Cho
hay giọt nước cành dương
Lửa
lòng rưới tắt mọi đường trần duyên
Nguyễn
Du
Đúng
vào hôm tôi vừa ở Phật Học Đường Báo Quốc về thì Vĩnh
đến thăm. Anh đến mang cho tôi một chồng sách Phật viết
bằng tiếng Pháp mà anh mới gởi mua ở tận xứ xạ Anh cũng
không quên mang tặng chú Tâm Mãn một cuốn tự điển Pháp
Việt mới xuất bản, bởi vì anh biết chú Mãn đang cần cuốn
này để học thêm Pháp văn.
Vĩnh
cười nói với chú Mãn:
- Pháp
văn của chú đã khá lắm rồi đấy. Truyện của Alphonse Daudet
mà chú có thể đọc không cần tự điển rồi cơ mà. Nhưng
mà Hán văn của tôi còn tệ lắm. Học chóng quên quá. Chẳng
biết bao giờ tôi có thể đọc được sách Hán văn như các
chú.
Tôi
cũng cười:
- Anh
chẳng lọ Cứ chịu khó theo phương pháp của tôi đã bày
cho mà học. Với cái thông minh của anh, có lẽ chẳng bao lâu
anh vượt được cả chú Mãn nữa đấy.
Vĩnh
thông minh thật. Độ tôi còn ở chùa (chưa được vào nội
trú Phật học đường), mỗi tuần anh đến hai lần học với
tôi; thế mà chỉ trong vòng ba tháng thôi, anh đã có thể đọc
nhấp nhem được quyển “Phật giáo sơ học khóa bản” viết
bằng chữ Hán. Anh học chữ Hán bởi vì anh cố công muốn
nghiên cứu giáo lý đạo Phật. Gần đến kỳ thi tú tài phần
hai rồi mà anh vẫn không bỏ Hán văn. Anh bảo:
- Đậu
hay không đậu chả cần lắm. Cần giỏi Hán văn để mà nghiên
cứu đạo Phật cho được đã.
Người
thanh niên vui tính ấy đã xem chúng tôi hơn cả anh em ruột
thịt. Chúng tôi quen biết anh trong một trường hợp khá đặc
biệt. Nụ cười của Vĩnh thật có duyên. Khuôn mặt anh sáng
sủa, thông minh. Đôi mắt hiền dịu, bộc lộ được cả
những cảm tình thành thật của anh. Anh rất vui tính. Trong
giọng nói ấm áp của anh thỉnh thoảng được điểm thêm
một tiếng cười trong trẻo.
Sáu
tháng đã qua, từ ngày chúng tôi biết anh. Chú Mãn rất có
cảm tình với Vĩnh. Vài ba hôm không thấy anh tới, chú đã
nhắc. Bởi vì Vĩnh thành thực, dễ thương và vui tính lắm.
Nói chuyện với anh, ai cũng mến ưa anh. Ấy thế mà cậu con
trai kia đã có lần chán đời, suýt “cắt tóc đi tu” cơ
đấy. Viết chuyện riêng của anh lên đây, không biết Vĩnh
có giận hay không. Nhưng tôi nghĩ rằng có lẽ anh không giận.
Hôm
ấy tại chùa Linh Quang (Huế) có đại hội bất thường của
Giáo hội Thừa Thiên, Thượng tọa và các thầy Tỳ kheo đều
đã đi dự hội từ hồi sáng. Chùa vắng, chỉ còn có chú
Tâm Mãn và tôi ở nhà. Tôi đang chép bài thì chú Tâm Mãn
vào báo có một người khách.
- Một
thanh niên. Anh ấy hỏi thầy nhưng thầy đi vắng. Em không
biết có nên mời anh ấy ở lại không.
Tôi
buông bút, đáp:
- Chú
cứ mời người ta ở lại đi. Mời vào nhà Lạc nghĩa ngồi
chơi. Lát nữa tôi ra nhé.
