Rinpoche
ban lời chỉ dạy sau đây cho một tù nhân, là một người
mới theo Đạo Phật. Anh ta đã bị kết án tử hình, bản
án sẽ được thi hành trong thời gian ba tháng. Rinpoche ban lời
chỉ dạy này trong khóa tu năm ngày.
Bạn
Jack rất yêu quý,
Đây
là vài điều để bạn suy nghĩ, một vài gợi ý về cách
bạn sử dụng hoàn cảnh của bạn, và những điều tốt nhất
bạn có thể làm, những điều thực tiễn nhất được dành
cho bạn để thực hành. Cho dù một người chỉ còn một ngày
để sống, hay chỉ còn một giờ, người ấy vẫn có một
cơ hội phi thường để làm cho thân người - - mà họ đã
nhận được chỉ một lần này thôi – trở nên lợi lạc
nhất. Cho dù họ chỉ còn lại một giờ, trong thời gian đó,
họ vẫn có thể thọ năm giới hay tám giới của cư sĩ.
Trong
bình giảng về tám giới luật của Geshe Lam Rimpa ở Tu viện
Drepung (Tây Tạng) có nói rằng: “Cho dù bạn chỉ còn một
giờ để sống, điều đó cũng rất lợi lạc, rất có ý
nghĩa, để thọ tám giới luật.” Trong các giáo lý cũng nói:
“Trong thời đại suy hoại này, thậm chí chỉ giữ một giới
nguyện trong một ngày cũng nhận được lợi lạc to lớn.”
Trong
Kinh Định Vương có nói: “Công đức của việc giữ
một giới nguyện trong một ngày và đêm trong thời đại suy
hoại như hiện nay to lớn hơn nhiều nếu so với công đức
của người với tâm sùng mộ, cúng dường thực phẩm, nước
uống, dù, cờ, và các tràng hoa, ánh sáng tương đương với
số cát trong Thái Bình Dương cho một tỉ Đức Phật”
Những Thực
hành Tốt nhất cho Bạn
Những
Giới nguyện Cư sĩ: Tốt nhất là bạn hãy thọ những
giới nguyện cư sĩ ngay khi có thể, dù bạn có thể thọ trì
nhiều tới mức độ nào. Cho tới khi đó bạn cũng có thể
thọ tám giới Đại thừa 24 giờ.
Thiền
định Chenrezig: Theo những quán sát của tôi, tốt nhất
là bạn nên thực hành Chenrezig (Quán Thế Âm), Đức Phật
Bi mẫn. Đó là thiền định về Đức Chenrezig và trì tụng
thần chú “Om Mani Padme Hung” của ngài. Đây là một bức
ảnh thangka Đức Chenrezig của riêng tôi mà tôi thường mang
theo bất kỳ nơi đâu.
Hãy
quán tưởng Đức Chenrezig trước mặt bạn. Khi bạn tụng
thần chú, hãy quán tưởng chất cam lồ xuất phát từ Đức
Chenrezig, đi vào bạn và tịnh hóa mọi bệnh tật, nghiệp
tiêu cực, những sự hãm hại của tinh linh, và những ô nhiễm
của bạn. Trong nửa mala (chuỗi) hãy quán tưởng bạn được
tịnh hóa, và trong nửa chuỗi còn lại hãy quán tưởng rằng
bạn nhận được tất cả những phẩm tính của Đức Chenrezig.
Đức Chenrezig ôm trọn toàn thể chúng sinh và thấu hiểu trực
tiếp tâm thức của tất cả chúng sinh, mọi phương pháp để
dẫn dắt họ một cách toàn hảo, với năng lực toàn hảo,
trí tuệ toàn hảo, và lòng bi mẫn toàn hảo.
Chuyển
hóa Tư tưởng: Thực hành Tám Bài Kệ Chuyển hóa Tâm rất
quan trọng. Hãy thiền định về những bài kệ và tụng “Om
Mani Padme Hung” sau mỗi bài. Vào lúc kết thúc, hãy cảm thấy
cực kỳ sung sướng vì bạn đang thực hành và phát triển
tư tưởng làm lợi lạc người khác, là Bồ đề tâm.
Hãy
thiền định về Bồ đề tâm tuyệt đối, cũng như tánh Không,
để nhận ra cái “tôi,” các uẩn, và những hiện tượng
thì không hiện hữu tự khía cạnh riêng của chúng ra sao;
để nhận ra rằng chúng chỉ hiện hữu trên danh nghĩa, đơn
thuần do tâm quy gán.
Bài
Nguyện Lamrim: Thật tốt nếu bạn có thể đọc một bài
nguyện lamrim mỗi ngày, chẳng hạn như Nền tảng của Mọi
Phẩm tính Tốt lành. Mỗi lần bạn đọc bài nguyện này là
thêm một lần gieo trồng một hạt giống cho toàn thể con
đường dẫn tới giác ngộ trong tâm bạn và làm cho cuộc
đời bạn thật quý giá.
Thần
chú Maritza: Sẽ rất tốt nếu mỗi ngày bạn tụng ba chuỗi
(mỗi chuỗi 108 thần chú) thần chú Maritza: “Om Maritze Mam
Soha.”
Những
Thực hành vào Ngày Bạn bị Tử hình:
Chuyển
hóa Tư tưởng và Bồ đề tâm
Vào
ngày bạn bị tử hình, điều cuối cùng để làm trước khi
bạn bị hành hình là hoàn toàn quy y (nương tựa) Đức Chenrezig.
Hãy nghĩ tưởng về Đức Chenrezig, quán tưởng bức hình tôi
đã gởi cho bạn, và hoàn toàn nương tựa nơi Đức Chenrezig.
Hãy
nghĩ: “Cầu mong con kinh nghiệm mọi đau khổ của tất cả
chúng sinh có nghiệp bị tử hình và nỗi khổ của người
thực sự thi hành việc tử hình, và cầu mong con làm cho những
người khác thoát khỏi nỗi khổ này.” Hãy chắp hai bàn
tay trong ấn lễ lạy Đức Chenrezig và cầu xin Đức Chenrezig
dẫn dắt trong mọi đời sau cho tới khi giác ngộ.
Hãy
nghĩ: “Cầu mong con nhận lãnh nghiệp của tất cả chúng
sinh bị tử hình, cầu mong chỉ một mình con phải kinh nghiệm
điều này, và bởi điều đó cầu mong tất cả chúng sinh
thoát khỏi mọi nỗi khổ và nhận được hạnh phúc tối
thượng cho tới sự giác ngộ.” Hãy tiếp tục nghĩ như thế,
lập đi lập lại nhiều lần.
Thật
vô cùng mãnh liệt nếu bạn chết với tư tưởng này về
việc từ bỏ bản thân bạn, kinh nghiệm về tất cả những
đau khổ của chúng sinh bị tử hình và hiến tặng mọi hạnh
phúc của bạn cho người khác. Tư tưởng này trở thành nơi
nương tựa chính của bạn. Đặc biệt là bạn hãy cảm nhận
điều này đối với những người làm công việc tử hình
bạn, cũng như những người đã ra lệnh này, quan tòa, v.v..
Bởi họ tạo nghiệp tiêu cực này, rồi thi hành nó – là
hành động xuất phát từ một tâm thức bất tịnh, tham, sân,
si, và đặc biệt là tư tưởng ái-ngã – họ sẽ phải trải
nghiệm nghiệp bị những người khác tử hình trong 500 đời,
chỉ vì nguyên nhân là hành động sát sinh này.
Nếu
bạn chết với một tư tưởng phi đạo đức, một tư tưởng
ái-ngã, tư tưởng tham, sân hay si, thì bạn sẽ bị tái sinh
trong những cõi địa ngục, ngạ quỷ, hay súc sinh. Khi bạn
ở trong những cõi thấp, bạn tiếp tục tạo thêm ác nghiệp,
điều đó sẽ lại dẫn tới việc tái sinh trong những cõi
thấp. Thậm chí việc trải qua một ngày trong những cõi thấp
cũng tích tập rất nhiều ác nghiệp, mười ác hạnh, v.v..
