời “Thôi, để lúc nào ba mẹ đi chùa kiếm mua quyển khác, khỏi đòi”.

Mùng một tết Đinh hợi, vợ chồng tôi đi chùa Đại Tòng Lâm và Thường Chiếu, ghé qua mấy nhà sách ở đây, nhưng không có sách của Chân Hiền Tâm. Sư cô Thường Chiếu nói “Sách của Chân Hiền Tâm ấn tống vừa đủ cho, không dư để bán ở các nhà sách”.

Chủ nhật vừa rồi nhà tôi không về Đất Đỏ mà đi thiền viện Chân Không. Sách của Chân Hiền Tâm cũng không thấy bày ở tiệm sách. Đến nhà khách Tăng, thấy có cuốn Đại Thừa Khởi Tín Luận, hỏi mua thì không bán mà hỏi mượn thì quí Thầy nói sách này chỉ dành cho quí Tăng. Đến Ni viện, quí cô vui vẻ nhiệt tình tìm giúp, nhưng là một bản photo, cũng không phải Hương Của Người Đã Chết mà là Chuyện Xưa Chuyện Nay, do một số phật tử photo, gởi quí cô để cho những người cần đọc, mà cũng chỉ vài quyển. Không hiểu việc làm này có làm buồn tác giả vì vi phạm bản quyền không?

Nhận được quyển sách, liên lạc thông qua địa chỉ người liên kết, không ngờ lại gặp Chân Hiền Tâm. Hội đủ nhân duyên, vừa có sách mà còn có nhiều hơn mong tìm. Cảm ơn Tam bảo … 

Đọc quyển Hương Của Người Đã Chết, đã giúp tôi hiểu hơn về Lý Nhân Duyên của nhà Phật. Đến mục Mẹ, tôi thật sự xúc động khi tác giả nói “Mình trở thành tàn nhẫn cũng vì không thấy được nhân duyên. Mình sống với những qui tắc thánh thiện của mình mà quên đi tâm trạng của người khác … Tôi nghĩ đến tương lai của mẹ, nhưng quên mất hiện tại của bà. Hiện tại liệu có còn không mà nghĩ đến tương lai”. Đọc hết mục này tôi gấp sách lại vì xúc động. Tôi nghĩ đến ba, tôi cảm thấy một niềm cảm thông dâng trào và tôi rơi nước mắt. Tôi mở lòng ra và sám hối bằng bài thơ :

Con đã biết, giờ đây con đã biết
Nỗi khổ đau ba đã chịu trong đời
Khổ cô đơn ba không người chia xẻ
Mượn rượu sầu để làm bạn buồn vui
Vì ngu si con đâm ra oán hận
Nửa đời người không một chút cảm thông
Giờ hối hận (Phật pháp soi con thấy)
Muốn xẻ chia còn đâu nữa mà chia
Thôi con nguyện bây giờ và sau nữa
Trải lòng ra cùng Phật pháp con đi
Để xẻ chia cùng ba và tất cả
Những niềm đau, nỗi khổ của cuộc đời
Biến khổ đau thành an vui hạnh phúc
Chuộc lỗi lầm, tánh vị kỷ đã gieo
Con cũng nguyện cho ba và tất cả 
Gặp Minh sư thật sớm mỗi kiếp người
Để chúng ta sớm hiểu, thương tất cả
Hòa với đời, ta đóng góp an vui

Vũng Tàu, ngày 20.12.06
Chánh Quang Chiếu 

 
  HAI CHỮ MẸ CHA 

 “Có thể, họ đã không yêu bạn như cách mà bạn mong đợi ở họ, nhưng điều đó không có nghĩa là họ không dâng hiến tình yêu của họ cho bạn bằng tất cả những gì họ có”.  [02]

Cha mẹ đã không yêu thương tôi theo cách mà tôi mong muốn. Những năm lên bảy, tôi được gởi vào ở với ông bà để đi học. Tôi không thích cuộc sống không có lũ em chung quanh, không thích buổi chiều ngồi một mình nhìn trời, tính coi giờ này lũ nó đang làm gì với cái sân nóng bỏng đầy đất cát … Không thích nhưng vẫn bị đẩy đi. Khi được chung chạ với lũ em rồi, cuộc sống lại bị hạn chế như những thiếu sinh quân. Tiêu chuẩn xa nhà bị cắt cho ngang với lũ trẻ có gia đình.

Những ngày cha còn sống, mọi thứ đều phải nề nếp. Ăn đúng giờ, ngủ đúng giấc, học hết buổi. Không có chuyện thoải mái như đám trẻ Xóm Mô, có thể nhong nhong tắm mưa ngoài đường, mút cà kem xi rô và đấu láo chí choé. Cũng không thể tự do lớn tiếng hay buông cửa cái rầm khi mẹ đang ngủ. Con cái, có thể được tặng một chiếc đàn đắc giá (bởi nó phục vụ cho việc học hành), nhưng có khi một món đồ chơi không đáng bao nhiêu cũng không được mua. Mỗi đứa được dăm bộ đồ mới cho mỗi năm. Không phải chỉ có tụi tôi, mà mẹ hay cha cũng vậy. Cũng chỉ dăm bộ đồ thay đổi. Nó được mua vào dịp lễ tết và sinh nhật, lấy đó làm tiêu chuẩn cho cả năm dài.

Những năm tiếp theo, cha không còn, nhưng những thứ cha đã làm cho lũ con thì còn đó. Nó trở thành một thứ gì đó ăn sâu trong tiềm thức con trẻ. Có thể đó chính là thứ khiến mình không thể làm gì chỉ vì ý thích của mình. Mình không thể đóng cửa cái rầm hay đi những bước chân thật to khi biết nó làm động đến sự bình yên của người khác. Cũng không thể bỏ tiền mua một chiếc áo mình thích, hay làm điều gì đó phục vụ cho riêng mình khi đồng tiền chỉ lo vừa đủ cho gia đình. Đã quen với việc mặc tới mặc lui chiếc áo trong suốt một năm, thành khi phải mặc hoài một bộ đồ đến nơi nào đó, cũng không khiến mình thấy mặc cảm. Có thì tốt, không thì cũng xong. Thói quen vừa đủ cũng có cái hay của nó, không khiến mình quá bận tâm theo những thứ, mà vì nó mình dễ đánh mất đạo đức tối thiểu của mình.

