THƯ VIỆN HOA SEN
SearchEnglish Mirrorsite
.
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
.
GIÁO LÝ VỀ SỰ THẬT CUỘC ĐỜI
TS. Lễ Hữu Tuấn 
Đạo Phật xuất hiện trên thế gian cách đây hơn 2.500 năm. Kinh điển của đạo Phật được truyền tụng từ thế hệ này sang thế hệ khác và chia ra nhiều bộ phái. Có thể có nhiều khác biệt, nhưng về cơ bản vẫn dựa trên những nguyên tắc về sự thật.

Trong đạo Phật có quan niệm về hai loại sự thật: sự thật tương đối và sự thật tuyệt đối. Trước khi nhập diệt, Đức Phật đã nói một bài kệ nổi tiếng:

Chư hạnh vô thường
Thị sinh diệt pháp
Sinh diệt diệt dĩ
Tịch diệt vi lạc

Chư hạnh là chỉ một sự vật, hiện tượng được tập hợp thành bởi nhiều yếu tố và điều kiện. Ví dụ cái bàn này là một hạnh. Vì bàn này là do gỗ, cây xanh, đất, nước, lửa, gió, con người, thời gian, không gian cấu hợp lại mà thành. Bông hồng trắng cũng là một hạnh. Cơn giận hoặc nỗi buồn của mình cũng là những hạnh. Tất cả mọi sự vật, hiện tượng đều biến đổi, không thường còn, nên Đức Phật nói: “Chư hạnh vô thường”, chúng đều có sinh, có diệt “Thị sinh diệt pháp”.

Cái thế giới vô thường, có sinh, có diệt ấy là một sự thật. Đạo Phật gọi sự thật này là sự thật tương đối.

Nhưng khi ta tiếp tục quan sát cho sâu sắc hơn, chúng ta tiếp xúc được với thế giới bất sinh, bất diệt, thế giới bản thể.

Hãy quan sát đợt sóng, ta thấy trước khi đợt sóng vươn lên thì hình như nó không có. Khi nó vươn lên thì có sóng, khi nó chấm dứt thì hình như nó không còn nữa. Như vậy là sóng lúc có, lúc không, có sinh, có diệt. Đó là thuộc về sự thật tương đối. Nhưng có một thế giới khác nằm ngay trong thế giới hiện tượng này mà không bị những cái có, cái đó ràng buộc. Đó là thế giới của bản thể mà ở đây chính là nước. Đối với nước thì ta không thể nói về sóng.

Thế giới của bản thể không sinh, không diệt. Đạo Phật cho rằng đây là một sự thật nhưng là một sự thật tuyệt đối “Sinh diệt diệt dĩ; Tịch diệt vi lạc”.

Giữa sự thật tương đối và sự thật tuyệt đối là không chống đối nhau, mà có sự liên kết với nhau. Nếu chúng ta tiếp xúc sâu sắc với sự thật tương đối thì chúng ta tiếp xúc được với sự thật tuyệt đối. Khi nào thấu hiểu sinh tử một cách sâu sắc thì chúng ta cũng tiếp xúc được với thực tại không sinh, không tử. Chùa khoá của sự giải thoát là khi ta từ thế giới hiện tượng mà đi được tới thế giới của bản thể. Đi tới được, thì ta đạt được an lạc hạnh phúc.

“Hạnh” trong đạo Phật được diễn đạt trong đạo lý duyên sinh. Đạo lý duyên sinh có khi được dùng danh từ đạo lý duyên khởi hay đạo lý nhân quả.

Khi nói duyên sinh, chữ duyên có nghĩa là điều kiện. Chữ sinh trong “duyên sinh” có nghĩa là phát khởi ra. Một vật phát khởi, có thể không cần sinh ra, có thể nó đã có sẵn rồi, giờ mới biểu hiện ra cho ta thấy. Chữ khởi này là biểu hiện ra. Ví dụ khi một niềm vui phát khởi thì niềm vui đó không hẳn là mới được sinh ra, nó chỉ phát hiện ra thôi. Hạt giống của niềm vui có sẵn trong ta rồi. Nhưng lâu nay, niềm vui đó không được tưới tẩm. Bây giờ nhờ có hiểu được đạo Phật, thì niềm vui đó phát khởi: “Mùa xuân nhẹ hạt đất tâm ướt; Hạt đậu năm xưa miệng hé cười”.