Sẽ
rất lợi lạc nếu bạn chết với tư tưởng làm lợi ích
cho chúng sinh. Đó là cách chết tốt nhất, cái chết tuyệt
vời nhất. Bạn đang chết cho tất cả những sinh loài khác,
điều đó có nghĩa là bạn không chết cho bản thân bạn.
Điều này cũng giống như Đức Chúa Giêsu, đấng nhận lãnh
đau khổ của chúng sinh, hay Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, đấng
trong những đời trước đã hiến thân mình cho một con cọp
cái đói khát và năm hổ con của nó; đấng đã từ bỏ đời
mình bởi không thể chịu đựng nổi nỗi khổ của những
con thú ấy.
Đức
Đạt Lai Lạt Ma nói nếu bạn chết với Bồ đề tâm, tư
tưởng làm lợi lạc cho người khác, thì điều này là một
hành động tự-hỗ trợ, và không ai phải cầu nguyện cho
bạn, bạn sẽ được chính bản thân bạn dẫn dắt. Nếu
bạn chết với tư tưởng này, bạn sẽ chẳng bao giờ bị
tái sinh trong các cõi địa ngục, ngạ quỷ hay súc sinh. Nếu
bạn gộp chung mọi nỗi khổ trong cõi người và so sánh nó
với nỗi khổ trong tám địa ngục nóng và tám địa ngục
lạnh, thì không thể so sánh được. Thậm chí, nếu so với
nỗi khổ trong địa ngục đầu tiên, là địa ngục nhẹ nhất,
thì nỗi khổ trong cõi người quả là đại lạc. Chết với
tư tưởng làm lợi lạc người khác, một động lực Bồ
đề tâm, là phương pháp tốt nhất để tự cứu mình thoát
khỏi việc tái sinh trong những cõi thấp và khỏi phải kinh
nghiệm nỗi khổ đó trong một quãng thời gian dài không thể
tưởng tượng nổi. Và bởi bạn đang tiếp tục tạo ác nghiệp
trong khi bạn đang ở trong các cõi thấp, bạn không biết được
khi nào bạn sẽ lại được tái sinh trong cõi người. Geshe
Chekawa của phái Kadampa, một thánh nhân và thiền giả Tây
Tạng vĩ đại, luôn luôn cầu nguyện được tái sinh trong
các cõi địa ngục để làm lợi ích chúng sinh. Mặc dù đã
cầu nguyện như vậy nhưng khi ngài qua đời, thay vì bị tái
sinh trong các cõi địa ngục thì ngài lại thấy Cõi Tịnh
Độ hiện ra, ở đó không có đau khổ, không có tuổi già,
không bệnh tật, không có chết đi, không có những cảm xúc
tiêu cực, không có những tư tưởng như sân hận, ganh tị,
và v.v.., và là nơi có những hỉ lạc thanh tịnh nhất, toàn
hảo nhất. Trong Cõi Tịnh Độ không có ngay cả từ “đau
khổ”, đó là lý do tại sao cõi đó được gọi là tịnh
(thanh tịnh). Ngài được tái sinh ở đó bởi lòng đại bi
và những lời nguyện của ngài cầu xin được tái sinh trong
những cõi địa ngục vì lợi lạc của chúng sinh, là những
người đang phải trải nghiệm quá nhiều đau khổ.
Bằng
cách sử dụng hình phạt tử hình này như một phương tiện
để đạt được giác ngộ cho chúng sinh, kinh nghiệm này trở
thành nguyên nhân của hạnh phúc của tất cả chúng sinh, không
chỉ hạnh phúc nhất thời mà cả việc giải thoát khỏi sinh
tử, và hạnh phúc tối thượng, sự giác ngộ viên mãn. Vì
thế, không có điều gì to lớn hơn hạnh phúc này. Việc bạn
bị tử hình là một cơ hội để mang lại hỉ lạc và hạnh
phúc tối thượng cho bản thân bạn và tất cả chúng sinh.
Hạnh phúc và những vấn đề hoàn toàn tùy thuộc vào việc
tâm bạn hiểu những sự việc đó ra sao, loại nhãn hiệu
nào bạn khoác cho chúng, và sau đó việc bạn tin tưởng vào
nhãn hiệu đó: khi ấy chúng thực sự trở thành đau khổ
hay hạnh phúc. Sự tu tập để có thể chuyển hóa việc bị
tử hình của bạn bằng cách nhìn việc đó như một lợi
lạc và một nguyên nhân mang lại hạnh phúc cho tất cả chúng
sinh sẽ trở thành một thách thức to lớn. Điều là nỗi
khổ cho hầu hết mọi người có thể được chuyển hóa thành
hạnh phúc lớn lao cho bạn và những người khác. Bằng cách
thực hiện điều này bạn trở thành một nhà vô địch. Đây
quả là một cách thức suy tưởng phi thường.
Bị
Tù là một Cơ hội Phi thường
Một
phương cách khác là hãy hoan hỉ: nếu bạn không ở trong tù,
tâm bạn sẽ rất xao lãng, rối bời, và bị bận tâm bởi
những đối tượng của tham, sân, và v.v.. Bạn sẽ không có
thời gian để thiền định và không thích thú trong việc thực
hành tâm linh bởi cuộc đời bạn sẽ rất bận rộn và phải
dành hết thời gian cho những đối tượng của tham muốn.
Vì
thế, bằng cách ở trong tù bạn có một cơ hội phi thường.
Điều đó giúp bạn đánh thức tâm bạn, phân tích bản thân,
và nghĩ tưởng về cuộc đời của riêng bạn. Điều này
làm cho việc ở trong tù trở nên hết sức sâu sắc. Do ở
trong hoàn cảnh này, bạn cảm thấy ước muốn thật sâu sắc
được thể nhập con đường tâm linh và thiền định. Vì
thế, cuộc sống trong tù của bạn thực sự hạnh phúc hơn
một cuộc đời bình thường ở ngoài nhà tù, đặc biệt
là hiện tại khi bạn hiểu biết về nghiệp, về việc đau
khổ xuất phát từ tâm ra sao, và làm thế nào tâm là nguyên
nhân chính yếu. Nhờ thấu hiểu điều này bạn có thể có
một cuộc đời hạnh phúc, cái chết hạnh phúc và tái sinh
hạnh phúc, bằng cách tịnh hóa ác nghiệp và tạo thiện nghiệp
(những hành động đức hạnh). Không chỉ có thế, bạn khám
phá được rằng có một thành tựu sâu xa hơn nhiều trong
cuộc đời: hạnh phúc tối thượng và sự giải thoát khỏi
sinh tử (liên tục luân hồi từ đời này sang đời khác,
sự tương tục của những uẩn được gây nên bởi nghiệp
và sự vô minh, bị ô nhiễm bởi chủng tử của vô minh, tất
cả những đau khổ và những nguyên nhân của chúng) nhờ chứng
ngộ Bốn Chân lý Cao quý (Tứ Diệu Đế) – nỗi khổ thực
sự (Khổ đế), nguyên nhân thực sự của đau khổ (Tập đế),
sự chấm dứt đau khổ (Diệt đế), và con đường chân chính
(Đạo đế). Bạn khám phá ra rằng có một cơ hội để học
tập con đường chân chính và để thành tựu con đường này
nhờ việc lắng nghe, quán chiếu và thiền định (văn, tư
tu) về con đường đó. Chừng nào chúng ta không tiệt trừ
được những nguyên nhân của đau khổ, đó là tâm, sự vô
minh, và hành động của nó – là nghiệp, thì chúng ta sẽ
phải tái sinh, chết đi và kinh nghiệm mọi đau khổ hết lần
này tới lần khác không có lúc chấm dứt.
Điều
mà hầu hết mọi người trong thế gian tin là đau khổ thì
hết sức giới hạn. Điều mà họ muốn thoát khỏi chỉ là
những đau khổ cực kỳ thô thiển. Nhưng có rất nhiều đau
khổ mà họ không nhận ra. Vô minh ngăn trở họ không thành
tựu được việc hoàn toàn giải thoát và tìm ra con đường
chân chính. Vô minh cũng ngăn chặn hạnh phúc mà họ đang tìm
kiếm – hạnh phúc đó thực sự chỉ là đau khổ, không phải
là hạnh phúc đích thực – và thậm chí phương pháp để
có được hạnh phúc mà họ mong muốn. Họ chỉ đang tìm kiếm
hạnh phúc bên ngoài, và đó là lý do tại sao cuộc đời của
họ thường xuyên bị lôi kéo vào đau khổ, từ đời này
sang đời khác.