Một
lát sau, tôi mặc áo dài đi ra. Chàng thanh niên vẫn ngồi nhìn
bức họa đức Quán Thế Âm, nét mặt trầm tự Thấy tiếng
động anh ngoảnh lại và đứng dậy. Tôi mời anh ngồi, rót
nước mời anh uống và hỏi anh có chuyện gì gấp cần phải
thưa thầy ngay không. Anh vội vàng trả lời là không có việc
gì cần làm. Thế rồi anh lại ngồi yên. Tôi cũng ngồi yên,
không hỏi thăm gì nữa, để mặc cho anh ngồi ngắm một cách
thiếu tự nhiên những đồ vật trang trí trong nhà.
Anh
chợt hỏi:
- Chú
đi tu đã được mấy năm rồi, thưa chú?
Tôi
nhìn anh đáp:
- Dạ,
tôi xuất gia đã gần ba năm rồi.
-
Chú xuất gia từ lúc mấy tuổi?
-
Mười chín.
-
Thế là năm nay chú hăm hai. Tôi cũng mới hăm ba, suýt sóat
tuổi chú.
Và
anh làm thân ngay:
- Vậy
xin chú cứ xem tôi như anh em và đừng giận nếu tôi có hỏi
những câu có vẻ tò mò nhé.
Tôi
cười:
- Đâu
dám, anh cứ hỏi.
Trầm
ngâm một lát anh thân mật:
- Vì
sao chú đi xuất gia?
Tôi
dương mắt nhìn anh, và hơi khó chịu một tí. Nhưng tôi làm
vui ngay và trả lời một cách thẳng thắn:
- Vì
tôi mến đạo Phật, mến nếp sống giải thóat.
- Vì
sao chú mến được nếp sống giải thóat?
- Tôi
sinh trưởng trong một gia đình Phật tử. Tôi được đọc
một ít sách báo Phật học và tự nhiên thấy ưa thích đời
sống thanh tịnh giải thóat, nhất là khi biết rằng đời
sống ấy có thể giúp ta tìm hiểu chân lý.
Anh
chăm chú nghe tôi nói, và cố giấu một nét mặt u buồn. Anh
thở dài thật nhẹ, sợ tôi nghe thấy. Cuối cùng anh hỏi
khẽ:
- Tôi
có người bạn cũng muốn xuất gia. Nhưng bạn tôi không biết
muốn đi tu phải có điều kiện gì.
- Bạn
anh năm nay bao nhiêu tuổi.
- Cũng
trạc tuổi chú và tuổi tôi.
- Có
phải anh hỏi điều kiện xuất gia cho bạn anh không?
- Vâng.
Anh trả lời nghe có vẻ ấp úng.
- Bạn
anh còn đi học?
- Vâng.
Nhưng cũng sắp thôi. Bạn tôi học Đệ nhất, đậu bán phần
năm ngoái. Vậy thưa chú, chú cho biết muốn đi tu, bạn tôi
phải có những điều kiện nào?
Tôi
trả lời ngập ngừng:
- Kể
ra điều kiện thì cũng không có điều kiện gì nhiều...
Rồi
đột ngột tôi hỏi:
- Bạn
anh có bị thất vọng trong một cuộc tình duyên nào đó không?
Câu
hỏi của tôi đến một cách bất ngờ quá làm anh lúng túng
ngập ngừng. Và luống cuống nữa. Tôi thương hại:
- Bởi
vì nếu bạn anh bị thất tình, anh ấy sẽ không được xuất
gia đâu.
- Vì
sao thế, thưa chú?
- Bởi
vì bạn anh không thể sống nổi đời sống của người tu.
- Sao
lại không sống nổi?
- Vì
đó là một người thiếu nghị lực. Anh ấy thất tình, anh
ấy muốn đi tu, thì cũng như có một số người thất chí
chán nản khác muốn rời bỏ trốn tránh cuộc đời. Thất
vọng mà chán nản, ấy là không có nghị lực. Mà đã không
có nghị lực, thì làm sao có thể sống được cuộc đời
của nhà tu trường kỳ gian khổ?
