Học
làm Thầy người, học làm mô phạm cho đời" là chủ đề
mà Pháp sư Tịnh Không chọn khi khai giảng Kinh Hoa Nghiêm tại
đạo tràng Phật giáo Cư Sĩ Lâm ở Singapore vào năm 1998. Theo
Pháp sư, kinh điển Đại thừa mà đại biểu là Kinh Hoa Nghiêm
dạy cho chúng ta cách thức ứng dụng giáo lý ngay trong sinh
hoạt hằng ngày. Trên cơ sở đó, hàng phàm phu vẫn có thể
siêu phàm nhập thánh, có thể chuyển biến mọi hành vi, ý
niệm của mình thành những khuôn vàng thước ngọc làm mô
phạm cho tất cả mọi người. Vậy muốn làm Thầy người,
hàng Phật tử cần phải hiểu biết tác dụng vi diệu của
kinh điển Đại thừa trong đời sống hiện tại như thế
nào !
Ngay
nơi 7 chữ "ĐẠI PHƯƠNG QUẢNG PHẬT HOA NGHIÊM KINH", Pháp sư
cho rằng nghĩa lý của nó bao hàm vô tận. Bởi vì chính đề
kinh mà Đức Phật tuyên thuyết đã hiển bày được chân
tướng của các pháp. Trước hết, Pháp sư Tịnh Không đã
trích dẫn cách giải thích của Đại sư Thanh Lương Trừng
Quán, vị Tổ thứ 2 của tông Hoa Nghiêm, sau đó Sư phân tích
và giảng giải nghĩa lý của từng chữ một. Giáo nghĩa và
giáo tướng của từng chữ trong đề kinh đã được lý giải
rõ ràng qua cách hiểu hết sức sáng tạo và sâu sắc này.
Đầu
tiên, Pháp sư đã nêu ra 5 mệnh đề đối lập : Giáo và Nghĩa,
Tổng và Biệt, Năng và Sở, Nhân và Pháp, Thể và Dụng. Sau
đó, Sư đã phối hợp các mệnh đề này với các chữ của
đề kinh, tạo thành 6 đôi biệt lập :
- Đôi
thứ nhất là chữ Kinh và 6 chữ Đại Phương Quảng Phật
Hoa Nghiêm, nói về Giáo và Nghĩa. Kinh là từ gọi chung giáo
học của Phật, mà ý nghĩa chính là Đại Phương Quảng Phật
Hoa Nghiêm.
- Đôi
thứ hai là chữ Nghiêm và 5 chữ Đại Phương Quảng Phật
Hoa, nói về Tổng và Biệt. Đại Phương Quảng Phật Hoa là
nói riêng (biệt), Nghiêm là nghiêm sức, là trang nghiêm
tất cả (tổng).
- Đôi
thứ ba là chữ Hoa và 3 chữ Đại Phương Quảng, hiển bày
Năng và Sở. Hoa là vật trang nghiêm (năng) và Đại Phương
Quảng pháp được Hoa trang nghiêm (sở).
- Đôi
thứ tư là chữ Phật và 3 chữ Đại Phương Quảng, biểu
thị Nhân và Pháp. Phật là Nhân và Đại Phương Quảng là
Pháp.
- Đôi
thứ năm là chữ Quảng và 2 chữ Đại Phương, hiển bày Thể
và Dụng. Đại là bản thể vũ trụ (Thể); Phương là
hiện tướng. Tướng không lìa Thể và ngược lại. Thể và
Tướng là một, không hai; còn Quảng là tác dụng. Tác dụng
của Thể là hiện tướng, Thể có thể hiện ra các tướng
(Dụng). Cho nên có Dụng của Thể và Dụng của Tướng
khác nhau. Chữ Quảng bao gồm cả Dụng của Thể và Tướng.
- Đôi
thứ sáu là 2 chữ Đại và Phương, cũng hiển bày Năng và
Sở뮠Phương là hiện tướng, còn Đại là tự tánh, là bản
tánh chân như. Bản tánh chân như là Năng hiện, Năng biến
mà tất cả hiện tướng là Sở hiện, Sở biến.
