Giáo
Pháp Tứ Y trong đạo Phật là giáo lý nói về 4 phương pháp
thực tập sự nương tựa (y cứ) dẫn đến giác ngộ, giải
thoát. Bốn phương pháp thực tập sự nương tựa này không
phải là một hành vi gì cao siêu, hoặc phải “tu luyện”
lâu xa, mà chỉ là những hành vi rất thường nhật như đói
ăn, khát uống… nhưng nó cũng là một trong những thiện pháp
nuôi lớn phúc đức và trí tuệ cho mỗi con người, đem đến
sự an lạc thân tâm, cũng từ đó cảm hoá được quần chúng
ở mọi lúc, mọi nơi.
Y pháp bất
y nhân:
Nghĩa
là: Nương tựa, y cứ vào Pháp chứ không nương tựa người
giảng Pháp, nói Pháp. Bởi vì, trong thực tế người có duyên
được các Tổ, Thày thu nhận để truyền Pháp nhằm duy trì
mạng mạch Phật pháp trường tồn. Hoặc các Pháp được
thu nhận qua Kinh sách, các tài liệu truyền giáo của người
xưa để lại được người thông tuệ thu nhận, người ấy
lại có năng khiếu “sư phạm”, mặc dù trong đời sống
thực của vị ấy chưa được mẫu mực hoặc chưa phải người
tiêu biểu trong Thiên môn, có những biểu hiện về tham, sân,
si chẳng hạn. Trong trường hợp đó nếu ta cứ cố chấp,
cứ định kiến với “cái ta” của vị ấy, không nghe Pháp
của vị ấy nói thì ta đã đánh mất một cơ hội nghe Pháp.
Phải
biết gạn đục, khơi trong. Đừng lẫn lộn giữa Pháp và
người giảng Pháp, bởi “Pháp” chính là Đạo: giảng Pháp
là giảng Đạo. Ta nghe Pháp để “thấy” đạo, tức thu
nhận tinh hoa, nhận ra con đường chân lý. Ta nghe Pháp thì
cũng không nhất thiết phải biết “lý lịch trích ngang”
về đạo đức của người giảng Pháp là các bậc thầy có
đời sống mẫu mực, phạm hạnh, gọi là “có uy đức tự
tại” thì sự hiện thân của vị Thầy đó đã là một “Thân
giáo” rồi.
Ảnh
hưởng trực tiếp Thân giáo của vị ấy sẽ cảm hoá và
thu phục dễ dàng với những ai được gần gũi, tiếp cận,
kể cả bậc ác vương… Thiết nghĩ, đời nay cách Phật đã
hơn 25 thế kỷ rồi, Chư Thánh cũng dần khuất bóng. Bây giờ
chỉ còn lại Pháp thân và Báo thân Phật mà thôi. Ấy cũng
là may mắn cho loài người, cho những ai biết đến dấu chân
Phật vẫn thường còn trong đời sống văn minh ở Thiên niên
kỷ thứ ba này.
Thật
vậy, bởi Pháp thân và Báo thân của Phật là thân chân lý
tuyệt đối, là Chân thân, tức là thân không sinh diệt, và
cũng là thân ứng hiện phúc đức, trí tuệ. Còn như Hoá-
thân Phật, tức nhục thân là thân sinh diệt đương nhiên
bị tan hoại theo lý Vô thường. Cũng từ hiểu biết về “Phật
tam thân” này ta thấy thực tập nương tựa Pháp quan trọng
ngần nào. Lịch sử Phật giáo còn ghi lại: Trước giờ phút
sắp nhập Đại Niết- Bàn, Phật Thích Ca đã từ chối lãnh
đạo Tăng đoàn và Tôn giả A-nan đã thỉnh Phật cho lời
Di giáo. Đức Phật đã để lại lời dặn cuối cùng: “Hãy
nương tựa Pháp, Pháp lãnh đạo…”
Như
vậy sự nương tựa Pháp là điều chúng ta luôn ghi nhớ và
thực hành.
