MỤC
LỤC
Lời
Ngỏ
Dẫn
Nhập
Mở
Kinh
Khai
Thị
Tác
Pháp Yết Ma
Tụng
Giới
Giới
Rơi rụng (Ba-la-di)
Giới
Tăng thân giải cứu (Tăng-già-bà-thi-sa)
Giới
Buông bỏ và Phát lộ (Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề)
Giới
Phát lộ (Ba-dật-đề)
Giới
Uy nghi (Chúng học)
Phương
pháp Diệt trừ tranh chấp (Diệt tránh)
Kết
Thúc
Bốn
phép Nương tựa
Bốn
cách Xử sự
Hồi
Hướng
Giới
Tăng thân giải cứu
Phương
pháp thực tập Biệt trú, Làm mới và Giải tội
Văn
Phát lộ
Văn
báo cáo mỗi ngày trong thời gian thực tập Biệt trú
Văn
xin thực tập sáu ngày Làm mới
Văn
báo cáo mỗi ngày trong thời gian sáu ngày Làm mới
Văn
Giải tội
Giới
Buông bỏ và Phát lộ
Phương
pháp sám hối trước toàn thể đại chúng hay trước ba, hoặc
hai vị đại diện của tăng đoàn
Lời
Ngỏ
Giới
kinh (Ba-la-đề-mộc-xoa) là con đường
đào luyện người xuất gia. Thực tập theo Giới kinh, người
xuất gia thanh tịnh hóa thân tâm, nuôi dưỡng lòng từ bi để
tiếp xử với mọi loài và đi
tới trên con đường giải thoát. Giới
kinh không phải chỉ là những luật lệ. Phải hiểu giới
như là phép rèn luyện, và mỗi giới trong Giới kinh bảo đảm
cho người xuất gia một lĩnh vực tự do các biệt. Thực tập
theo Giới kinh, ta bảo vệ được tự do trong đời sống
hằng ngày. Và cũng vì vậy,
Giới kinh (Pratimoksha) được dịch là
biệt
biệt giải thoát (tự do trong mọi lĩnh
vực), xứ xứ giải thoát (ở đâu cũng được thảnh
thơi) và đối hướng giải thoát (bước về hướng
thảnh thơi). Giới nào cũng phát xuất
từ sự thực tập chánh niệm. Chánh niệm giúp
ta thấy rõ được những tư tưởng, lời nói và hành động
nào giúp ta đi về phía giải thoát, và những tư tưởng, lời
nói và hành động nào đưa ta về nẻo khổ đau hệ lụy.
Từ
năm thứ năm sau ngày thành đạo, đức Thế Tôn đã bắt đầu
chế giới cho chúng xuất gia, với sự cộng tác của các thầy
lớn. Công trình chế giới này được kéo dài cả bốn mươi
năm, mỗi giới đáp ứng với một trường hợp hoặc
một nhu cầu thực tập. Ngày
đức Thế Tôn nhập Niết bàn, Ngài có dạy
thầy Ananda rằng những giới nhỏ không cần thiết và quan
trọng mấy có thể được bỏ bớt đi để sự
hành trì giới luật luôn mang
tính thích ứng. Nhưng đã hơn 2500 năm mà lời dạy
ấy của đức Bổn sư vẫn chưa được thực hiện.
Mấy
trăm năm sau ngày Bụt nhập diệt, khoảng hai mươi tông phái
Phật giáo đã được hình thành, mỗi tông có luật tạng
(Vinaya Pitaka) riêng của mình. Luật tạng
là
một nền văn học phong phú có mục đích quy định tiêu chuẩn
và phương pháp thực tập để người xuất gia và cộng đồng
xuất gia có thể sống hạnh phúc, thành đạt trong sự nghiệp
giải thoát và giác ngộ. Vì luật tạng của tông phái nào
cũng có nguồn gốc nơi Phật giáo nguyên thỉ, nên thanh quy
và Giới kinh của các tông phái tuy nhiều nhưng đại khái
vẫn cùng chung một tinh thần và nội dung.
Nghi Thức
Tụng Giới
Nam Khất Sĩ
Giới
kinh (Pratimoksha) là trái tim của
luật tạng. Đây là một văn bản mà các vị xuất gia
đã thọ giới lớn phải tụng đọc mỗi
tháng hai lần trong lễ Bố tát
(Uposadha). Bố tát có nghĩa là
trưởng tịnh, nghĩa là nuôi lớn sự thanh tịnh.
Ở Việt Nam và Trung Quốc, các thầy và các
sư cô thường tụng giới bản
của Đàm Vô Đức Bộ (cũng gọi là Pháp
Tạng Bộ, tiếng Phạn là Dharmagupta) trong
khi ở các nước Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện... các thầy
lại tụng giới bản của Xích Đồng Diệp Bộ (Tamrasatiya)
cũng gọi là bộ phái Theravada. Giới bản của Đàm Vô Đức
Bộ có 250 giới về phía nam khất sĩ, trong khi giới bản của
Xích Đồng Diệp Bộ chỉ có 227 giới. Ngoài một vài điểm
sai khác không quan trọng, hai giới bản này gần như giống
hệt với nhau.
Đạo
Bụt phải được duy trì như
một thực tại sống động. Như một thân cây,
các cành khô phải được cắt đi để cho những
nụ mới được xuất hiện. Những
nụ mới này là những giáo lý và những phương pháp
thực tập có thể đáp ứng được những nhu yếu của thời
đại và văn hóa mới. Những phát triển kỹ thuật, tin tức
báo chí và tốc độ của đời sống
mới đã ảnh hưởng nhiều tới
đời sống những người xuất gia. Những dấu hiệu của sự
phá sản và xuống dốc của nếp sống xuất gia đã được
nhận diện rất rõ trong đạo Bụt và ở các tôn giáo khác.
Vì vậy sự có mặt của một Giới bản tân tu đã trở
nên một điều cần thiết.
Hội
đồng giáo thọ của đạo tràng Mai Thôn trong năm năm qua đã
tham vấn với rất nhiều vị luật sư cũng như các vị trưởng
thượng ở Việt Nam và ở ngoại quốc trong quá trình nhận
diện những nhu yếu mới của giới xuất gia để có thể
cống hiến một Giới bản tân tu vừa có tính cách khế cơ
vừa có tính cách thực tiễn. Các vị xuất gia gốc Âu, Mỹ
và Úc Châu cũng đã được tham khảo. Vì vậy Giới bản tân
tu này hy vọng có thể đáp ứng được nhu cầu của giới
xuất gia cả Đông lẫn Tây. Trong khi thực hiện Giới bản
tân tu, chúng tôi đã nỗ lực để đừng gia tăng thêm số
lượng các giới. Số giới trong giới bản của nam khất sĩ
vẫn còn là 250 giới, và trong giới bản của nữ khất sĩ
vẫn còn là 348 giới - y hệt với con số trong giới bản của
Đàm Vô Đức Bộ.
Giới
bản tân tu này đã được công bố lần đầu ngày 31.3.2003
tại Viện Đại Học Tăng Già Trung Ương
ở Hán Thành, Đại Hàn, một trong
những xứ Phật giáo Đại Thừa ở Châu Á.
Trong Giới bản tân tu, những giới không còn thích hợp với
hiện đại được thay thế bằng những giới có công năng
bảo hộ cho sự thực tập và giá trị đích thực của người
xuất gia trong thời đại mới, như những giới có liên hệ
tới sự sử dụng xe hơi, máy vi tính, máy truyền hình, điện
thoại cầm tay, trò chơi điện tử, điện thư và mạng lưới
Internet. Giới bản cổ truyền đáp ứng tuyệt hảo với thời
đại của Bụt, Giới bản tân tu đáp ứng đích thực với
thời đại mới, rất thiết thực, không hề có tính
cách lý thuyết hoặc giả định.
Các vị luật sư trong khi giảng dạy giới bản
luôn luôn nói về nguồn gốc của sự chế giới cho từng
giới; Giới bản tân tu cũng vậy, các giới mới được chế
tác cũng căn cứ trên môi trường sinh hoạt của tăng thân
trong xã hội hiện thời.
Sự
công bố Giới bản tân tu sẽ
ảnh hưởng không những tới giới Phật giáo mà
cũng sẽ có ảnh hưởng tới các tôn giáo khác. Và đây không
phải chỉ là một sự kiện thuộc giới tâm linh và tôn giáo:
nó còn là một sự kiện văn hóa.
Có
người hỏi: Quý vị là ai mà dám tu chỉnh giới của Bụt
? Câu trả lời: Chúng ta đều là con của đức Thế Tôn, và
chúng ta là sự tiếp nối của Người. Chúng ta phải làm cho
được điều mà đức Thế Tôn phó thác. Đức Thế Tôn đã
để ra rất nhiều tâm huyết để đào tạo tăng thân xuất
gia của Người. Đạo Bụt sở dĩ còn có mặt, đó là nhờ
giáo đoàn xuất gia chưa bao giờ
từng đứt đoạn. Mục đích của sự
tân tu giới bản là để yễm trợ cho người xuất gia tự
bảo hộ được tự do của mình, để cho con đường giải
thoát đích thực có thể tiếp tục, và để cho Bụt và giáo
đoàn nguyên thỉ của Người còn được tiếp tục mãi mãi
về sau cho thật tốt đẹp.
Đạo
Bụt đang được phát triển ở phương Tây. Nếu không có
những tăng thân xuất gia vững mạnh và chính thống, thì đạo
Bụt ở đây sẽ chỉ có thể có một phong trào nhất thời
rồi sẽ tan rã. Nếu không có một tăng đoàn xuất gia tu học
vững chãi có gốc rễ sâu sắc nơi giáo lý và hành trì của
Bụt thì dù đó là một cuộc cách mạng văn hóa hay
một phong trào văn hóa, nó cũng
sẽ bị quét sạch và không để lại những dấu
vết gì đáng kể trong xã hội.
Để
cho đạo Bụt còn mãi là một truyền thống sinh động, giáo
lý và hành trì phải có tính khế cơ. Giới kinh không
phải chỉ để cho chúng ta nghiên
cứu và giảng thuyết thao thao bất tuyệt mà không
đem ra thực hành cho có hiệu quả. Đức
Thế Tôn tin cậy nơi sự thông
minh, tuệ giác và lòng can đảm của các thế hệ đệ tử
tương lai để cho giáo lý và sự thực tập mà Ngài truyền
trao được luôn luôn đổi mới, đáp ứng được những nhu
cầu của từng thời đại. Vì vậy cho nên công việc tân
tu Giới kinh rất là cần thiết.