Vì
thế, việc ở trong tù thì hết sức tích cực, một thuận
lợi và hỉ lạc to lớn. Bạn có một cơ hội phi thường:
hiện tại có hạnh phúc, một cái chết hạnh phúc, những
đời sau hạnh phúc, sự giải thoát hạnh phúc khỏi sinh tử,
và sự giải thoát hạnh phúc vĩ đại: sự toàn giác.
Việc
Tái sinh và Nhớ lại những Đời Quá khứ
Có
lẽ bạn từng nghe nói về sự tái sinh. Mặc dù thân thể
này tan rã, điều đó không có nghĩa là tâm chấm dứt hiện
hữu; nó vẫn tiếp tục. Chúng ta có một thân và tâm và chúng
ta gắn liền với thân và tâm này như bản ngã, cái “tôi,”
là điều chỉ đơn thuần được quy gán. Tâm hôm nay bắt
đầu lúc bình minh, nhưng tâm thức của ngày hôm nay là sự
tiếp tục của tâm thức ngày hôm qua, hoàn toàn trước lúc
bình minh. Vì thế, tương tự như thế, tâm của năm nay là
sự tiếp nối của tâm năm ngoái chứ không phải là cái gì
riêng biệt. Đó là lý do tại sao chúng ta có thể nhớ lại
điều ta đã nói hôm qua, nơi ta đã đi, thực phẩm ta đã
ăn, những người ta đã gặp, và v.v.. Đứa trẻ và con người
của ta hôm nay không riêng biệt, chúng là một. Bạn có thể
nhận ra điều này bằng cách nhớ lại điều bạn đã làm
khi là một đứa trẻ, nơi bạn đã đi v.v..
Giống
như thế, những đời quá khứ thì cũng vậy. Mặc dù hầu
hết mọi người không nhớ được, tâm ta chính là sự tiếp
nối của tâm thức trước khi ta sinh ra. Tâm bạn không chỉ
bắt đầu sau khi thân thể bạn ra khỏi tử cung của mẹ bạn,
cũng không bắt đầu khi tâm thức bạn đi vào trứng được
thụ tinh, và sự kết hợp của thân và tâm được bắt đầu.
Một
số người có thể nhớ lại việc họ ở trong bụng mẹ và
được sinh ra. Tôi biết có một đệ tử có một ký ức minh
mẫn về điều đó. Cho dù hầu hết mọi người không nhớ,
nhưng có rất nhiều người nhớ được. Cũng có rất nhiều
trẻ em có thể nhớ được những đời quá khứ của chúng
và tả lại những điều đó thật rõ ràng. Đây không chỉ
là kinh nghiệm của các Lạt ma Tây Tạng. Có những người
ở Tây phương sinh ra với một trí nhớ rõ ràng về những
đời trước. Điều này cho thấy những người có một tâm
hồn minh mẫn, tâm họ ít bị ô nhiễm và che chướng. Một
số người cũng có tâm thức trong trẻo và có thể thấy được
tương lai.
Nhờ
phát triển thiền định, đặc biệt là thiền an định (có
chín giai đoạn), bằng cách cắt đứt sự hấp dẫn, những
tư tưởng tản mạn, và những tư tưởng trầm trệ, tâm trở
nên trong sáng hơn. Khi đó ta có thể phát triển những năng
lực cao cấp hơn. Những vị thánh vĩ đại, các Bồ tát arya
– chẳng hạn như những Bồ Tát thành tựu bhumi (địa) thứ
nhất, bậc thành tựu con đường cao quý của trí tuệ trực
tiếp nhận ra tánh Không, bản tánh tối thượng – có thể
nhớ lại hàng trăm đời quá khứ và cũng có thể nhìn thấy
tương lai. Chắc chắn là khi các ngài đạt được những bhumi
cao hơn (có mười bhumi để thành tựu sự toàn giác), các
ngài khám phá và nhìn thấy một triệu lần hơn nữa những
đời quá khứ và tương lai, cũng như thành tựu con đường
Kim cương thừa tối thượng, Sáu Yoga của Naropa.
Nhờ
thiền định về một Bổn tôn v.v.. ta cũng có thể thành tựu
sự thấu thị, có thể nhìn thấy quá khứ và tương lai. Ta
có thể nhìn thấy những sự việc xảy ra mà những người
khác không thể thấy, cũng như có thể nhìn thấy những sự
việc trong những đất nước xa xôi.
Tất
cả những điều này cho thấy có những đời quá khứ; điều
này chứng minh sự việc đó. Nếu có những đời trước thì
cũng có những đời sau. Như tôi đã đề cập, nhiều người
có thể nhìn thấy những đời trước cũng như nhiều người
có thể nhìn thấy những đời sau. Toàn bộ sự việc là vấn
đề tâm trong sáng ra sao. Tâm càng ít bị ô nhiễm hay ít bị
vẩn đục thì ta càng có thêm năng lực để nhìn thấy quá
khứ, hiện tại, và tương lai, là những điều mà hầu hết
mọi người không có sự trong sáng hay năng lực nên không
thể nhìn thấy. Đây là năng lực của tâm có thể được
phát triển: sự trong trẻo của tâm có thể nhớ lại rõ ràng
những đời quá khứ, những người trong gia đình, và những
vật sở hữu. Ta có thể thành tựu điều này chỉ nhờ trì
tụng các thần chú chẳng hạn như “Om Mani Padme Hung.”
Ví
dụ như, sau khi mẹ tôi qua đời, bà được tái sinh và có
thể nhớ lại nhiều việc trong đời trước của bà. Bà tái
sinh vào một gia đình sống gần nơi bà đã sống khi là một
sư cô trong vài năm ở Lawudo, Solu Khumbu, tại Nepal, gần Núi
Everest. Ở Lawudo có một hang động của yogi giác ngộ vĩ đại
Padmasambhva, bậc đã đặt gót sen thiêng liêng của mình ở
đó trong một thời gian ngắn, và ở đó Lạt ma Kunzang Yeshe
đã sống trong ẩn thất, là bậc được nhiều Lạt ma tiên
tri. Khi hóa thân của mẹ tôi lên ba hay bốn tuổi, cậu có
thể nhận ra thật rõ ràng tất cả những người trong gia
đình của cậu trong đời trước. Cậu không ngượng ngùng
đối với họ như khi cậu gặp những người khác; cậu lập
tức gần gũi với họ. Cậu cũng có thể nhận ra những thú
vật cậu thường săn sóc. Cậu cũng có thể nhận ra nhiều
đồ vật mà cậu thường dùng và tìm chúng ở những nơi
cậu đã để lại chúng trong đời trước của cậu.
Tôi
sẽ kể cho bạn nghe một câu chuyện về điều này. Trước
khi tôi đi Tây Tạng, khi tôi còn là một cậu bé ở Solu Khumbu
thì miền đất này rất hoang sơ. NgườI dân coi những cái
muỗng và những nút áo bằng nhựa là những vật rất quý
báu. Khi họ có được một chiếc áo, ngay cả một chiếc
áo rách, họ giữ những chiếc nút áo bằng nhựa như vật
rất quý giá. Cũng bởi ở đây không có muỗng, khi họ có
những chiếc muỗng thì họ rất quý, thậm chí họ đeo cái
muỗng bằng một sợi giây choàng quanh cổ, giống như người
Tây phương đeo vòng xuyến. Ở đó cũng không có cà phê, dầu
hỏa v.v.. Hiện nay, Solu Khumbu đã thay đổi rất nhiều và
trở nên tân tiến.