Trong các kinh Nam Tông cũng như Bắc Tông, đạo lý duyên khởi được trình bầy: “Cái này có cho nên cái kia có”; “Cái kia có thì cái này có”, cả hai nương vào nhau mà hiện hữu. Ý niệm về sinh nương vào ý niệm về diệt mà có mặt. Ý niệm về diệt nương vào ý niệm về sinh mà phát hiện.

Trong đời sống hàng ngày, chúng ta thấy mối quan hệ nhân quả rất rõ: cái nhân ở trong quả và cái quả ở trong nhân. Thấy được cái này ở trong cái kia, thấy được cái kia ở trong cái này, thấy mỗi cái chứa đựng được tất cả, và thấy tất cả mọi cái đều chứa đựng mọi cái.

Giáo lý duyên khởi có thể coi là nguyên tắc cơ bản để khám phá kho tàng giáo lý đạo Phật. Trong Tạp A Hàm, kinh 288, Samyutta, 112, Đức Phật nói rằng: “Người nào thấy được tính duyên khởi là thấy được Phật, thấy được Phật trong bản chất”.

Với ngọn đuốc duyên khởi, chúng ta có thể đi vào giáo lý về bốn sự thật và về Bát chính đạo – một giáo lý nền tảng, phổ quát, bao trùm tất cả Phật pháp, vượt cả thời gian. Suốt hơn 2.500 năm, giáo lý về Tứ diệu đế và Chính đạo tiếp tục được xiển dương như xương sống của đạo Phật.

Tứ diệu đế là bài thuyết pháp đầu tiên được chép trong Chuyển Pháp Luân Kinh, Đại Chuyển Pháp Luân Kinh hay Tam Chuyển Pháp Luân Kinh. Pháp Luân là cái bánh xe giáo pháp, và chuyển pháp luân có nghĩa là bắt đầu quay bánh xe pháp. Bánh xe giáo pháp vốn có sẵn rồi nhưng cần phải chuyển. Phật nói bài thuyết pháp đầu tiên, giống như hành động nắm lấy bánh xe giáo pháp mà xoay mạnh và từ giờ phút đó bánh xe pháp tiếp tục quay cho đến ngày hôm nay. Những tín đồ của đạo Phật có bổn phận phải giúp cho bánh xe pháp đó tiếp tục xoay chuyển. Pháp Luân Thường Chuyển nghĩa là bánh xe pháp luôn luôn chuyển động.

Tứ diệu đế tức là bốn sự thật mầu nhiệm: khổ, tập, diệt và đạo (duhkha, Samudaya, nirodha, marga). Khổ tức là sự thật thứ nhất mà chúng ta phải nhận ra, phải tìm hiểu. Tập tức là những nguyên do đưa tới khổ, những thức ăn vật chất, tinh thần đã được tiêu thụ và đã đưa tới đau khổ. Đó là sự thật thứ hai cần phải nhận diện, cần phải chuyển hoá. Sự thật thứ ba là diệt. Diệt ở đây là sự vắng mặt, sự trừ diệt các nguyên do đã đưa tới khổ. Và sự thật thứ tư là Đạo. Đạo tức là con đường, là thức ăn, là các phương pháp thực tập dẫn tới sự vắng mặt của những nguyên nhân gây khổ. Bốn sự thật có liên hệ với nhau. Trong tứ đế có hai cặp nhân quả. Sự thật thứ hai là nhân của sự thật thứ nhất. Sự thật thứ tư là nhân của sự thật thứ ba.

Bốn sự thật mầu nhiệm trong bài pháp thoại đầu tiên của Đức Phật chứa đựng sự kỳ diệu của Đạo Phật. Trong đó Bát chính đạo, con đường của tám sự hành trì chân chính là xương sống của đạo Phật. Nếu chúng ta muốn an lạc và hạnh phúc thì phải thực tập con đường Bát chính đạo. Vì ở đâu có Bát chính đạo thì ở đó có tuệ giác và an lạc.