Đối
với những phạm trù trên, người học Phật cần phải phân
biệt rõ. Phân biệt ở đây không phải là chia chẻ các pháp
thành những mảnh vụn biệt lập với nhau. Bởi vì theo tư
tưởng Hoa Nghiêm, Lý và Sự vô ngại. Ví dụ đem vàng nấu
chảy, đổ vào một khuôn hình khối thì vàng có tướng hình
khối, nếu đổ vào khuôn hình tròn thì vàng có tướng hình
tròn... Cũng vậy, Nhất chân pháp giới, Thập pháp giới, y
báo, chánh báo đều do tự tánh hiển hiện ra, đó là tất
cả tác dụng của hiện tướng. Do không biết rõ đâu là
Lý, đâu là Sự, nên người thế gian thường đem cái tâm
hạn cuộc mà duyên với tất cả các pháp, rồi khởi lên
chấp trước. Thật ra, khi thực tập quán sát các pháp như
là chính nó, thì Giáo và Nghĩa nhất quán, Tổng và Biệt dung
nhập, Năng và Sở không hai, Nhân và Pháp bất nhị, Thể và
Dụng tương tức. Từ cái nhìn này, Pháp sư Tịnh Không dạy
chúng ta phân biệt và thẩm thấu muôn sự muôn việc qua lăng
kính trùng trùng duyên khởi của pháp giới. Bằng pháp quán
này, chúng ta không còn thấy kẻ oán người thân, không còn
khái niệm thương ghét, mà luôn thể hiện phong thái bao dung
bằng chính lòng chân từ bình đẳng đối với mọi người,
mọi việc. Xét một cách rốt ráo, thì toàn bộ giáo nghĩa
Hoa Nghiêm đều chứa đựng trong 7 chữ hàm súc của đề kinh.
Để
hiểu rõ hơn tính chất vô ngại của các pháp theo giáo quán
Hoa Nghiêm, Pháp sư Tịnh Không lại tiếp tục phân tích ý
nghĩa của từng chữ một trong đề kinh, giúp chúng ta hiểu
được giá trị đích thực của tư tưởng Đại thừa trong
cuộc sống hiện tại đầy phức tạp này.
ĐẠI
: Biểu thị cho Thể đại. Cổ đức nói : Thể gồm hai nghĩa
Thường và Biến. Thường tức nói Chân tâm của chúng ta vĩnh
hằng bất biến, siêu việt thời gian. Biến tức là rộng
lớn, chính là nghĩa tâm lượng chúng ta bao trùm cả hư không.
Cho nên Đại ở đây không phải là Đại của lớn, nhỏ.
Đại của lớ鮠nhỏ mang tánh tương đối vì có đối đãi,
mà tương đối thì không phải là Đại. Chữ Đại ở đây
là "Bất tư nghì giải thoát cảnh giới", là "Nhất chân pháp
giới", cũng chính là Chân tâm, là Tự tánh, là Phật tánh
sẵn có trong mỗi chúng sanh, mà Thiền tông vẫn gọi là Bản
lai diện mục. "Đại" ấy, chân tâm ấy, Phật ví nó như hư
không, còn toàn bộ pháp giới trong tự tánh chúng ta ví như
đám mây trên bầu trời. Cho nên nói : "Tâm bao quát hư không,
lượng trùm khắp sa giới". Trên phương diện lý tánh tuyệt
đối thì Chân tâm, Phật tánh sẵn có trong mỗi chúng sanh
cùng với tâm chư Phật không khác nhau. Thế nên Phật nói
: "Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ thành". Nhưng
xét về mặt hiện tướng thì hoàn toàn sai biệt, tâm chư
Phật thì bao quát như hư không, còn tâm chúng ta là thứ tâm
hẹp hòi ích kỷ, nên chiêu cảm y báo luân hồi khổ đau,
chiêu cảm hoàn cảnh sống bất như ý, bởi vì "y báo tùy
theo chánh báo chuyển". Do đó chúng ta học Phật là nhằm làm
cho tâm lượng mình thật sự đạt đến bao quát như hư không.
Một khi có tâm lượng lớn như thế, thì cảnh giới hiện
tiền sẽ là Nhất chân pháp giới.
PHƯƠNG
: Phương là Tướng đại, là bản thể tự tánh vốn đầy
đủ vô lượng trí tuệ đức năng mà thông thường chúng
ta gọi là Tánh đức. Như trên đã nói, Đại là tự tánh,
là chân như bản tánh, tức là Năng hiện, Năng biến. Còn
Phương là hiện tướng, là Sở hiện, Sở biến. Chữ Phương
này có hai nghĩa là Chánh và Pháp. Thế nào là Chánh ? Chẳng
hạn như phương hướng, mục tiêu tu tập của chúng ta đối
chuẩn Phật, Bồ-tát, không sai một mảy may là Chánh. Còn
pháp Thanh văn, Duyên giác của hàng Nhị thừa đều có thiên
lệch, vì sự thiên lệch này mà không thể thành Chánh đẳng
chánh giác. Cho nên trong các kinh Đại thừa, Phật thường
quở trách hàng Nhị thừa là "tiêu nha bại chủng". Do vậy,
chúng ta phải cảnh giác không đi vào con đường thiên lệch
này.