Giờ làm mẹ, tôi lại yêu con không như cách chúng muốn. Tôi không thể để con tự do tiêu xài mọi thứ khi điều đó không cần thiết. Tôi không thể chìu theo tất cả những gì mà chúng muốn. Khi con vấp ngã, tôi không ôm nó vào lòng xuýt xoa mà khuyến khích nó đứng dậy. Khi muốn con chấm dứt một thói xấu, tôi mắng nó xối xả … Người ta nói tôi không yêu con. Có thể tôi không yêu con theo cách chúng mong muốn, cũng như theo cách mọi người suy nghĩ, nhưng điều đó không có nghĩa là tôi không dâng hiến tình yêu của mình cho con bằng tất cả những gì tôi có.

Tôi tập sống đạo một phần cũng vì chúng. Tôi hạn chế mọi thú vui hiện tại cũng vì chúng. Cuộc sống của tôi trước đây gắn liền với sự bất định bấp bênh. Mười hai tuổi, cha chết. Một cái chết bất ngờ và mọi thứ thay đổi. Ngồi càng cao, té càng đau. Đó là qui luật tất yếu của cuộc đời một khi tâm còn chấp thủ. Hai mươi tuổi ra đời, tiền bạc vào nhiều nhưng đi cũng rất lẹ. Tôi không biết những việc bất ngờ như thế sẽ đến tiếp với gia đình mình vào lúc nào. Ngày vật lộn với công việc, đêm chong mắt lo âu. Sự lo âu khiến giấc ngủ đầy mộng mị. Tôi thấy mình chênh vênh giữa những đầu núi cao mà con thì mỗi đứa vắt mỗi nơi. Tôi bất lực trước những cái chong chênh tối đen dễ sợ. Rồi trong cái chong chênh tối đen ấy, một đóm sáng nhỏ nhoi lớn dần và một hình bóng hiện ra, Hình bóng tôi từng gặp trong quá khứ khi theo mẹ đến chùa. Cái ông bằng đá bự xư chiễm chệ trên cao. Ngày đó ông vẫn cười mỗi khi thấy tôi ngước nhìn. Vẫn nụ cười son đỏ ngày nào, ông nói “Sống đạo, mọi thứ sẽ bình yên”. Tôi thức giấc bàng hoàng. Sống đạo? Tôi phải cạo đầu vào chùa? Vậy thì khác gì người chết. Nhưng dù muốn hay không, tôi cũng tìm cho ra cái gọi là “sống đạo” để giải quyết nỗi lo trong chính mình.

Thật ra, không phải cứ vào chùa mới có thể sống đạo. Đạo ở khắp nơi, trong bổn phận trách nhiệm, trong hơi thở nhiệm mầu, trong công việc chánh niệm, trong nụ cười và nước mắt tha nhân … Đâu mà không có đạo. Chỉ là tại mình không muốn sống mà thôi.

Tôi gác mọi làm ăn chạy vạy. Tiền bạc được gói gọn trong một việc duy nhất vừa đủ, nên không thể đáp ứng nhu cầu của con như những trẻ có cha mẹ giàu có. “Khi đi đâu với tụi bạn, tụi nó chỉ cần bấm ga là xe chạy, còn con đạp hoài cũng không chịu nổ. Lúc đó con muốn khóc. Nhưng con nghĩ có gì đâu, mình phải …”. Đó là lần duy nhất con gái nói với tôi về mặc cảm thua sút chúng bạn của nó. Nói ra được, là nó đã vượt qua được, vững chải với những việc như vậy. Nhưng điều đó không có nghĩa là nó đã chấp nhận việc bố mẹ thu hẹp mọi thứ để “sống đạo”. Tôi lắng nghe như một kẻ bàng quan nhưng lòng buồn vô hạn. Mình có thể thu hẹp mọi thứ nhưng con thì không. Vật chất sung mãn đối với chúng vẫn còn là nhu cầu rất thiết yếu trong cuộc sống. Có thể, khi trở lại đường cũ, tôi cũng lại thất bại, nhưng nó không tạo cho con trẻ cảm giác bị bỏ mặc như bây giờ. Nhưng tôi không trở về, tôi vẫn bám chặt con đường mình đã chọn. Tôi tin một lúc nào đó, mọi thứ sẽ thay đổi, con cái sẽ hiểu những việc tôi làm hiện tại là cách tôi thương yêu chúng nhiều nhất, dù đó là cách chúng không mong đợi ở một người mẹ. 

Bạn có thể trở lại con đường mà bạn đã trải qua biết bao kinh nghiệm để rút chân khỏi đó? Bạn có thể từ bỏ một con đường mà bạn tin nó sẽ đem đến tốt đẹp cho gia đình? Chắc chắc là không. Không ai có thể làm những việc mà mình đã thấy là không kết quả. Biển đời xuôi ngược lo lắng không nguôi. Khách trần dù tấp nập cũng không ngoài danh và lợi. Người dù được hay mất, không ai thoát được biển chết. Nhưng những gì đã gieo, đủ duyên cái quả không thể tránh khỏi. Phú quí hay nghèo hèn cũng chỉ trong biển trầm luân. Sao không tập làm kẻ lái đò, trời trong, gió mát, vui cái vui với kẻ qua đò, còn danh và lợi tay thỏng nhẹ như không?   

Rồi con gái đi du học. Đi như một phép lạ, đi không cần phỏng vấn. Trong khi lũ bạn giàu có vô vàn lại bị kẹt. Cuộc sống của nó chất đầy may mắn và thuận lợi trong những năm du học. Có thể đó là cái quả nó đã gieo từ quá khứ, nhưng phải nhờ những trợ duyên trong hiện đời mới trổ quả ra hoa. Sống đạo, bạn sẽ thấy dững dưng với những thứ như thế. Nhưng nó là thứ giúp con gái hiểu vì sao tôi bỏ tất cả để làm những việc hiện tại. Chỉ vì trong cuộc đời, một chữ tài không đủ, cần phải có cái đức đi kèm. Nhân được gieo thì mới có quả để gặt. Chỉ vì mẹ đã có con đường của riêng mẹ. Mỗi người đều có con đường của riêng mình. Những con đường đã được ấn định từ trước. Nếu muốn thay đổi không phải không được. Song vì sao phải thay đổi khi lệch khỏi nó, mình chỉ thấy thất bại và khổ đau? 

Trước khi con gái về nước, nó nói với tôi “Mọi thứ để con. Bố mẹ cứ tu đi”. 