Khi
tôi còn là một đứa trẻ thì gạo rất hiếm. Đó là một
thực phẩm hết sức đặc biệt, bởi lúa không mọc được
ở đó và người dân phải chuyên chở nó trong nhiều ngày
từ những nơi xa xôi. Tôi nhớ là mình chỉ được ăn cơm
vào những dịp hết sức đặc biệt, như khi có một geshe
viếng thăm hay khi mọi người tới dự những cuộc nhập thất
Nyung nye. (Nhập thất Nyung nye là một khóa nhập thất hai ngày
về Đức Phật Bi mẫn - Đức Chenrezig, trong thời gian đó
bạn ăn một bữa vào ngày đầu tiên và sau đó hoàn toàn
ăn chay vào ngày thứ hai và thậm chí không uống một giọt
nước.) Có một năm, vào ngày đầu tiên của khóa nhập thất
Nyung nye, vị Thầy dạy mẫu tự của tôi và người thị giả
- là những người cùng nhập thất với tôi - mang lại bữa
ăn trưa gồm cơm và sữa đông còn lại. Điều này thật đặc
biệt, một sự kiện hết sức vui vẻ xảy ra mỗi năm một
lần.
Hiện
nay cơm đã trở thành một thực phẩm rất thông dụng, cũng
như cà phê. Khi tôi còn nhỏ, không có nến, dầu hỏa, hay
khí đốt, vì thế khi màn đêm buông xuống ánh sáng duy nhất
bạn có là ngọn lửa trong bếp bạn đang nấu và một mẩu
gỗ có nhựa hay tre khô mà bạn có thể đốt lên và dựa
vào tường, để có thể nhìn thấy thức ăn, hay để dùng
khi bạn đi ra ngoài. Hiện nay ở nhiều vùng của Solu Khumbu
đã có điện cũng như đèn khí đốt.
Mẹ
tôi thường gom tất cả những chiếc nút nhựa và cất trong
một cái chai. Sau khi mẹ tôi qua đời, chị tôi, một sư cô,
đã khâu những chiếc nút của mẹ tôi trên áo của chị.
Khi lần đầu tiên hóa thân của mẹ tôi tới Lawudo và chị
tôi ôm cậu trong tay, cậu bé lập tức chỉ những chiếc nút
trên áo của chị và nói: “Đó là những chiếc nút của
cháu!” Cậu đã nhớ lại những chiếc nút trong đời trước
của cậu.
Cách
hành xử của cậu cũng hoàn toàn giống cách hành xử của
mẹ tôi. Bất kỳ khi nào bà đi tới Gompa Lawudo, trước tiên
bà thường đi nhiễu quanh gompa (chùa, tu viện) bảy lần, và
sau đó khi bà đi vào gompa điều đầu tiên bà làm là nhận
một sự ban phước từ Pháp tòa của Đức Đạt Lai Lạt Ma,
lễ lạy và đặt đầu bà trên Pháp tòa. Sau đó bà sẽ nhận
một sự ban phước từ một ngai nhỏ tôi đã ngồi. Kế đó
bà nhận một sự ban phước từ bàn thờ có những pho tượng
Phật. Khi lần đầu tiên hóa thân của mẹ tôi tới gompa,
cậu đã làm đúng những điều mẹ tôi đã làm.
Khi
em trai Sangye của tôi (sống ở Kathmandu) tới thăm hóa thân
của mẹ tôi lần đầu tiên, nhiều người đã tới – các
tăng ni, cư sĩ – và tất cả đều cúng dường những chiếc
khăn (khatag) cho cậu. Đây là một cử chỉ truyền thống biểu
lộ sự tôn kính và cảm ơn cũng như dâng cúng những ước
nguyện tốt lành mà ta cúng dường các Lạt ma, các pho tượng,
Kinh điển, và những thangka (tranh cuộn) như một thực hành
tích tập công đức. Sau khi bạn dâng khatag cho Lạt ma, nó
được ban lại cho bạn như một sự ban phước.
Khi
mọi người dâng những chiếc khăn cho hóa thân của mẹ tôi,
cậu đã tặng lại mỗi chiếc khăn cho mỗi người, ngoại
trừ hai người. Một người là cha cậu và người kia là một
tu sĩ sống ở Lawudo tên là Tsultrim Norbu. Lý do khiến cậu
không tặng lại khăn cho họ là bởi cậu nhớ lại hai người
này trong đời trước của cậu. Trong đời trước khi cậu
sống ở Lawudo, nguồn tiếp tế nước duy nhất được lấy
bằng cách đi bộ từ một nơi cách xa một dặm. Có một lần
chúng tôi xoay sở tìm được một số ống dẫn nước và
chúng tôi nối những chiếc ống đó với nguồn nước để
dẫn nước tới gần Lawudo hơn. Nguồn nước gần một căn
nhà và gia đình sống ở đó không vui vẻ lắm khi chúng tôi
đặt ống ở đó, vì thế họ đã dùng đất làm nghẹt ống
khiến nước không chảy được. Mẹ tôi rất bực những người
đó. Thân phụ hóa thân của mẹ tôi là người trong gia đình
đã làm nghẹt những chiếc ống. Dấu vết trong đời trước
của cậu về việc rất khó chịu này vẫn còn, đó là lý
do tại sao cậu không tặng lại chiếc khăn.
Câu
chuyện khác là mẹ tôi có một người bạn rất thân tên
là Ang Phurpa, ông ta sống ở Kathmandu. Một hôm ông và em Sangye
của tôi đi tới Lawudo để gặp hóa thân của mẹ tôi lần
đầu tiên. Cậu hoàn toàn không biết là họ đang đi tới.
Ngay khi Ang Phurpa ngồi xuống, cha mẹ hóa thân của mẹ tôi
mời bia chang, rượu, và trà, và hóa thân của mẹ tôi lập
tức nói: “Ang Phurpa, xin mời, xin mời dùng.” Ang Phurpa lập
tức ôm chầm lấy chân cậu bé và bật khóc bởi ông không
thể tin nổi là hóa thân nhớ được tên ông và còn nhớ
tới ông; ông không thể nói lên lời.
Mọi
sự Đến từ Tâm
Ở
Tây phương, mọi người không nói về những dấu vết trong
những đời trước là nguyên nhân tại sao một số trẻ em
sân hận và những trẻ em khác có bản tánh bi mẫn hơn. Ngay
cả từ khi sanh ra, một số trẻ em đã như thế: đây là do
bởi những dấu vết trong quá khứ, những tập quán trong quá
khứ. Trong văn hóa Tây phương, đây không phải là một bộ
phận của nền giáo dục của chúng ta, chúng ta không am hiểu
về tâm. Nhưng ở Đông phương, việc hiểu biết về tâm rất
được phát triển, sâu xa và bao quát.
Đức
Phật Toàn Trí – bậc đã hoàn toàn thoát khỏi sự vô minh,
thoát khỏi mọi lỗi lầm của tâm, những ô nhiễm, những
dấu vết tiêu cực, và những ảo tưởng, đấng hoàn toàn
thoát khỏi những quan điểm bất tịnh, đấng siêu vượt
mọi sự, hoàn toàn giải thoát – đã giảng nghĩa hết sức
rõ ràng và bao quát trong giáo lý của Ngài về bản tánh của
tâm, chức năng của tâm, và mọi tư tưởng khác biệt và
những yếu tố tinh thần.
Đặc
biệt là trong các Tantra Yoga Tối thượng, Ngài đã giảng những
chi tiết cao cấp hơn về tâm vi tế. Tantra (Mật điển) giải
thích làm thế nào mọi địa điểm, chúng sinh, những sinh
loài và những vật vô tri bất tịnh, những lạc thú giác
quan, và những thân bất tịnh, đau khổ xuất phát từ gió
(khí) và tâm bất tịnh.
Tất
cả những mạn đà la, thân tướng, và sự hỉ lạc của Bổn
tôn giác ngộ đều xuất phát từ gió (khí) và tâm thanh tịnh.
Đức Phật có rất nhiều phẩm tính của thân, ngữ, và tâm
thiêng liêng, và có thể thực hiện những công việc toàn
hảo cho tất cả chúng sinh. Tất cả những điều này hiển
lộ từ khí và tâm vi tế.