Tứ diệu đế là một diễn trình mang tính cách nhập thế của đạo Phật. Trong Bát chính đạo có chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng v.v…Chính ngữ tức là sử dụng ngôn ngữ từ ái, trung thực. Chính mạng tức là sử dụng các phương tiện sinh sống chân chính, không vi phạm đức từ bi. Nếu đạo Phật chủ trương chỉ dạy cho người sống trong rừng sâu xa lìa đời sống, không cần nói chuyện với ai, không phải làm nghề gì để sống ở đời, thì chắc đức Phật không cần dạy về chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng. Vì sống trong cộng động xã hội nên ta phải sử dụng ngôn ngữ, phải có nghề nghiệp sinh sống chân chính. Người xuất gia cũng như người tại gia phải có những phương tiện sinh sống hợp pháp, phù hợp với từ bi và trí tụê. Bát chính đạo có chính ngữ, chính mạng, chứng tỏ rằng đạo Phật ra đời vì mọi người, để dạy cho mọi người trong xã hội. Và như vậy đạo Phật là đạo của cuộc đời, đi vào cuộc đời, đạo nhập thế, chứ không phải đạo của người chán đời, từ bỏ cuộc đời.

Trong bốn sự thật mầu nhiệm, giáo lý của đạo Phật nói sự thật về khổ ở đây cần phải hiểu rằng “Tất cả đều là khổ”. Rất nhiều người trong chúng ta ngộ nhận rằng đạo Phật còn coi tất cả đời này là khổ hết. Kể cả lạc thọ tức là niềm vui đó chẳng qua cũng chỉ là khổ thôi. Người ta đã phân ra ba loại khổ: khổ khổ, hoại khổ, hành khổ. Có người không hiểu chữ khổ khổ, nói rằng đã khổ rồi lại càng chồng chất thêm cái khổ nữa, cuộc đời chỉ có khổ thôi, không có gì là niềm vui nữa. Thực ra khổ ở đây chỉ có nghĩa là một cảm thọ khó chịu. Như đau đầu cảm giác đau nhức vì cảm cúm, hoặc khi bị người ta chọc giận, chúng ta bực tức khó chịu, trời lạnh mà lội xuống nước lạnh ta run lên cầm cập…Tất cả những cảm thọ trên gọi là khổ thọ. Khổ thọ là loại khổ thứ nhất, khổ khổ.

Hoại khổ nghĩa là có những thứ vốn không khổ, nhưng khi tiêu hoại thì sẽ tạo ra khổ. Bây giờ anh khoẻ đó, nhưng một ngày kia anh sẽ già yếu, cho nên khỏe của anh là không thật, chỉ nỗi khổ có thật mà thôi.

Hạnh là các hiện tượng kết tập mà thành. Như phần đầu đã nói: “Chư hành vô thường”. Vô thường, thay đổi thì thế nào cũng đưa tới tan rã vì vậy nên khổ. Trong các hành, các hiện tượng đều chứa đựng hạt giống của khổ đau cả, do đó gọi là hành khổ.

Khuynh hướng giải thích khổ bao trùm tất cả đã che mờ giáo lý Tứ diệu đế của đạo Phật.

Nếu dùng đạo lý duyên khởi soi chiếu ta sẽ thấy rằng khổ cũng là một hiện tượng được tập thành, được kết tạo bởi những thứ không phải là khổ. Nừu không hề có cái không khổ thì làm sao có cái khổ. Nếu chưa bao giờ vui làm thì làm sao có thể biết thế nào là buồn. Chưa bao giờ biết ấm thì ta biết thế nào là lạnh v.v… Vì vậy, sự có mặt của khổ đau chứng tỏ có tình trạng không khổ. Đó là giáo lý duyên khởi, một sự thật rõ ràng.