Theo
truyền thống, người thọ giới lớn phải học giới ít nhất
là trong năm năm từ ngày thọ giới; trong trường hợp chúng
ta, thì phải học cả giới bản cổ truyền và giới bản
tân tu. Ta không nên học giới
với mục đích trở thành học giả
hoặc nhà chuyên môn nghiên cứu,
mà phải học để hành trì để tiến bước trên đường
tịnh hóa và giải thoát, thấy rằng các giới điều, các
uy nghi và các thanh quy là thiết yếu cho sự sống còn của
giáo đoàn xuất gia. Học hỏi và thực tập Giới kinh tân
tu cùng với cổ truyền, chúng ta sẽ khám phá trở lại được
cái đẹp, cái lành và cái thật của nếp sống phạm hạnh.
Người
tại gia có cơ hội đọc Giới bản tân tu sẽ có khả năng
phân biệt được vị xuất gia nào có hành trì giới luật
nghiêm túc và vị nào không hành trì, do đó sẽ biết yểm
trợ cho giáo đoàn xuất gia một cách hữu hiệu.
Chúng
tôi xin hồi hướng công đức để tất cả chúng ta có dịp
đền ơn Phật tổ và chư vị thánh tăng đã trao truyền giáo
pháp mầu nhiệm cho các thế hệ tương lai. Chúng tôi tin tưởng
rằng giữ cho đạo Bụt được sinh động, lành mạnh, không
bị xuống cấp và hư nát, đó là bổn phận của tất cả
những người Phật tử chân chính.
Thiền
sư Nhất Hạnh và
Hội
Đồng Giáo Thọ Đạo Tràng Mai Thôn
Dẫn
Nhập
Giới
bản tân tu này cần được học hỏi và thực tập song song
với giới bản cổ truyền. Điều này được ghi nhận nơi
giới thứ một trăm mười của các giới Phát lộ
(Ba-dật-đề):
"Vị
nam khất sĩ nào sau một năm thọ giới lớn mà chưa bắt đầu
học giới bản cổ truyền song song với giới bản tân tu,
vị ấy phạm giới Phát lộ."
Khi
học hỏi giới bản cổ truyền ta hiểu được và trân quý
giới bản tân tu, và khi học giới bản tân tu ta hiểu được
và trân quý giới bản cổ truyền. Truyền thống hành trì
này sẽ giúp cho các thế hệ tương lai còn có đủ cơ duyên
để học hỏi về giới bản cổ truyền và thấy được hoàn
cảnh xã hội và cách thức sinh hoạt của tăng đoàn nguyên
thỉ.
Mục
đích của giới là để bảo hộ tăng đoàn, giúp cho tăng
đoàn đi lên trong sự thực tập và ngăn ngừa sự hủ nát
và trụy lạc. Chúng tôi hết lòng cảm tạ chư Bụt và các
thế hệ Thánh tăng đi trước đã cho chúng tôi tạm đủ nhận
thức và can đảm để cống hiến giới bản tân tu này. Chúng
tôi rất hân hoan khi thấy giới bản tân tu này được chào
đời, vì đây là một hoài vọng mà các thế hệ cha anh chúng
tôi đã ôm ấp từ lâu, giờ đây mới thực hiện được.
Đức
Thế Tôn thường dạy là phải học hỏi và thực tập giáo
pháp của Ngài một cách thông minh, như người
bắt rắn phải nắm vững được thủ thuật bắt rắn, nếu
không sẽ bị rắn làm hại. Giáo pháp muốn tiếp tục được
hữu hiệu trong việc độ đời, phải có tính cách khế lý
và khế cơ. Giới bản tân tu này tuy cũng có 250 giới điều
như giới bản cổ truyền nhưng đáp ứng được một cách
thỏa đáng cho nhu yếu thực tập của người xuất gia trong
thời đại hiện tại. Sự thực tập nghiêm chỉnh theo giới
bản tân tu sẽ cứu chữa được tình trạng xuống dốc của
một số đáng kể những người xuất gia hiện nay. Xin các
vị cao đức từ bi soi sáng thêm để cho tính khế lý và khế
cơ ấy của giới bản Ba-la-đề-mộc-xoa
càng ngày càng thêm vững chãi và sáng tỏ.
Mong rằng cứ mỗi hai mươi năm giới bản này lại được
tu chỉnh một lần.
Nếu
nhận thấy nhu yếu cấp tốc
phải đọc tụng và hành trì giới
bản tân tu này thì xin các
vị sư trưởng khuyến khích đại chúng làm ngay
như thế. Trong thời gian một vài năm, sự tụng đọc và hành
trì nghiêm chỉnh giới bản tân tu chắc chắn sẽ đem lại
kết quả: phẩm chất của tăng đoàn sẽ là bằng chứng hùng
hồn nhất cho tính hữu hiệu và khế cơ của giới bản ấy.
Hội
Đồng Giáo Thọ Đạo Tràng Mai Thôn
Mở
Kinh
Nam
mô đức Bổn Sư Bụt Thích Ca
Mâu Ni (ba lần) (C)
Giới
luật cao siêu mầu nhiệm
Cơ
duyên may được thọ trì
Xin
nguyện đi vào biển tuệ
Tinh
thông giáo nghĩa huyền vi. (C)
Khai
Thị
Chúng
con cúi đầu làm lễ chư Bụt, tôn Pháp và đại Tăng. Giờ
phút này chúng con thuyết tụng giới luật để chánh pháp
được duy trì lâu dài trên cõi đời này. Giới luật như
biển cả, học hỏi và thực tập suốt đời vẫn còn thấy
thiết yếu. Giới luật như châu báu, ai cũng muốn tìm cầu
không mỏi mệt.
Chính
vì muốn bảo vệ gia sản thiêng liêng của Chánh Pháp nên
đại chúng đã tập họp để nghe tôi thuyết tụng giới luật
hôm nay. Chính vì muốn ngăn ngừa sự vi phạm bốn giới
Rơi rụng, hai mươi bảy giới
Tăng thân giải cứu, ba mươi hai giới Buông
bỏ và Phát lộ, một trăm mười giới Phát Lộ,
bảy mươi giới Uy nghi và bảy phương pháp Diệt
trừ tranh chấp mà đại chúng đã tập họp để nghe tôi
thuyết tụng.
Các
đức Bụt Tỳ-bà-thi, Thi-khí, Tỳ-xá-phù,
Câu- lưu-tôn, Câu-na-hàm-mâu-ni, Ca-diếp và Thích-ca-văn đã
vì chúng ta chế tác giới pháp này. Chúng ta hãy cung kính tiếp
nhận, học hỏi, bảo hộ và bồi đắp để cho giới pháp
càng ngày càng thích ứng với thời cơ mà duy trì được mạng
mạch của Chánh Pháp. Giờ đây tôi xin thuyết tụng để đại
chúng cùng nghe.
Người
bị què chân không thể nào đi được, kẻ phạm giới cũng
vậy, không thể nào sinh vào cõi trời và cõi người.
Nếu muốn được sinh vào các
cõi trời và cõi người để dễ dàng tu học
thì phải hành trì giới luật đầy đủ, đừng
để vi phạm. Người phạm giới
lâm vào tâm trạng lo âu sợ hãi, như khi đi vào
con đường hiểm, cỗ xe ngựa sẽ bị mất chốt xe và làm
gãy trục xe.
Tụng
giới cũng như soi vào tấm gương sáng, đẹp thì mừng, xấu
thì lo; giới thể thanh tịnh thì hân hoan, giới thể tổn hại
thì ngại ngùng. Tụng giới cũng như chiến tranh giáp trận,
có can đảm thì tiến tới, ai run sợ thì bỏ chạy; giới
thể thanh tịnh thì an vui, giới thể tổn hại thì lo lắng.
Trong một xã hội thực sự dân chủ, dân có địa vị cao
nhất; trên mặt đất, biển bao la hơn tất cả mọi sông hồ;
trong các Thánh nhân, Bụt là bậc giác ngộ cao tột; trong các
luật pháp, Giới kinh là cao quý hơn cả.
Bụt
đã chế ra giới bản để chúng ta tụng đọc mỗi nửa tháng
một lần. (C)
*
*
*
Tác
Pháp Yết Ma
+ Vị
Yết Ma: Đại chúng đã tập họp
đầy đủ chưa?
+
Vị Thủ Chúng: Thưa, đại chúng đã tập họp đầy đủ.
+
Vị Yết Ma: Có sự hòa hợp không?
+
Vị Thủ Chúng: Thưa, có sự hòa hợp.
+
Vị Yết Ma: Những người chưa thọ giới lớn đã ra khỏi
nơi này chưa?
+
Vị Thủ Chúng: Thưa, những người chưa thọ giới lớn đã
ra khỏi nơi này rồi.
+
Vị Yết Ma: Có vị nào vắng mặt đã yêu cầu được đại
diện và gởi theo sự thanh tịnh không?
+
Vị Thủ Chúng: Thưa, không có. (Trong trường hợp
có thì nói: "Có nam khất sĩ_______, vì lý do sức khỏe không
đến tụng giới, đã yêu cầu nam khất sĩ_____đại diện
và gửi theo sự thanh tịnh")
+
Vị Yết Ma: Có đại diện của đại chúng nữ khất sĩ được
gửi tới hôm nay không?
+
Vị Thủ Chúng: (Có thì đáp: ‘‘Dạ thưa có’’, và đọc
tên vị nữ khất sĩ. Không thì đáp: ‘‘Dạ thưa không’’.)
+
Vị Yết Ma: Đại chúng hôm nay tập
họp có chủ đích gì?
+
Vị Thủ Chúng: Thưa, đại chúng hôm nay tập họp để thực
hiện yết ma tụng giới lớn.
+
Vị Yết Ma : Xin đại chúng các vị nam khất sĩ lắng nghe!
Hôm nay ngày _________, ngày thuyết tụng giới luật, chúng
ta đã tập họp đúng giờ giấc,
đại chúng đồng ý sẵn sàng nghe
thuyết tụng giới luật trong tinh thần hòa
hợp, như vậy việc tụng giới là hợp pháp. Bạch như thế,
thì phép tác bạch có thành hay không?
(Đại
chúng đáp : Thành) (C)
*
*
*
Các
vị đại đức, tôi sắp tuyên đọc giới bản nam khất sĩ.
Xin quý vị lắng nghe và thẩm định kỹ càng. Nếu vị nào
tự biết là mình phạm giới
thì nên sám hối, nếu không phạm giới
thì im lặng, và khi quý vị đại đức giữ sự im lặng thì
có nghĩa là giới thể của quý vị đại đức thanh tịnh.
Nếu sau này có người hỏi, các vị đại
đức cũng sẽ đáp như vậy. Trong buổi tụng giới này, nếu
có phạm giới mà được hỏi ba lần cũng không lên tiếng,
thì vị đại đức ấy đã phạm vào giới cố tình nói dối.