Y liễu nghĩa
kinh, bất y bất liễu nghĩa kinh
Kinh
Liễu nghĩa là Kinh nói về chân lý tuyệt đối. Còn Kinh Bất
liễu nghĩa là Kinh phương tiện, chỉ nói về chân lý tương
đối. Nhưng cả hai đều là sự thật căn bản nên được
gọi là “Nhị đế”.
Sự
thật tương đối cũng là sự thật đấy nhưng nó không sâu
sắc, nó không phải sự thật tột cùng, nhưng nó cũng quan
trọng để từ đó người học, người tu từng bước nhận
thức thực tại, là phương tiện không thể thiếu để thăng
hoa tri thức trên bước đường ngộ đạo. Còn sự thật tuyệt
đối cũng hàm chứa sự thật tương đối với liễu nghĩa,
Phật học gọi là Chân đế, để phân biệt với sự thật
tương đối gọi là Tục đế.
Ví
dụ những sự hiểu biết về “sắc không” của nhà Phật
qua hai câu thơ của Từ đạo Hạnh (Đức Thánh Láng):
“Có
thì có tự mảy may
Không
thì cả thế giới này cũng không”.
Cái
“có” của vật chất hiện hữu dẫu nhỏ như vi trần cũng
là có, dẫu chỉ “mảy may” thôi. Đó là sự thật tương
đối (Tục đế). Còn sự thật tuyệt đối là sự thật “muôn
Pháp do Duyên sinh” chịu tác động của Vô thường mà “Cả
thế giới này” cũng không nằm ngoài quy luật của sự hoại
diệt kia. Nên nó là Chân đế, bởi “cả thế giới này cũng
không” chính là Liễu – nghĩa là sự thật tuyệt đối.
Y nghĩa bất
y ngữ
Nghĩa
là, căn cứ vào nghĩa lý chứ không phải câu chữ. Đừng
mắc kẹt vào câu chữ, ngôn từ, nó chỉ là phương tiện
nhằm “đánh thức” tuệ giác chứ nó không phải là tụê
giác. Chuyện du sĩ Lepali thâm ngộ giáo Pháp, từ bỏ thày
cũ của mình xin quy y, Đức Phật đã khuyên vị ấy nên suy
nghĩ cho kỹ, bởi đạo Phật là đến để thấy, không phải
đến để tin. Chỉ sau khi thực sự sống và thấy nó an lạc,
hạnh phúc thì hãy tin theo. Đức Phật còn bảo rằng: “Đừng
vội tin chỉ vì tôn kính bậc đạo sư”. N
Lời
dạy có tinh thần phê phán này là khởi điểm đầu tiên khai
mở tuệ giác cho mỗi cá nhân con người chúng ta. Bởi, lời
nói hay chữ viết chỉ là ý niệm của sự thật, không là
tự thân của sự thật ví như tấm bản đồ thành phố không
phải là thành phố, nhưng nhờ tấm bản đồ ấy ta mới “tiếp
cận” thành phố dễ dàng. Câu nói người xưa: Ý tại ngôn
ngoại; hay thi hào Nguyễn Du bảo: “Linh văn bất tại ngữ
ngôn khoa” là điều khẳng định: Văn hay không phải ở ngôn
ngữ; nên cái “hay” đều là “siêu ngữ nghĩa” cả. Đó
là mượn lời để tỏ ý, được ý thì quên lời. Lời thì
“chật” (ít về số lượng) nhưng ý phải “rộng” (phải
hàm chứa ý nghĩa sâu rộng, thậm thâm vi diệu).