Cha mẹ đã yêu thương mình không theo cách mà mình mong đợi, điều đó làm mình thất vọng và bất mãn. Nhưng nếu vững vàng được với những thứ  như thế, thì trong những bất trắc thử thách và trên vực thẳm của dục vọng cám dỗ, mình mới thấy hết giá trị của cách yêu thương đó, mình mới biết cám ơn những gì cha mẹ đã làm cho mình. Một triết gia đã nói “Có nhiều cách làm hư con cái. Người ta làm hư tinh thần nó bằng cách khen nó quá lố, làm hư ý chí nó bằng cách cái gì cũng chìu nó, làm hư trái tim nó bằng cách lo lắng tôn thờ nó quá mức”. Thành đừng mong muốn cha mẹ yêu bạn theo cách bạn mong muốn. Cho, là một nhu cầu khi mình yêu thương. Khi yêu thương, ta sẽ cho tất cả những gì người muốn. Nhưng đó không phải là cách duy nhất nói lên tình yêu thương, cũng không phải là cách hay nhất cho kẻ được yêu thương.    

Bạn sẽ chẳng thành công bao nhiêu với những thứ bạn chưa từng qua. Nhưng những gì đã có kinh nghiệm, nó giúp bạn tránh hầm tránh hố dễ hơn. Với tôi, mẹ không phải là người toàn diện. Nhưng những gì bà vấp, chính là những bài học quí giá để con đường mình đi được tròn trịa. Và “Ta chỉ nhận ra giá trị lớn lao về sự có mặt của người mà cuộc đời đã ban cho ta, khi một sớm mai thức giấc, người ấy không còn bên ta nữa …”. Tôi đã không nhận ra những giá trị đó khi mẹ còn sống. Tôi chỉ nhận ra nó khi tôi làm mẹ, khi tôi gặp phải những hoàn cảnh mà mẹ đã gặp. Vì không nhận ra, nên tôi không biết nâng niu những gì mình từng có. Không biết quí tiếc những giây phút hiện tại. Có thể họ đã không yêu bạn như cách mà bạn mong đợi ở họ, nhưng điều đó không có nghĩa là họ không dâng hiến tình yêu của họ cho bạn bằng tất cả những gì họ có. Bạn sẽ nhận rõ điều đó khi họ biến mất khỏi cuộc đời bạn ...
 

Phật dạy báo ân  [03]

Lúc ấy trong đại thành Vương Xá, có năm trăm trưởng giả. Tên họ là Diệu Đức, Dũng Mãnh v.v... Các đại phú trưởng giả này đều đã thành tựu chánh kiến, cúng dường Như Lai và các thánh chúng. Trưởng giả là những vị giàu có và phúc đức vào thời đức Phật, nên gọi là ĐẠI PHÚ TRƯỞNG GIẢ. Các vị này đã thọ tam qui ngũ giới, đã biết qui hướng Tam bảo. Tam bảo là Phật, Pháp và Tăng bảo. Như ngày nay mình đến chùa qui y thọ giới, có pháp danh, cúng dường Tam bảo để Tam bảo được trường tồn ở thế gian. Đều là một trong những biểu hiện của người có chánh kiến. 

CHÁNH KIẾN là cái thấy chân chánh. Từ cái thấy này, mình sẽ có những hành vi tương ưng, mà cái quả của nó là hạnh phúc và an lạc. Vận mệnh mình không do một đấng thượng đế nào định đoạn mà do chính suy nghĩ và hành vi của mình. Có cái nhìn như thế gọi là chánh kiến. Tương tự, những cái thấy như : Bố thí thì có cái quả phú quí. Thâm lạm của người thì bị quả báo tàn mạt. Ở hiền gặp lành v.v… đều là những dạng gọi là chánh kiến. 

Các trưởng giả này nghe Thế Tôn ca ngợi pháp môn tâm địa Đại thừa, mới nghĩ rằng “Ta thấy Như Lai phóng kim sắc quang, biểu hiện khổ hạnh khó hành của Bồ tát. Ta không thích tâm hành khổ hạnh. Ai có thể vĩnh kiếp trụ ở sanh tửø vì chúng sanh thọ các khổ não?”.

Pháp tu nào giúp mình nhận ra mình có trí tuệ và lòng từ như Phật, chỉ vì một chút không tỉnh, chạy theo những suy nghĩ tham ái sân giận mà gây tạo những nghiệp nhân không tốt, khiến thế giới Phật của mình trở thành thế giới nạn tai đau khổ, pháp môn đó gọi là PHÁP MÔN TÂM ĐỊA. 

Không nương vào những nghi thức cầu cúng bên ngoài, chỉ ngay nơi tâm mà tu, niệm sân khởi lên biết đó là niệm sân, dừng lại. Niệm tham nổi lên BIẾT đó là niệm tham, dừng lại. Bất cứ niệm nào hiện lên trong tâm mình đều BIẾT. BIẾT đến khi nhận được bản chất thực của nó, cũng như bản chất thực của vạn pháp ở thế gian. Đó là lúc ta nhận được tâm chân thật của chính mình, tu vậy là mình đang áp dụng PHÁP MÔN TÂM ĐỊA.

KIM SẮC QUANG, chỉ cho quang minh sắc vàng tỏa ra từ người Phật. Quang minh đó là kết quả có được từ quá trình hành Bồ tát đạo, trải dài sanh tử làm lợi ích cho những người hữu duyên, cũng là quá trình thanh lọc những nhiễm ô vi tế trong tàng thức. Vì thế nói “Ta thấy Như Lai phóng kim sắc quang, biểu hiện khổ hạnh khó hành của Bồ tát”.

Phật nói “Giàu sang mà chịu học đạo là khó”.  [04] Giàu sang mà chịu bỏ thì giờ đến chùa, chỉ để cúng dường xây chùa độ tăng, là đã thấy khó, huống là chịu đọc học kinh sách rồi ứng dụng nó vào cuộc sống thường nhật của mình. Phật nói khó, vậy mà các trưởng giả nói đây đều làm được, thì biết chủng nhân Phật pháp các vị từng gieo trong quá khứ rất thâm sâu. Chính vì chủng Phật pháp đã thâm sâu, Phật mới giảng pháp Đại thừa và Nhất thừa cho chư vị nghe. Có điều, do phước báu đời nay lớn quá, đời sống vật chất lẫn tinh thần quá sung túc, nên hạt giống Phật pháp trong các vị … bị che lấp. Nghe hành Bồ tát đạo, trải dài sanh tử học đạo, cứu giúp muôn người, người đói cơm cho cơm, người đói pháp cho pháp v.v… Các vị sinh tâm e ngại. Đây là chuyện thường tình ở thế gian. Bồ tát ra đời cách ấm còn mê. Gốc là Bồ tát, nhưng cứ một lần mất thân trước có thân sau, mình lại quên cái gốc của mình. Phải gặp thiện tri thức, nghe pháp v.v… mình mới dần dần nhớ lại và thực hiện tiếp hạnh nguyện mình đã làm trong quá khứ.     