Theo lời Bụt dạy, cố tình nói dối
là một chướng ngại cho con đường
thực hiện thánh quả. Nếu thấy và biết mình có phạm giới
và muốn cho giới thể thanh tịnh trở lại, vị nam khất sĩ
phải thực hiện pháp sám hối, sám hối xong thì sẽ được
an lạc trở lại.
Các
vị đại đức nam khất sĩ, tôi đã đọc xong phần vào đề
của Giới kinh.
Nay
xin hỏi: Các vị đại đức trong đại chúng đây có sự thanh
tịnh không? (ba lần)
Các
vị đại đức đã im lặng, vì thế tôi biết trong đại chúng
có sự thanh tịnh. Điều này chúng ta ý thức, ghi nhận và
thông qua. (C)
Tụng
Giới
Giới
Rơi rụng (Ba-la-di)
Các
vị đại đức! Đây là bốn giới cực trọng, gọi là Rơi
rụng (Ba-la-di), mỗi nửa tháng tụng
một lần.
Giới
thứ nhất:
Vị
nam khất sĩ nào làm việc dâm dục, dù với người nữ hay
người nam, dù có hay không có sự đồng ý của người này,
vị ấy phạm vào giới thứ nhất của bốn giới Rơi rụng,
không còn xứng đáng là một nam khất sĩ, và không còn được
tham dự vào sinh hoạt của Tăng đoàn nam khất sĩ.
Giới
thứ hai:
Vị
nam khất sĩ nào xâm phạm vào tài sản của công hay của tư,
một sự xâm phạm có thể đưa vị nam khất sĩ này ra tòa
để xét xử, vị ấy phạm vào giới thứ hai của bốn giới
Rơi
rụng, không còn xứng đáng là một nam khất sĩ, và không
còn được tham dự vào sinh hoạt của Tăng đoàn nam khất
sĩ.
Giới
thứ ba:
Vị
nam khất sĩ nào xâm phạm đến mạng sống của người, bằng
hành động, lời nói hay ý định của mình, vị ấy phạm
vào giới thứ ba của bốn giới Rơi rụng, không còn
xứng đáng là một nam khất sĩ, và không còn được tham dự
vào sinh hoạt của Tăng đoàn nam khất sĩ.
Giới
thứ tư:
Vị
nam khất sĩ nào không có chứng đắc mà tuyên bố rằng mình
có chứng đắc, vị ấy phạm vào giới thứ tư của
bốn giới Rơi rụng, không còn
xứng đáng là một nam khất sĩ, và không còn
được tham dự vào sinh hoạt của Tăng đoàn nam khất sĩ.
Các
vị đại đức! Tôi đã tuyên thuyết xong bốn giới Rơi
rụng, nghĩa là bốn giới mà sự vi phạm chứng tỏ sự
thất bại của một nam khất sĩ. Vị nam khất sĩ nào phạm
một trong bốn giới ấy sẽ không còn được ở chung với
Tăng đoàn nam khất sĩ.
Nay
tôi xin hỏi các vị đại đức: Đối với bốn giới ấy
trong đại chúng có sự thanh tịnh không? (ba lần)
Các
vị đại đức đã im lặng, vì thế tôi biết trong đại chúng
có sự thanh tịnh. Điều này chúng ta ý thức, ghi nhận và
thông qua. (C)
Giới
Tăng thân giải cứu (Tăng-già-bà-thi-sa)
Các
vị đại đức! Đây là hai mươi bảy giới Tăng thân giải
cứu (Tăng-già-bà-thi-sa), mỗi nửa tháng
tụng một lần.
1-
Vị nam khất sĩ nào có chủ ý dâm dục mà đụng chạm vào
thân thể người khác, dù người nữ hay người nam, vị ấy
phạm giới Tăng thân giải cứu.
2-
Vị nam khất sĩ nào có chủ ý dâm dục mà dùng những lời
có tác dụng khích động dâm tính nói với người nữ hoặc
nói với người nam, vị ấy phạm giới Tăng thân giải cứu.
3-
Vị nam khất sĩ nào có chủ ý dâm dục mà nói với người
nữ hoặc người nam nên hiến tặng sự dâm dục cho mình,
vị ấy phạm giới Tăng thân giải cứu.
4-
Vị nam khất sĩ nào ngỏ lời hay viết thư đề nghị một
vị xuất gia ra đời với mình, vị ấy phạm giới Tăng thân
giải cứu.
5-
Vị nam khất sĩ nào làm việc mai mối hay chủ hôn cho hai người
đồng phái hoặc khác phái, vị ấy phạm giới Tăng thân giải
cứu.
6-
Vị nam khất sĩ nào vì giận hờn, ganh ghét mà vu cáo một
vị nam khất sĩ khác về tội Rơi rụng, cố
ý
làm hư hoại thanh danh của vị kia, vị ấy phạm giới Tăng
thân giải cứu.
7-
Vị nam khất sĩ nào vì giận hờn, ganh ghét mà lấy một lỗi
nhỏ của một vị nam khất sĩ khác để phóng đại
ra thành tội Rơi rụng, cố ý
làm hư hoại thanh danh của vị kia, vị ấy phạm giới
Tăng thân giải cứu.
8-
Vị nam khất sĩ nào dựa vào thế lực chính quyền để hiếp
đáp, dọa nạt những phần tử khác trong tăng chúng, vị ấy
phạm giới Tăng thân giải cứu.
9-
Vị nam khất sĩ nào trở thành thành viên của một đảng
phái hay một tổ chức chính trị, hoặc bí mật hoặc công
khai, vị ấy phạm giới Tăng thân giải
cứu.
10-
Vị nam khất sĩ nào làm do thám và lấy tin tức của tăng
thân cung cấp cho một đảng phái hoặc một tổ chức chính
trị, vị ấy phạm giới Tăng thân giải cứu.
11-
Vị nam khất sĩ nào hưởng lương bổng của chính quyền hay
của một đảng phái hoặc một tổ chức chính trị, vị ấy
phạm giới Tăng thân giải cứu.
12-
Vị nam khất sĩ nào không chịu
giáo huấn đồ chúng mà cũng không cho các vị ấy
đi nơi khác để tham học kinh điển và các pháp môn tu tập,
cứ để các vị đó yếu kém về giáo lý và tu tập một
cách mù mờ, sai lệch, vị ấy phạm giới Tăng thân giải
cứu.
13-
Vị nam khất sĩ nào chỉ mới nghe nói hoặc đọc sơ qua
về những pháp môn thuộc một
tông phái hay một truyền thống khác, chưa có cơ hội
thực sự học hỏi và thể nghiệm các pháp môn đó mà đã
lên tiếng hoặc viết báo để
bài xích, vị ấy phạm giới Tăng thân giải
cứu.
14-
Vị nam khất sĩ nào nói ra lời phủ nhận công ơn cha mẹ,
thầy tổ, bè bạn và đàn na thí chủ, vị ấy phạm giới
Tăng thân giải cứu.
15-
Vị nam khất sĩ nào ly khai tăng thân, đứng ra lập am cốc
hoặc chùa một mình mà không có phép của tăng thân,
vị ấy phạm giới Tăng thân
giải
cứu.
16-
Vị nam khất sĩ nào xây am cốc hoặc chùa cho mình mà không
hỏi ý kiến của tăng thân về địa điểm và cách thức,
xây dựng quá kích thước cần sử dụng và có tính cách gây
chướng ngại cho kẻ khác hay cho sự lưu thông, vị ấy phạm
giới Tăng thân giải cứu.
17-
Vị nam khất sĩ nào vì việc dựng chùa hay am cốc mà vướng
vào một vụ tranh chấp đất đai và ra tòa kiện tụng, vị
ấy phạm giới Tăng thân giải
cứu.
18-
Vị nam khất sĩ nào biến sự
thực tập hộ niệm thành nghề cúng bái, đưa
ra giá cả cần phải trả cho một buổi lễ hoặc một đám
tang, vị ấy phạm giới Tăng thân giải cứu.
19-
Vị nam khất sĩ nào lấy tiền nuôi chúng để xây dựng cơ
sở, trong khi tăng chúng áo quần rách rưới, ăn uống thiếu
thốn, thuốc men không có, vị ấy phạm giới Tăng thân giải
cứu.
20-
Vị nam khất sĩ nào sống cẩu thả bê bối làm tổn hoại
tín tâm người cư sĩ đối với Tam bảo, được can ngăn tới
ba lần mà vẫn không nghe, vị ấy phạm giới Tăng thân giải
cứu.
21-
Vị nam khất sĩ nào để hết thời giờ và công sức mình
theo đuổi công việc tổ chức và điều hành, mà quên rằng
mục đích của người xuất gia là tu tập để giải thoát
và độ đời, được nhắc nhở tới ba lần mà vẫn không
thay đổi, vị ấy phạm giới Tăng thân giải cứu.
22-
Vị nam khất sĩ nào dùng ngôn từ và hành động có tác dụng
phá hoại sự hòa hợp của một đoàn thể tăng chúng, được
can ngăn tới ba lần mà vẫn không nghe, vị ấy phạm giới
Tăng thân giải cứu.
23-
Vị nam khất sĩ nào tạo ra thế tranh chấp trong tăng thân,
làm cho năng lượng tu học của tăng thân đi xuống, được
can ngăn tới ba lần mà vẫn không nghe, vị ấy phạm giới
Tăng thân giải cứu.
24-
Vị nam khất sĩ nào đóng góp vào việc lập phe đảng, gây
ra sự rạn nứt và chia rẽ của tăng đoàn, được can ngăn
tới ba lần mà vẫn không nghe, vị ấy phạm giới Tăng thân
giải cứu.
25-
Vị nam khất sĩ nào vì lý do bất mãn, dựa vào thế lực
của chính quyền để gây ra sự rạn nứt trong tăng đoàn,
hoặc không có phép tăng sai mà ly khai tăng đoàn, rồi quyến
rũ những thành phần của tăng đoàn ra thành lập một tăng
đoàn mới, được can ngăn tới ba lần mà vẫn không nghe,
vị ấy phạm giới Tăng thân giải cứu.
26-
Vị nam khất sĩ nào ngoan cố, từ chối không nghe lời khuyên
nhủ và giáo giới của các vị nam khất sĩ khác về kinh,
luật, luận và sự tu tập mà nói rằng quý vị đừng quấy
rầy tôi nữa, hãy để cho tôi yên, được can
ngăn tới ba lần mà vẫn không
nghe, vị ấy phạm giới Tăng thân giải cứu.