Ý
nghĩa thứ hai của chữ Phương là Pháp. Pháp là phương pháp.
Tức là phương pháp thành Phật, phương pháp chứng quả. Phương
pháp này giống như một quỹ đạo. Đi theo quỹ đạo này,
y theo phương pháp này nhất định chúng ta có thể khế nhập
Nhất chân pháp giới, Thiền tông gọi là Minh tâm kiến tánh.
QUẢNG
: Quảng là Dụng đại. Dụng này có hai nghĩa là Bao trùm và
Biến khắp. Bao trùm chính là tâm lượng bao trùm thái hư.
Biến chính là trùm khắp pháp giới. Thể, Tướng, Dụng tuy
ba mà một, tuy một mà ba, nên gọi là Tướng xứng Thể, Dụng
xứng Thể, biến khắp pháp giới. Chư Phật, Bồ-tát đã giác
ngộ rồi, thì sự khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo tác
đều xứng hợp với Tánh, đều cùng với Tánh thể biến
khắp pháp giới. Còn hàng phàm phu chúng ta, do vô minh che lấp
chân tâm trong sáng, vắng lặng sẵn có, nên mê mờ tự tánh,
khởi tâm động niệm gì đều có tội, luân hồi lên xuống
trong sáu đường. Tuy vậy, sự tạo tác khởi thân động niệm
của chúng ta cũng biến khắp pháp giới. Không phải chỉ ngộ
mới biến khắp pháp giới, mà mê ngộ, thiện ác cũng đều
biến khắp pháp giới. Như vậy có lẽ nào chúng ta không cẩn
thận? Đoạn ác tu thiện là đề mục tu học trọng yếu trước
mắt chúng ta. Tự tánh, Thể tướng, Tác dụng chính là Đại
Phương Quảng tương ưng, khởi tâm động niệm gì chúng ta
đều phải trụ ở nơi chí thiện này.
PHẬT
: Phật là Quả đại. Phật (Buddha), gọi tắt của từ
Phật-đà, dịch nghĩa là Giác hoặc Trí. Giác có hai nghĩa
là Giác sát và Giác ngộ. Hiểu biết suy xét phiền não khiến
nó không gây ra tác hại nữa gọi là Giác sát, đó gọi là
Nhất thiết trí. Hiểu rõ sự lý của chư pháp, rõ ràng rành
mạch như người tỉnh giấc mơ thì gọi là Giác ngộ, còn
gọi là Nhất thiết chủng trí. Nên Kinh Niết Bàn nói : "Như
người ta phát giác thấy giặc thì giặc không làm gì nổi".
Phật cũng thế. Giác trong giác ngộ đối lập với Vô minh,
Sở tri chướng, giống như người mê ngủ; khi thánh huệ chợt
lóe lên soi sáng khắp nơi, như người ngủ mê chợt tỉnh,
thì gọi là Giác. Nếu đã tự giác rồi, thì còn phải giác
tha; khi tự giác và giác tha đều viên mãn thì gọi là Phật.
Tự giác là hơn hẳn phàm phu. Giác tha là hơn hẳn Nhị thừa.
Tự giác, giác tha viên mãn là đã hơn hẳn Bồ-tát. Vì sao
vậy ? Vì rằng phàm phu không biết Tự giác, Nhị thừa tuy
Tự giác nhưng chưa tu hành Giác tha, Bồ-tát thì đủ cả Tự
giác, Giác tha nhưng tu hành chưa viên mãn. Ba loại giác này
đạt đến viên mãn thì vô ngại, đạt đến một mà ba, ba
mà một, vào cảnh giới này rồi thì được gọi là Diệu
giác, Diệu giác chính là Phật. Phật là quả vị cứu cánh
viên mãn, đó là Quả đại, là Năng giác. Còn Sở giác tức
là Chân như tự tánh, là Đại Phương Quảng. Đại là thể
của chân như tự tánh, Phương là tướng của Chân như tự
tánh, Quảng là tác dụng của Chân như tự tánh. Thể, Tướng,
Dụng chính là chân như tự tánh sẵn có trong mỗi chúng ta.
