Phật
giáo có hệ thống học thuyết luân lý đạo đức cho chính
mình. Trong quá trình sáng lập truyền bá và phát triển Phật
giáo, đạo đức Phật giáo dần dần hình thành và hoàn bị.
Đạo
đức Phật giáo phụ thuộc toàn bộ vào hệ thống giáo nghĩa
của Phật giáo, nó đảm trách vai trò điều chỉnh sự hài
hòa giữa Tăng nhân và nội bộ giáo đoàn, giữa tín đồ
và Tăng nhân, nhằm để tổng hợp các hành vi, quy tắc, tiêu
chuẩn và ý chí đạo đức, quan niệm luân lý của các mối
quan hệ quần chúng xã hội, quốc gia với giáo đoàn Phật
giáo. Đạo đức Phật giáo tuy thể hiện rộng rãi trong giáo
nghĩa và lý luận Phật giáo, nhưng có thể nói sự thể hiện
đạo đức Phật giáo tương đối tập trung trong giới luật
Phật giáo.
I
– GIỚI LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO
Giới,
tiếng Phạn là Sila, phiên âm là Thi La, nghĩa là quán hạnh,
sau đó trong Phật giáo nghĩa này được chuyển thành hành
vi, tập quán. Tuy giới thông thiện ác, nhưng đứng từ góc
độ thiện của “giới” mà nhìn thì đôi lúc giới cũng
được hiểu như là đạo đức, tính thiện, cung kính v.v….Trong
Đại Trí Độ Luận quyển thứ 13 có ghi: “hiếu hành thiện
đạo, bất tự phóng dật, thị danh thi la.
Hoặc
thọ giới hành thiện, hoặc bất thọ giới hành thiện, giai
danh thi la” (nghĩa là thích hành nghiệp thiện, tự mình không
phóng dật, gọi là thi la, hoặc thọ trì giới luật, hành
pháp thiện lành, hoặc không thọ trì giới luật, không thực
hành pháp thiện, đều gọi là thi la).
Đức
Phật Thích Ca Mâu Ni sau khi sáng lập Phật giáo, số lượng
tín đồ và Phật tử không ngừng tăng lên, để mối quan
hệ giữa Tăng chúng và nội bộ giáo đoàn, giữa Tăng nhân
và tín đồ, giữa dân chúng xã hội và giáo đoàn nhịp nhàng
cân đối, và để thích ứng với nhu cầu truyền giáo, trên
mặt giáo nghĩa, ngoài mục tiêu nâng cao những quan niệm tư
tưởng, lý luận và dẫn dắt sự tu hành cho đồ chúng, Ngài
còn căn cứ vào những vấn đề phát sinh trong nội bộ giáo
đoàn để lần lượt đưa ra rất nhiều những qui tắc, qui
củ, giáo điều, giới cấm…để ước thúc hành vi phóng
túng của đệ tử, Phật giáo gọi đó là giới cấm, giới
điều hoặc học xứ, tất cả những điều đó đều dùng
để phòng phi chỉ ác.
Sau
khi Đức Phật tịch diệt, trong quá trình phát triển và truyền
bá Phật giáo, giới luật Phật giáo cũng theo đó mà phát
triển, nhưng trên căn bản vẫn trung thành với những giới
điều do Đức Phật chế định. Dựa vào tình hình khác nhau
của tín đồ Tăng (Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Sa Di, Sa Di Ni), tục
(nam cư sĩ, nữ cư sĩ) mà chế định 5 giới, 8 giới, 10 giới,
cụ túc giới…Quy điều của những giới này nằm rải rác
trong kinh A Hàm, ngoài ra ở thời kỳ Phật giáo bộ phái những
giới luật trong hệ tư tưởng Nam truyền Phật giáo cũng đã
biên tập thành sách như Ma Ha Tăng Kỳ Luật, Tứ Phần Luật,
Thập Tụng Luật, Ngũ Phần Luật v.v…
Từ
giai đọan Phật Giáo Nguyên Thủy họ đã biên chép một cách
có hệ thống và không ngừng bổ khuyết để hình thành tạng
luật, tuy nhiên giới luật đến từ sự truyền thừa không
giống nhau của các bộ phái nên số lượng giới điều cũng
không giống nhau, song thống nhất trên nội dung căn bản. Thời
kỳ trước và sau công nguyên, thời kỳ xuất hiện tư tưởng
Đại thừa Phật giáo, giới luật Đại thừa đã hình thành.