27-
Vị nam khất sĩ nào thuyết giảng hay hướng dẫn tu tập sai
lệch với giáo lý và tinh thần chuyển hóa và trị liệu của
đạo Bụt, được các vị nam khất sĩ khác nhắc nhở tới
ba lần mà vẫn không chịu lắng nghe và sửa đổi, vị ấy
phạm giới Tăng thân giải cứu.
Các
vị đại đức! Tôi đã tuyên thuyết xong hai mươi bảy giới
Tăng
thân giải cứu, mười chín giới trước vừa phạm là
đã thành tội, tám giới sau chỉ thành tội sau ba lần can
ngăn mà không có hiệu quả. Vị nam khất sĩ nào phạm vào
một trong hai mươi bảy giới ấy mà cố tình che giấu thì
sẽ bị khép vào kỷ luật biệt trú trong một thời gian tương
đương với thời gian che giấu ấy, sau đó mới được thực
tập sáu ngày Làm mới trước khi làm lễ Giải tội.
Nay
xin hỏi các vị đại đức: Đối với hai mươi bảy giới
Tăng
thân giải cứu ấy trong đại
chúng có sự thanh tịnh không? (ba lần)
Các
vị đại đức im lặng, vì thế
tôi biết trong đại chúng có sự thanh tịnh.
Điều này chúng ta ý thức, ghi nhận và thông qua. (C)
*
*
*
Giới
Buông bỏ và Phát lộ (Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề)
Các
vị đại đức! Đây là ba mươi hai giới Buông bỏ và
Phát lộ (Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề), mỗi
nửa tháng tụng một lần.
1-
Vị nam khất sĩ nào cất giữ và sử dụng thuốc hút hoặc
các chất ma túy khác, vị ấy phạm giới Buông bỏ và Phát
lộ.
2-
Vị nam khất sĩ nào cất giữ và buôn bán sách tiểu thuyết,
kiếm hiệp hoặc sách bói tử vi, vị ấy phạm giới Buông
bỏ và Phát lộ.
3-
Vị nam khất sĩ nào cất giữ những sản phẩm độc hại
như phim truyện, băng hình, nhạc và trò chơi điện tử của
thế tục, vị ấy phạm giới Buông bỏ và Phát lộ.
4-
Vị nam khất sĩ nào cất giữ máy vô tuyến truyền hình, vidéo,
máy hát karaoke, máy chơi điện tử và các thứ máy móc khác
dùng để tiêu thụ phim, nhạc và trò chơi điện tử của
thế tục, vị ấy phạm giới Buông bỏ và Phát lộ.
5-
Vị nam khất sĩ nào có địa chỉ điện thư (e-mail) riêng,
trừ khi có phép của tăng thân, vị ấy phạm giới Buông bỏ
và Phát lộ.
6-
Vị nam khất sĩ nào có xe hơi riêng, hoặc sử dụng những
loại xe hay điện thoại đắt tiền, màu sắc sặc sỡ, bóng
loáng, vị ấy phạm giới Buông bỏ và Phát lộ.
7-
Vị nam khất sĩ nào nghĩ rằng tiền bạc và của cải có
thể đảm bảo cho sự an ninh của mình mà tìm cách tích lũy,
để cho tiền bạc và của cải làm trở ngại đường tu của
mình, vị ấy phạm giới Buông bỏ và Phát lộ.
8-
Vị nam khất sĩ nào đứng tên
mở trương mục ngân hàng riêng, trừ trường hợp
được tăng thân cho đi du học nước ngoài, vị ấy phạm
giới Buông bỏ và Phát lộ.
9-
Vị nam khất sĩ nào không phải do tăng sai mà một mình đứng
tên quản lý tài sản của một tự viện hay của một tổ
chức từ thiện, vị ấy phạm giới Buông bỏ và Phát lộ.
10-
Vị nam khất sĩ nào sử dụng
ngân sách của tự viện hay ngân sách của tổ
chức từ thiện để nuôi dưỡng người thân mà không có
sự đồng ý của các vị khác trong tự viện hay trong tổ
chức từ thiện, vị ấy phạm giới Buông bỏ và Phát lộ.
11-
Vị nam khất sĩ nào gửi tiền đầu tư; cho vay; hùn vốn kinh
doanh; buôn bán chứng khoán, nhà cửa, đất đai; chơi hụi,
chơi xổ số hoặc số đề, vị ấy phạm giới Buông bỏ
và Phát lộ.
12-
Vị nam khất sĩ nào sử dụng các loại chuỗi hoặc tràng
hạt bằng ngọc đắt tiền, màu
sắc sặc sỡ giống những thứ trang sức của người
thế gian; hoặc đeo các thứ vàng bạc, đá quý dù đó là
vật kỷ niệm của người thân; hoặc trồng hay bịt răng
bằng vàng bạc, vị ấy phạm
giới Buông bỏ và Phát lộ.
13-
Vị nam khất sĩ nào mua sắm và tàng trữ những món đồ cổ
đắt tiền, nâng niu giữ gìn như tài sản quý báu, vị ấy
phạm giới Buông bỏ và Phát lộ.
14-
Vị nam khất sĩ nào chất chứa quá nhiều sách vở dù là
kinh sách Phật học, một mình vướng mắc bo bo cất giữ,
không dám cho người khác mượn, cũng không chịu ký thác vào
thư viện chung của chúng tăng, vị ấy phạm giới Buông bỏ
và Phát lộ.
15-
Vị nam khất sĩ nào chứa nhiều vải dư mà không đem ra chúng
tăng sử dụng hay san sẻ cho người thiếu thốn, vị ấy phạm
giới Buông bỏ và Phát lộ.
16-
Vị nam khất sĩ nào có trên ba chiếc y lễ phục (an-đà-hội,
uất-đa-la-tăng, tăng-già-lê), có trên ba chiếc y giáo
phục (áo tràng hay nhựt bình), có trên ba bộ
y thường phục (vạt hò), mà
không chịu gửi lại chúng tăng cất giữ cho các bạn đồng
tu đến sau (trừ y phục lao động, đồ lót bên trong và áo
ấm cần thiết cho xứ lạnh), vị ấy phạm giới Buông bỏ
và Phát lộ.
17-
Vị nam khất sĩ nào sử dụng
những loại pháp phục làm bằng các
loại vải mỏng dánh, bóng loáng, trơn
mướt, sặc sỡ, gắn kim tuyến hạt cườm lấp lánh, vị
ấy phạm giới Buông bỏ và Phát lộ.
18-
Vị nam khất sĩ nào chế ra những kiểu quần áo theo thời
trang của thế tục hay bắt chước ăn mặc theo kiểu dáng
của kẻ giàu sang quyền quý, đánh mất nếp sống đơn giản
của người tu hạnh viễn ly giải thoát, vị ấy phạm giới
Buông bỏ và Phát lộ.
19-
Vị nam khất sĩ nào mua sắm những vật dụng cá nhân thuộc
loại thượng hạng, sang trọng, vị ấy phạm giới Buông bỏ
và Phát lộ.
20-
Vị nam khất sĩ nào cất giữ và sử dụng những loại giày
dép sang trọng, hoặc kiểu dáng thời trang, vị ấy phạm giới
Buông bỏ và Phát lộ.
21-
Vị nam khất sĩ nào chất chứa nhiều dầu gội, bột giặt,
kem đánh răng, khăn, bàn chải... mà không chịu đem ra chia
sẻ với chúng tăng, vị ấy phạm giới Buông bỏ và Phát
lộ.
22-
Vị nam khất sĩ nào vào y viện chữa trị mà nằm phòng
bệnh riêng loại sang trọng, vị
ấy phạm giới Buông bỏ và Phát lộ.
23-
Vị nam khất sĩ nào nằm giường nệm sang trọng, vị ấy
phạm giới Buông bỏ và Phát lộ.
24-
Vị nam khất sĩ nào trang trí phòng ốc của mình sang trọng
và đầy dẫy tiện nghi như nhà thế tục, vị ấy phạm giới
Buông bỏ và Phát lộ.
25-
Vị nam khất sĩ nào chất chứa nhiều thức ăn, thức uống
trong rương tủ mà không chịu đem ra cho đại chúng dùng, vị
ấy phạm giới Buông bỏ và Phát lộ.
26-
Vị nam khất sĩ nào đến với người thế tục hoặc bà con
để quyên góp tài vật làm của
riêng, vị ấy phạm giới Buông bỏ và Phát lộ.
27-
Vị nam khất sĩ nào sử dụng tài vật không đúng với
ý nguyện của người dâng cúng
mà không báo lại cho vị đó biết, khiến vị đó buồn
khổ, giận hờn, vị ấy phạm giới Buông bỏ và Phát lộ.
28-
Vị nam khất sĩ nào chỉ ham thích việc buôn bán, trồng trọt...
dù là để tạo tài chính cho tự viện mà bỏ phế các thời
khóa tu học cùng đại chúng, vị ấy phạm giới Buông bỏ
và Phát lộ.
29-
Vị nam khất sĩ nào nuôi súc vật và chim muông với mục đích
tiêu khiển hoặc bán cho người khác để kiếm tiền, vị
ấy phạm giới Buông bỏ và Phát lộ.
30-
Vị nam khất sĩ nào cất giữ đồ vật của chúng tăng để
sử dụng riêng hoặc đem cho người khác mà không xin phép,
vị ấy phạm giới Buông bỏ và Phát lộ.
31-
Vị nam khất sĩ nào sử dụng tài vật của thường trụ trái
với ý nguyện của chúng tăng, khiến chúng tăng không vui và
đánh mất sự hòa hợp, vị ấy phạm giới Buông bỏ và Phát
lộ.
32-
Vị nam khất sĩ nào sử dụng
tài vật của chúng tăng một cách
phung phí như tiền bạc, nước, điện,
điện thoại, xe hơi..., vị ấy phạm giới Buông bỏ và Phát
lộ.
Các
vị đại đức! Tôi đã tuyên thuyết xong ba mươi hai
giới Buông bỏ và Phát lộ. Vị nam
khất sĩ nào phạm vào một trong ba mươi hai giới
ấy thì phải hướng về tăng thân, hoặc trước ba vị, hoặc
hai vị nam khất sĩ đại diện cho tăng thân để buông bỏ
và trao trả tiền bạc hay phẩm vật mình đang cất giữ rồi
phát lộ sám hối.
Nay
xin hỏi các vị đại đức: Đối với ba mươi hai giới Buông
bỏ và Phát lộ ấy trong đại chúng
có sự thanh tịnh không? (ba lần)
Các
vị đại đức im lặng, vì thế
tôi biết trong đại chúng có sự thanh tịnh.
Điều này chúng ta ý thức, ghi nhận và thông qua. (C)
*
*
*
Giới
Phát lộ (Ba-dật-đề)
Các
vị đại đức! Đây là một trăm mười giới Phát lộ
(Ba-dật-đề), mỗi nửa tháng tụng một
lần.