Những
vấn đề như thế giới được tâm thức tạo nên ra sao không
phát triển trong văn hóa Tây phương. Trong những giáo lý và
triết học của Đức Phật đã giảng nghĩa rõ ràng mọi sự
đến từ nghiệp – từ tâm - ra sao. Mọi điều không đáng
ao ước hay đau khổ xuất phát từ những dấu vết tiêu cực,
chúng đến từ tâm, và mọi sự đáng ao ước hay hạnh phúc,
xuất phát từ những thiện hạnh, là những gì đến từ tâm.
Theo
quan điểm của tôi, ngay cả trong một gia đình, những đứa
con khác nhau cũng có những đặc tính khác nhau và những nhận
thức khác nhau về cùng một đối tượng. Một đứa trẻ
sinh ra có nhiều lòng bi mẫn và nhẫn nại hơn, và một đứa
trẻ được sinh ra rất thiếu kiên nhẫn; một đứa trẻ làm
những ác hạnh thật tự nhiên, đứa trẻ khác không làm điều
đó một cách tự nhiên. Vì thế, lý do, luận lý hết sức
rõ ràng cho điều này là những tập quán trong quá khứ và
những dấu vết tiêu cực và tích cực trong quá khứ.
Điều tốt đến từ những dấu vết tích cực trong quá khứ,
và tất cả những gì xấu xuất phát từ những tập quán
và dấu vết xấu xa trong quá khứ còn để lại trên tâm thức.
Đây
không phải là một triết học mà là một thực tại mà bạn
có thể nhìn thấy. Một vài người có sự thấu thị có thể
nhìn thấy chúng ta đã có những đời quá khứ ra sao, chúng
ta đã thực hiện loại thực hành nào. Ngay cả trong đời
này, ta cũng có thể thấy rằng những hành động chúng ta
đã làm trong giai đoạn đầu của đời ta, những tập quán
ta đã phát triển, ảnh hưởng tới giai đoạn sau của đời
ta. Chẳng hạn như, nếu bạn luôn luôn phạm vào những ác
hạnh chẳng hạn như sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối,
phỉ báng, nói lời thô lỗ, nói chuyện tầm phào, tham muốn,
ác ý, tà kiến (mười ác hạnh), điều này là do bởi các
tập quán và những dấu vết trong quá khứ.
Bạn
cũng có thể nhìn thấy rõ ràng trong một đời người, những
người nghiện ma túy và rượu không thể ngừng lại những
thói quen từ những năm trước của họ ra sao. Điều này xuất
phát từ những dấu vết tiêu cực còn sót lại bởi những
hành động trong quá khứ. Cách lập luận này làm cho vấn
đề trở nên hết sức rõ ràng, và những người có năng
lực của tâm thức có thể nhìn thấy điều này.
Tóm
lại, bạn có thể thấy rõ ràng những đời trước của bạn
thậm chí chỉ nhờ tụng thần chú của Đức Phật Bi mẫn
“Om Mani Padme Hung.” Đức Phật Bi mẫn – Đức Chenrezig (Quán
Thế Âm), là hiện thân của lòng bi mẫn của tất cả chư
Phật. Trong thân tướng con người, Đức Chenrezig là Đức
Đạt Lai Lạt Ma, hiển lộ của lòng bi mẫn của tất cả
chư Phật. Đức Đạt Lai Lạt Ma là vị Thầy tâm linh và vị
lãnh đạo thế tục của Tây Tạng. Hiên nay ngài đang trở
thành vị lãnh đạo tâm linh của thế giới, mang lại sự
giáo dục thực tiễn về cách phát triển lòng bi mẫn, trách
nhiệm phổ quát, và lòng từ ái, nhấn mạnh sự cần thiết
phải có lòng tốt đối với mọi người, kể cả kẻ thù
của bạn; là bậc hiến tặng trí tuệ về điều gì là đúng
đắn và mang lại hạnh phúc cho bạn và chúng sinh – là điều
cần thực hành; và về những gì sai lầm và mang lại đau
khổ cho bản thân và chúng sinh – là điều cần từ bỏ.
Đức Đạt Lai Lạt Ma không chỉ hoàn toàn có khả năng lãnh
đạo tất cả Phật tử, mà còn có thể lãnh đạo mọi người
thuộc mọi tôn giáo, những người tín tâm và những người
không tin; bằng cách ban lời chỉ dạy phổ quát là điều
cấp thiết để mang lại an bình và hạnh phúc cho thế giới.
Thần chú của Đức Phật Bi mẫn có những lợi lạc thật
to lớn, khiến ta có thể phát triển một tâm thức minh mẫn,
có thể nhớ lại những đời quá khứ, v.v..
Mẹ
tôi thường tụng 50.000 thần chú Đức Phật Bi mẫn mỗi ngày,
ngoại trừ khi bà sắp mất là lúc bà không thể tụng nhiều
được. Bởi thế bà có một tâm thức minh mẫn và kiên cố;
đây cũng là bởi bà đã sống phù hợp với những giới nguyện
của bà (bà đã được xuất gia với Đức Ling Rinpoche ở
Bodhgaya, nơi 1000 Đức Phật đã đặt gót sen của các Ngài,
kể cả Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, là vị Phật thứ tư).
Vi thế, sau khi mất bà đã có thể nhớ lại rõ ràng đời
trước của bà.
Sự
Tương tục của Tâm
Cái
chết, là sự phân ly của thân và tâm, không chấm dứt sự
liên tục của cuộc đời. Tâm và thân bị tách ly do bởi
chúng chịu sự chi phối của vô minh và nghiệp, và vì thế,
một lần nữa, tâm thức nhận một cái thân. Tuy nhiên, tâm
luôn luôn có sự tương tục. Đôi khi tâm có được một thân
người, nhưng nó cũng có thể chọn một loại thân tướng
khác phù hợp với những hành động tiêu cực hay tích cực
mà bạn đã làm. Đôi khi đó có thể là một thân đau khổ
chẳng hạn như thân của một chúng sinh địa ngục, ngạ quỷ,
hay súc sinh. Đôi khi có thể là thân của một chúng sinh hạnh
phúc như một deva ( trời thế tục), hay một thân người,
hay trong một cõi tịnh độ, chẳng hạn như Cõi Tịnh Độ
của Đức Phật A Di Đà. Hoặc nó có thể là một thân tinh
linh. Ta cũng có thể được tái sinh trong cõi vô sắc, nơi
không có thân tướng vật chất. Thậm chí sau khi bạn hoàn
toàn giác ngộ thì vẫn còn sự tương tục của tâm giác ngộ.
Có
một vấn đề quan trọng: Sau khi chết, tâm thức ta sẽ nhận
loại tái sinh nào? Hoặc một tái sinh khốn khổ, chẳng hạn
như một chúng sinh đau khổ - địa ngục, ngạ quỷ, hay súc
sinh, hay thân của một chúng sinh hạnh phúc. Điều khiến ta
nhận tái sinh là một chúng sinh đau khổ là những ác hạnh
đã mắc phạm cùng một tư tưởng ái-ngã, mê lầm, vô minh,
sân hận, và tham lam. Chúng ta đang tạo ra những nghiệp tiêu
cực này rất nhiều lần mỗi ngày. Ta có thể thấy rõ ràng
nếu ta nhìn những hành động của ta trong một ngày thì hầu
hết tất cả những điều đó được thực hiện với một
tư tưởng ái-ngã, tham, sân và si. Hầu hết những hành động
xuất phát từ ác hạnh và kết quả chỉ là đau khổ. Trong
đời này, từ lúc sinh ra, chúng ta phạm rất nhiều nghiệp
tiêu cực. Cũng thế, từ những tái sinh tự vô thủy, chúng
ta tạo rất nhiều nghiệp tiêu cực khiến ta phải kinh nghiệm
và phải tịnh hóa. Vì thế, ta nên chuẩn bị tức thì để
có một tái sinh tốt đẹp sau khi chết, để lại có cơ hội
thiền định, thực hành Pháp, phát triển tâm, và thực hành
con đường, không chỉ để được giải thoát mà còn giác
ngộ, để có thể hiến tặng lợi lạc to lớn, đưa rất
nhiều chúng sinh tới hạnh phúc, đặc biệt là hạnh phúc
tối thượng của sự giác ngộ. Mục tiêu chính của cuộc
đời ta là hoàn thành điều này; đó là mục đích của cuộc
đời.