Nói về sự tướng thì thể của Giác là Chân đế, còn tác
dụng của Giác là pháp thế gian; thông đạt pháp thế gian,
thấy rõ pháp thế gian, chỉnh đốn pháp thế gian, đối chuẩn
Đại Phương Quảng, cho nên không còn sự đối lập giữa
Năng và Sở.
HOA
: Trên đã nói Phật là Quả đại thì Hoa được dụ cho Nhân
đại, dùng làm tiêu biểu cho pháp. Như trồng cây trước có
hoa sau mới có quả. Hoa có hai nghĩa:
- Một
là biểu thị cho Lục độ vạn hạnh của Bồ-tát, là hạnh
môn vô lượng vô biên : Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh
tấn, Thiền định, Bát nhã. Nhưng sáu cương mục này đan
chéo lẫn nhau, một pháp là tất cả pháp. Ví dụ chúng ta
nói Bố thí, thì trong Bố thí bao hàm năm pháp còn lại, và
pháp nào cũng thế. Một pháp đều viên dung tất cả pháp.
Cho nên pháp pháp viên dung, pháp pháp chu biến. Đại sư Thanh
Lương có nói về Ngũ chu nhân quả trong Kinh Hoa Nghiêm rõ ràng
như sau : "Chữ Chu chính là chu biến pháp giới. Trong Nhân có
Quả, trong Quả có Nhân, tức Nhân bao trùm biển Quả, Quả
thấu triệt nguồn Nhân". Trong một Nhân bao hàm biển Nhân,
trong một Quả thấu triệt nguồn Quả, không thể nghĩ bàn.
Đó là ý nghĩa thứ nhất của chữ Hoa.
- Hai
là nghĩa trang nghiêm các tướng. Đối với người học Phật
thì sự trang nghiêm chân chính là Đức hạnh. Người học
Phật khai tỏ được trí huệ, hiểu được tướng trí huệ
chính là trang nghiêm. Như tu tâm thanh tịnh liền hiển tướng
thanh tịnh, tu tâm từ bi thì hiển tướng từ bi, tướng tùy
tâm chuyển. Cũng vậy, nếu tâm lo lắng thì hiển tướng lo
lắng, tâm khổ não thì hiển tướng khổ não. Vậy làm thế
nào để giữ gìn tướng chân thật, thanh tịnh, từ bi, bình
đẳng ? Đây cũng là ý nghĩa của Hoa. Thấy Hoa chúng ta liền
nghĩ đến việc phải tu Bồ-tát hạnh, Lục độ Ba-la-mật
để cho tướng mạo này, thể chất này cũng hoàn mỹ như
Hoa. Thế nên Hoa trí huệ đẹp hơn bất cứ loại hoa nào khác,
vĩnh viễn không mất được.
NGHIÊM
: Nghiêm biểu thị cho Trí đại, tức trí huệ chân thật.
Trong Kinh Vô Lượng Thọ, Đức Phật dạy "Trụ chân thật
huệ", đó là ý nghĩa thứ nhất của Nghiêm. Như chúng ta vì
tự thân, vì mọi người thật sự nỗ lực tu hành, khởi
tâm động niệm, đối nhân xử thế đều trên cơ sở Lục
hòa, Tam vô lậu học, Bát chánh đạo.., đó là tự trang nghiêm
bản thân mình, trang nghiêm tánh đức mình, cũng chính là trang
nghiêm Đại Phương Quảng.
Ý
nghĩa thứ hai là dùng công đức trang nghiêm của chúng ta để
trang nghiêm Phật pháp, tức bằng công phu tu tập của mình,
chúng ta chân chính thực hành công hạnh "Thượng báo tứ trọng
ân, hạ tế tam đồ khổ".
Thế
giới này loạn động, nhân dân khốn khổ là do sự tu hành
của chúng ta không rốt ráo. Nói cách khác, nếu bản thân
chúng ta không thể khế nhập Đại Phương Quảng, không thể
chứng đắc Phật Hoa Nghiêm, thì loạn động này không có
cách gì trừ được. Muốn xã hội an định, muốn mọi người
trở về với Chân, Thiện, Mỹ thì tự thân chúng ta phải
nghiêm túc, tu hành đúng theo lời giáo huấn của Phật. Chúng
ta chớ nên chủ quan rằng "khi tâm bình thì khỏi cần nhọc
công trì giới, hạnh đoan chánh thì cần gì tu thiền" (Tâm
bình hà lao trì giới, hạnh trực hà dụng tu thiền); mà
Phước, Huệ cần phải song tu; Lý, Sự cần phải viên dung;
nền tảng vững chắc vẫn là Giới, Định, Huệ. Nhờ Giới
sanh Định, nhờ Định phát Huệ, nhờ vậy ta mới có thể
làm mô phạm cho đời, từ đó nhiều người biết, rồi nhiều
người hiểu mà quay đầu về bờ giác. Đó là ý nghĩa của
Nghiêm.