1-
Vị nam khất sĩ nào làm việc thủ dâm, trừ trong giấc chiêm
bao, vị ấy phạm giới Phát lộ.
2-
Vị nam khất sĩ nào hẹn hò đi chơi với một người nữ
thế tục hoặc nữ xuất gia, vị ấy phạm giới Phát lộ.
3-
Vị nam khất sĩ nào một mình cùng với một người nữ thế
tục hoặc nữ xuất gia ngồi chỗ khuất, vắng vẻ, vị ấy
phạm giới Phát lộ.
4-
Vị nam khất sĩ nào một mình ngồi trên xe hoặc trên
thuyền với một người nữ thế
tục hoặc nữ xuất gia, trừ trường hợp khẩn
cấp hoặc tăng sai, vị ấy phạm giới Phát lộ.
5-
Vị nam khất sĩ nào viết thư
hay tặng quà kỷ niệm cho một người nữ thế
tục hoặc nữ xuất gia để biểu lộ và chinh phục tình cảm,
vị ấy phạm giới Phát lộ.
6-
Vị nam khất sĩ nào từ khước sự giúp đỡ của các bạn
đồng tu mà lại để người nữ thế tục hoặc nữ xuất
gia chăm sóc và nuôi bệnh, vị ấy phạm giới Phát lộ.
7-
Vị nam khất sĩ nào gọi điện
thoại cho người khác phái vào ban đêm, trừ trường
hợp khẩn cấp và có báo cho các bạn đồng tu biết, vị
ấy phạm giới Phát lộ.
8-
Vị nam khất sĩ nào được tới bốn vị nam khất sĩ trở
lên nhắc nhở là đang bị vướng mắc tình cảm với một
vị khác mà không lắng nghe lại còn chối quanh, tìm cách phủ
nhận hoặc tỏ ý giận dữ, vị ấy phạm giới Phát lộ.
9-
Vị nam khất sĩ nào cố ý nhìn súc vật giao hợp, vị ấy
phạm giới Phát lộ.
10-
Vị nam khất sĩ nào trong khi chuyện trò kể lại những chuyện
dâm dục từ phim ảnh, sách báo hay do người khác kể lại...,
vị ấy phạm giới Phát lộ.
11-
Vị nam khất sĩ nào biết người nam kia có bệnh nan y truyền
nhiễm, hoặc trốn nợ thuế, hoặc phạm tội hình sự, hoặc
không được vợ con đồng ý mà vẫn cho người đó xuất
gia, vị ấy phạm giới Phát lộ.
12-
Vị nam khất sĩ nào biết người nam kia chưa đủ hai mươi
tuổi, hoặc biết đại chúng không chấp thuận mà vẫn cho
người đó thọ giới lớn, vị ấy phạm giới Phát lộ.
13-
Vị nam khất sĩ nào sau tám tháng mà vẫn chưa đổi người
cư trú cùng phòng, trừ khi có sự đồng ý của tăng thân,
vị ấy phạm giới Phát lộ.
14-
Vị nam khất sĩ nào vì sân hận, bực tức mà đánh người
khác, vị ấy phạm giới Phát lộ.
15-
Vị nam khất sĩ nào vì chút việc nhỏ tranh cãi mà thề thốt
sẽ đọa vào ba đường ác, vị ấy phạm giới Phát lộ.
16-
Vị nam khất sĩ nào bắt buộc người khác phải thề thốt,
vị ấy phạm giới Phát lộ.
17-
Vị nam khất sĩ nào nói sai
sự thật, thêm bớt, hoặc nói lời thô tục,
mắng nhiếc, hoặc nói những lời có tác dụng
gây chia rẽ và căm thù, vị
ấy phạm giới Phát lộ.
18-
Vị nam khất sĩ nào khi đang
nổi giận và lớn tiếng tranh cãi,
được một vị nam khất sĩ
khác nhỏ nhẹ khuyên răn là hãy trở về im lặng theo dõi
hơi thở, hoặc đi thiền hành để bảo hộ tâm ý mà vẫn
không nghe, cứ tiếp tục lớn tiếng tranh cãi, vị ấy phạm
giới Phát lộ.
19-
Vị nam khất sĩ nào được bạn đồng tu chỉ bảo cho mình
chỗ sơ sót trong sự hành trì tu tập, đã không biết
chắp tay tạ ơn, mà lại tìm
cách bào chữa loanh quanh hoặc so
sánh phân bì với những người khác, vị
ấy phạm giới Phát lộ.
20-
Vị nam khất sĩ nào cứ nói gần nói xa, nói bóng nói gió
để nhắc lại những lỡ lầm trong quá khứ của một
vị nam khất sĩ khác, vị ấy
phạm giới Phát lộ.
21-
Vị nam khất sĩ nào nhắc lại lỗi lầm trong quá khứ của
một vị nam khất sĩ khác khi tăng đã làm Yết ma Xả tội
rồi, vị ấy phạm giới Phát lộ.
22-
Vị nam khất sĩ nào vấn nạn
hay la rầy các vị khác trong tăng chúng
trước mặt các vị cư sĩ hay giữa bữa ăn, vị ấy phạm
giới Phát lộ.
23-
Vị nam khất sĩ nào dọa nạt, hù nhát một vị nam khất sĩ
khác để vị này sợ hãi hoặc thối chí, vị ấy phạm giới
Phát lộ.
24-
Vị nam khất sĩ nào được mời đến để giải quyết sự
hiềm giận với một vị khác
nhưng liên tiếp nhiều lần tìm cách lẩn tránh không
chịu đến, vị ấy phạm giới Phát lộ.
25-
Vị nam khất sĩ nào từ chối không nhận sự hối lỗi của
người khác, vị ấy phạm giới Phát lộ.
26-
Vị nam khất sĩ nào để sự giận hờn kéo dài đến bảy
ngày mà vẫn chưa chịu thực tập hòa giải làm mới, vị
ấy phạm giới Phát lộ.
27-
Vị nam khất sĩ nào cứ bút chiến hoặc tranh chấp ngôn
luận với các chủ thuyết và
các tôn giáo khác mà không để thì giờ tu học,
vị ấy phạm giới Phát lộ.
28-
Vị nam khất sĩ nào vì có hiềm hận với các bạn đồng
tu, không chịu nương vào năng
lực tăng thân để tìm cách hòa
giải mà bỏ chùa đi nơi khác, hoặc
bỏ về gia đình ở một thời gian rồi trở lại, vị ấy
phạm giới Phát lộ.
29-
Vị nam khất sĩ nào không cố gắng thực tập tái lập truyền
thông với các bạn đồng tu mà chỉ đi than phiền với người
cư sĩ về những khó khăn và mâu thuẫn trong chúng, vị ấy
phạm giới Phát lộ.
30-
Vị nam khất sĩ nào không sử dụng các phép ái ngữ và lắng
nghe để giải quyết những khó khăn và tranh chấp của mình
với một vị nam xuất gia khác, mà chỉ đi than phiền và tìm
đồng minh nơi một người thứ ba, thứ tư, thứ năm..., vị
ấy phạm giới Phát lộ.
31-
Vị nam khất sĩ nào được nghe
những lời than trách về những khó khăn và tranh
chấp của một vị nam xuất gia đối với một vị nam xuất
gia khác mà không tìm cách giúp sức đem tới sự hòa giải,
trái lại đi liên minh với vị này để chống lại vị kia,
vị ấy phạm giới Phát lộ.
32-
Vị nam khất sĩ nào đến ở một tự viện khác mà đem những
khuyết điểm, yếu kém nơi tự viện cũ ra kể với tính cách
than phiền và chê trách, vị ấy phạm giới Phát lộ.
33-
Vị nam khất sĩ nào tự cho mình là văn minh tiến bộ mà chê
trách thầy tổ quê hèn, vị ấy phạm giới Phát lộ.
34-
Vị nam khất sĩ nào được biết đại chúng sẽ ngồi lại
với nhau để thực hiện pháp yết ma mà tìm cách trốn tránh
bỏ đi, hoặc giả bệnh mà không nhờ người khác đại diện
gửi theo sự thanh tịnh (gửi dục), vị ấy phạm giới Phát
lộ.
35-
Vị nam khất sĩ nào đã cùng đại chúng làm pháp yết ma rồi
mà trong lòng còn bực bội khó chịu, đi nói với người khác
rằng mình chống lại pháp yết ma đã thành tựu, vị ấy
phạm giới Phát lộ.
36-
Vị nam khất sĩ nào đã nhờ người khác đại diện gửi
theo sự thanh tịnh (gửi dục), nhưng sau đó lại đổi ý và
tìm cách phủ nhận yết ma đã thành tựu, vị ấy phạm giới
Phát lộ.
37-
Vị nam khất sĩ nào không thực hiện hoặc khuyến khích
người khác không thực hiện những
điều mà tăng đã yết ma, vị ấy phạm giới Phát lộ.
38-
Vị nam khất sĩ nào biết một vị nam khất sĩ hoặc nữ khất
sĩ phạm giới trọng mà đi nói với người chưa thọ giới
lớn với mục đích làm cho hư hoại danh phận vị đó trong
khi tăng chưa làm pháp Yết ma Định tội, vị ấy phạm giới
Phát lộ.
39-
Vị nam khất sĩ nào nói lỗi một vị nam xuất gia khác lúc
vị này vắng mặt, trừ trường hợp đang thực tập soi sáng,
vị ấy phạm giới Phát lộ.
40-
Vị nam khất sĩ nào thấy bạn đồng tu xuất gia bị bệnh
mà không hỏi han chăm sóc hay nhờ người chăm sóc, vị ấy
phạm giới Phát lộ.
41-
Vị nam khất sĩ nào được tăng cử chia đồ vật cho chúng
mà lại thiên vị thêm bớt hoặc không chia cho vị mà mình
đang có hiềm giận, vị ấy phạm giới Phát lộ.
42-
Vị nam khất sĩ nào trốn tránh thực tại khổ đau, nhắm
mắt trước khổ đau và đánh mất ý thức về khổ đau của
cuộc sống, chỉ lo an dưỡng trong sự kính ngưỡng, cúng dường
của đàn na, quên mất mục đích của sự tu tập là chuyển
hóa khổ đau trở thành an lạc, được ba vị nam khất sĩ
khác khuyến cáo mà vẫn không thay đổi, vị ấy phạm giới
Phát lộ.
43-
Vị nam khất sĩ nào thấy bạn đồng tu xuất gia sắp phạm
giới luật mà không lên tiếng can ngăn hay báo cho
các vị nam khất sĩ khác biết
để can ngăn, vị ấy phạm giới Phát lộ.