- Bạn
tôi sẽ không sợ cuộc đời gian khổ.
- Gian
khổ đây không phải là một ít cực khổ thể xác. Gian khổn
mà chúng tôi muốn nói đây là khả năng chịu đựng những
thử thách cố gắng để đạt đến mục đích của cuộc
đời tu đạo. Nếu bạn anh vì thất tình mà đi tu, thì sớm
muộn gì bạn anh cũng xuất tục mất thôi.
- Xin
chú cho biết lý do.
- Trước
hết, phải nói rằng bạn anh vào chùa mang theo cả một tâm
trạng đen tối, buồn nản đến cực độ. Mà như thế là
cả một cái tội. Khởi đầu của một cuộc đời mà đen
tối như thế thì toàn thể cái cuộc đời ấy mới như thế
nào? Trong khi người khác vào chùa với một tâm niệm thành
khẩn trong sáng để phát nguyện sống đời giải thóat thì
bạn anh lại vào chùa với ý niệm trốn bỏ xa lánh cuộc
đời. Đạo Phật không phải là chỗ dung chứa những tâm
hồn đen tối đó, anh ạ.
- Nhưng
đạo Phật che chở cho những tâm hồn khổ đau.
- Cái
đó thì có. Nhưng che chở bằng nhiều cách. Chứ không nhận
vào đoàn thể tăng già một phần tử không theo đuổi một
mục đích tăng già.
- Xin
chú cho biết mục đích ấy là gì?
- Như
tôi đã nói với anh, mục đích đó là giải thoát giác ngộ
cho mình và cho những kẻ khác. Ở đây bạn anh không có mục
đích ấy. Bạn anh chỉ muốn lánh đời mà thôi. Nhưng đạo
Phật đã có ra vì cuộc đời: tu như chúng tôi là để đào
luyện cho có một căn bản đạo đức giác ngộ, để trước
hết cứu khổ cho tự mình, sau lại, để giúp đỡ cho mọi
người.
- Biết
đâu sau này bạn tôi sẽ học theo để có được mục đích
đó?
- Cái
đó chưa thể nói trước. Nhưng nếu bây giờ bạn anh vào
chùa bạn anh sẽ khổ đau nhiều hơn ở đời nhiều. Sống
trong cảnh thanh tịnh, chúng tôi thấy an lạc và giải thoát;
nhưng bạn anh sẽ khổ sở điêu đứng vì cái khung cảnh vắng
vẻ thanh tịnh của chùa. Càng vắng vẻ, bạn anh càng sống
với nội tâm, càng sống với nỗi thất vọng đau khổ của
mình. Rồi thì mỗi khi nghe một tiếng chuông, bạn anh lại
sầu héo thêm lên một chút. Chúng tôi nghe chuông thì lại
càng thấy tâm hồn thanh tịnh, còn bạn anh nghe chuông thì
sẽ thấy toàn sầu thảm, bởi vì tâm hồn của bạn anh bệnh
hoạn, không lành mạnh như tâm hồn của những người khác...
Giờ
ngọ. Chú Mãn đã cúng Phật xong. Người khách trẻ rất tiếc
phải bỏ nửa chừng câu chuyện. Nhưng tôi ân cần mời anh
ở lại thọ trai. Mắt anh sáng lên. Bữa ngọ trai hôm ấy
chỉ có ba chúng tôi. Chú Tâm Mãn đã chu đáo tô điểm cho
bữa cơm của chúng tôi một món măng hầm mà chú đã nhờ
dì Tư sửa soạn từ hồi nãy.
Ngọ
trai xong, Vĩnh (trong bữa cơm chúng tôi đã biết tên anh là
Vĩnh) muốn tiếp tục câu chuyện, chúng tôi ba người đưa
anh ra ngoài núi, ngồi dưới rặng thông. Tôi giới thiệu chú
Mãn với Vĩnh. Và chúng tôi trò chuyện thân mật với Vĩnh
như đã quen biết anh từ lâu lắm.