Những kinh điển tương quan nhau như những bộ kinh nổi tiếng
Phạm Võng Kinh, Du Già Sư Địa Luận . Bồ Tát Giới Phẩm..v.v…
của hệ tư tưởng đại thừa đã cùng tồn tại, phát triển
song song và phụ trợ lẫn nhau với những giới luật thuộc
tư tưởng Nam truyền lượt thuật trước đó.
Từ
nội dung giới luật Phật giáo có thể thấy được, Phật
giáo chế định giới luật chủ yếu có hai tình huống:
Giới
điều của Phật giáo xuất phát từ những điều lệ phép
tắc của luật pháp và đạo đức thông hành trong xã hội
đương thời. Chúng ta có thể lấy ví dụ từ giới “không
sát sanh”, một giới điều chung cho Tăng nhân và tín đồ
tục thế đã bao hàm nội dung “không giết người”. Nói
về giới “không trộm cắp”, thực tế là bất kỳ trong
luật pháp quốc gia nào cũng đều có điều khoản này. Giới
“không vọng ngữ” (tức không nói láo, không nói lời thô
ác…) cho đến giới “không tà dâm” (tức không nảy sinh
quan hệ bất chính) trong gia đình tín đồ, trên thực tế
đều có trong những quy phạm hành vi đạo đức xã hội. Phật
giáo xem những điều quy phạm phép tắc đó là “giới tính”
cũng gọi là “tính trọng giới” tức những người phạm
những giới điều đó sẽ bị trọng tội.
Ngoài
ra một tình huống khác nữa là trong bát giới, thập giới,
đều có giới không tô son điểm phấn, uớp hương hoa, không
nằm giường cao, chiếu rộng, chỗ tốt đẹp, không xem hát
múa đờn kèn, yến nhạc vui chơi, trong thập giới không ăn
quá thời, không nên tiếp xúc tiền bạc, vàng, ngọc, đồ
quý báu, và một phần lớn trong giới Đại thừa của cụ
túc giới Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni đa phần nói lên sự hạn chế
việc tiêu dùng thái quá về y phục vật dụng, ngăn dừng
những ngôn ngữ, hành vi không kiểm soát, không giữ gìn v.v…
tất cả đều xuất phát từ sự quán triệt giáo nghĩa tu
hành “thiểu dục tri túc” (ít muốn biết đủ), đoạn trừ
tham ái v.v…hướng dẫn tín đồ đạt đến mục đích thoát
khỏi phiền não tử sinh.
Những
giới cấm và “tính giới” tương đối đã nói ở trên
đều được gọi là “giá giới” cũng được xưng là tức
thế cơ hiềm giới (gọi tắt là cơ hiềm giới, cũng gọi
là giá giới. Như sát đạo dâm vọng v.v… không đợi Đức
Phật chế định mà tự thân nó đã đầy đủ tội gọi là
tính giới, ngoài tính giới ra, giới pháp của Tỳ Kheo phần
nhiều là giữ gìn tư cách Tỳ Kheo, đồng thời dừng lại
ở chỗ tránh sự chê cười, hiềm khích của thế nhân mà
chế giới, ví dụ như cấm buôn bán, làm mai, uống rượu
v.v…. nói chung giới này chỉ là những khinh giới, mục đích
ngăn phòng sự phê bình, chế giễu của thế gian.