Nghĩ vậy rồi, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, quì xuống trước Phật, chấp tay cung kính cùng bạch Phật rằng : Bạch Thế Tôn! Chúng con không thích Bồ tát hạnh của Đại thừa, cũng không hoan hỉ khi nghe hai từ khổ hạnh. Vì sao? Vì hạnh nguyện tu hành của Bồ tát không phải là biết ân và báo ân. Vì sao? Vì xa lìa phụ mẫu hướng về xuất gia. Vì theo ý muốn của người mà đem cho vợ con. Lại theo chỗ ưa cầu của người mà bố thí đầu mắt tủy nảo của mình, chịu các khổ não. Phải đến ba a tăng kỳ kiếp tu đủ các độ và tám vạn bốn ngàn hạnh ba-la-mật, vượt giòng sanh tử mới được cái lạc của đại bồ đề. Chẳng bằng thú hướng đạo quả Nhị thừa, ba đời trăm kiếp tu tập tư lương,  [05]đoạn nhân sanh tử, chứng quả niết bàn, chóng được an lạc, mới gọi báo ân.

Các vị trưởng giả nêu lý do vì sao các vị không thích tu Bồ tát hạnh. Có hai lý do :

1. Với những việc mà Phật đã làm, thì hành Bồ tát đạo là quá khổ và quá khó.  

2. Vì các hạnh mà một vị Bồ tát làm không phải là biết ân và báo ân. 

Vì khổ hoặc cảm thấy bất an trong cuộc sống, mình mới tìm đến đạo. Đến với đạo là để có một cuộc sống hạnh phúc từ vật chất đến tinh thần. Giờ tu hành rồi, tu một thời gian đầy đủ phước báu rồi, lại nghe Phật dạy phải hành Bồ tát đạo, phải trải dài từ đời này sang đời khác làm lợi lạc cho chúng hữu tình. Tu vậy thì tu chi cho cực? Chính vì vậy các vị phản đối.

Phật nói ân nghĩa trên đời không gì sánh được với công cha nghĩa mẹ. Giờ muốn làm Bồ tát thì phải xuất gia học đạo mới có thể làm Bồ tát (như đức Phật vượt thành, bỏ cha tha phương tìm đạo rồi hành đạo). Nhưng làm vậy thì thứ nhất, cha mẹ để nhà không ai cung phụng nuôi dưỡng sớm hôm. Thứ hai, làm vậy cha mẹ sẽ buồn lòng. Vì ngoại trừ những vị thâm hiểu Phật pháp, còn lại không bậc cha mẹ nào đẻ con ra, nuôi con khôn lớn, mà muốn nó bỏ mình cạo đầu vô chùa ăn chay nằm phản, hạn chế mọi thú vui ở đời. Do đó các vị nói hành Bồ tát đạo là không biết ân và báo ân.

ĐEM CHO VỢ CON là sự tích đức Phật, trong một kiếp làm thái tử, thực hành hạnh nguyện bố thí ba-la-mật. BỐ THÍ BA-LA-MẬT là ai xin thứ gì, cho liền thứ đó, cho đến khi không còn gì để cho. Thái tử xin vua cha mở kho báu để mình được bố thí bất cứ vật gì mà người ta xin. Vua cha đồng ý. Vì ai xin gì cũng cho, nên cho luôn voi báu của vua cha. Vua tưởng ai xin gì cũng cho, là chỉ cho vàng bạc châu báu thóc gạo, không ngờ voi quí của mình nó cũng đem cho. Giận thằng con tự thị và ngu si, vua đuổi thái tử ra khỏi cung. 

Phu nhân thái tử là người lễ nghĩa, dù thái tử nói “Ta phải bố thí tận cùng những gì mình có cho tròn hạnh nguyện” và không muốn mang bà theo, bà vẫn một mực chấp nhận tất cả để theo chồng thọ pháp. Vợ chồng cùng hai con lên đường … Trên đường, các Bà-la-môn lại tiếp tục đến xin. Thái tử rộng tay bố thí luôn cả ba mẹ con, để thực thi hành nguyện bố thí ba-la-mật của mình. 

Vợ con, nếu nghịch đạo dữ dằn ác ôn, thiên hạ xin mà nhờ đó mình đắc đạo thành Phật, thì không đợi Phật dạy, mình cũng sẵn sàng. Nhưng vợ con ngoan hiền, ân nghĩa đầy tràn, tự dưng chỉ vì sự thành đạo của mình mà đem cho thiên hạ, phải nói là bất nhẫn. Song không bất nhẫn như thế, không buông xả được tận cùng như thế, thì đời này không có Phật, không có giáo pháp của Phật. Chúng sanh chìm trong biển khổ vô vàn. Sự hy sinh phải nói là to lớn. 

BỐ THÍ TỦY MẮT … THEO CHỖ ƯA CẦU CỦA NGƯỜI là do nghe sự tích : Trong một tiền kiếp, khi Phật còn hành Bồ tát đạo, ngài là một vị vua ở cõi Diêm-phù-đề, tên là Chiên-đàn-bà-la-tỳ, cũng đang thực hành hạnh bố thí ba-la-mật. 

Lúc đó có một Bà-la-môn tên Lao Độ Sai đến xin vua bố thí, không phải vật dụng châu báu mà chính là đầu của nhà vua. Ai nghe cũng hoảng, nhưng nhà vua thì bằng lòng. Mọi người cản ngăn, nhưng ông giải thích “Con người vì bị tình ái từ kiếp lâu xa trói buộc, nên bị ách sanh tử bức bách. Từ vô thủy kiếp đến nay, sống chết không biết bao lần, lúc trong nước phân tro, khi lại ở hố than, chết đây sanh kia. Thân ta đây, máu tanh huyết nồng, một ngày nào đó cũng tan rả, có gì luyến tiếc mà không xả bỏ để tu lấy pháp chân thường tịch tĩnh. Ta bỏ cái đầu này để thực hành hạnh nguyện Bồ tát. Sau khi thành đạo, ta sẽ hóa độ các ông thoát khỏi cái khổ sanh già bệnh chết”. Nói rồi ban đầu cho Lao Độ Sai mà không hề viện cớ mình là người đức độ, mình sống muôn dân mới được nhờ, mình chết ai độ muôn dân v.v... Đã nói cho là cho tất, dù đó là thân mạng mình.