44-
Vị nam khất sĩ nào có thái
độ hẹp hòi và cố chấp, tự cho kiến
thức mình đang có là những chân lý bất di bất dịch mà
không chịu cởi mở, đón nhận quan điểm và tuệ giác của
người khác, sau khi được ba vị nam khất sĩ khác cảnh cáo
mà không chịu buông bỏ thái độ, vị ấy phạm giới Phát
lộ.
45-
Vị nam khất sĩ nào dùng uy quyền, sự mua chuộc, sự dọa
nạt, sự tuyên truyền và giáo dục nhồi sọ để cưỡng
bức kẻ khác, kể cả trẻ em, vâng theo quan điểm của mình
mà không tôn trọng sự khác biệt và tự do nhận thức của
họ, sau khi được ba vị nam khất sĩ khác
cảnh cáo mà không chịu buông bỏ thái
độ, vị ấy phạm giới Phát lộ.
46-
Vị nam khất sĩ nào có thân thuộc họ hàng xuất gia
mà lấy quyền lực mình để
bao che những việc làm sai trái của những vị đó,
hoặc tìm cách giành quyền ưu tiên cho
họ, vị ấy phạm giới Phát lộ.
47-
Vị nam khất sĩ nào dựa vào quyền hạn hay chức vụ
của mình mà lấn lướt và giành
vị trí phía trước một vị nam khất sĩ khác có
tuổi đạo lớn hơn mình, vị ấy phạm giới Phát lộ.
48-
Vị nam khất sĩ nào dùng quyền lực buộc một vị nam
khất sĩ khác phải đứng về
phía mình để chống lại yết ma, vị ấy phạm
giới Phát lộ.
49-
Vị nam khất sĩ nào vướng mắc vào các danh vị giáo phẩm
hay giới phẩm, khi có người xưng hô không đúng danh vị của
mình thì sanh lòng hờn giận, bực tức hoặc yêu cầu người
kia phải chỉnh sửa lại, vị ấy phạm giới Phát lộ.
50-
Vị nam khất sĩ nào chỉ chăm sóc đặc biệt đệ tử xuất
gia của mình, bỏ bê những vị khác đã đến y chỉ nơi mình,
vị ấy phạm giới Phát lộ.
51-
Vị nam khất sĩ nào khuyến dụ một vị nam xuất gia khác
đứng về phía mình để tăng thêm thế lực mà chống đối
hoặc lấn lướt bạn đồng tu, vị ấy phạm giới Phát lộ.
52-
Vị nam khất sĩ nào khuyến dụ một vị nam xuất gia khác
bỏ thầy tổ đi cất am cốc riêng hay đến ở tự viện khác,
vị ấy phạm giới Phát lộ.
53-
Vị nam khất sĩ nào nói những
lời đường mật hoặc than khóc để được người
khác thương cảm, vị ấy phạm giới Phát lộ.
54-
Vị nam khất sĩ nào vì mưu cầu tài lợi và sự kính phục
mà loan truyền những tin không biết chắc là có
thật, phê bình và lên án những
gì không biết rõ, vị ấy phạm giới Phát lộ.
55-
Vị nam khất sĩ nào vì tài lợi mà bênh vực người thế
tục và xử ép các vị xuất gia khác, vị ấy phạm giới
Phát lộ.
56-
Vị nam khất sĩ nào thu nhận
đệ tử không với mục đích giáo dưỡng họ
trên đường tu học mà chỉ để phục vụ cho sự nghiệp
danh lợi riêng mình, vị ấy phạm giới Phát lộ.
57-
Vị nam khất sĩ nào bắt tăng chúng phải làm lụng buôn bán,
trồng trọt, cúng bái... để phát triển tài chánh, không
cho họ đủ thì giờ tu học,
vị ấy phạm giới Phát lộ.
58-
Vị nam khất sĩ nào giả bệnh nặng để được tín chủ
chăm sóc và cúng dường tài vật, vị ấy phạm giới Phát
lộ.
59-
Vị nam khất sĩ nào lợi dụng các tổ chức từ thiện để
quyên góp thêm tài vật cho cá nhân hay tự viện của mình,
vị ấy phạm giới Phát lộ.
60-
Vị nam khất sĩ nào mở lời chê bai phẩm vật của tín thí
dâng cúng, vị ấy phạm giới Phát lộ.
61-
Vị nam khất sĩ nào nhận tài vật của tín thí mà không tu
tập nghiêm chỉnh, nói rằng bổn phận người cư sĩ là phải
cúng dường cho mình, vị ấy phạm giới Phát lộ.
62-
Vị nam khất sĩ nào đến tự
viện của các vị nữ khất sĩ
than phiền túng thiếu với chủ
ý được cúng dường, vị ấy phạm giới Phát lộ.
63-
Vị nam khất sĩ nào có khuynh hướng kỳ thị, chỉ tiếp chuyện
người giàu sang và trí thức, còn người nghèo khổ và ít
học thì không quan tâm tới, vị ấy phạm giới Phát lộ.
64-
Vị nam khất sĩ nào chiếm hữu hoặc bảo người chiếm
hữu hoặc thấy người chiếm hữu
tài vật của người khác mà không tìm cách can ngăn,
vị ấy phạm giới Phát lộ.
65-
Vị nam khất sĩ nào thất hứa với người thế tục, làm
cho người ta hờn giận và chê trách tăng thân, vị ấy phạm
giới Phát lộ.
66-
Vị nam khất sĩ nào lánh công việc nặng tìm công việc nhẹ,
trừ trường hợp bệnh tật yếu đuối, vị ấy phạm giới
Pháp lộ.
67-
Vị nam khất sĩ nào đánh giá
người khác qua công việc mà không biết rằng phẩm
chất tu học của người tu là quan trọng hơn số lượng công
tác người ấy có thể làm, vị ấy phạm giới Phát lộ.
68-
Vị nam khất sĩ nào không ý thức rằng bổn phận người
xuất gia là phải cống hiến những phương pháp thực tập
chuyển hóa đau khổ mà chỉ chú tâm vào các công tác từ
thiện, rồi bắt tăng chúng làm việc cực nhọc, bỏ phế
giờ giấc tu học, vị ấy phạm giới Phát lộ.
69-
Vị nam khất sĩ nào đi làm
thuê làm mướn để kiếm tiền riêng,
trong khi tự viện vẫn đủ sức
nuôi mình ăn học đàng hoàng, vị ấy phạm giới Phát lộ.
70-
Vị nam khất sĩ nào xem quẻ,
bói tướng hoặc cúng sao, giải hạn, đốt giấy
tiền vàng bạc... để sinh sống, vị ấy phạm giới Phát
lộ.
71-
Vị nam khất sĩ nào ăn mặn, dù lấy cớ thiếu dinh dưỡng,
vị ấy phạm giới Phát lộ.
72-
Vị nam khất sĩ nào bỏ phế thời khóa tu học cùng đại
chúng để chế biến những món ăn cầu kỳ, đắt tiền,
sang trọng mà không nhớ mình
đang tu hạnh thanh bần của người khất sĩ và không
nghĩ đến biết bao nhiêu người đang
đói khổ, vị ấy phạm giới Phát lộ.
73-
Vị nam khất sĩ nào không ăn cùng đại chúng mà lại ăn riêng
trong phòng, trừ khi có bệnh hoặc vì công việc do tăng sai,
vị ấy phạm giới Phát lộ.
74-
Vị nam khất sĩ nào uống bia,
rượu nho, rượu đế... hay bất cứ thức uống
nào có tác dụng gây ra sự say sưa, trừ trường hợp có bệnh
và có phép của chúng tăng, vị ấy phạm giới Phát lộ.
75-
Vị nam khất sĩ nào vào ngồi
quán rượu hoặc quán cà phê đèn mờ để giải
khát hoặc để ngồi chơi ngắm người qua lại, vị ấy phạm
giới Phát lộ.
76-
Vị nam khất sĩ nào đến nhà cư sĩ hoặc nhà hàng để dự
lễ sinh nhật, tiệc cưới hỏi, vị ấy phạm giới Phát lộ.
77-
Vị nam khất sĩ nào tổ chức lễ sinh nhật của mình ở nhà
cư sĩ hoặc nhà hàng, vị ấy phạm giới Phát lộ.
78-
Vị nam khất sĩ nào đi xem bóng đá, xi-nê hoặc nhạc hội
thế gian, vị ấy phạm giới Phát lộ.
79-
Vị nam khất sĩ nào thuê và
xem những cuốn phim, những đĩa hình hoặc những
sách báo có tác dụng độc hại và
tưới tẩm những hạt giống tham dục,
sợ hãi, bạo động và ủy mị sầu đau, vị ấy phạm giới
Phát lộ.
80-
Vị nam khất sĩ nào xem những chương trình vô tuyến
truyền hình có tác dụng độc
hại và tưới tẩm những hạt giống tham dục, sợ
hãi, bạo động và ủy mị sầu đau, vị ấy phạm giới Phát
lộ.
81-
Vị nam khất sĩ nào đi lên mạng lưới Internet một mình mà
không có một vị nam xuất gia khác ở bên cạnh để giúp
bảo hộ mình khỏi lạc vào những chương trình độc hại,
vị ấy phạm giới Phát lộ.
82-
Vị nam khất sĩ nào sử dụng và tiêu thụ các hình ảnh
hoặc những âm thanh kích động
dâm dục trên mạng lưới Internet hay trong điện thoại,
vị ấy phạm giới Phát lộ.
83-Vị
nam khất sĩ nào nghe hoặc trình diễn những bài hát tình sầu
đứt ruột, lãng mạn và kích động, vị ấy phạm giới Phát
lộ.
84-
Vị nam khất sĩ nào chơi trò chơi điện tử, dù bằng điện
thoại di động hoặc máy vi tính, vị ấy phạm giới Phát
lộ.
85-
Vị nam khất sĩ nào đánh bạc hay cá độ bóng đá, đua ngựa,
đua xe..., vị ấy phạm giới Phát lộ.
86-
Vị nam khất sĩ nào chạy xe
lạng lách, phóng nhanh, vượt ẩu hay đua xe, vị
ấy phạm giới Phát lộ.
87-
Vị nam khất sĩ nào xuống đường phố vỗ tay, la hét, tung
cờ, rải hoa, diễn hành... để ủng hộ một đội bóng
đá hay một đội thể thao khác,
vị ấy phạm giới Phát lộ.
88-
Vị nam khất sĩ nào đi xem
quân đội lập trận chiến đấu, tập dợt
hoặc đứng xem một đám đông cãi vã, đánh nhau hoặc múa
võ, làm trò ảo thuật, vị ấy phạm giới Phát lộ.
89-
Vị nam khất sĩ nào đi xem hoặc thúc giục loài vật giao đấu,
vị ấy phạm giới Phát lộ.