Trong
Tứ Phần Luật Hành Sự Sao Tư Trì Ký quyển thượng có nói:
Tính
giới vốn có, bất luận là Đức Phật chế ra hay không chế
ra, người phạm phải giới này đều kết tạo thành nghiệp,
đọa trong ba đường địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh; giá giới
thì không như vậy.
Ở
đây muốn nói, tính giới của Phật giáo tức trọng giới,
trong xã hội vốn đã có điều cấm của luật pháp giống
như vậy, nhưng dựa theo cách nói của Phật giáo, vi phạm
những điều cấm này sẽ phạm nghiệp tội nặng, sau khi chết
sẽ gặp phải những quả báo xấu ác, luân hồi trong ba cõi;
nhưng khinh giới trong Phật giáo thì sau khi Đức Phật ra đời
mới lần lượt chế định. Trong Kinh 《Đại Bát Niết Bàn》quyển
thứ 11 lấy bất sát, bất đạo, bất dâm, bất vọng ngữ
gọi là “tứ tính trọng giới”. Còn những việc buôn gian
bán lận để gạt người, kinh doanh ruộng đất, kinh thương
lớn lao, nuôi súc vật, mướn tôi tớ v.v…gọi là “tức
thế cơ hiềm giới”.
Đương
nhiên cũng có tình trạng như vầy: có những điều khoản
thuộc quy phạm đạo đức, một số quy củ, phép tắc nào
đó của xã hội đã được Phật giáo sửa đổi và khuếch
đại giá trị hàm ẩn của nó, ví dụ giới “bất vọng
ngữ” trong cụ túc giới Tỳ Kheo, đã cấm tự mình thổi
phòng cho rằng mình đã đắc đạo, đã chứng thành bậc A
La Hán, được thần thông v.v…Giới “bất tà dâm” mở
rộng thành “bất dâm” cấm tất cả những mối quan hệ
với bất kỳ người khác phái nào, dùng giới “bất sát
sanh” mở rộng thành không giết tất cả những loài vật
có mạng sống, hàm ý của nó còn bao gồm sự ước thúc những
hành vi giết bên trong nội tại như hoặc tự giết, hoặc
bảo người khác giết, hoặc điều khiển sai bảo người
ta giết v.v
Song
cũng nên chỉ ra, giới luật Phật giáo tuy có mối quan hệ
mật thiết với đạo đức xã hội, một số giới điều
quan trọng đã được kiến lập cơ sở các chuẩn tắc đạo
đức. Nhưng ngoài những đạo đức phổ thông trong xã hội
ra giới luật Phật giáo còn hàm tàng những luân lý đạo
đức khác.
Như
chúng ta đã biết, đạo đức xã hội được hình thành trong
quá trình hun đúc, tích tập, lắng đọng và bảo hộ các
truyền thống tập quán, văn hóa, phong tục xã hội, dư luận,
ý chí đạo đức cá nhân, tình cảm đạo đức cộng đồng…đạo
đức xã hội dùng để đánh giá khái niệm hành vi và quan
niệm đạo đức xã hội, trong đó có các quan niệm về thiện
- ác, công chánh - thiên vị, thành thật - hư dối, trung thực
- gian trá, hiếu thảo - bất hiếu v.v….
Nếu
người có tình cảm đạo đức cao, làm xuất sắc những việc
phù hợp đạo đức, khi nhận được sự tán dương của xã
hội, cá nhân người đó cũng cảm thấy vui vẻ, an lòng và
mãn nguyện về đạo đức của mình. Ngược lại, người
nào bị dư luận xã hội khiển trách, cá nhân họ sẽ cảm
thấy áy náy bất an, tự mình luôn trách cứ mình. Giới luật
Phật giáo đã thể hiện tương đối tập trung về đạo đức
luân lý của Phật giáo, đương nhiên, trên một trình độ
nhất định nào đó cũng có thể vận dụng khái niệm đạo
đức đặc sắc của Phật giáo tiến hành đánh giá các hành
vi đạo đức, điều này cũng là một cách thể hiện sự
bảo vệ tôn nghiêm đối với những giới quy, thúc đẩy tín
đồ Phật giáo chủ động tuân giữ quy phạm đạo đức và
những giới điều; những khái niệm này gồm có: ác và thiện,
tịnh và nhiễm, đạo đức và phi đạo đức, chánh và tà,
trì giới và phá giới. Nhưng giới luật Phật giáo hoàn toàn
không giống với đạo đức xã hội, sự khác biệt ở chỗ:
1 –
Giới điều Phật giáo không phải toàn bộ là các quan niệm
về qui tắc đạo đức, ví dụ trong cụ túc giới của Tăng
Ni đa phần đều là những qui định cụ thể về hành vi sinh
hoạt thường ngày, như trong tội “Tăng tàn” không cho phép
kiến lập phòng ốc nhà cửa ở những nơi không thích đáng.