Tu mà đụng ai xin thứ gì cũng cho như vậy, đang khổ nghe còn ngán, huống là các vị đang sống trong giàu sang sung sướng. Phản đối là chuyện thường tình.

Song hai hình tượng trên chỉ là những hình tượng bên ngoài, nói lên thân tâm bên trong đã hết chấp trước nhiễm ô. Nghĩa là, muốn thành Phật thì tâm hết nhiễm ô mới là chính, không phải cứ cho vợ con hay bố thí thân mình, là đã thành Phật. Nếu chỉ lấy hình tướng bên ngoài đó làm tiêu chuẩn đánh giá vấn đề thành Phật, thì những chàng cảm tử Irad đều thành Phật. Nhưng chắc chắn mấy ông đó không thể thành Phật. Những hình tượng đó chỉ muốn nói lên sự thanh tịnh, không còn dính mắc của thân tâm. 

Cho nên, cuối kinh, Phật có nêu lên 3 loại ba-la-mật. Loại thứ nhất là Bố thí ba-la-mật, chỉ cho hình ảnh thứ nhất, là bố thí những thứ ngoài thân. Loại thứ hai là Thân cận Ba-la-mật, chỉ cho hình ảnh thứ hai, là bố thí những thứ ngay thân. Còn một loại nữa là Chân thật ba-la mật, là sống được với tâm chân thật của mình. Phật muốn Phật tử phải báo ân theo kiểu thứ ba. Sẽ được giải thích ở cuối kinh.  

Nếu có một pháp tu mà áp dụng nó, thân tâm mình hết nhiễm ô, thì mình chỉ cần áp dụng pháp tu đó, không cần phải cho vợ con hay chính bản thân mình. Vì thành Phật hay không chính là ở tự tâm còn nhiễm hay không, không phải ở những hình tướng bên ngoài. Gia đình cư sĩ Bàng Long Uẩn, vợ con vẫn xum vầy, nhưng cả ông và hai con đều ra đi rất tự tại. Vì tuy còn vợ con, nhưng đời sống vợ chồng, tình cảm ràng buộc con cái đã không còn, tâm không còn dích mắc bất cứ thứ gì.     

ĐẠO QUẢ NHỊ THỪA, là chỉ cho các quả vị có được mà không cần hành Bồ tát đạo. Chỉ cần chịu ngồi một mình trong chốn tĩnh lặng và thiền định. Nhập được trạng thái thiền định của hàng La Hán thì thoát được sanh, già, bệnh, chết, hưởng được sự an lạc vô biên.

Tóm lại, các vị trưởng giả không thích tu pháp Đại thừa. Vì với cái nhìn của chư vị, tu Đại thừa quá khổ. Nếu phải tu thì cùng lắm là tu theo Nhị thừa, thoát cái khổ sanh già bệnh chết. Tức đã tu thì chỉ có tiến tới, vui ít tiến lên vui nhiều, không thể nhảy từ chỗ đang vui lùi lại chỗ khổ cực. Chắc ai cũng đồng tình với các vị trưởng giả đây. 

Phật nói với 500 trưởng giả : Lành thay! Lành thay! Các ông nghe tán thán Đại thừa, tâm sinh thối chuyển phát khởi đại nghĩa, khiến cho tất cả chúng sanh không biết ân nghĩa trong thời vị lai đều được lợi ích an lạc. Thuyết pháp, người nghe phản bác, Phật không bực mình mà còn tán thán “Lành thay!Lành thay! Các ông nghe tán thán Đại thừa, tâm sinh thối chuyển phát khởi đại nghĩa …”. Không phải khen vì các vị phản bác, cũng không phải khen vì các vị nghe tu Đại thừa sinh tâm thối chuyển. Khen, vì nhờ sự thối tâm đó, Phật mới biết được lý do thối tâm mà giải thích, giúp người ở thời vị lai, là những người như mình đây, chưa hiểu về báo ân có cơ hội hiểu nó rõ ràng.

Lắng nghe, lắng nghe rồi khéo suy nghiệm! Ta nay vì ông phân biệt tuyên thuyết những chỗ ân nghĩa thuộc cả thế gian và xuất thế gian. Này thiện nam tử! Chỗ nói của các ông chưa đáng là chánh lý. Vì sao? Vì ân nghĩa ở thế gian và xuất thế gian có 4 loại : 
1. Ân cha mẹ. 
2. Ân chúng sanh. 
3. Ân tổ quốc. 
4. Ân Tam bảo.
Bốn ân đó, chúng sanh đều phải đảm đương như nhau. 

Lắng nghe lắng nghe là muốn người nghe để tâm nghe cho kỹ. Nghe thế nào hiểu đúng thế ấy, đừng phân tâm để chữ thì tới tai, chữ lại không, khiến vấn đề trở thành sai lệch. 

CHƯA ĐÁNG CHÁNH LÝ, là các vị mới biết một mà chưa biết hai. 

ÂN không phải chỉ có ân cha mẹ, mà có đến bốn : Cha mẹ, chúng sanh, tổ quốc và Tam bảo. Tất cả mọi người đều phải có bổn phận đền đáp những ân này.

BÁO ÂN không phải chỉ có một mà đến hai. Không phải chỉ có dùng phẩm vật, công sức v.v… thuộc thế gian mới gọi là báo ân, mà còn có cách báo ân xuất thế gian. Cách báo ân này mới thật là báo ân, mới có thể báo hết 4 ân trên. Nó vượt xa cách báo ân thế gian.


ÂN PHỤ MẪU 

Này Thiện nam tử! Ân phụ mẫu là : Cha có từ ân, mẹ có bi ân. Bi ân của mẹ, nếu ở thế gian một kiếp thuyết cũng không hết. Ta nay vì ông chỉ nói ít phần. Giả như có người vì cầu phúc đức lấy chiên đàn trầm hương lập các phòng xá, dùng muôn báu trang nghiêm v.v… cung kính cúng dường cho 100 đại Bà-la-môn tu tịnh hạnh, 100 đại thần tiên có ngũ thông, 100 thiện hữu v.v… nhất tâm cúng dường như thế mãn đến ngàn kiếp, không bằng một niệm trụ tâm hiếu thuận, dùng chút sắc vật cúng dường bi mẫu, tùy thời cung phụng hầu hạ. So với công đức trước, dù có trăm ngàn vạn phần cũng không sánh được.