Lợi
ích của việc Sống Phù hợp với những Giới nguyện Đạo
đức
Câu
trả lời, giải pháp, là thôi không nhận những tái sinh đau
khổ và nhận những tái sinh hạnh phúc. Để thực hiện được
điều này, chúng ta phải thực hành Pháp và tịnh hóa nghiệp
tiêu cực trong quá khứ để ta không trải nghiệm một kết
quả đau khổ. Cũng thế, chúng ta không được lại tạo ra
ác nghiệp, là nguyên nhân của đau khổ. Ta có thể làm được
điều này nhờ thọ những giới nguyện từ những Đạo sư
tâm linh, phù hợp với năng lực của ta. Có năm giới nguyện
cư sĩ (không sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, và dùng
những chất gây say). Cũng có tám giới nguyện cư sĩ (sự
thọ giới an trú cận giải thoát [nyen nyen]). Bằng cách sống
theo những giới nguyện này, bạn càng lúc càng tới gần sự
giải thoát. Bạn cũng có thể thọ Tám Giới luật Đại thừa
với tư cách một cư sĩ hay một tu sĩ. Việc thọ giới nguyện
là điều thiết yếu đối với việc thực hành đạo đức,
để có được một tái sinh tốt lành sau khi chết, không chỉ
cho hạnh phúc của riêng bạn mà còn cho hạnh phúc của tất
cả chúng sinh. Vì thế, điều tối quan trọng là thọ nhận
một vài giới nguyện này, bất kỳ giới nguyện nào bạn
có thể nhận.
Nếu
bạn muốn bay tới một quốc gia khác, bạn cần có một vé
máy bay, nếu không thì bạn không thể đi bằng máy bay. Hoặc
nếu bạn muốn bắt đầu một dự án một triệu đô la, bạn
cần có một triệu đô la. Sống phù hợp với những giới
nguyện thì giống như thế: đó là một chuẩn bị tuyệt hảo
cho cái chết, cũng như cho hạnh phúc trong những đời sau,
sự giải thoát, giác ngộ, và nền hòa bình thế giới. Vì
thế, hãy thọ các giới nguyện như sự đóng góp của bạn
cho nền hòa bình của thế giới. Đây là điều làm cho cuộc
đời bạn thật tuyệt diệu, xứng đáng và lợi lạc.
Nghiệp
tiêu cực chẳng hạn như sát sinh có bốn phương diện đau
khổ chín mùi, chẳng hạn như tái sinh như một chúng sinh đau
khổ ở trong cõi địa ngục, ngạ quỷ, hay súc sinh. Hoặc
nhờ thiện nghiệp bạn tái sinh trong cõi người nhưng bạn
kinh nghiệm trong đời đó ba kết quả đau khổ của ác nghiệp
sát sinh trước đó, chẳng hạn như nơi bạn sinh sống có
rất nhiều mối nguy hiểm cho cuộc đời bạn, nó rất dơ
bẩn, và thuốc men cùng thực phẩm gây nên cái chết hay làm
bạn đau ốm; đây là việc kinh nghiệm kết quả tương tự
nguyên nhân. Bạn cũng có thể bị con người, thú vật, các
mầm bệnh, hay vi khuẩn làm hại, bị người khác giết, và
có thọ mạng ngắn ngủi. Bạn cũng có thể bị tổn hại
bởi các yếu tố: lửa, nước, động đất, bão tố, tuyết
lở, và v.v.. Hoặc ngôi nhà bạn đang sống, là phương tiện
để che chở bạn, bị sụp đổ và gây nên cái chết.
Hoặc
bạn có thể tái sinh trong các cõi địa ngục; kết quả này
tương tự nguyên nhân. Khi bạn lại dấn minh vào việc tạo
ác nghiệp, sát sinh, trong các cõi địa ngục, một lần nữa,
bạn tạo ác nghiệp và một kết quả đau khổ, tạo nên kết
quả tương tự nguyên nhân. Nỗi khổ tiếp diễn không có
lúc chấm dứt.
Chừng
nào ta không tịnh hóa ác nghiệp sát sinh bởi không sống phù
hợp với giới tự chế không sát sinh, thì ta sẽ phải đau
khổ liên tục. Có một khác biệt to lớn giữa việc không
sát sinh và sống phù hợp với giới không sát sinh. Nếu bạn
chỉ đơn thuần không sát sinh thì bạn không tạo ra công đức,
thiện nghiệp. Bạn không tạo ác nghiệp sát sinh, nhưng điều
đó không có nghĩa là bạn tích tập công đức. Nếu bạn
sống phù hợp với giới không sát sinh thì ngay cả khi bạn
ngủ, bạn cũng đang tích tập công đức. Trong khi bạn ăn,
ngủ, trò chuyện, và thực hiện mọi hành động, bạn đang
tạo công đức trong mọi lúc bằng cách không làm hại người
khác và sống phù hợp các giới nguyện. Nếu điều này được
thực hiện với động lực từ bỏ sinh tử, nó sẽ gây nên
sự giải thoát khỏi sinh tử. Nếu nó được thực hiện với
Bồ đề tâm, nó sẽ tạo nên sự giác ngộ; trong mọi lúc
bạn đang tạo ra điều này bằng cách sống phù hợp với
giới nguyện đó.
Cái
Chết Có thể Xảy ra Bất kỳ lúc nào
Trong
thực tế, cái chết có thể xảy ra bất kỳ lúc nào, bất
kỳ ngày nào. Cho dù bạn có thể có một kỳ hạn tử hình
do quan tòa đưa ra, cái chết vẫn có thể xảy ra bất kỳ
lúc nào. Cái chết của bạn cũng có thể không xảy ra do việc
tử hình; có rất nhiều nguyên nhân và điều kiện (duyên)
có thể gây ra cái chết trước thời hạn đó. Nghĩ tưởng
tới điều này thì rất ích lợi. Vì thế, ngay bây giờ chúng
ta phải sửa soạn cho cái chết và thọ những giới nguyện
càng sớm càng tốt.
Việc
Trải nghiệm Đau khổ của Chúng sinh Tạo nên Hạnh phúc cho
Bản thân
Nếu
ta từ bỏ cuộc đời vì người khác, trải nghiệm nỗi khổ
của họ, và hiến tặng hạnh phúc của ta cho người khác,
thay vì điều đó gây nên đau khổ cho bản thân ta thì trên
thực tế nó lại tạo nên hạnh phúc.
Một
đệ tử của tôi bị bệnh AIDS. Anh ta viết cho Đạo sư của
anh ở Ấn Độ và hỏi phải làm gì. Đạo sư của anh, ngài
Rongta Rinpoche, là một Lạt ma thâm niên sống ở Dharamsala,
đã ban cho anh một thực hành. Pháp thực hành là một thiền
định rất đặc biệt về Bồ đề tâm, nhận vào mình những
đau khổ của chúng sinh và nguyên nhân của đau khổ, hủy
diệt bản ngã, và sau đó hiến tặng hạnh phúc, nguyên nhân
của các công đức, cho người khác, trong hình dạng ánh sáng
trắng. Người đệ tử đã thực hành thiền định này. Khi
anh tới bệnh viện để kiểm tra lại, các bác sĩ không tìm
thấy virus của bệnh AIDS nữa.
Tôi
cho rằng có lẽ anh ta đã thực hành thiền định này trong
một thời gian dài, trong nhiều ngày, nhưng khi tôi hỏi thì
anh nói anh chỉ thực hành bốn ngày, mỗi ngày bốn phút. Mặc
dù thiền định của anh được thực hành trong một thời
gian ngắn ngủi như thế nhưng nó rất hiệu quả: anh cảm
thấy lòng bi mẫn phi thường đối với người khác, đặc
biệt là nhưng người mắc bệnh AIDS. Anh cảm nhận một lòng
bi mẫn vô bờ đến nỗi anh bật khóc, và anh không còn chút
xíu bận tâm nào tới bản thân, chỉ còn lòng bi mẫn và quan
tâm mãnh liệt như thế đối với người khác. Thiền định
này về sự từ bỏ cuộc đời và hạnh phúc của ta cho người
khác và nhận vào mình nỗi khổ của người khác phát triển
một lòng bi mẫn thật đáng kinh ngạc.