KINH
: Kinh là Giáo đại (giáo học rộng lớn). Giáo học
của Phật bao gồm cả giáo dục xã hội, đặc biệt từ phẩm
"Nhập pháp giới", chỉ rõ cho chúng ta thấy Thiện Tài Đồng
Tử theo học cùng 53 vị thiện tri thức. Đại biểu đầu
tiên cho nội dung giáo học của Phật pháp là Tam bảo : Phật,
Pháp, Tăng. Phật giáo dạy người học Phật muốn nhập đạo
trước phải qui y Tam bảo. Vị thiện tri thức thứ tư mà
Đồng tử Thiện Tài tham học là cư sĩ trưởng giả Du-già,
ông ta đang làm công việc giáo dục xã hội. Như đã nói,
Phật giáo bao gồm giáo dục xã hội, đối tượng giáo dục
xã hội của ông là tất cả chúng sanh trong chín pháp giới,
nội dung giáo học bao trùm tất cả pháp thế xuất thế gian,
đó chính là Giáo đại. Không có giáo học nào có thể sánh
với giáo học thế xuất thế gian.
Văn
như đề kinh, đề kinh như văn, toàn bộ đại kinh Hoa Nghiêm
chính là giảng đề mục gồm bảy chữ trên. Đại Phương
Quảng là Lý, là Minh tâm kiến tánh. Phật Hoa Nghiêm là Sự,
là Nhất chân pháp giới, Phật là chánh báo của Nhất chân
pháp giới, Hoa Nghiêm là y báo của Nhất chân pháp giới, cả
hai là y chánh trang nghiêm quả địa của Như Lai. Tóm lại,
Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm là Nhất chân pháp giới,
nhưng do chúng sanh mê mờ rồi chuyển hóa thành nội thập
pháp giới. Mê ngộ không hai, "Một niệm giác chính là Phật,
là Bồ-tát; một niệm mê chính là phàm phu".
Chính
vì mê mờ mà con người đã đưa đạo đức nhân loại đến
chỗ sa sút, những cuộc chiến đấu giữa thiện và ác, giữa
triền phược và giải thoát, giữa ham muốn và từ bỏ mãi
mãi là cuộc chiến đấu gay gắt, quyết liệt. Trên thế giới,
do bối cảnh văn hóa, phương thức sinh hoạt, hình dạng ý
thức, tín ngưỡng tôn giáo khác nhau, cho nên qua những lần
giao tiếp ngắn ngủi, loài người không thể tránh khỏi những
mâu thuẫn bất đồng, dẫn đến sự xung đột nghiêm trọng.
Ngày nay, có rất nhiều nhà tư tưởng, triết gia, các nhà
giáo dục đều nghiên cứu như thế nào để khiến cho mọi
người trên trái đất này phá vỡ ngăn cách, xóa tan kỳ thị,
xây dựng hiểu biết cộng đồng, mọi người có thể sống
chung hòa thuận, hỗ trợ hợp tác, cùng sáng tạo an định
xã hội phồn vinh.
Nhưng
trong cuộc cải cách này, những lý luận sắc bén, uyên bác
của họ cũng không có sức thuyết phục bằng sự chứng ngộ
tâm linh chân thật, người chứng ngộ sẽ là tấm gương sáng,
tiên phong, để lôi cuốn con người trở về với sự hoàn
thiện. Người có tâm chứng sâu thẳm tự nhiên có sức lôi
cuốn mãnh liệt với mọi người, làm cho mọi người phát
khởi niềm tin đối với sự giải thoát. Nhận thức được
điều này, chúng ta không còn mục đích chỉ tu cho sự giải
thoát của chính mình mà là hướng về một mục đích rộng
lớn hơn, đó là tâm nguyện giáo hóa tất cả mọi người
cùng đạt được giác ngộ, là con đường Tư giác, Giác tha,
Giác hạnh viên mãn của Phật-đà.
Source:
http://www.Buddhismtoday.com
03-13-2000
12:23:34