NHẤT TÂM, là một lòng hướng về đó. 

MỘT NIỆM TRỤ TÂM HIẾU THUẬN là có tâm hiếu thuận dù chỉ một tíc tắc ngắn ngũi.

DÙ ... CŨNG KHÔNG SÁNH ĐƯỢC, thì biết cái nhiều phải thua cái ít. Tức dùng một chút phẫm vật phụng dưỡng hầu hạ cha mẹ, phước đức nhiều gấp bội so với việc dùng trân châu mã não cúng dường cho các thần thánh ngàn kiếp. Cho nên, muốn cầu phú quí phúc lộc không gì bằng thật lòng phụng dưỡng cha mẹ cho đầy đủ. Phụng dưỡng cha mẹ đầy đủ thì phúc lộc dư giả là chuyện đương nhiên.

Phần sau là nêu lý do vì sao phụng dưỡng cung kính cha mẹ lại được phúc lộc như thế.  

Bi mẫu thế gian nghĩ tưởng đến con không gì sánh được. Từ lúc thọ thai cho đến mười tháng, đi đứng nằm ngồi chịu các khổ não không thể nào nói. Dù được bao thứ dục lạc, y phục, đồ ăn thức uống cũng không sinh thích. Một lòng lo lắng nghĩ tưởng đến con. Khi sắp sinh sản, phải chịu các khổ ngày đêm không dứt. Chẳng may sinh khó, như trăm ngàn dao cắt xẻ. Bằng không khổ não, người thân kẻ thuộc vui vẻ vô cùng. Như kẻ bần cùng được châu như ý. Nghe tiếng của con như nghe âm nhạc. Lòng mẹ là chỗ nghỉ ngơi. Ngực mẹ tuông suối cam lồ. Ân trưởng dưỡng che khắp trời đất. Đức thương yêu bao la khó  bì. Chỗ cao ở thế gian không gì hơn núi, ân của bi mẫu vượt cả Tu di. [06] Cái trọng ở thế gian đại địa là đầu, ân của bi mẫu còn hơn cả đó. 

Đây là nói về BI MẪU. Vì những việc nêu ra đó mà con cái khó đền đáp cái ân của bà.

Nếu nam nữ nào bội ân không thuận, khiến cha mẹ sinh niệm ai oán, mẹ phát lời ác con liền theo đó mà đọa, có khi rơi vào địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh. Sự mau chóng ở thế gian không gì bằng gió mạnh, biểu hiện của ai oán cũng nhanh như thế. Tất cả Như Lai cho đến tiên nhân có đủ ngũ thông v.v… đều không thể cứu. 

Đây, nói về cái quả mà con cái phải chịu khi khiến cha mẹ mình sinh niệm ai oán. Phật trời không thể cứu. Thật ra, thứ gì ở đời cũng có nhân duyên. Ngày nay con cái không hiếu thuận với mình, một phần là do cái nhân mình đã gây ra trong kiếp trước, không hoàn toàn lỗi ở con cái. Nhưng hiện tại nếu nó không hiếu thuận, nó lại phải chịu cái quả của việc không hiếu thuận đó. Nhân quả trói buộc người ta theo kiểu đau khổ như vậy. Thành đã thật là bi mẫu, thương con, mình nên tỉnh giác vào những lúc thế này. Nếu con lỡ khiến mình buồn, thì biết đó là do cái nhân mình đã gây ra trong quá khứ. Cố gắng tỉnh giác, buông đi những niệm oán hận sầu khổ. Bình tâm được thì nghiệp cũ sẽ qua. Phước đức đủ rồi, dù con bất hiếu bao nhiêu, cũng sẽ trở thành ngoan hiền hiếu mực. Còn cứ để mọi thứ theo dòng nghiệp lực, giận lên là buộc miệng rủa con, thì không phải chỉ có con khổ mà mình cũng khổ lây. Vì một lời ai oán của mình, con liền đọa địa ngục v.v… Đừng nói địa ngục, chỉ cần hiện đời nó nghèo túng khốn khổ hay mắt bệnh hiểm nghèo là mình đã đủ đứt ruột không yên. Thành cần phải cẩn thận với tâm thức và khẩu nghiệp của mình. 

Nhiều khi giận quá, nói cho hả giận, nhưng cái hả giận của mình có khi rút lại không kịp. Thành giận bao nhiêu cũng gắng tỉnh giác, đừng để tâm thức phát khởi. Người gặp họa mình cũng họa theo. 

Có những chuyện, mình tưởng đó là bình thường, nhưng đọc kinh đọc luận rồi mới biết nó không bình thường chút nào. Song kinh luận là thứ phải đủ phước báu, mình mới nhận được. Phật nói “Gặp được kinh luận là khó”. Không đủ phước báu, không gặp được kinh luận mà đọc. Không đủ phước báu, kinh luận có tới tay, cũng không muốn đọc. Thành gặp được kinh luận để đọc, hiểu, và áp dụng vào đời sống thường nhật của mình là một phước báu rất lớn. Thành bố thí pháp là loại bố thí có công đức lớn nhất trong các loại bố thí.

Nếu nam nữ nào theo lời mẹ dạy, vâng thuận không trái, chư thiên hộ niệm phúc lạc vô biên. Nam nữ như thế là hạng trời người tôn quí. Bằng không cũng là Bồ tát vì độ chúng sanh, hiện làm nam nữ để khiến mẹ cha được nhiều lợi ích. 

Thuận theo lời cha mẹ không làm cha mẹ buồn lòng sẽ được phúc lạc vô biên. Nhưng nếu cha mẹ bảo mình giết người thì sao? Theo nhân quả mà nói thì một nhân, đủ duyên sẽ cho ra một quả tương ưng. Phật đã nói có, thì cái quả từ cái nhân nghe lời ấy nhất định sẽ có. Do sự hiếu thuận, cái phúc ấy vẫn có. Nhưng bù lại, cha mẹ giết người và mình giết người lại có cái quả của việc giết người. 