Điều
này giống như nhiên liệu dùng cho hỏa tiễn, là chất làm
cho hỏa tiễn có sức mạnh. Phương thuốc đã chữa lành bệnh
AIDS cho anh ta là thực hành mạnh mẽ này, Bồ đề tâm, việc
buông bỏ cái “tôi” và yêu thương người khác. Thực hành
này đã tịnh hóa nghiệp và những hành động tiêu cực, kết
quả của chúng là bệnh AIDS. Đây là một thực hành tịnh
hóa rất mãnh liệt. Trong bản văn Hướng dẫn vào Bồ Tát
Hạnh của bậc Thánh và Bồ Tát vĩ đại Shantideva có nói:
Một
ác hạnh vô cùng nặng nề, mạnh mẽ, vô cùng tận
Nhờ
nương tựa một vị anh hùng (một người có uy lực), nỗi
sợ hãi khủng khiếp có thể chấm dứt,
Nhưng
nhờ nương cậy Bồ đề tâm, chỉ trong khoảnh khắc đã có
thể thoát khỏi ác hạnh trầm trọng này.
Vì
thế người tỉnh giác nương cậy Bồ đề tâm.
Bồ
đề tâm thiêu rụi tức thì những ác hạnh vô cùng trầm
trọng,
Giống
như lúc tận thế, hỏa thần thiêu rụi những rặng núi, ngay
cả những vật bất khả xâm phạm cũng bị đốt cháy tức
thì.
Trước
đây không lâu, tại Seattle, một nữ đệ tử bị mắc bệnh
ung thư đã ăn lan khắp người. Các bác sỹ e ngại không dám
tiến hành một cuộc giải phẫu; họ cảm thấy điều đó
thật rủi ro và nguy hiểm. Vì thế bà ta đã thực hành Bồ
đề tâm là nhận vào mình nỗi khổ của chúng sinh và những
nguyên nhân của đau khổ, và hiến tặng công đức và hạnh
phúc của mình cho người khác, hoán đổi bản thân với người
khác. Sau một thời gian, bà tới bệnh viện để kiểm tra
lại, các bác sỹ không tìm thấy bệnh ung thư nữa. Các bác
sỹ hết sức sửng sốt, họ không thể hiểu được làm thế
nào thiền định này có thể hoàn toàn chữa lành bệnh ung
thư của bà. Đây là một vấn đề họ không thể giải thích.
Đây là một trong những lợi ích của Bồ đề tâm, buông
bỏ cái “tôi,” và yêu thương người khác. Đây là lý do
tại sao tôi nói rằng bạn có thể sử dụng hoàn cảnh ở
trong tù, bị tử hình, như một phương tiện để phát triển
Bồ đề tâm, hoán đổi bản thân với người khác. Thay vì
thương yêu cái “tôi,” hãy yêu thương người khác; thay
vì hiến tặng cho bản thân, hãy hiến tặng cho người khác.
Điều
này có được nói tới trong các giáo lý của Đức Phật,
nhưng đây cũng là một thực tại mà bạn có thể nhìn thấy
trong cuộc đời của chính bạn, từ những kinh nghiệm riêng
của bạn. Những vấn đề của thế giới, những vấn đề
trong một quốc gia, những vấn đề của gia đình, những vấn
đề cá nhân – tất cả những vấn đề này đến từ việc
yêu thương cái “tôi.” Bằng cách yêu thương cái “tôi”
ta mở ra cánh cửa dẫn tới mọi đau khổ. Bằng cách yêu
thương người khác ta mở ra cánh cửa dẫn tới mọi hạnh
phúc, an bình nội tâm, hỉ lạc, sự mãn nguyện, và sự hoàn
thành ngay bây giờ trong trái tim bạn. Bạn có thể khắc phục
mọi vấn đề trong cuộc đời bạn và trong tâm bạn; bạn
sẽ có một cái chết thật hạnh phúc, một cái chết tự-hộ
trì, cũng như hạnh phúc trong những đời sau, và đặc biệt
là hạnh phúc tối thượng, sự giải thoát hoàn toàn khỏi
mọi đau khổ và những nguyên nhân của nó, và sự giác ngộ.
Việc yêu thương người khác là nguyên nhân của hạnh phúc
nhất thời và hạnh phúc tối thượng, và cuối cùng là sự
giác ngộ cho tất cả chúng sinh.
Sử
dụng Nhà Tù để Thực hành Pháp
Bạn
có thể sử dụng thời gian và kinh nghiệm ở trong tù này
để thực hành thiền định và Pháp, đó là tịnh hóa những
ô nhiễm và nghiệp tiêu cực, là những nguyên nhân của tất
cả những đau khổ; tích tập công đức, là nguyên nhân của
hạnh phúc hiện tại và những đời sau, sự giải thoát khỏi
mọi đau khổ trong sinh tử, và sự thành tựu hạnh phúc tối
thượng, sự toàn giác; và thiền định về con đường dẫn
tới giải thoát và giác ngộ, chuyển hóa đau khổ và những
vấn đề thành hạnh phúc nhờ thiền định, sự chuyển hóa
tư tưởng, và khoa tâm lý học Phật giáo. Theo phương cách
này, việc ở trong tù trở thành một cuộc nhập thất cho
bạn. Khi ta nhập thất, ta không gặp gỡ ai; ta sống một mình
trong phòng, trong một gian nhà. Điều này cắt đứt cuộc đời
bận rộn của bạn, việc gặp gỡ mọi người, trò chuyện
với mọi người v.v.. Thêm nữa, tâm bạn ở trong ẩn thất
xa lìa mọi tư tưởng xao lãng. Việc ở trong tù có thể tương
tự như ở trong một hang động thiền định. Cảnh sát đã
đưa bạn vào ẩn thất. Đây là điều bạn phải cảm ơn
họ; bạn có thể vui hưởng bởi bạn đang ở trong ẩn thất.
Hãy nghĩ: “Tôi may mắn biết bao.” Người đời tin rằng
nhà tù có lúc bắt đầu và lúc kết thúc. Nhưng nhà tù thực
sự là nơi chịu sự chi phối của vô minh và hành động của
nó, là nghiệp; việc bị bắt, bị bao vây, bị săn đuổi
trong nhà tù sinh tử này, những uẩn này, là điều luân hồi
liên tục từ đời này sang đời khác, không có một giây
ngơi nghỉ. Nhà tù này được tạo bởi nghiệp và chủng tử
ô nhiễm của vô minh. Do đó, những uẩn này, là những gì
có bản chất là đau khổ duyên hợp, rộng khắp, trở thành
nguyên nhân để kinh nghiệm khổ khổ và khổ do sự biến
đổi. Nỗi khổ do sự biến đổi ám chỉ lạc thú sinh tử
nhất thời, là điều có bản chất là đau khổ bởi nó không
kéo dài. Lạc thú này được dán nhãn (được quy gán) trên
nền tảng là đau khổ. Đó là lý do tại sao những lạc thú
sinh tử không kéo dài, đó là lý do tại sao bạn không luôn
luôn vui thú. Thậm chí lạc thú cũng có bản chất là vô thường,
đang hư hoại từng giây từng phút. Nó không tồn tại ngay
cả trong một phút hay một giây.
Những
uẩn này là ngục tù thực sự, nó không có lúc bắt đầu.
Chúng ta bị sa lưới trong đó từ vô thủy. Chúng ta từng
kinh nghiệm quá nhiều nỗi khổ trong cõi địa ngục, những
đau khổ của ngạ quỷ, những đau khổ của súc sinh, những
đau khổ của con người, những đau khổ của chư thiên và
những đau khổ của các a tu la, từ vô thủy. Nó không chấm
dứt cho tới khi chúng ta thể nhập con đường bằng cách nhận
ra rằng đó là đau khổ (Khổ đế), bằng cách nhận ra nguyên
nhân đích thực của đau khổ (Tập đế), và nhờ thành tựu
sự chấm dứt của mọi đau khổ và những nguyên nhân của
chúng (Diệt đế). Đây là ngục tù khủng khiếp nhất, đây
là nhà tù thực sự mà chúng ta nên nỗ lực để thoát khỏi,
ngay tức thì, không trì hoãn ngay cả một giây.