Vĩnh
hỏi:
- Chú
đã có đọc cuốn “Thế rồi một buổi chiều” của Nhất
Linh chưa?
Tôi
đáp:
- Vâng,
có đọc. Anh nhắc tới cuốn ấy tức là anh đã hiểu. Cô
sư nữ của Nhất Linh cũng đã vì thất tình mà đi tu đấy.
Và sống trong cảnh thanh tịnh, nghe tiếng chuông, cô đã chẳng
thấy tâm hồn êm ả chút nào, mà trái lại, càng thấy khổ
đau tan nát. Thành ra, khi cô bỏ chùa ra đi... với một người
chiến sĩ, chúng ta cũng không ngạc nhiên mấy. Nhưng cũng may
đó chỉ là nhân vật tiểu thuyết... Có thêm một nhân vật
như thế thì đạo Phật cũng chỉ lấy làm xấu hổ mà thôi.
Lời
nói vô tình đó khiến Vĩnh đỏ mặt. Anh quay đi, làm bộ
nhìn về phía tháp chùa. Nhưng chú Tâm Mãn đã tinh ý nhận
thấy. Chú nói lảng đi:
- Các
thầy chắc hẳn đến chiều mới về.
Bỗng
Vĩnh quay lại:
- Vậy
thì thưa chú, bạn tôi không nên xuất gia.
- Vâng,
rất không nên. Bạn anh chỉ nên vùng vẫy để mau thoát khỏi
cái vỏ tâm lý đen tối đang úp chụp lấy anh ấy mà thôi.
Đời vẫn đẹp, nhưng bạn anh không còn thấy đẹp. Anh thử
nhìn chúng tôi. Chúng tôi sống ở đây một cách vui vẻ, và
có thể nói yêu đời nữa. Chúng tôi có lý tưởng. Lý tưởng
ấy là đạo Phật. Chúng tôi chỉ chán ghét có một điều.
Đó là dục vọng si mệ Chúng tôi muốn sống với một lý
tưởng thật đáng gọi là lý tưởng. Nghĩa là động lực
thúc đẩy lý tưởng ấy không phải là dục vọng. Bạn anh
cần thoát ra ngoài cái tâm trạng thất tình càng sớm càng
haỵ Bởi vì anh ấy có thể còn có lý tưởng của mình và
cũng cần phải lành mạnh để phụng sự cho lý tưởng ấy.
Chú
Mãn cười hỏi Vĩnh:
- Thất
tình mà đi tu thì có đáng ghét không hở anh?
Vĩnh
khẽ đáp:
- Đáng
thương thì phải hơn.
- Thương
hại ấy.
- Vâng,
thương hại cũng được. Còn hơn là ghét. Vậy bây giờ nếu
bạn tôi không có ý muốn đi tu nữa thì chú có ghét nữa
không chú Mãn?
- Cái
ấy anh hỏi chú Quán.
Tôi
cười:
- Cố
nhiên là không ghét nữa. Mà trái lại, chúng tôi sẽ có rất
nhiều cảm tình. Và nếu anh ấy lại chịu khó lâu lâu đến
chùa để học cho rõ những chủ trương của đạo Phật, thì
anh em mình còn đãi cơm chay là khác nữa đấy.
Vĩnh
vui cười:
- Vậy
thế nào tôi cũng đem bạn tôi đến. Bạn tôi chắc sẽ yêu
các chú lắm.