Một lần, có người hỏi Hòa thượng “Cha mẹ con muốn ăn cá mà phải làm khi nó còn sống. Con học đạo, biết việc đó không tốt, nhưng trái ý thì cha mẹ buồn, mang tội bất hiếu. Vậy nếu làm thì có tránh được báo nghiệp sát sanh không?”. Ở đây tôi không thể lập lại nguyên văn lời Hòa thượng đã nói, cũng không nhớ nó nằm trong cuốn băng nào để trích được nguyên văn câu trả lời, chỉ xin ghi lại ý chính mà Hòa thượng đã dạy : Nếu vì chữ hiếu thì làm cho cha mẹ ăn. Nhưng không vì cái hiếu đó, mà nghiệp quả sát sanh có thể tránh được. Có nhân rồi, đủ duyên quả vẫn xảy ra. Cho nên, đây Phật nói “Được phúc vô biên”, thì phải hiểu cái nhân NGHE LỜI đó, phải đi liền với một duyên thiện. Còn không, cái phúc ấy không thể trọn vẹn. 

Cho nên, cái phước lớn nhất của con người là cha mẹ con cái đồng biết đạo và sống đạo. Có biết đạo thì mới biết cái gì nên tránh, cái gì nên làm. Có biết đạo thì mới biết khuyên cha mẹ không gieo nhân xấu. Con cái cũng không vì những đòi hỏi không đúng của cha mẹ mà phải khó xử hay lãnh những cái quả bất hạnh. Cha mẹ cũng không vì những mong muốn không đúng của mình, khiến đứa con hiếu thuận phải chịu những nghiệp quả không tốt, bản thân mình cũng bị cái quả không hay, làm đau lòng đứa con hiếu hạnh. Đây là lý do vì sao, Phật khuyên chúng ta nên cúng dường Tam bảo. Là để có cái duyên gặp được chánh pháp, hiểu và sống chân chánh, cuộc sống của mình mới hạnh phúc.     

Thiện nam tử, thiện nữ nhân nào vì muốn báo ân cha mẹ, trải qua một kiếp, mỗi ngày ba thời cắt thịt của mình dâng hiến cha mẹ cũng không báo nổi cái ân một ngày. Vì sao? Vì khi còn ở trong thai, máu mẹ dưỡng nuôi các căn[07] . Khi ra khỏi thai, sữa mẹ dưỡng nuôi ngàn trăm vạn đấu. Mẹ được vị ngon trước dành cho con. Quần áo đẹp đẽ cũng lại như vậy. Xưa có nữ nhân đi đến nước khác, ôm con vượt sông Căng-già. [08] Chẳng may nước lớn, ôm con lội sông không được. Vì niệm thương con không bỏ, cả hai cùng chết. Do lực thiện căn của từ tâm đó, bà được sinh lên cõi Sắc Cứu Cánh làm Đại Phạm Vương. Từ các nhân duyên trên, bi mẫu có được 10 đức : 

1. Như đại địa : Khi còn trong thai, bụng mẹ là chỗ y tựa cho con, dưỡng con như đất dưỡng cây. 

2. Trải qua các khổ mà vẫn sinh nở.

3. Thường dùng tay mẹ chỉnh lý ngũ căn.  

4. Tùy thời trưỡng dưỡng con cái : Hạ thì làm mát, lạnh thì mặc ấm, đau thì nuôi cháo v.v…  

5. Khéo nhờ phương tiện mà sinh trí tuệ : Trí tuệ phát sinh từ kinh nghiệm đối với con cái. Biết lúc nào cần nhẹ nhàng, lúc nào cần nghiêm khắc v.v… khiến con được nên người.

6. Dùng anh lạc trang sức cho con : Xưa, ở Ấn Độ, không kể là nam hay nữ, nếu đủ khả năng, đều dùng chuỗi anh lạc trang sức cho mình. Muốn nói mẹ hay dùng mọi thứ đẹp tốt trang sức cho con . 

7. Lòng mẹ là chỗ nghỉ ngơi an ổn : Mẹ là chỗ che chở khi con còn nhỏ, là chỗ dựa tinh thần khi con đã lớn.  

8. Khéo dùng phương tiện dẫn dạy con thơ : Dạy con hiếu nghĩa, đạo đức làm người v.v… 

9. Dùng lời thiện xả bỏ các ác : Khuyên răn nhắc nhở con trẻ tránh xa các ác nghiệp. Thường những đứa trẻ có những suy nghĩ và hành động hàm hồ như người lớn trong rất dễ thương. 6 tuổi, nhưng con bé có những cử chỉ và lời nói như bà chủ đầy uy quyền khi nói huyện với chị bếp. Trông thật ngộ nghĩnh đáng yêu. Nhưng mỗi lần con trẻ có những hành động như thế, mà mình vui cười tán thưởng, là mình đang để con trẻ phát triển một nhân bất thiện. Cũng như khi thấy con trẻ dí chết một con kiến hay bẻ cánh con gà một cách thích thú, mà mình không ngăn cản, không giải thích, là mình đang giúp cho nghiệp sát ở con trẻ lớn dần. 

10. Giao phó gia nghiệp cho con.

Trên, Phật kể ra 10 đức mà mọi BI MẪU đều có. Được 10 đức này chính là BI MẪU. Gọi là đức vì 10 việc này thuộc thiện nghiệp, đưa đến quả báo lành. Thường thì nhân cách của một đứa con liên quan đến mẹ nhiều hơn cha, vì sự chăm sóc, gần gũi … nên Phật nêu mẹ có 10 đức. Nếu cha là người săn sóc lo lắng cho con, thì ân đức đó dành cho cha. Hoặc không riêng vị nào.       

Này thiện nam tử! Ở thế gian, thứ gì giàu nhất? Thứ gì nghèo nhất? Bi mẫu còn, là giàu nhất. Bi mẫu không còn, là nghèo nhất. Bi mẫu còn, là trời giữa trưa. Bi mẫu mất, là trời tắt nắng. Bi mẫu còn, là đêm trăng sáng. Bi mẫu mất, là đêm không trăng. Cho nên, các ông cần tăng tu hành, hiếu dưỡng mẹ cha. Phúc đức đó không khác người cúng dường Phật. Phải biết báo ân cha mẹ như vậy.

Ca dao thường nói :
Còn cha gót đỏ như son
Đến khi cha chết gót con như bùn

Cha nếu là trụ cột vững chắc của gia đình thì khi ông mất, mới thấy cái son hóa bùn này thế nào. Khi cha mất, tôi 12 tuổi. Ngoài những đêm nằm canh quan tài, ruột quặn lên quặn xuống không có lý do, tôi không thấy có gì để buồn hay đáng khóc. Nhưng cậu em 10 tuổi thì khác, nó hình dung “Bà Tiên! cuộc đời mình từ nay khác rồi”. Đúng là mọi thứ đổi khác rất nhiều dù mẹ cố còng lưng lo đủ cho con, để mọi thứ vẫn y nguyên. Nhưng không thể y nguyên, khi quyền lực và tiền bạc là thứ gắn liền với cha. Cha đi nó cũng theo.