Chúng
ta bị vướng mắc trong đó, và chúng ta đau khổ liên tục.
Nhưng không chỉ có thế: có rất nhiều chúng sinh phải đau
khổ vì ta, vì sự tiện nghi của ta, để ta có thể tồn tại.
Có rất nhiều chúng sinh phải chết và làm hại chúng sinh
khác để chúng ta có thể có được một nơi ẩn náu. Rất
nhiều chúng sinh đã chết khi căn nhà của ta được xây lên.
Rất nhiều chúng sinh phải đau khổ vì sự tiện nghi và lạc
thú của ta, để chúng ta được tồn tại. Rất nhiều chúng
sinh phải chết để chúng ta có thể ăn và uống; những người
khác phải tạo nghiệp tiêu cực bằng cách sát sinh; có rất
nhiều nỗi gian khổ. Quần áo chúng ta mặc thì cũng thế:
rất nhiều chúng sinh phải bị giết hại, hay bị tạo nghiệp
sát sinh, làm hại chúng sinh, để làm ra y phục cho chúng ta.
Cũng thế, khi chúng ta du hành, rất nhiều chúng sinh chết;
khi ta lái xe hơi, rất nhiều chúng sinh bị nghiền nát. Vì
thế bạn có thể thấy, bị vướng mắc trong sinh tử là điều
khủng khiếp nhất; ta không thể chịu đựng nó ngay cả một
giây.
Vì
thế, ta phải lắng nghe (văn), quán chiếu (tư), thiền định
(tu) về con đường, và thực hành trên con đường đã được
Đức Phật Đạo sư Thích Ca Mâu Ni, đấng minh triết, bi mẫn,
thiện lành, toàn trí, khám phá ra. Chỉ nhờ con đường duy
nhất này ta mới có thể được giải thoát khỏi sinh tử
để chúng sinh không phải đau khổ vì bạn, không phải tạo
ác nghiệp vì bạn, không phải làm tổn hại người khác vì
bạn. Bạn có thể thấy rằng ta không chỉ có trách nhiệm
giải thoát bản thân mà còn giải thoát nhiều chúng sinh khỏi
ngục tù sinh tử này.
Có
nhiều câu chuyện về những người thể nhập con đường
trong nhà tù. Ở Tây Tạng, nhiều tu sĩ và cư sĩ Tây Tạng
bị đưa vào tù trong nhiều năm. Vì thế nhiều người trong
họ đã thể nhập con đường, sử dụng thời gian để thiền
định về con đường, và phát triển tâm họ trên con đường.
Vì thế nhiều người trong họ đã làm cho cuộc đời họ
thật phong phú trong nhà tù, dồi dào những chứng ngộ; cuộc
đời họ trở nên tràn đầy ý nghĩa. Đối với họ, việc
sống trong tù hoàn toàn giống như sống trong một ẩn thất.
Có rất nhiều biểu hiện bên ngoài cho thấy họ đã phát
triển tâm họ trên con đường, chẳng hạn như thân họ chói
ngời, càng lúc càng trở nên trắng và sáng hơn. Có lần,
khi một Lạt ma qua đời, thân ngài bị ném xuống sông. Tử
thi ở trong tư thế thiền định và không chìm, nổi trên sông,
lưng thẳng đứng. Những điều như thế đã xảy ra.
Có
một Lạt ma hóa thân Tây Tạng bị đưa vào tù hơn hai mươi
năm. Trong thời gian đó ngài có cơ hội nhập thất và thực
hành thiền định, thực hành Pháp. Ngài đã thực hành Guru
Yoga của Lạt ma Tsongkhapa, tụng bài kệ Migtsema 4-5 giòng.(1)
Ngài nhìn thấy Lạt ma Tsongkhapa và Đạo sư của ngài là một.
Lạt ma Tsongkhapa là hiện thân của tất cả lòng bi mẫn của
chư Phật (Đức Quan Thế Âm), tất cả trí tuệ của chư Phật
(Đức Văn Thù), và tất cả năng lực của chư Phật (Đức
Kim Cương Thủ). Trí tuệ của vị Lạt ma Tây Tạng này nở
rộ như một hoa sen viên mãn, và ngài đã trở nên hết sức
uyên thâm về những giáo lý của Đức Phật, đặc biệt là
trong truyền thống của Lạt ma Tsongkhapa.
Khi
ra khỏi tù ngài trở nên hết sức nổi tiếng. Khi ngài đang
giảng dạy ở Tu viện Sera tại Tây Tạng, những geshe uyên
bác khác tới nhận giáo lý từ ngài và họ kinh ngạc, vô
cùng cảm kích vì những giáo lý sâu rộng của ngài. Ngài
có một phẩm tính đặc biệt là có thể đọc tám pho Kinh
của Đức Phật trong một ngày, và ban khẩu truyền về tám
pho Kinh này, đọc rõ ràng từng chữ một, trong một ngày.
Mỗi pho Kinh dày nhiều trăm trang và mỗi trang có nhiều dòng
chữ.
Bạn
có thể thấy bằng cách nào bạn có thể làm cuộc đời trong
tù của bạn tràn đầy ý nghĩa và thậm chí thành tựu giác
ngộ. Đây là một cơ hội phi thường, một cuộc nhập thất
thoát khỏi ngục tù nội tại, bị sai sử bởi tư tưởng
ái-ngã, tham, sân, si, và những tư tưởng cảm xúc tiêu cực.
Bạn có thể thành tựu không chỉ hạnh phúc nhất thời mà
còn tạo ra nguyên nhân để đạt được hạnh phúc tối thượng,
sự giải thoát khỏi sinh tử, và hạnh phúc vô song của sự
toàn giác. Bạn có thể thực hiện những điều này trong khi
bạn đang ở trong không gian của bạn, nơi được người bình
thường gán cho cái tên là nhà tù. Giờ đây bạn có thể
cảm thấy niềm hỉ lạc phi thường trong nhà tù, và bạn
có thể thấy được cách thức để cuộc đời bạn tràn
đầy ý nghĩa. Nếu bạn thực hiện những thực hành này,
tất cả chư Phật và Bồ Tát sẽ hiện diện cùng với bạn,
bao quanh bạn, gia hộ cho bạn; tất cả những thánh nhân sẽ
có mặt bên bạn lúc bạn chết.
Cảm
ơn bạn rất nhiều, với thật nhiều lòng thương yêu và lời
cầu nguyện,
Lạt
ma Zopa
Nguyên
tác: “Death Row”
by
Lama Zopa Rinpoche
http://www.liberationprisonproject.org/lamazoparinpoche/death_row.php
Chú
thích:
(1)
Migtsema: Bài Tán dương Lạt ma Tsongkhapa. Cũng có khi được
gọi là Thần chú của Đức Je Tsongkhapa:
Bài
Tán Dương Lama Tông Khách Ba
Thầy
là Quan Thế Âm: / kho tàng đại bi tâm;
Thầy
là Đức Văn Thù: / là bậc đại đạo sư / với trí tuệ
vô cấu;
[Thầy
là Kim Cang Thủ / phá tan tành tất cả / đội quân của ma
vương;]
Lama
Tông Khách Ba, / là ngọc quí trên đỉnh / bậc thánh hiền
xứ tuyết.
Thầy
Losang Drakpa, / con xin về đảnh lễ / dưới chân sen của thầy.
Kính
xin thầy từ bi hộ niệm (3 lần)
Mig
me tse wäi ter chhen chän rä zig
Dri
me khyen päi wang po jam päi yang
[Dü
pung ma lü jom dzä sang wäi dag]
Gang
chän khä päi tsug gyän tsong kha pa
Lo
zang drag päi zhab la sol wa deb (3x)
(Bản
dịch của Cư sĩ Hồng Như, http://batnha.org/library/index.php?option=com_content&task=view&id=42&Itemid=21)
Cũng
có thể tham khảo trong: http://www.migtsema.com
Bản
dịch Việt ngữ của Thanh Liên
09-04-2007
11:34:23