90-
Vị nam khất sĩ nào đánh đập loài vật hoặc lấy xương,
sừng hay da để sáng tạo các
tác phẩm nghệ thuật, hoặc để
trang trí phòng ốc, vị ấy phạm
giới Phát lộ.
91-
Vị nam khất sĩ nào không học hạnh đại bi để bảo vệ
sự sống của các loài động vật, tự mình giết hại, hoặc
tán thành sự giết hại, hoặc để cho kẻ khác giết hại
mà không tìm cách can ngăn, vị ấy phạm giới Phát lộ.
92-
Vị nam khất sĩ nào gây ô nhiễm sinh môi như đốt phá cây
rừng, sử dụng chất độc hóa học..., vị ấy phạm giới
Phát lộ.
93-
Vị nam khất sĩ nào cố tình để râu tóc dài, vị ấy phạm
giới Phát lộ.
94-
Vị nam khất sĩ nào không ý thức được rằng cái đẹp của
người tu được làm bằng chất liệu của sự vững chãi
và thảnh thơi, lại để nhiều thời gian lo trau chuốt, chưng
diện, vị ấy phạm giới Phát lộ.
95-
Vị nam khất sĩ nào khi đi vào thành phố, thôn làng hoặc
chợ búa mà mặc quần áo thế
gian, hoặc đội đầu tóc giả, vị ấy phạm giới Phát lộ.
96-
Vị nam khất sĩ nào tách rời tăng thân mà đi mướn nhà ở
trọ, vị ấy phạm giới Phát lộ.
97-
Vị nam khất sĩ nào đến nhà
cư sĩ ngủ lại, dù công việc
do tăng cử đi, mà không có
ít nhất một bạn đồng tu đi theo, trừ trường hợp
đặc biệt có phép của tăng thân, vị ấy phạm giới Phát
lộ.
98-
Vị nam khất sĩ nào ở quá một tuần nơi nhà cư sĩ, trừ
trường hợp tăng thân cho phép, vị ấy phạm giới Phát lộ.
99-
Vị nam khất sĩ nào kết nghĩa cha, mẹ, anh, chị, em và con
cháu với người thế tục, vị ấy phạm giới Phát lộ.
100-
Vị nam khất sĩ nào đi học các môn thế học với mục đích
để có bằng cấp như kỹ sư, bác sĩ, dược sĩ, thạc
sĩ, tiến sĩ..., trừ môn Phật
học, vị ấy phạm giới Phát lộ.
101-
Vị nam khất sĩ nào chỉ chuyên đi học các môn thế học
mà bỏ học giáo lý và các pháp môn tu tập, vị ấy phạm
giới Phát lộ.
102-
Vị nam khất sĩ nào tìm sự trú ẩn và lãng quên trong
công việc mà đánh mất liên
lạc tốt giữa mình và các thành phần khác trong
tăng thân, vị ấy phạm giới Phát lộ.
103-
Vị nam khất sĩ nào rời thầy y chỉ trước mùa an cư thứ
năm, hoặc khi đã đủ năm mùa an cư mà sự thực tập vẫn
còn yếu kém, vị ấy phạm giới Phát lộ.
104-
Vị nam khất sĩ nào trong một năm mà không an cư ba tháng,
vị ấy phạm giới Phát lộ.
105-
Vị nam khất sĩ nào đã được kiết giới an cư rồi mà vẫn
đi ra ngoài đại giới, số lượng ngày đi ra bằng hoặc hơn
số lượng ngày ở trong đại giới, dù có công tác giảng
dạy, từ thiện, học hành..., vị ấy phạm giới Phát lộ.
106-
Vị nam khất sĩ nào chưa đủ mười tuổi hạ mà đi truyền
giới lớn, vị ấy phạm giới Phát lộ.
107-
Vị nam khất sĩ nào không nắm vững luật nghi nên tác pháp
yết ma hay cử tội không đúng pháp, khiến cho chúng
tăng không an vui, mất hòa hợp, vị
ấy phạm giới Phát lộ.
108-
Vị nam khất sĩ nào mở lời chê trách điều giới và uy nghi,
cho rằng các điều mục này phiền toái, rắc rối, vụn vặt,
không thật sự cần thiết, làm mất tự do..., vị ấy phạm
giới Phát lộ.
109-
Vị nam khất sĩ nào không tụng
giới cùng đại chúng ít nhất một lần trong ba
tháng, trừ khi có bệnh nặng kéo dài, vị ấy phạm giới
Phát lộ.
110-
Vị nam khất sĩ nào sau một năm thọ giới lớn mà chưa
bắt đầu học hỏi giới bản
cổ truyền song song với giới bản tân tu, vị ấy
phạm giới Phát lộ.
Các
vị đại đức! Tôi đã tuyên thuyết xong một trăm mười
giới Phát lộ. Vị nam khất sĩ nào phạm vào một trong
một trăm mười giới ấy thì phải làm lễ Phát lộ sám hối
trước ba hay hai vị nam khất sĩ để được thanh tịnh trở
lại.
Nay
xin hỏi các vị đại đức: Đối với một trăm mười giới
Phát
lộ ấy trong đại chúng có sự thanh tịnh không? (ba lần)
Các
vị đại đức im lặng, vì thế
tôi biết trong đại chúng có sự thanh tịnh.
Điều này chúng ta ý thức, ghi nhận và thông qua. (C)
Giới
Uy nghi (Chúng học)
Các
vị đại đức! Đây là bảy mươi giới Uy nghi (Chúng
học), mỗi nửa tháng tụng một
lần.
1-
Vị nam khất sĩ không nên vừa đi vừa nói chuyện, cười
giỡn, huýt gió, ca hát, gọi từ xa, nhai thức ăn, xỉa răng
hoặc nói chuyện điện thoại.
2-
Vị nam khất sĩ không nên vừa đi vừa xá chào, búng tay, đánh
đằng xa, lắc lư, chạy nhảy, ngẩng đầu lên trời hoặc
có vẻ vội vàng hấp tấp.
3-
Vị nam khất sĩ không nên vừa đi vừa mặc hoặc chỉnh sửa
pháp phục.
4-
Vị nam khất sĩ không nên lết
dép guốc, bước chân quá dài hoặc nện gót xuống
nền.
5-
Vị nam khất sĩ không nên nói
giọng mỉa mai, xoi mói, cộc cằn hay ngắt lời người
khác.
6-
Vị nam khất sĩ nên tập nói năng nhỏ nhẹ, khoan thai, không
nên nói quá nhanh và nuốt chữ hay nói quá lớn, lấn át cả
tiếng người khác.
7-
Vị nam khất sĩ không nên kể chuyện ma quái mà tưới tẩm
hạt giống sợ hãi cho người khác.
8-
Vị nam khất sĩ không nên nhái giọng điệu của người khác
để trêu chọc.
9-
Vị nam khất sĩ không nên cười
quá lớn tiếng hoặc há miệng quá to. Khi ngáp hoặc
xỉa răng nên che miệng lại.
10-
Vị nam khất sĩ không nên ngồi chò hỏ hoặc vừa ngồi
vừa rung đùi, lắc lư hay nhịp
chân; nên ngồi cho thẳng lưng, vững vàng mà buông thư.
11-
Vị nam khất sĩ không nên ngồi
những chỗ có người đang uống rượu, ăn thịt,
cờ bạc, chửi mắng, cợt nhả hoặc nói xấu kẻ khác.
12-
Vị nam khất sĩ nên tránh nằm
ngửa hoặc nằm úp, nên tập nằm nghiêng hông phải
vì đó là thế an lành nhất.
13-
Vị nam khất sĩ không nên nằm
chỗ có người đang đi qua lại hoặc vừa nằm vừa
đọc tụng kinh, trừ trường hợp đặc biệt.
14-
Vị nam khất sĩ không nên chắp tay sau lưng hay chống
nạnh.
15-
Vị nam khất sĩ không nên chỉ lựa chọn thức ăn ngon.
16-
Vị nam khất sĩ trong khi ăn không nên nhai và nuốt quá gấp,
nên nhai chậm rãi khoảng 30 lần
trước
khi nuốt. Khi đang ăn không nên
nói chuyện.
17-
Vị nam khất sĩ không nên nhai
hoặc húp lớn tiếng hoặc le lưỡi
liếm thức ăn trong bát, đĩa hoặc
há miệng quá to để ăn.
18-
Vị nam khất sĩ khi ăn cơm quá đường không nên đặt bát
không xuống khi những người lớn tuổi tu hơn mình
còn đang ăn. Không nên đứng
dậy giữa buổi ăn hoặc ăn xong
rồi đứng dậy trước khi có chuông báo.
19-
Vị nam khất sĩ không nên bỏ thừa thức ăn.
20-
Vị nam khất sĩ nên ăn ít vào buổi chiều để trong người
được nhẹ và tránh mất thì giờ nấu nướng.
21-
Vị nam khất sĩ không nên mua những loại thực phẩm
như trà, bánh... loại thượng hạng,
sang trọng, đắt tiền, trừ trường hợp đặc biệt.
22-
Vị nam khất sĩ nên giữ gìn
bình bát một cách trân quý và
không nên sử dụng hơn một
bình bát.
23-
Vị nam khất sĩ không nên dùng muỗng đũa khua vào bình bát.
24-
Vị nam khất sĩ nên mặc y giáo phục chỉnh tề khi
đi
ra khỏi chùa.
25-
Vị nam khất sĩ nên phơi đồ lót nơi qui định.
26-
Vị nam khất sĩ không nên ăn mặc xốc xếch, dơ bẩn hoặc
để cơ thể hôi hám nhiều ngày không tắm.
27-
Vị nam khất sĩ nên thường xuyên vận động để sức
khỏe được tráng kiện, nên học
kỹ phương pháp bảo tồn tinh, khí và thần.
28-
Vị nam khất sĩ nên chải răng
sau mỗi bữa ăn. Khi chải răng không nên đi
qua đi lại nói chuyện, cười giỡn.
29-
Vị nam khất sĩ không nên ngủ chung giường với người nam
cư sĩ, trừ trường hợp đặc biệt và có báo cho các vị
nam khất sĩ khác biết.
30-
Vị nam khất sĩ không nên ngủ chung giường với một vị
nam xuất gia. Trường hợp thiếu giường thì cũng
có thể tạm ngủ chung, nhưng
không nên cùng đắp một chăn. Nếu bất đắc dĩ phải đắp
chung thì phải mặc quần áo đầy đủ.
31-
Vị nam khất sĩ không nên cởi trần hay chỉ mặc quần ngắn
khi ngủ.