Mẹ còn, dù mình lớn bao nhiêu, giấc ăn miếng ngủ, mẹ cũng lo. Mẹ mất, mọi thứ trở thành trơ trụi. Muốn sắm một cái áo, muốn mua một thỏi son … cũng không còn ai để mua ... 

Cho nên, từ phụ và bi mẫu còn, là phước đức rất lớn của con cái.   

Cúng dường phụng dưỡng mẹ cha, phước ngang bằng với việc cúng dường đức Phật. Cho nên, những ai đối với cha mẹ hiếu nghĩa vuông tròn, sẽ luôn được giàu sang phú quí, phúc lộc vun đầy. Chưa giàu sang phú quí, chẳng qua vì còn bị những nghiệp quả trong quá khứ chi phối. Nghiệp quả đó trả xong, nhất định sẽ giàu sang phú quí.


ÂN CHÚNG SANH

Này thiện nam tử! Từ vô thủy kiếp đến nay, tất cả chúng sanh luân chuyển trong 5 đường,[09]  trải qua trăm ngàn kiếp, nhiều đời làm cha mẹ của nhau. Vì làm cha mẹ của nhau nên tất cả người nam đều là từ phụ, tất cả người nữ đều là bi mẫu. Trong những đời trước đã có đại ân, không khác với ân cha mẹ hiện đời. 

Đây là Phật giải thích để hiểu vì sao đối với tất cả mọi loài, từ con người cho đến con vật đều có ân với mình. CHÚNG SANH là chỉ cho tất cả mọi loài, ngoại trừ Phật. Vì Phật là một chúng sanh đã thành Phật, nên không gọi chúng sanh nữa mà gọi là Phật. Vì từ VÔ THỦY KIẾP đến nay, là từ cái thuở xa xưa ngút ngàn cho tới bây giờ, mình đã không biết bao lần thay thân đổi dạng. Có khi làm trời, có khi làm người, có khi làm trâu, làm mèo v.v… Trong quá trình làm người và súc vật, muốn có thân đều phải có mẹ cha. Không có công sinh thành thì có công dưỡng dục. Tuy có những bậc cha mẹ ân nghĩa không tròn, bỏ mặt con thơ. Nhưng một khi đã gọi là TỪ PHỤ và BI MẪU, thì dù là một con vật, tình cảm của nó dành cho con không khác con người. 

Con mèo nhà tôi, không biết từ đâu tới, nhưng mỗi lần sinh con, nó đều chui tọt vào kho đựng đồ. Thấy bóng mình, nó liền nhe răng. Một lần, nó đeo cứng hai chân đức ông nhà tôi bằng mười cái vuốt và cả bộ răng, chỉ vì anh lần vào kho dọn đồ.

Đói bao nhiêu, nó vẫn cho con bú. Hai đứa con càng lớn càng rúc dữ. Nó càng phờ phạc tan thương. Nhìn cái vẻ ẩn nhẫn chịu đựng của nó, mình thấy tình thương nó dành cho con không khác con người. Cơm cũng nhường, thịt cũng chia. Mèo hoang, một năm sinh mấy lượt, mình kham không nổi. Chúng lớn, mình bắt cho người ta. Nhưng nó quên, thì đến giờ cơm nó gọi. Nó nhớ, nửa đêm rảo quanh, rồi lần vào kho tìm kiếm. Tiếng kêu nghe não nuột …

Hai con mèo đó, mang cho hay ở lại, nó cũng không biết gì đến ân nghĩa của mẹ mà đền đáp. Đói mà không thích ăn thì rúc vào bú. Bú đến mèo mẹ phát bệnh cũng cứ bú. Lớn chút nữa, vì miếng ăn có khi lại chiến đấu với cả mẹ mình. Nên Phật nói : Ân xưa như thế còn chưa đáp được, có khi nhân nơi vọng nghiệp mà sinh nghịch thuận, do vì chấp trước mà thành oán thù. Nghiệp không phải là thứ có thật. Phải gieo nhân mới có quả, không gieo nhân thì không có quả, nên gọi là VỌNG. Nghiệp đó có thể chuyển đổi, nên gọi là VỌNG NGHIỆP. Như con mèo thì vọng nghiệp là chỉ cho cái nghiệp mèo. Vì gây tạo cái nhân ác ôn nên mới đầu thai làm mèo. Vì bị nghiệp mèo chi phối, nên ngu si tối tăm không biết mẹ mình hy sinh, lo lắng, cực nhọc thế nào, chỉ nghĩ đến miếng ăn của riêng mình. Cũng vì cái nghiệp ngu si đó mà có khi gây ra những việc không đúng. Tranh dành, đánh nhau với mẹ. Nếu mèo mẹ cũng ngu si như mèo con, không biết buông xả như tình mẹ của con người, trở lại oán thù, thì như đây nói “Do chấp trước mà thành oán”. Đó là chỉ ngay kiếp này mà biện. Song nhân quả không phải chỉ có trong một đời mà nối tiếp vô cùng vô tận. Nếu mình không tỉnh giác chấm dứt thì nỗi oán hận cũng vô cùng. 

Vì sao? Vì vô minh che chướng túc trụ trí minh, nên không rõ đời trước từng là cha mẹ, để báo ân làm lợi ích cho nhau. Không làm lợi ích, gọi là bất hiếu. Vì nhân duyên đó, mọi loài chúng sanh trong tất cả thời đều có đại ân thật khó đền đáp. Việc như thế gọi là ân chúng sanh.

Hỏi VÌ SAO là để giải thích phần trên. 

TÚC TRỤ TRÍ MINH, là chỉ cho túc mạng minh, là cái trí có thể nhờ đó mà ta thấy được các đời trước của mình và người. Người thường tình, vì bị vô minh che ám, không sử dụng được cái trí đó, nên không thể thấy quá khứ của mình. Không thấy được có khi người làm mình bực trong hiện tại lại là cha mình trong kiếp trước, có khi người làm mình khổ trong hiện đời, lại là vợ mình trong những kiếp trước v.v… Mình không thấy được tiền kiếp nên với người làm mình ghét thì mình bực, người làm mình khổ thì mình oán. Từ cái ghét và oán đó mà xảy ra bao chuyện tranh tàn.

ÂN CHÚNG SANH Phật biện trên đây là dựa vào nhân duyên cha mẹ mà biện. Đó là một trong các duyên khiến mình phải mang ân chúng sanh. Còn