Văn
hào Nhật Bản Kawabata Yasunari (1899- 1972) giải NOBEL văn chương
1968 từng nói: “Kinh Phật là tác phẩm văn chương vĩ đại
nhất của nhân loại”. Ấy vậy mà, những ngày cuối cùng
của Đức Phật, trước khi ngài Đại Niết Bàn Ngài đã tuyên
nói với các đệ tử cùng các đại chúng rằng: “Trong suốt
45 năm Đức Như Lai không nói một chữ”. Ngài không muốn
người sau bị kẹt vào những lời Ngài từng nói. Bởi “chí
đạo vô ngôn”.
Sau
Phật, Lão Tử cũng xác quyết chân lý này trong Đạo Đức
Kinh: “Đã nói thành lời thì còn gì là đạo nữa!”. Nhưng
dẫu “Bất y ngữ” là không nương tựa vào ngôn ngữ, nhưng
lại cũng không thể bỏ “tục” về “chân”; mà phải
nương “ngữ” để sáng tỏ “nghĩa”. Ví như các Pháp
thoại là lời Kinh cũng chỉ là chân lý ảnh tượng mà chất
liệu là ngôn ngữ, ý niệm để người học, người tu thấy
được chân lý bản chất trực tiếp từ kinh nghiệm nơi mình,
chứ không phải “lấy” từ kinh nghiệm người khác, bởi
nghiệp lực mỗi người không giống nhau, nên sự chứng đạt
cũng khác nhau. Cho nên giáo dục Phật giáo được gọi là
giáo dục “đánh thức chứ không phải nhồi nhét kiến thức
hay sự áp đặt”.
Y trí bất
y thức
Nghĩa
là: Nương tựa vào trí tụê mà không nương tựa vào kiến
thức.
Trí
tuệ là hai danh từ ghép dung thông nhau, tuy nhiên có đôi chút
khác nhau. Đạt tới sự tướng hữu vi là Trí- Nghĩa là mọi
sự việc hiện bày rõ ràng, có sự phân biệt, tính đếm;
nên nó quyết đoán. Đạt tới sự lý vô vi gọi là Tuệ-
đó là sự thông tỏ, mà không còn phân biệt, tính đếm.
Do
vậy: Trí tạo tác dụng cho Tuệ. Tuệ bao hàm, thông đạt
tác dụng của Trí. Cho nên gọi đủ phải là Trí Tuệ. Và
chỉ có “Y Trí”, tuệ giác mới phát sinh, tức cái “thấy”
khách quan được thông tỏ tận cùng; ở đó không có tham,
sân, si bởi nó là Thật tướng tức Chân tướng. Vì thế
đây là chỗ đáng được nương tựa, y cứ, để học hiểu,
tăng ích trí tuệ. Còn “Bất y thức”, tức không nên nương
tựa vào kiến thức, hoặc là đối tượng của nhận thức.
Chức năng của “Thức” là sự phân biệt, phân tích, phân
loại. Sự nhận biết đối tượng của nhận thức được
thông qua các giác quan cụ thể như: mắt, tai, mũi, lưỡi…Nó
là trung gian của suy luận và khái niệm nên đương nhiên nó
hàm chứa tham, sân, si…khác với Trí tuệ là trực giác nên
không có tam độc này.
Tóm
lại, trong giáo pháp Tứ Y, Đức Phật đưa ra 4 cặp phạm
trù; trong mỗi cặp có hai “đối tượng” để tìm hiểu,
đó là “y” tức sự nương tựa và “Bất y” là không
nương tựa, không y cứ vào đó, nhưng cả hai lại đều có
tính căn bản nên gọi là “Nhị Đế”.
Và
cũng từ cái “bất khả phân” ấy gợi nhắc chúng ta về
sự tu của chính mình. Đó là tu trong ngũ uẩn thân. Từ thân
ngũ uẩn có đủ cả tham, sân, si ấy mà thăng hoa tri thức,
chứng đạt Giới- Định- Tuệ của Tam Vô Lởu học không
thể khác được.
Pháp
Vương Tử
(Nghiên
cứu Phật học số Phật đản PL 2551)
05-29-2007
12:34:12