Trong tội xả đọa, có quy định cụ thể cá nhân chỉ được
giữ những một số y vật nào đó. Trong “chúng học pháp”
có quy định những lễ nghĩa và những quy tắc sinh hoạt thường
ngày, tuy trên phương diện nào đó đã thể hiện tinh thần
đạo đức, nhưng bản thân giới luật không hoàn toàn thuộc
về phạm trù đạo đức.
2 –
Giới luật Phật giáo không những chỉ dựa vào sự khiển
trách nội tâm, tự giác đạo đức cá nhân, dư luận Tăng
chúng và xã hội để tiến hành bảo vệ sự tôn nghiêm của
tăng đoàn, mà trong quá trình bảo vệ nó còn mang tính cường
chế đặc thù, ví dụ vi phạm bốn trọng giới: dâm, đạo,
sát, vọng sẽ bị đuổi ra khỏi Tăng đoàn; vi phạm tội
“Tăng tàn” sẽ dựa theo trình tự qui định mà sám hối,
khi sám hối đạt yêu cầu mới có thể tiếp tục được
lưu giữ trong Tăng đoàn; điều này không giống với đạo
đức xã hội khi họ thông qua quy củ gia đình, kỷ luật đoàn
thể để tiến hành phê bình, gợi nhắc tinh thần sám hối
cá nhân v.v…
3 –
Trên mặt chỉnh thể, giới luật Phật giáo thuộc về hệ
thống giáo nghĩa Phật giáo. Giới luật đã kết hợp mật
thiết cùng với giáo thuyết nhân quả thiện ác báo ứng đặc
thù của Phật giáo để tiến hành lý luận giải thoát.
II
– Ngũ giới, thập thiện: trong giới luật Phật giáo, năm
giới mang ý nghĩa sắc thái đạo đức hiện đại nhất, và
thập thiện được xem là mười điều thiện của đạo đức.
Thập
thiện không những chỉ bao hàm khái quát nội dung năm giới
mà nó còn là cơ sở của năm giới, nó mang ý nghĩa sâu sắc
rộng rãi hơn năm giới. TrongKinh A Hàm và rất nhiều kinh Phật
khác đều nói rõ về mười điều thiện, đặc biệt vào
đời Tùy, Ngài Cù Đàm Pháp Trí dịch Nghiệp Báo Sai Biệt
Kinh, vào đời Đường, Ngài Thật Xoa Nan Đà dịchhập Thiện
Nghiệp Đạo Kinh những Kinh này đã được nhiều vị luận
sư nghiên cứu, giảng nói. Nói về mối quan hệ giữa năm
giới và thập thiện, xin xem dưới đây:
Thập
thiện:
- không
sát sanh
-
không tà dâm
-
không trộm cắp
-
không vọng ngữ (bất vọng ngữ, bất lưỡng thiệt tức không
khiêu khích đề bạt thị phi), bất ác khẩu (không nói xấu
người, mắng người), bất ỷ ngữ (không nói lời điêu ngoa,
xảo trá).