32-
Vị nam khất sĩ gặp ác mộng
thì đừng ngủ lại ngay, nên ngồi dậy xoa
bóp cho máu chảy đều hoặc bước ra ngoài đi thiền hành
khoảng mười phút rồi vào ngủ lại, hoặc nếu bị chất
hữu cơ tiết ra thì nên dậy sớm để tắm và thay quần áo
để kịp giờ đi công phu.
33-
Vị nam khất sĩ không nên xá chào cho có lệ mà không có chánh
niệm. Mỗi khi nhận một phẩm vật do người
khác trao cho cũng nên chắp tay
sen búp xá chào.
34-
Vị nam khất sĩ khi lạy năm vóc phải sát đất và quán chiếu
trong tư thế phủ phục mà không nên lạy một cách máy móc.
35-
Vị nam khất sĩ không nên đại tiểu tiện gần chỗ tháp
miếu, chỗ trống trải không có vật ngăn che, trong vườn
rau hay vào dòng nước chảy.
36-
Vị nam khất sĩ nên gõ cửa ba tiếng thật khoan thai trước
khi vào phòng người khác.
37-
Vị nam khất sĩ không nên để giày dép bừa bãi, không ngay
hàng thẳng lối.
38-
Vị nam khất sĩ nên sắp xếp gọn gàng mọi thứ
sau
khi sử dụng xong.
39-
Vị nam khất sĩ không nên ngâm
quần áo lâu ngày mà không chịu
giặt và phơi cất để tránh cho quần
áo khỏi bị mục rách sớm.
40-
Vị nam khất sĩ nên thở ba hơi thật sâu theo bài kệ thỉnh
chuông trước khi thỉnh chuông, kiểng hay khánh. Khi nghe chuông
thỉnh lên thì dừng lại mọi tư duy, nói năng và hành động
để thực tập hơi thở chánh niệm.
41-
Vị nam khất sĩ phải tôn trọng thời khóa của đại chúng,
có mặt đầy đủ và đúng giờ để làm gương cho các bạn
đồng tu.
42-
Vị nam khất sĩ không nên vào pháp đường sau vị
pháp
sư và giữa pháp thoại bỏ ra ngoài. Khi nghe
pháp
thoại dù là băng giảng cũng
nên ngồi nghiêm trang bằng tất cả sự cung kính.
43-
Vị nam khất sĩ khi nghe chuông điện thoại nên phát khởi
chánh niệm, theo dõi hơi thở ít nhất ba lần rồi mới cầm
máy lên nói. Khi nghe điện thoại phải ngồi ngay
ngắn, chỉ nên nói những điều cần
thiết và sử dụng ái ngữ, không nên nói quá to hoặc đùa
giỡn.
44-
Vị nam khất sĩ khi nghe người ở đầu dây điện thoại bên
kia nói những chuyện không cần thiết thì dùng lời nhã nhặn
xin lỗi trước khi gác ống nghe.
45-
Vị nam khất sĩ không nên sử dụng điện thoại di động
trong giờ ngồi thiền, thiền hành, tụng kinh, họp chúng hay
trong lớp học.
46-
Vị nam khất sĩ không nên vừa tắm vừa hát, đọc kinh, nói
lớn tiếng hay đùa giỡn.
47-
Vị nam khất sĩ trong khi làm bếp hoặc chấp tác cũng thực
tập chánh niệm giống như ngồi thiền hay thực
tập các pháp môn khác. Cần
duy trì chánh niệm, đi đứng khoan thai, không vội vã
hấp tấp.
48-
Vị nam khất sĩ được tăng thân giao cho một công tác đặc
biệt đừng nên cho đó là quyền hành hay cho công
việc của mình quan trọng hơn
công việc của người khác. Nên biết
tất cả các công việc phục vụ cho tăng thân
đều quan trọng như nhau.
49-
Vị nam khất sĩ nhận lãnh một công việc dù rất đặc biệt,
cũng phải làm trong thảnh thơi, không nên lấy cớ đó mà
bỏ những giờ sinh hoạt khác.
50-
Vị nam khất sĩ nên thực tập nói lời từ chối khi cảm
thấy khả năng hay tình trạng sức khỏe của mình không thể
kham lãnh thêm công việc, đừng vì sợ phiền lòng mà lãnh
lấy để rồi lo âu, mệt mỏi và chán nản.
51-
Vị nam khất sĩ khi học hỏi những giáo điển siêu việt
và uyên áo, phải thường tự hỏi làm sao áp dụng được
giáo lý này vào đời sống hằng ngày để chuyển hóa đau
khổ và đạt tới sự giải thoát.
52-
Vị nam khất sĩ không nên chỉ
đọc sách vở và kinh điển mà không thực
tập những pháp môn căn bản và cốt tủy của đạo Bụt
để chuyển hóa phiền não và tập khí.
53-
Vị nam khất sĩ nên đọc thêm những sách về lịch sử các
nền văn minh trên thế giới, về đại cương lịch sử và
giáo lý các tôn giáo, về đại cương tâm lý học áp dụng
và về đại cương những khám phá hiện đại nhất trong lĩnh
vực khoa học, vì những kiến thức ấy có thể giúp mình
hiểu và diễn bày giáo lý cho đời một cách khế cơ.
54-
Vị nam khất sĩ chỉ nên xin rời chúng đi tu học nơi khác
khi thấy hoàn cảnh hiện tại của mình không có đủ điều
kiện cho sự tiến tu. Nên chọn một tu viện mà trong đó có
tăng thân tu học hài hòa và hạnh phúc.
55-
Vị nam khất sĩ khi thấy cơn giận bắt đầu phát khởi,
thì phải dừng lại mọi nói
năng và hành động để quay về hơi thở chánh niệm,
đừng tiếp tục nghe và chú ý tới
người mà mình cho là nguyên do của cơn
giận. Nếu cần thiết, có thể đi ra ngoài để thực tập
thiền hành và quán chiếu để thấy được nguyên nhân chính
là hạt giống giận hờn ở nơi mình.
56-
Vị nam khất sĩ nên có một đệ nhị thân là nam xuất gia
để chăm sóc và nâng đỡ, cũng như mình là đệ
nhị thân của một nam xuất
gia khác để được vị này chăm sóc và nâng đỡ.
57-
Vị nam khất sĩ không nên đi ra khỏi chùa vào ban đêm,
trừ trường hợp khẩn cấp nhưng
phải thưa trình cho đại chúng biết và phải có một vị
nam xuất gia khác cùng đi theo.
58-
Vị nam khất sĩ nên mang một y lễ phục khi đi ra ngoài cách
đêm.
59-
Vị nam khất sĩ không nên vừa lái xe vừa sử dụng điện
thoại, nói chuyện huyên thuyên, đùa giỡn, xem bản
đồ hoặc chạy xe song song với
một người khác để nói chuyện. Không nên bóp còi để trách
móc xe khác hoặc chạy xe quá tốc độ cho phép.
60-
Vị nam khất sĩ khi lên xe phải vén gọn tà áo và cài dây
an toàn. Phải nhớ mang theo bằng lái và giấy tờ xe.
61-
Vị nam khất sĩ lái xe đường xa nếu thấy buồn ngủ hoặc
hơi mệt thì nên đổi người lái. Nếu không có người lái
thế thì dừng lại để nghỉ ngơi cho đến khi thực sự tỉnh
táo. Nên nhớ sinh mạng người ngồi trên xe nằm trong sự
thận trọng của mình.
62-
Vị nam khất sĩ không nên vào chỗ bán sách báo và tranh ảnh
độc hại.
63-
Vị nam khất sĩ không nên đùa
giỡn với người bán hàng.
64-
Vị nam khất sĩ khi ra phố gặp một vị tôn túc phải dừng
lại chắp tay hỏi thăm, hoặc gặp một người xuất gia đạo
khác cũng nên làm như thế.
65-
Vị nam khất sĩ không nên về
thăm gia đình thường xuyên. Có thể
viết thư về gia đình để chia sẻ
hạnh phúc và sự tu học của mình để gia đình có thêm đức
tin và hạnh phúc. Không nên kể về những khó khăn gặp phải
trong đời sống xuất gia để gia đình khỏi bận lòng lo lắng.
66-
Vị nam khất sĩ khi góp mặt
giải quyết những tình trạng khó
khăn của gia đình nên sử dụng
năng lượng tâm linh và các phép lắng nghe, ái ngữ.
67-
Vị nam khất sĩ về thăm gia đình không nên xin hết cái
này đến cái khác. Được gia
đình hiến tặng vật gì thì nên chia xẻ với tăng thân.
68-
Vị nam khất sĩ khi tiếp chuyện với người cư sĩ đến chùa
nên từ chối không tham dự vào những câu chuyện
thị phi ngoài đời, trái lại
chỉ lắng nghe những nỗi khổ niềm đau của họ, rồi
căn cứ trên kinh nghiệm thực tập
của mình mà cống hiến cho họ những pháp
môn có thể chuyển hóa được bản thân cũng như gia đình
và xã hội.
69-
Vị nam khất sĩ khi tiếp chuyện với người cư sĩ đến
chùa nên cương quyết từ chối
không lắng nghe những lời đàm tiếu về các vị xuất
gia và các đạo tràng khác.
70-
Vị nam khất sĩ không nên chỉ tìm cách thân cận gần
gũi với người có chức quyền, giàu có hay
nổi tiếng.
Các
vị đại đức! Tôi đã tuyên thuyết xong bảy mươi giới
Uy nghi (Chúng học). Vị nam khất sĩ nào phạm
vào một trong bảy mươi giới ấy thì nên biết là sự thực
tập của mình còn yếu kém, cần phải phát tâm hối quá và
hứa với thầy Y chỉ là mình sẽ thực tập vững chãi hơn.
Nay
xin hỏi các vị đại đức: Đối với bảy mươi giới Uy
nghi ấy trong đại chúng có sự thực tập vững vàng không?
(ba lần)
Các
vị đại đức im lặng, vì thế
tôi biết trong đại chúng có sự thực tập
vững vàng. Điều này chúng ta ý thức, ghi nhận và thông qua.
(C)
*
*
*
Phương
pháp Diệt trừ tranh chấp (Diệt tránh)
Các
vị đại đức! Đây là bảy phương pháp Diệt trừ tranh
chấp (Diệt tránh), mỗi nửa tháng
tụng một lần.
1-
Nếu cần một buổi họp của tăng thân với sự có mặt của
các đương sự trong vụ tranh chấp để các vị này có thể
nói ra những oan ức và đau khổ của mình, để tăng thân
thực tập lắng nghe với tâm từ bi và để làm cho nhẹ bớt
những khổ đau của hai bên đương sự, thì tổ chức một
buổi họp như thế để giải quyết tranh chấp.
2-
Nếu cần tổ chức một buổi họp để khuyến khích các
đương sự nhớ lại và nói
ra&n