Hai
ngày sau, Vĩnh đến, nhưng đến có một mình. Thì ra bạn của
anh và anh chỉ là một người. Anh đến với một vẻ mặt
tươi trẻ hơn:
- Cám
ơn chú đã giải thoát cho tôi ra khỏi một tâm trạng hắc
ám. Lời nói của chú cũng như đời sống của chú đã đánh
bạt đi rất nhiều những sắc thái buồn nản của tâm hồn
tôi. Hôm ấy trở về, tôi suy nghĩ rất kỹ về những lời
nói của chú. Và tôi thấy tôi suýt chết đuối trong cái tâm
trạng chủ quan đen tối của tôi. Tôi thấy những câu thơ
sau đây rất đúng và phù hợp với lời khuyên của chú:
Tandis
que tout change pour toi, la nature est la même,
Et
le même soleil se lève sur tes jours...
- Nhưng
tôi chưa tin rằng tâm hồn anh đã lành mạnh hòan toàn.
- Vâng,
nhưng tôi có thể nói là đã thuyên giảm một cách phi thường.
Đã hơn hai tháng nay, tôi khổ đau điên cuồng...
- Nhưng
bây giờ, anh đã được thấm nhuần một vài giọt nước
dương chi của Phật. Tôi mong anh học Phật thêm nữa để
thấy cái đẹp siêu thoát của đạo Từ Bi.
Vĩnh
bày tỏ rằng anh đã từng nghe nói về triết lý siêu việt
của đạo Phật. Nhưng anh chưa được am hiểu một tí gì
về giáo lý ấy.
--
Tôi muốn sẽ có được dịp tìm hiểu đạo Phật nhiều hơn.
Sách Việt và Pháp không có bao nhiều. Chỉ có một cách là
học chữ Hán. Lâu nay tôi có nhiều thành kiến sai lầm quá.
Tôi tưởng đạo Phật là nơi nương tựa của những tâm hồn
khổ đau chán nản.
Tôi
khuyên anh học chữ Hán và bảo đảm sẽ bày cho anh học.
Thế là mỗi tuần, anh đến chùa hai bận. Trong giờ nghỉ
ngơi, chúng tôi thường đưa nhau ra núi chuyện trò. Tôi nói
cho Vĩnh nghe về lịch sử đạo Phật, và vai trò Phật giáo
trong văn hóa Viêt Nam. Anh say sưa nghe kể lại những thời
đại hưng thịnh của thủa Lý Trần và đã từng tỏ bày
ý kiến xây dựng lại một nền Phật giáo dân tộc.
- Một
ngày kia, anh nói, có thể tôi cũng xuất gia. Nhưng bây giờ
đây, tôi cần cố gắng nhiều để có một sức học căn
bản về đời và đạo, để sau này có thể phụng sự cho
Phật giáo một cách đắc lực. Tôi rất mừng khi thấy các
chú, bởi vì các chú là hình ảnh của lớp xuất gia tích
cực sau nầy. Đoàn thể Tăng già, theo tôi, phải tìm lại
được sinh khí của các thời đại Lý Trần ngày xưa mới
được.
Tôi
hứa sẽ cố gắng giảng cho anh về đạo Phật; riêng anh,
anh cũng hứa sẽ tìm giúp tôi những tác phẩm Phật học của
Tây Phương.
Câu
chuyện tình duyên của Vĩnh, anh cũng đã có lần kể lại
cho chúng tôi nghe. Nhưng thôi, chuyện đời ta gác lại, nói
ở đây làm chi, phải không Vĩnh? Đừng ai tò mò muốn biết
câu chuyện ấy làm gì. Chỉ nên biết rằng hiện giờ Vĩnh
rất khá Hán văn. Anh vừa gửi cho tôi một tập văn mà anh
đã dịch trong tạp chí Trí Tuệ Âm. Theo như anh viết cho tôi,
còn một năm nữa tốt nghiệp đại học và anh sẽ trở về
làm việc cho nền văn học Phật giáo. Người thanh niên có
lý tưởng cao đẹp và yêu đời đó ai ngờ đã chỉ nhờ
thấm nhuần có một giọt nước từ bi của Phật...
Tâm
Quán
(Tác
giả Nhất Hạnh khi còn là chú điệu)
Hết