-
Không tham dục, sân nhuế, si mê (không trái với giáo lý của
Phật giáo)
Ngũ
giới:
- không
sát sanh
-
không trộm cắp
-
không tà dâm
-
không vọng ngữ
-
không uống rượu
Ba
nghiệp thiện của ý trong mười giới, không tham dục, không
sân nhuế, không tà kiến là lý thuyết của Phật giáo dùng
để đối trị những phiền não căn bản như tham, sân, si,
ngăn chặn nguyên nhân tạo ra sự luân hồi sanh tử cho nhân
sanh. Phải nói đó vừa là mục tiêu tinh thần mà Phật giáo
truy tìm, cũng là quan niệm tổng quát của đạo đức Phật
giáo, là điểm xuất phát chung để chế định tất cả giới
luật Phật giáo. Ba điểm này đã thể hiện tự nhiên trong
năm giới và tất cả giới luật. Ba nghiệp thiện của thân
cùng ba giới trước trong năm giới đều giống nhau.
Bốn
nghiệp thiện của khẩu trong thập thiện: không vọng ngữ,
khônng lưỡng thiệt, không ác khẩu. Không ỷ ngữ là sự
ngăn cấm từ gốc độ khác nhau, tức ngăn cấm dùng lời
nói để lừa gạt người, tổn hại ngươi, quấy rầy gây
rối hoàn cảnh môi trường xã hội và quan hệ giao tế giữa
người với người. Trong ngũ giới tuy có giới “bất vọng
ngữ”, nhưng nội dung của nó có thể bao gồm ba khẩu nghiệp
khác. Còn như không uống rượu trong năm giới, nói nghiêm
túc nó thuộc về qui tắc đạo đức, là qui định của Phật
giáo. Uống rượu có thể làm cho tinh thần người ta tê liệt,
làm mất đi sự ước chế đối với chính mình, làm cho mình
dễ dàng phạm giới luật, vi phạm hành vi đạo đức, vì
thế phải nghiêm cấm.
Ngũ
giới tuy chế định cho tín đồ tại gia của Phật giáo, nhưng
thực tế cũng bao hàm trong cụ túc giới của Tỳ Kheo, Tỳ
Kheo Ni, cũng có trong “thập trọng giới” của Đại thừa
giới. Vì vậy có thể nói năm giới là giới điều của tất
cả tín đồ Phật giáo, cũng là dùng để chỉ đạo những
quy tắc hành vi đạo đức của chính mình. Trong quá trình
Trung Quốc hóa Phật giáo, học giả Phật giáo gần với ngũ
giới hơn là ngũ thường của Nho giáo (nhân nghĩa, lễ trí
tín) vì họ thấy được trong ngũ giới đã hàm ẩn ý nghĩa
đạo đức, họ đã đem ngũ giới, thập thiện của Phật
giáo và luân lý của Nho giáo dung hợp lại với nhau, do vậy
mở rộng ý nghĩa hàm ẩn của thập thiện và năm giới truyền
thống, điều này có lợi đối với việc truyền bá Phật
giáo đến với các giai tầng xã hội, đồng thời Phật giáo
cũng ảnh hưởng rộng lớn đối với quần chúng.
Ở
thế giới ngày nay, trong sự phát triển cao độ, đồng thời
về công nông nghiệp và khoa học kỹ thuật, xã hội nhân
loại đang đối diện với vô số vấn đề, và con người
càng ngày càng đạt được ý thức chung về việc nâng cao
tinh thần đạo đức và sự tu dưỡng văn hóa cho chính bản
thân mình. Ơû đây người viết muốn nói, nên phát huy Tôn
giáo trong việc nâng cao tác dụng tình cảm đạo đức và
tu dưỡng đạo đức của con người. Phật giáo sở dĩ có
chiều dày lịch sử là vì Phật giáo luôn vì tín đồ thuyết
giáo đạo đức, làm cho con người thuần thục đạo đức,
những tinh thần đạo đức mà hoàn toàn có thể thích ứng
với đặc điểm của thời đại, có thể đưa ra những giải
thích hợp lý và mới mẻ, có tính khoa học, để nhân loại
trong thời đại ngày nay có thể tiếp nhận, đồng thời đẩy
mạnh sự phát triển một nền văn minh lành mạnh cho nhân
loại.
Đạo
đức Phật giáo làm thế nào để thích ứng với xã hội
hiện đại, đã cống hiến được những gì mới mẻ cho xã
hội hiện đại? Người viết cho rằng có thể bắt đầu
từ sự giải thích năm giới, thập thiện, sau đó hướng
đến tín đồ, quảng đại quần chúng trong xã hội tuyên
dương và phổ cập những ý nghĩa và tác dụng sâu rộng của
nó.
Ví
dụ không sát sanh trong ngũ giới, không chỉ bao bàm ý nghĩa
không giết người mà còn phải biết yêu quý động vật,
đồng thời đề xướng lòng nhân từ, có sự tôn trọng sinh
mạng, yêu thương quần chúng dân tộc và các quốc gia trên
thế giới, phản đối tinh thần phân chia và bức hại chủng
tộc giữa các dân tộc với nhau, chặn đứng chiến tranh và
bảo vệ hòa bình; không trộm cắp không chỉ có ý nghĩa không
trộm cắp đồ vật của người khác mà còn phải không nên
dùng những thủ đoạn xảo trá, dối gạt người để lấy
dùng tài sản vật dụng của người khác, đồng thời phản
đối các cường quốc dùng những thủ đoạn buôn bán mậu
dịch không chánh đáng cho đến cưỡng chế, cướp đoạt
những tài vật của người dân cho đến các quốc gia nghèo
yếu; không tà dâm, không chỉ ngăn dừng cá nhân phát sinh
những quan hệ lưỡng tính bất chính, mà còn phải ngăn dứt
các hiện tượng hành vi xấu ác về buôn bán sắc tình đưa
đến sự nguy hại cho phụ nữ, trẻ em, thanh niên; không vọng
ngữ, không chỉ bao hàm không nói lời dối trá giữa cá nhân
với nhau, không nghĩ đến việc lường gạt người, đề xướng
đưa ra những quan hệ giao tế thành tín giữa người với
người, mà còn phản đối những lời nói hoang đường không
chân thật khi các quốc gia giao tế với nhau, phản đối việc
dùng những thủ đoạn đê tiện xảo trá lường gạt nhân
dân và đe dọa sự sống của họ để tự mình đạt được
những lợi ích không chính đáng về chính trị; không uống
rượu, đối với người thường giới này khuyên nếu có
uống rượu thì uống với số lượng vừa phải, đồng thời
đề xướng việc hạn chế hút thuốc, ngăn ngừa sự ô nhiễm
gây nguy hại đến vệ sinh công chúng, tránh được hiện tượng
nguy hại đến công chúng về việc buôn bán ma túy, chích ma
túy v.v….
Nói
về không tham, không sân, không tà kiến trong thập thiện,
bao hàm các phương diện rộng rãi, có thể đề xướng tinh
thần “công chính vô tư ”, “liêm khiết và hòa hợp”
,“khoan dung” ,“vì cộng đồng mà phục vụ”, “truy cầu
và kiên trì với chân lý” v.v…trong xã hội hiện đại để
tiến đến sự dung hợp và trong những trường hợp khác nhau
nên mở rộng sự tuyên xướng. Đối với việc kiến tạo
nền văn minh đạo đức cho xã hội hiện đại, tinh thần
thập thiện rất cần thiết đối với mọi người và quốc
gia.
Nói
về vấn đề Phật giáo thích nghi với xã hội hiện đại,
có rất nhiều vấn đề đáng được chúng ta nghiên cứu thâm
sâu. Ở trên người viết đã nói đến vấn đề nhận thức
và sự thích ứng của đạo đức Phật giáo đối với hoàn
cảnh xã hội và thế giới mới, mục đích muốn giải thích
đây là một trong những vấn đề quan trọng.
TN
Nguyên Liên (dịch)
07-30-2007
11:34:12