Hơn nữa trong Tứ diệu đế, khi nói sự thật thứ nhất là khổ thì đạo Phật lại nói sự thật thứ ba là Diệt. Diệt là sự vắng mặt của khổ đau, tức là không khổ. Đạo Phật cũng nói rất nhiều đến sự thật thứ ba là hết khổ. An lạc, ngay bây giờ ở đây là một sự thật, một lời tuyên bố rất mạnh mẽ. Cho nên chúng ta phải dẹp bỏ quan niệm cho rằng “tất cả đều là khổ”. Đây là một điều mà đạo Phật không chủ trương. Đạo Phật chỉ muốn nói rằng ta phải công nhận sự có mặt của đau khổ, phải tiếp xúc trực tiếp với đau khổ, phải quán chiếu chúng thì mới tìm ra đường thoát. Cái khổ cần được công nhận. Nếu mình khổ mà không nhận diện được thực trạng đau khổ thì làm sao đi xa hơn được. Nhận diện được đau khổ của mình là hành động đầu tiên trên con đường giải thoát khổ đau. Trong kinh Tập sinh, Đức Phật nói: “Cái gì xảy ra cho ta, nếu ta quán chiếu sâu sắc vào tự thân nó, là ta đã bắt đầu đi trên đường giải thoát”. Khi nhận diện được khổ, thấy được khổ tập chính là con đường đưa tới an lạc đã bắt đầu. Khổ có chứa đựng tập, khổ chứa đựng diệt và khổ chứa đựng đạo. Nếu không hiểu gì về Tập, Diệt và Đạo thì ta chưa hiểu được chữ khổ trong Đạo Phật. Khi tìm hiểu về khổ đế mà không thấy được nó chứa đựng hạt giống của Diệt, của Đạo và của Tập đế, thì sẽ dẫn đến nhận thức sai lầm về đạo Phật. Sự thật là chúng ta phải làm một cái gì phải thực tập để chuyển hoá cái khổ cho thành cái không khổ. Phương pháp của chúng ta là bắt đầu nhìn vào hiện tượng khổ như một khổ thọ.

Dùng ánh sáng của duyên sinh soi chiếu ta thấy rằng trong ta có khổ và có cả không khổ. Con người thường sống trong quên lãng, mình có cả trạng thái không khổ mà không nhìn thấy, tức là mình có hạnh phúc mà mình không biết và cảm nhận được. Không nên nghĩ rằng trong ta không có sẵn hạnh phúc, có những điều kiện của hạnh phúc. Ta có hai mắt đang sáng, có đôi chân đang khỏe, ta có thể nhìn thấy bầu trời xanh, có thể đi đến mọi miền nơi ta muốn. Nếu không và cảm thấy trạng thái này là hạnh phúc là vì ta coi thường hạnh phúc mà ta đang có. Chỉ khi nào trạng thái hạnh phúc này mất đi, thì lúc đó ta mới than trời, than đất. Vì ta không để tâm chú ý tới, nên hạnh phúc có đấy cũng như không. Thật sự là trong mỗi người chúng ta đã có mặt của hạnh phúc, của niềm vui an lạc bây giờ và ở đây, vì không có chính niệm nên ta không tiếp xúc được với hạnh phúc, thưởng thức hạnh phúc đang có sẵn để ngày mai không hối tiếc. Cho nên sự tu tập của chúng ta không phải chỉ tiếp xúc với khổ, nhận thức cái khổ và chuyển hoá cái khổ mà thôi. Chúng ta phải tiếp xúc cả với trạng thái không khổ, nuôi dưỡng cái không khổ. Phải thực tập sống an lạc, hạnh phúc.

Khi ta thấy được bản chất tương tác và duyên sinh của khổ và không khổ thì trong ta đã đạt tới sự vững chãi và thảnh thơi, không còn bị mắc kẹt vào đời sống nữa. Nếu cần sinh ra thì sinh, đến lúc già thì già, nếu phải bệnh thì bệnh, rồi khi chết thì chết. Không còn vướng mắc vào năm uẩn nữa.

Tứ diệu đế là tiếng nói của  tinh thần diệt khổ. Đạo Phật ra đời là nhằm hướng con người diệt khổ đau, tạo dựng một đời sống an bình và hạnh phúc. Giáo lý Tứ diệu đế là tiếng nói của tinh thần lạc quan, nó xác nhận khả năng chuyển hoá đau khổ để dẫn tới hạnh phúc.

TS. Lễ Hữu Tuấn 
(Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo (số 1/2007))
 

05-30-2007 10:23:13
 
 

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap