TRÀNG
HOA PHA LÊ CỦA SỰ THỰC HÀNH KHÔNG LỖI
NAMO
GURU
Khi
vị Thầy vĩ đại Padmakara, một bậc mantradhara (chân ngôn
trì) sở hữu truyền thống giáo lý đầy ân phước đã ẩn
cư ở Ngọc Pha Lê tại Pamagong, công chúa xứ Kharchen – Công
Chúa Tsogyal đã khẩn cầu chỉ dạy. Vào dịp đó, Ngài dạy
Tràng Hoa Pha Lê của sự Thực Hành Không Lỗi này vì lợi
ích của những thế hệ tương lai. Những người trong tương
lai, hãy lưu ý!
Đạo
sư Hóa Thân Padma nói: khi thực hành Giáo Pháp tận đáy lòng,
con cần có một vị Thầy đủ phẩm tính, chân thực, và đáng
tin cậy, một vị Thầy tâm linh hoàn hảo với sự trao truyền
không gián đoạn của một dòng truyền thanh tịnh.
Nếu
vị Thầy con là giả, những chỉ dẫn sẽ lỗi lầm và mọi
tu hành của con sẽ trở nên hư hỏng, vì vậy rất nguy hiểm,
việc gặp một vị Thầy đủ phẩm tính là quan trọng nhất.
Hãy nhớ điều này trong tâm!
Công
Chúa Tsogyal hỏi: Thưa, sự trao truyền không gián đoạn của
dòng phái nghĩa là gì?
Vị
Thầy hóa thân đáp: Người ta cần một dòng truyền có sự
trao truyền không gián đoạn sự giác ngộ từ pháp thân, báo
thân và hóa thân. Dòng truyền của Đạo Sư Padma giống như
vậy. Pháp Thân Phổ Hiền truyền cho Báo Thân A Di Đà, bậc
trao truyền tánh giác qua những phương tiện thiện xảo cho
Hóa thân Padmakara. Con, người phụ nữ, đã nhận được lời
dạy của vị hóa thân trong thân người. Con đã được ban
sự trao truyền của dòng phái cũng như ân phước của
dòng truyền.
Đạo
Sư Padma hóa thân nói: Những vị Thầy không nên ban tâm pháp
cho những đệ tử không có mối liên kết về nghiệp.
Công
Chúa Tsogyal hỏi: Thưa, điều này có nghĩa gì?
Đạo
Sư đáp: Những người như vậy không tôn kính thầy họ và
cố dành được giáo lý một cách gian trá. Nếu nhận được,
họ nói giáo lý đến từ một nguồn khác và để cho giáo
lý khẩu truyền bị lãng phí. Họ không giữ gìn mệnh lệnh
của dòng truyền. Vì không thực hành, nếu ban giáo lý thâm
sâu cho họ cũng giống như ném bụi vàng ròng xuống mương.
Những đệ tử như vậy không phải là pháp khí thích hợp
cho sự chỉ dạy. Vì không nhận thức thấu đáo và sẽ thiếu
lòng tin, họ sẽ không nhớ giáo lý. Do ban hướng dẫn khẩu
truyền cho người không thích hợp, giáo lý sẽ chỉ trở thành
những chữ viết, những quyển sách không ý nghĩa, do vậy
là hủy báng Pháp. Do ban giáo lý cho người nhận không thích
hợp, giáo lý sẽ bị hư hoại. Do đó, không nên như vậy.
Có khả năng giữ gìn những giáo lý thâm sâu và khéo léo
khảo nghiệm những tính cách của đệ tử là điều quan trọng.
Hãy ghi nhớ điều này trong tâm.
Vị
Thầy hóa thân nói: Không nên dạy Giáo Pháp cho người tạo
ra những quan niệm sai lầm.
Công
Chúa Tsogyal hỏi: Thưa, điều này có lỗi gì?
Đạo
Sư đáp: Những người không thích hợp như vậy không hiểu
được những điểm trọng yếu của hướng dẫn khẩu truyền.
Vì thiếu sự trao truyền của dòng phái, tâm họ sẽ không
hòa nhập với Giáo Pháp và cá tánh của họ sẽ trở nên
hư hỏng. Dạy Pháp cho người trí thức khéo léo trong nghiên
cứu khô khan (càn huệ) và chỉ bám vào những lời lẽ ngụy
biện là phỉ báng Pháp. Vì phỉ báng Pháp, người phỉ báng
sẽ tích tụ nghiệp xấu, và chính con vì tức giận họ cũng
sẽ tích lũy hành động xấu. Do đó cả hai vị Thầy và đệ
tử không thích hợp đều tích lũy nghiệp xấu vì Giáo Pháp.
Nên không cần phải làm thế.
Không
nên làm cho Giáo Pháp uyên thâm trở thành một món hàng mua
bán mà hãy thực hành kiên trì nơi hoang vắng và hòa nhập
tâm con với Giáo Pháp.
Vị
Thầy Padma hóa thân nói: Đừng giữ lại những đệ tử làm
cho giáo huấn bị uổng phí.
Công
Chúa Tsogyal hỏi: Thưa, điều này có nghĩa gì?
Vị
Thầy đáp: Người kinh doanh ham thích danh lợi thế gian để
nhu cầu hàng ngày chiếm hết thì giờ của họ và không xem
việc thực hành là sự theo đuổi chính. Họ thỏa mãn với
những từ như “thực hành”, “thọ nhận”, hay “hiểu
biết” Giáo Pháp. Vào lúc có khả năng kiếm được dù chỉ
một món tiền nhỏ hay danh tiếng, thực phẩm, hoặc của cải,
giải trí hay kính trọng, họ sẽ không duy trì giáo huấn,
ngay cả dù đã có sự chỉ đạo bí mật của vị guru họ.
Trái lại họ giải nghĩa giáo lý không cẩn thận hòa lẫn
sự lừa bịp và giả dối. Không nên truyền đạt hướng
dẫn khẩu truyền cho người đi theo hay đệ tử thích lừa
bịp, họ sẽ lợi dụng vị Thầy và Giáo Pháp. Giáo Pháp
và giáo lý sẽ trở nên hư hoại. Không nên ban cam lồ bất
tử cho người khác mà mình không tự uống, và chỉ trao cho
những người thành thật quan tâm. Vì sửa đổi sai lạc giáo
lý thâm sâu của Kim Cương Thừa người ta sẽ không nhận
được bất kỳ ân phước nào, những bà mẹ và chị dakini
sẽ phiền lòng và kết quả là che chướng. Hãy ghi nhớ trong
lòng!
Vị
Thầy hóa thân nói: Hãy trích chiết cam lồ của những giáo
huấn khẩu truyền và ban cho người xứng đáng có nghiệp
tương tục của những thực hành trước, người mong muốn
tận đáy lòng theo đuổi ý nghĩa thiêng liêng, và người sẽ
thực hành với sự kiên trì.
Công
Chúa Tsogyal hỏi: Thưa, điều đó có nghĩa gì?
Vị
Thầy đáp: Những người như vậy đều xem vị Thầy của
họ như một vị Phật, họ có lòng sùng kính to lớn. Họ
sẽ cảm thấy tin tưởng khi nhận được cam lồ của những
giáo lý khẩu truyền. Vì tâm họ thoát khỏi nghi ngờ và lưỡng
lự, họ xem giáo lý như viên ngọc như ý quý báu. Nhận
thức những đau khổ của sinh hoạt luân hồi là chất độc,
họ nỗ lực trong thực hành vì lơị ích của tương lai. Thấy
được những mưu cầu của cuộc sống này là vô ích, họ
có dũng khí chịu đựng và kiên trì to lớn khi cố hoàn tất
sự giác ngộ vô thượng. Người cao quý như vậy không nhiễm
ô vì cạnh tranh, tham vọng thèm khát vật chất và uy tín là
người con tâm linh của các Đấng Chiến Thắng. Nếu con trao
đầy đủ giáo lý cho người đó, sẽ lợi ích cho chính con
và người khác. Hãy nhớ điều này trong tâm.
Một
bình chứa không thích hợp không thể giữ gìn dòng sữa của
sư tử tuyết. Mà khi rót vào bình bằng vàng, sữa sẽ có
những đặc tính kỳ diệu.
Vị
Thầy hóa thân nói: Nếu con muốn đạt giác ngộ chỉ trong
một đời mà không đi vào con đường kỷ luật tự thân,
thì sự thực hành sẽ không thấm vào tâm. Do vậy, thực hiện
kỷ luật tự thân là điều quan trọng.[35]
Công
Chúa Tsogyal hỏi: Thưa, người ta đi vào con đường kỷ luật
tự thân như thế nào?
Vị
Thầy đáp: Trước hết, khi thực hành Giáo Pháp, nếu không
thực hành với sự trì giới mà là khoe khoang, kiêu căng, lười
biếng, con sẽ không thành công. Vì lý do này, hãy đi nhập
thất ở một nơi như mộ địa, vùng cao, núi tuyết, một
nơi ẩn cư hẻo lánh, nơi cư ngụ của một thành tựu giả,
hay trong rừng vào tháng tốt lành như mùa hè và mùa thu, hoặc
vào ngày tốt như mồng một, mồng tám và ngày rằm. Ở một
nơi như vậy, con hãy quét dọn, làm một chỗ ngồi, chuẩn
bị bày một mandala cúng dường, và sắp xếp một bàn thờ
với những biểu tượng của thân, khẩu, ý giác ngộ. Hãy
cúng một torma cho thổ địa, loài rồng và những loài khác
với một cúng dường nước, ra lệnh cho họ kềm chế không
tạo che chướng và hãy là những người bạn đồng hành đức
hạnh.
Sáng
hôm sau thức dậy hãy gạt bỏ sự nhàn rỗi. Thực hiện những
hoạt động Phật Pháp như cúng dường đến vị Thầy và
Tam Bảo, cầu nguyện và dâng torma cho Bổn Tôn, Dakini, và Hộ
Pháp. Khi dâng cúng torma đừng bày chúng quay ra ngoài mà hãy
quay vào trong con như một trùng hợp tốt lành để sự thành
tựu không bị mất.
Vào
ban ngày, nên tu hành xem những tri giác của con như giấc mộng.
Nghĩa là hãy an trú một cách tự nhiên và thanh thản, không
sửa chữa những gì xuất hiện. Hãy để cho kinh nghiệm của
con tự do, và rộng mở. Nghỉ ngơi với sự tỉnh thức rộng
mở và không trụ chấp.
Vào
buổi tối con cần lấy tánh giác làm con đường. Nghĩa là
tăng cường sự tỉnh giác vào cuối ngày và nghỉ ngơi một
cách cảnh giác và tỉnh thức không rơi vào hôn trầm.
Vào
nửa đêm hãy hòa nhập trạng thái ngủ sâu với pháp tánh
và ngủ trong trạng thái vô niệm. Áp dụng quyết tâm mạnh
mẽ suy nghĩ tôi sẽ nhận ra những giấc mộng chỉ là những
giấc mộng! Nhờ vậy con sẽ có thể nhớ pháp tánh trong lúc
mộng và được giải thoát khỏi hảo mộng hay ác mộng.
Vào
buổi sáng con cần nhận pháp tánh làm con đường. Nghĩa là
khi thức dậy, thân con cảm thấy thoải mái, hãy đem pháp
tánh vào tâm và thực hành sự tự-tỉnh giác này mà không
tập trung chú tâm, không thiền định hay rơi vào hôn trầm.
Đừng để mình giải đãi, lười biếng mà thực hành tỉnh
thức rộng mở trong lúc vẫn giữ vẫn giữ đúng những biện
pháp của kỷ luật tự thân.
Cho
đến khi con hoàn thành nhập thất, không nên mặc quần áo
của người khác vì có thể gây nhiễm ô và làm tiêu tan sự
thực hành của con. Nếu thực phẩm của con quá bổ dưỡng,
con sẽ rơi vào sức mạnh của cảm xúc phiền não. Nếu nó
quá tệ, thân con sẽ yếu không thể tiếp tục thực hành
kỷ luật tự thân. Hãy giữ một khẩu phần cân bằng và
có điều độ.
Đừng
ăn những thực phẩm không sạch sẽ, do ăn trộm, hay thực
phẩm bỏ đi. Không ăn thực phẩm của người bị nhiễm ô
vì vi phạm samaya hay người bị phiền não vì những thế lực
xấu. Nếu ăn, sự thành tựu sẽ bị trì hỗn và chướng
ngại làm không hoàn tất việc nhập thất của con có thể
xảy ra.
Đừng
di chuyển chỗ ngồi. Nếu di chuyển chỗ ngồi hay giường
trước khi hoàn tất nhập thất hoặc trước thời gian mà
con nguyện, những dấu hiệu và biểu tượng sẽ biến mất
và con có thể gặp những chướng ngại bất ngờ.
Không
nên thực hiện nghi lễ bảo vệ người khác hay cố gắng
trục trừ tà ma; nếu làm; khả năng của con sẽ suy giảm.
Không tắm rửa những bụi bẩn trên thân, đầu, tóc, giặt
quần áo, vì điều đó sẽ làm cho sự thành tựu bị mờ
nhạt và biến mất. Không hớt tóc, cạo râu hay cắt móng
tay vì điều đó sẽ làm yếu năng lực của mantra. Đừng
thuyết giảng cho người khác trong am thất của con vì điều
đó sẽ cản trở những dấu hiệu thành tựu. Không nên phát
nguyện thực hành chỉ một lần trong thời gian dài, mà
hãy phát nguyện hàng ngày, nếu không con sẽ bị Mara ảnh
hưởng.
Năng
lực của mantra không phát triển vì nói chuyện với người
khác. Vậy hãy giữ sự tịnh khẩu. Nếu con tụng niệm vajra
của Kim Cương Thừa hay của những Bổn Tôn phẫn nộ với
âm lớn, năng lực của mantra sẽ suy giảm và những tinh linh,
phi nhân sẽ hoảng hốt và ngất đi. Vậy hãy tụng niệm mantra
với âm nhỏ đúng cách.
Nếu
tụng niệm trong khi nằm, đếm mantra bằng tay để trên ngực,
con sẽ gây trở ngại cho mình. Trong mọi trường hợp, khi
thân con ngồi thẳng, kinh mạch sẽ thẳng, điều này khiến
cho phong đại tuần hoàn tự do. Vì gió và tâm nối liền với
nhau, khi gió trôi chảy tự do thì kết quả là tâm con sẽ
duy trì sự chú tâm và tập trung. Thế nên, đây là lý do sâu
xa nhất con nên giữ thân ngồi theo tư thế thiền định bảy
điểm.
Không
ngủ vào ban ngày, điều này sẽ đem lại nhiều khuyết điểm,
vậy; hãy từ bỏ bằng mọi cách.
Không
khạc nhổ nơi người ta thường đi qua vì điều này sẽ ngăn
cản năng lực của mantra
Cho
đến khi con hoàn tất thực hành nhập thất, hãy từ bỏ những
hành động làm lợi ích người khác, những mưu cầu và xao
lãng, hay những hành động làm khuấy động thân, khẩu, ý
của con; hãy tập trung kiên trì vào thực hành trong lúc
tăng trưởng các hành động đức hạnh cho lợi ích chính
con.
Trong
lúc nhập thất, dù bất kỳ dấu hiệu tốt hay xấu nào của
thực hành hoặc những biểu hiện huyền diệu có thể xảy
ra, không nên quan tâm thích hay không thích hoặc đánh giá cái
gì lấy và bỏ cái gì. Hành giả, hãy để tâm con nghỉ ngơi
trong trạng thái tự nhiên của nó và tiếp tục thực hành
cho đến lúc cuối.
Khi
kết thúc nhập thất, hãy thực hiện cúng dường tạ ơn,
tháo mở sự giới hạn nơi nhập thất nhưng vẫn duy trì điều
kiện nhập thất trong vài ngày không đi vào thành phố hay
nơi xa xôi. Trong ba ngày không ngủ ở nơi nào khác ngoài giường
của con và tránh tầm nhìn của người không cùng chung samaya.
Không
phô bày các vật dụng thực hành của con cho người khác và
đừng chia xẻ những chất liệu thành tựu[36] mà hãy
chính mình hưởng.
Từ
lúc bắt đầu nhập thất cho đến khi hoàn tất, đừng đột
ngột ra ngoài thất dù bất cứ chuyện gì xảy ra. Hãy nhận
thức nó như những che chướng của Mara và không chịu thua
những khó khăn.
Trong
mọi trường hợp, một hành giả tự nỗ lực trong tiếp cận
và thành tựu không nên tham gia những hoạt động hàng ngày
một cách bừa bãi. Không ăn bất kỳ thực phẩm nào mình
có được do tình cờ. Không mặc quần áo bẩn hay ô nhiễm.
Không nằm xuống bất cứ chỗ nào để ngủ. Không phóng uế
trong tầm nhìn của người khác hay nơi người ta qua lại.
Đừng thực hành yoga không đúng lúc. Thật cẩn thận về
cách cư xử của con trong mọi lúc.
Nói
chung, nếu con muốn hạnh phúc, hãy áp dụng việc thực hành
Pháp của con, kỷ luật tự thân và chấp nhận những hoàn
cảnh khó khăn. Hãy chia ngày và đêm của con thành nhiều phần
và thực hành đúng thời khóa. Do vậy, hạnh phúc của con
sẽ kéo dài. Hãy nhớ điều này trong tâm!
Vị
Thầy hoá thân nói: Khi cố gắng đạt giác ngộ vô thượng.
Nếu không thể giữ nguyện của con trong một thời gian dài,
con sẽ bị ảnh hưởng bởi những ma quỷ che chướng.
Công
Chúa Tsogyal hỏi: Thưa, điều đó có nghĩa gì?
Vị
Thầy đáp: Khi con giữ nguyện thực hành những giáo huấn
khẩu truyền không gián đoạn, hãy nhiệt thành áp dụng những
đối trị để loại bỏ tham luyến người khác khen ngợi
và sự trói buộc của thức ăn, đồ uống do sự tôn kính,
đảnh lễ, cúng dường của người khác dành cho con và yêu
cầu làm lễ bảo vệ (cầu an). Điều này chỉ làm gián đoạn
việc thực hành tâm linh của người thiếu ổn định và tự
tín.
Khởi
đầu con có thể giữ nguyện trong ba, bảy, hay chín ngày, hoặc
nửa tháng mùa đông hay một tháng mùa hè, sau đó dần dần
tăng lên nhiều tháng và nhiều năm. Tốt nhất là nguyện thực
hành trong mười hai năm, kế đó là sáu năm, và tối thiểu
là ba năm hay một năm. Nếu, thậm chí không thể hoàn thành
được điều đó, con có thể giữ kỷ luật này, là chỉ
sử dụng thân, khẩu, ý của con cho những theo đuổi tâm linh,
và thực hành trong sáu tháng, một mùa hè hay mùa đông không
lười biếng và giải đãi, điều này rất có ý nghĩa và
con sẽ đi vào con đường giác ngộ.
Nói
chung, những lời nguyện mà người ta không thể giữ được
là nguyên nhân lớn nhất của sự phạm tội. Do vậy, không
nên thọ bất kỳ giới nguyện nào mà con không thể giữ.
Hãy chỉ hứa nguyện tương ứng với khả năng con. Thực hành
theo cách này là thâm sâu. Hãy nhớ điều này trong tâm!
Vị
Thầy hóa thân nói: Vào lúc hấp thu những giáo huấn khẩu
truyền chân xác của vị Thầy bằng thực hành, việc quan
trọng là luôn giữ im lặng, là sự nhập thất về lời nói
của con.
Công
Chúa Tsogyal hỏi: Thưa, điều đó nghĩa là gì?
Vị
Thầy đáp: Về mọi xao lãng, nói chuyện phiếm vô ích là
xao lãng lớn nhất. Do đó, nói chuyện vô nghĩa không liên
quan là nguy hiểm cho thực hành tâm linh. Có thể tịnh khẩu
là sự nhập thất tối ưu nhất; nó giữ cho con không rối
loạn ngay cả khi đang ở giữa chợ.
Bất
kể việc thực hành kỷ luật tự thân của con ra sao, giữ
im lặng là quyết định tốt nhất. Nếu không thể làm được,
tối thiểu con nên tịnh khẩu cho đến khi hoàn tất thời
kỳ thực hành. Do tịnh khẩu và thực hành tâm linh không gián
đoạn vì việc nói chuyện thường tình, con sẽ đạt được
năng lực của ngữ và nhanh chóng thành tựu.
Nói
chung, nói nhiều mà không phải là thực hành Pháp hay liên
quan đến Giáo Pháp đều vô nghĩa. Không cần phải như thế.
Nếu không cố gắng hướng đến giác ngộ vô thượng bằng
lời nói của con trong việc tụng niệm, tán thán sau khi ngưng
nói chuyện thông thường thì con chắc chắn như một người
câm. Hãy nhớ điều này trong tâm!
Vị
Tổ Hóa Thân Padma nói: Khi thiền quán về Bổn Tôn Yidam, nhận
ra sự an định của thân, khẩu, ý là điều cốt tủy.
Công
Chúa Tsogyal hỏi: Thưa, điều đó nghĩa là gì?
Vị
Thầy đáp: Quán tưởng thân con như tướng Bổn Tôn, xuất
hiện rõ ràng nhưng không hiện hữu cụ thể là sự an định
về thân. Ngữ của con tụng mantra của Bổn Tôn vang lên rõ
ràng và trong sáng như âm vang của tánh Không là sự an định
của ngữ. Tâm con thanh tịnh và thoát khỏi tư duy dựa trên
khái niệm, sự hợp nhất của cái biết và tánh Không là
sự an định của ý. Không lìa sự an định của thân, khẩu,
ý là mahamudra.
Khi
con niệm liên tục ba chủng tự này đó là tinh hoa của chư
Như Lai; OM cho thân, AH cho khẩu, và HUNG cho ý, con được ban
cho thân, khẩu, ý của tất cả chư Như Lai.
Nói
chung, nếu an trụ không lìa khỏi thân, khẩu, ý giác ngộ,
thì sự thực hành Kim Cương Thừa của con chắc chắn không
lầm đường. Hãy nhớ điều này trong tâm!
Đạo
Sư Padma nói: Giữ độ dài thời gian cho mỗi thời khóa với
túc số tụng niệm là điều quan trọng.
Công
Chúa Tsogyal hỏi: Thưa, điều đó có nghĩa gì?
Vị
Thầy đáp: Khi tụng niệm hãy ấn định một ngày chia thành
ba, bốn thời, và nguyện tụng niệm cả ngày lẫn đêm, tốt
nhất là một ngàn biến, tốt thứ hai là năm trăm biến, hoặc
tối thiểu là một trăm lẻ tám biến.
Cho
đến lúc hoàn tất số lượng đó, hãy giữ im lặng và không
gián đoạn việc tụng niệm vì nói chuyện thông thường.
Theo cách này, sẽ không xảy ra chướng ngại.
Kết
hợp giai đoạn phát triển và thành tựu và chính con áp dụng
sự tiếp cận và thành tựu như dòng chảy đều đặn của
một con sông là tính chất đặc biệt của thực hành chân
chính của giáo huấn khẩu truyền.
Tất
cả những gì con khao khát hướng đến như tịnh hóa che chướng,
tích lũy công đức, loại trừ chướng duyên, và nhanh chóng
đạt được hai loại thành tựu sẽ dễ dàng hoàn thành nhờ
kết hợp giai đoạn phát triển và thành tựu với sự tụng
niệm của sự tiếp cận và thành tựu (Bổn Tôn).
Về
tất cả dạng tụng niệm, niệm ba chủng tự OM AH HUNG, là
tinh túy thân, khẩu, ý của tất cả đấng Như Lai. Ba chủng
tự này là uyên thâm nhất và bao gồm tất cả. Do vậy, ba
chủng tự này đem lại ân phước to lớn khi nguyện niệm
chúng hoặc niệm vào lúc bắt đầu tụng niệm mọi mantra
khác.
Nói
chung, tích tụ từng giọt nước có thể thành một đại dương.
Đừng để đôi môi con rảnh rỗi mà hãy liên tục tích lũy
dù là một âm độc nhất của mantra. Đây là điều quan trọng
nhất. Rồi đến một lúc nào đó sẽ đạt thành tựu. Hãy
nhớ điều đó trong tâm!
Đạo
Sư Padma nói: Không hợp nhất phương tiện và trí tuệ, Kim
Cương Thừa sẽ lạc vào con đường sai lầm.
Công
Chúa Tsogyal hỏi: Thưa, điều đó nghĩa là gì?
Vị
Thầy đáp: Phương tiện ám chỉ nguyên lý không lỗi của
cái gì người ta đang thực hành, dù ở giai đoạn phát triển
hay thành tựu. Trí tuệ ám chỉ kiến giải (cái thấy), ý
nghĩa của pháp tánh rỗng không và quang minh tự hiện hữu.
Không nhận ra rằng cái thấy (kiến giải) là cái thấy rỗng
rang tự hiện hữu trong chính con, con sẽ không đi vào con đường
của trí tuệ. Do trí tuệ thiếu vắng phương tiện con sẽ
không có bất kỳ kinh nghiệm nào, và vì phương tiện không
có trí tuệ, pháp tánh không được đem vào thực hành. Thế
nên, điều cần thiết là hợp nhất chúng không để chúng
tách rời.
Nói
chung, việc tách biệt phương tiện và trí tuệ giống như
con chim chỉ bay bằng một cánh; con không thể đạt quả vị
Phật. Hãy nhớ điều đó trong tâm!
Đạo
Sư Padma nói: Không thực hành tính bất nhị của thiền định
và hậu thiền định, con sẽ không đạt được tánh Không.
Công
Chúa Tsogyal hỏi: Thưa, điều đó nghĩa là gì?
Vị
Thầy đáp: Trong khi thiền định, con an trú trong tinh túy phi
vật chất của pháp tánh, biết nhưng không có suy nghĩ dựa
trên khái niệm. Trong lúc hậu thiền định, con nhận ra mọi
sự đều rỗng không, vô tự tánh. Thoát khỏi bám luyến hay
say mê kinh nghiệm hư không, con sẽ tự nhiên tiến bộ vượt
khỏi thiền định và hậu thiền định, và không chấp vào
một tiêu điểm dựa trên khái niệm hay hình dung về các thuộc
tính, giống như sương mù và mây tan biến tự nhiên trong bầu
trời rộng mở bao la.
Nói
chung, trong cả hai thời thiền định và hậu thiền định,
sự thiền định của con về bản thể của pháp tánh cần
vượt lên sự trong sáng và che chướng, như quan sát hình ảnh
trong gương.
Đạo
Sư Padma nói: Nếu con không thể thiền định bằng việc xua
tan một cách tự nhiên hôn trầm và trạo cử, con sẽ rơi
vào những lỗi lầm cực đoan của chúng, mặc dù con thiền
định.
Công
Chúa Tsogyal hỏi: Thưa, điều đó nghĩa là gì?
Vị
Thầy đáp: Vào lúc thiền định, hãy an trú trong trạng thái
tự nhiên của pháp tánh bằng cách nhìn thẳng vào hôn trầm,
trạo cử, v..v... khi chúng xuất hiện, con sẽ thấy tự thân
sự hôn trầm là pháp tánh rỗng rang. Khi xao động hãy nhìn
thẳng vào tự thân sự xao động và con sẽ thấy đối tượng
của xao động cũng rỗng không.
Khi
loại bỏ được ý muốn gạt bỏ hôn trầm và trạo cử và
con không còn bám vào chúng như có thật, hôn trầm và trạo
cử sẽ tự nhiên giải thoát khỏi những cực đoan của chúng.
Khi con có thể thực hành việc làm tan biến hôn trầm và trạo
cử theo cách tự nhiên này, thiền định tự hiện hữu sẽ
xảy ra.
Nói
chung, vì mọi thiền định đều bao hàm cố gắng hiệu chỉnh
hôn trầm và trạo cử, chúng trở thành sự thiền định dựa
trên khái niệm. Nhận ra rằng gốc rễ của hôn trầm và trạo
cử là tánh Không là điều cốt lõi. Hãy nhớ điều đó trong
tâm!
Đạo
Sư Padma nói: Nếu con không thể hòa nhập Giáo Pháp với hoạt
động đời sống hàng ngày, con sẽ bị thời khóa thiền định
trói buộc.
Công
Chúa Tsogyal hỏi: Thưa, người ta bị trói buộc ra sao?
Vị
Thầy đáp: Pháp tánh không tạo tác mà con kinh nghiệm trong
lúc dựa vào thiền định phải được áp dụng vào thực
hành trong mọi hoàn cảnh hậu thiền định, hoặc đi, đứng,
nằm, hay ngồi. Nhờ không hề lìa khỏi sự thực hành Pháp
này dù con thực hiện bất cứ hoạt động hàng ngày nào,
con sẽ luôn an trụ trong trạng thái của pháp tánh. Do vậy,
sự thiền định của con sẽ vượt lên thời khóa.
Nói
chung, thiền giả giam cầm thân, khẩu, ý của họ mà không
áp dụng những điểm cốt tủy của thiền định là bị trói
buộc. Hãy nhớ điều này trong tâm!
Đạo
Sư Padma nói: Nếu không thực hành cúng dường và sám hối
con sẽ không tịnh hóa được những che chướng của nghiệp.
Công
Chúa Tsogyal hỏi: Thưa, điều đó nghĩa là gì?
Vị
Thầy đáp: Vào lúc áp dụng những giáo huấn khẩu truyền
vào thực hành, con nên làm cái được gọi là “lấy những
hoạt động Giáo Pháp là con đường của mình”. Đó là,
con cần chuyển hóa thành con đường vô điều kiện những
hoạt động Pháp của sự thiền định, cúng dường, đi nhiễu,
làm tượng tsa-tsa và torma (một loại bánh), đọc lớn tiếng,
tụng ca, sao chép kinh văn, v..v... Hãy thực hiện những hoạt
động này một cách liên tục. Do bám chấp, mệt mỏi, nhàm
chán v..v... thì con sẽ không đạt được mục tiêu chính.
Nói
chung, nếu thực hành với sự tạo tác ý niệm, bất cứ hành
động đạo đức nào con thực hiện sẽ chỉ sinh ra những
kết quả hạnh phúc của sinh tử, chúng sẽ không trở thành
con đường giác ngộ. Như vậy là vô ích.
Thế
nên, hãy thực hiện bất kỳ hành động đạo đức nào của
thân, khẩu, ý một cách kỹ lưỡng trong khi ở trạng thái
vô niệm. Hãy nhớ điều đó trong tâm!
Đạo
Sư Padma nói: Nếu không hoàn thiện những dấu hiệu qua thực
hành Pháp, sự hướng dẫn không thật sự có kết quả.
Công
Chúa Tsogyal hỏi: Thưa, điều đó nghĩa là gì?
Vị
Thầy đáp: Những dấu hiệu bên trong là sự hỷ lạc, trong
sáng, và vô niệm hé lộ trong con. Thoát khỏi bám chấp vào
hình tướng và trụ nơi những cảm xúc phiền não, những
tư tưởng của con tự giải thoát.
Những
dấu hiệu bậc trung của việc phát hiện những ân phước
của Giáo Pháp là khi những ân phước xuất hiện tự nhiên
trong thân và khẩu con, khi con có thể cắt đứt những cảm
xúc bất thiện và vượt qua những khó khăn, và khi bệnh tật,
những thế lực tiêu cực, và Mara không thể lừa gạt con.
Những
dấu hiệu bên ngoài của việc tâm con được tự do nhờ thực
hành Pháp là khi thoát khỏi tám mối quan tâm thế gian, sự
ràng buộc bởi chấp ngã của con được cởi bỏ và tiêu
tan.
Nói
chung, sự tin chắc sẽ không phát sinh nếu vị thầy dạy Pháp
thiếu khả năng. Thế nên, điều quan trọng nhất là hãy nối
kết với vị Thầy có dòng truyền không gián đoạn của các
bậc thành tựu kỳ diệu. Hãy nhớ điều đó trong tâm.
Đạo
Sư Padma nói: Những giáo huấn uyên thâm không có sách vở.
Công
Chúa Tsogyal hỏi: Thưa, điều đó nghĩa là gì?
Vị
Thầy đáp: Khi một vị Thầy phi thường trao truyền một giáo
huấn uyên thâm, ngay cả dù chỉ một câu cho một đệ tử
xứng đáng áp dụng vào thực hành, người đệ tử sẽ
phát sinh niềm tin vững chắc và sẽ thành tựu đạo quả.
Tsogyal,
tâm bất sinh của con là trống không, quang minh, và tỏa khắp.
Hãy kinh nghiệm nó thường trực.
Nói
chung, nếu vị Thầy Giáo Pháp là tuyệt hảo, con sẽ có những
giáo huấn uyên thâm dù con đi bất kỳ đâu. Hãy nhớ điều
đó trong tâm!
Đạo
Sư Padma nói: Bất kỳ giáo lý nào con thực hành, nếu không
vì lợi ích của chúng sanh thì sự thực hành đó sẽ dẫn
đến trạng thái đại định của bậc Thanh Văn.
Công
Chúa Tsogyal hỏi: Thưa, sự thực hành đó sẽ dẫn đến trạng
thái ra sao?
Vị
Thầy đáp: Khi áp dụng những giáo huấn khẩu truyền vào
thực hành, con thực hành Phật-tâm để đạt giác ngộ vì
lợi ích của tất cả chúng sanh. Nó là sự hoàn thành lợi
ích cho người khác. Điều đó không phải là mục đích của
những Thừa thông thường. Mong muốn chính mình được an bình,
hạnh phúc, được tự tại và giải thoát thuộc về Tiểu
Thừa.
Nói
chung, mong muốn an lạc chỉ cho chính mình là nguyên nhân của
đau khổ. Điều đó là vô ích.
Người
thực hành chỉ tìm kiếm cho riêng mình hiếm khi được hạnh
phúc. Do vậy, điều cốt lõi là chính con nỗ lực chỉ vì
lợi ích của người khác. Khi thực hành vì lợi ích người
khác con có thể thoát khỏi tính vị kỷ, nhưng lợi ích của
chính con sẽ tự nhiên thành tựu. Hãy nhớ điều đó trong
tâm!
Đạo
Sư Padma nói: Nếu không tuân thủ thực hành của con với lòng
bi phi ý niệm, mọi thiện căn con đã thực hiện sẽ đi đến
lãng phí.
Công
Chúa Tsogyal hỏi: Thưa, như vậy là sao?
Vị
Thầy đáp: Một thiện căn nếu là ý niệm thì không thể
tăng lên và do vậy sẽ bị tiêu hao. Nếu một hành động
đạo đức được tuân hành bằng sự hồi hướng phi ý niệm,
thì thiện căn đó không thể cạn kiệt và do vậy là nguyên
nhân chính của giác ngộ tốiâ thượng.
Ý
nghĩa của phi ý niệm là gì? Nó có nghĩa không quan niệm về
“cái tôi”, không quan niệm về “người khác” và không
quan niệm về thiện căn. Hãy tan hòa hoàn toàn ý niệm của
con vào tánh Không.
Nói
chung, một thiện căn là không lỗi khi đi theo phi ý niệm.
Suy nghĩ với mục tiêu là mình làm một hành động thiện
và hướng đến việc đạt được lợi hay danh là làm sai
sự hồi hướng.
Khi
một hành động thiện được làm để đạt danh tiếng kết
hợp với sự hồi hướng cũng vì mục đích đó, việc thiện
không thể tăng lên. Vậy, điểm quan trọng nhất là hoàn toàn
tịnh hóa ba ý niệm (chủ thể, đối tượng và hành vi). Hãy
nhớ điều đó trong tâm!
Đạo
Sư Padma nói: Một thiện căn với phương tiện thiện xảo
có thểõ soi sáng cho mọi thứ khác.
Công
Chúa Tsogyal hỏi: Thưa, điều đó nghĩa là gì?
Vị
Thầy đáp: Nếu con muốn áp dụng giáo huấn khẩu truyền
một cách khéo léo, hãy tu hành thực nghĩa và niêm phong nó
với sự hồi hướng phi ý niệm. Bằng cách ấy, con sẽ soi
sáng những thực hành trong thế giới hình tướng và do vậy
thiện căn sẽ gia tăng dù con thực hành bất cứ Pháp nào.
Tóm
lại, điểm quan trọng nhất là hãy làm cho thiện căn của
con không cạn kiệt và gia tăng liên tục cho đến khi con đạt
giác ngộ tối thượng. Trong mọi trường hợp hãy từ bỏ
mọi bám chấp vào sự hồi hướng, đối tượng hồi hướng
và người hồi hướng, không để lại một dấu vết nào.
Hãy nhớ điều đó trong tâm!
Vị
Thầy Hóa Thân Padmakara nói: Bằng cách đi với ba người bạn
đồng hành hài hòa này, con sẽ miễn nhiễm với những che
chướng của Mara.
Công
Chúa Tsogyal hỏi: Thưa, điều đó nghĩa là gì?
Vị
Thầy đáp: Phát sinh lòng sùng kính hướngđối với vị Thầy
chân chính hài hòa và quán tưởng Ngài luôn ngự trên đầu
con để cầu nguyện và cúng dường.
Hãy
giữ liên hệ với những bạn hữu hài hòa thực hành giáo
lý với cùng samaya như con, không phấn đấu vì mục tiêu hay
vật chất thế gian, mà quyết tâm mưu cầu hành động thiện
cho tương lai.
Hãy
gắn mình vào những giáo huấn hài hòa không hư hoại đó
và đưa chúng vào thực hành qua những giáo lý uyên thâm về
giai đoạn phát triển và thành tựu phù hợp với thực hành
đích thực của một vị Thầy thành tựu.
Nếu
không lìa ba điều trên, con không thể bị thương tổn bởi
những che chướng của Mara.
Nói
chung, nếu con lấy tâm mình làm nhân chứng để tự nỗ lực
trong những hành động mà Tam Bảo sẽ không xem thường, kết
quả lâu dài sẽ luôn hoàn hảo. Hãy nhớ điều đó trong tâm!
Đạo
Sư Padma nói: Khi thực hành Pháp, điều cần thiết là hãy
đăït một nền tảng tốt đẹp.
Công
Chúa Tsogyal hỏi: Thưa, điều đó làm ra sao?
Vị
Thầy đáp: Trước hết, nếu không có sự tích lũy công đức,
con sẽ không gặp được vị Thầy sở hữu những giáo huấn
khẩu truyền. Nếu thiếu nghiệp tương tục của những tu
hành trước, con sẽ không hiểu giáo lý. Nếu thiếu niềm
tin đặc biệt và sùng kính, con sẽ không nhận được những
công đức của vị Thầy. Nếu thiếu nguyện, kỷ luật, samaya,
con sẽ vi phạm gốc rễ của thực hành Pháp. Nếu không được
dẫn dắt bởi những giáo huấn khẩu truyền, con sẽ không
biết cách thiền định ra sao. Nếu thiếu siêng năng và kiên
trì con sẽ không đi vào con đường thực hành và đức hạnh
của con sẽ sa vào lười biếng. Nếu tâm con không thành thật
chuyển khỏi những mưu cầu của luân hồi, con sẽ không vươn
tới sự viên mãn trong thực hành Pháp.
Nếu
mọi yếu tố này xảy ra cùng lúc sẽ có thành tựu trong thực
hành Pháp. Sự thành tựu giác ngộ tối thượng tùy thuộc
vào sự trùng hợp của nhiều nguyên nhân và điều kiện,
vậy hãy tinh tấn.
Tóm
lại, nhằm từ bỏ những gì nên từ bỏ và hoàn thiện những
gì nên hoàn thiện, đừng để thân, khẩu, ý hướng vào những
chuyện thông thường mà hãy tự nỗ lực và kết quả sẽ
ưu việt. Hãy nhớ điều đó trong tâm!
Đạo
Sư Padma nói: Biết về Giáo Pháp là không ích lợi, con hãy
ghi nhớ trong tâm và hãy đưa nó vào thực hành.
Công
Chúa Tsogyal hỏi: Thưa, người ta nên làm điều gì khi thực
hành?
Vị
Thầy đáp: Mở rộng sự hiểu biết về kiến giải, không
thiên vị với những giáo lý. Trụ trên ngai thiền định,
hãy cô đọng mọi giáo lý trong tâm con. Mở rộng cánh cửa
hành động (hạnh), không mâu thuẫn giữa kiến và hành. Có
sự xác tín của quả, hãy để sinh tử và niết bàn bình
đẳng như pháp tánh. Hiểu được những giới hạn để giữ
gìn samaya, hãy tuân theo ba bậc nguyện (Tiểu Thừa, Đại Thừa
và Kim Cương Thừa). Làm theo cách này sự thực hành Pháp của
con sẽ không lỗi.
Nói
chung, đừng để việc thực hành Pháp thành nhàm chán vì không
thâm nhập vào lòng và không áp dụng vào thực hành. Hãy nhớ
điều đó trong tâm!
Đạo
Sư Padma nói: Trong tương lai, khi thời đại đen tối của sự
suy đồi xảy đến, một số người tuyên bố là hành giả
sẽ mong muốn được dạy người khác mà không được sự
cho phép. Tự họ không thực hành lại hướng dẫn người
khác thiền định. Tự họ không giải thoát lại đòi ban những
giáo huấn để giải thoát. Không từ bỏ tính vị kỷ họ
lại dạy người khác nên rộng lượng và buông bỏ sự trói
buộc của bám luyến. Không hiểu biết chút nào về hành động
thiện hay ác của mình, họ diễn đạt dông dài về thiện
hay ác một cách thông suốt. Bản thân họ không ổn định
lại tuyên bố làm lợi ích cho người khác. Ta nghĩ sẽ có
nhiều người nhân danh Giáo Pháp làm điều giả đạo đức,
gạt gẫm và lừa dối.
Mọi
người trong tương lai thực hành Pháp hãy đọc bản di chúc
viết tay này của thầy tu khất sĩ Padmakara và tự mình khảo
nghiệm!
Hãy
quan sát những khiếm khuyết của sinh tửi khổ đau! Vì hiển
nhiên rằng mọi sự của đời này là vô thường, hãy chuyển
tâm hướng vào trong con và suy nghĩ kỹ! Hãy lắng nghe về
những chuyện đời của các vị Thầy thành tựu ở quá khứ
đã thực hành kỷ luật tự thân ra sao. Hãy tìm một vị Thầy
đủ khả năng và phục vụ Ngài với thân, khẩu, ý sùng kính.
Trước
tiên, đừng kết thân với Ngài như một mối quan hệ bình
đẳng mà phải cắt đứt những quan niệm sai lầm trong việc
học hỏi và thiền định.
Kế
tiếp, hãy duy trì sự thực hành liên tục và tự nỗ lực
với sự kiên trì.
Sau
cùng, thâm nhập Giáo Pháp vào tâm con nhờ thực hành và áp
dụng những đối trị cảm xúc phiền não.
Luôn
giữ giới luật và samaya không vi phạm. Đừng thực hành không
liên tục hay trì hỗn mà hãy giữ hứa nguyện của con và
lập tức áp dụng. Dù Ta, một khất sĩ đã đạt thành tựu,
Ta không bao giờ tìm thấy thời gian để xao lãng. Thấy tất
cả chúng sanh lạc đường bị hành hạ bởi những mưu cầu,
ảo tưởng của luân hồi, bị những cảm xúc phiền não và
nghiệp xấu, Ta thấy muốn khóc. Lòng Ta đau đớn vì thất
vọng và khổ não.
Đã
có thân người và nhận thức được những kết quả của
hạnh phúc hay đau khổ của hành vi, những người không cố
gắng đạt giác ngộ trong đời này và không thực hành ngay
cả chỉ một thời quy y, lại theo đuổi những mưu cầu, tham
vọng, giải trí và hưởng thụ của đời này và tích tụ
ác nghiệp đều không có tấm lòng. Trái tim của họ đã mục
rữa. Quỷ ma của Mara đã xâm chiếm tâm họ. Họ bị bạn
bè quỷ quái lừa gạt.
Nếu
tận đáy lòng giao phó mình cho Tam Bảo và thực hành để
đạt giác ngộ trong một đời, chắc chắn Tam Bảo sẽ không
dối gạt con.
Chắc
chắn con sẽ không bị đau khổ vì muốn thực phẩm hay quần
áo. Người tuyên bố thiếu thực phẩm hay quần áo để thực
hành Pháp, không có thời gian thọ quy y hay thực hành tâm linh
và nói rằng họ không có thời gian rảnh rỗi là những người
tự lừa gạt mình một cách đáng xấu hổ.
Ngay
bây giờ, trong lúc các căn của con còn tốt và có thời gian
rảnh rỗi, nếu không tự nỗ lực thực hành để đạt giác
ngộ, chẳng bao lâu nữa con sẽ bị gió nghiệp cuốn đi, đến
gặp Tử Thần và gặp hiểm nguy lúc cận tử, vào lúc đó
con sẽ sợ hãi dữ dội, cố suy nghĩ về mọi điều có thể
cứu vãn, nhưng đã quá trễ. Hãy nhớ điều đó trong tâm!
Nói
chung khi thực hành Pháp con sẽ không thành công nếu không
mang lấy cái chết trong tâm.
Hỡi
những người có khả năng của thế hệ tương lai, không có
sự giả dối nào trong lời của khất sĩ Padmakara. Dù các
người theo đuổi bất kỳ điều gì hãy cố cố gắng mạnh
mẽ để khỏi hối tiếc vào lúc chết! Hãy cẩn thận và
tinh tấn với khao khát có thể giúp đỡ người khác!
Giáo
lý này được đặt tựa là Tràng Hoa Pha Lê Của Sự Thực
Hành Không Lỗi, tâm cốt tủy biểu lộ như cam lồ bất tử,
với thân, khẩu, ý tôn kính và sùng mộ của tôi, Tsogyal xứ
Kharchen đã khẩn cầu vị Thầy Hóa Thân Padmakara, vì lợi
ích của những thế hệ tương lai, tôi soạn thảo, viết lại,
và cất dấu bản văn như một kho tàng vì không thể truyền
bá lúc này.
Khi
gặp người may mắn, nguyện giáo huấn này được áp dụng
vào thực hành.
Đây
là giáo lý về Tràng Hoa Pha Lê Thanh Tịnh Của Sự Thực Hành
Không Lỗi.
Niêm
phong kho tàng.
Niêm
phong cất dấu.
Niêm
phong giao phó.
CỐT
TỦY TINH HOA CỦA
NHỮNG
GIÁO HUẤN KHẨU TRUYỀN.
KÍNH
LỄ ĐẠO SƯ
Công
Chúa Tsogyal xứ Kharchen đã phục vụ Hóa Thân Orgyen Padmakara
từ lúc tám tuổi, đã đi theo Ngài như hình với bóng.
Khi
vị Thầy sắp rời Tây Tạng đến xứ sở La Sát, công nương
xứ Kharchen đã dâng một mandala bằng vàng và ngọc bích, dâng
một bữa tiệc cúng dường[37] và khẩn nài: Ôi! Đại
Sư ! Ngài rời đi để điều phục loài La Sát, con bị bỏ
lại Tây Tạng này. Dù con đã phục vụ Ngài trong một thời
gian dài, Thầy ơi, người phụ nữ già này chưa xác tín vào
lúc chết. Do vậy,con khẩn cầu Ngài từ bi ban cho một giáo
huấn cô đọng lại mọi giáo lý thành một, ngắn gọn và
dễ thực hành.
Vị
Thầy vĩ đại đáp: Hỡi người sùng kính với một tâm chân
thật và đức hạnh, hãy lắng nghe Ta.
Dù
có nhiều điểm trọng yếu sâu xa về thân, hãy nghỉ ngơi
tự do và thư thả khi cảm thấy thích hợp. Mọi việc chỉ
đều bao gồm trong đó.
Dù
có nhiều điểm trọng yếu về khẩu, như kiểm soát hơi thở
và tụng niệm mantra, hãy ngưng nói và nghỉ ngơi như một
người câm. Mọi việc chỉ đều bao gồm trong đó.
Dù
có nhiều điểm trọng yếu về ý như thiền định, buông
xả, phóng chiếu, tan hòa, và chú tâm vào bên trong, mọi sự
chỉ đều bao gồm trong việc hãy để tâm nghỉ ngơi trong
trạng thái tự nhiên của nó, tự do và thanh thản, không tạo
tác.
Tâm
không tịch lặng mãi trong trạng thái đó. Nếu người ta hỏi;
nó không là gì sao? thì như hơi nóng trong ánh sáng mặt trời,
nó vẫn sáng lung linh và chiếu soi. Nhưng nếu có người hỏi;
nó là cái gì? Thì nó không có màu sắc hay hình dạng để
nhận ra, mà tuyệt đối trống không và hoàn toàn tỉnh giác
– đó là bản tâm con.
Nhận
ra nó như vậy, trở nên xác quyết về nó, đó là kiến. An
trụ không xao lãng trong trạng thái an tĩnh, không tạo tác
hay trụ bám, đó là thiền. Trong trạng thái đó, thoát khỏi
chấp giữ hay bám luyến, lấy hay bỏ, hy vọng hay sợ hãi
đối với bất kỳ kinh nghiệm nào của sáu căn, đó là hành.
Bất
cứ nghi ngờ hay lưỡng lự nào xảy ra, hãy cầu nguyện Thầy
con. Đừng ở nơi của người thường; hãy thực hành nơi
hẻo lánh. Hãy từ bỏ bám chấp bất kỳ thứ gì con bám luyến
nhất cũng như với bất cứ người nào có liên hệ mạnh
nhất trong đời này, và hãy thực hành. Như vậy, dù con trụ
trong thân người, tâm con bình đẳng với chư Phật.
Vào
lúc cận tử, con nên thực hành như sau.
Vì
đất tan vào nước nên thân thể trở nên nặng nề và không
thể tự nó chống đỡ. Vì nước tan vào lửa, nên miệng
và mũi bị khô. Vì lửa tan vào gió, thân nhiệt bị biến
mất. Vì gió tan vào ý thức nên thở hổn hển và nấc hấp
hối.
Vào
lúc đó, sẽ cảm thấy như bị quả núi to lớn đè, bị giam
trong bóng tối, hay bị rơi vào không gian đi kèm với sấm
chớp và âm thanh vang vọng. Toàn thể bầu trời chói lọi
như một tấm vải gấm trải rộng.
Ngoài
ra, những hình tướng tự nhiên của tâm con, những Bổn Tôn
phẫn nộ, hiền minh và bán phẫn nộ và những vị có nhiều
đầu lấp đầy bầu trời trong một vòm có ánh sáng cầu
vồng. Khua động vũ khí, họ sẽ la “Đánh! đánh!” “Giết!
giết”, “Hung! Hung!” “Phat! Phat” và những âm thanh dữ
dội khác. Thêm vào đó sẽ có ánh sáng chói lọi như một
trăm ngàn mặt trời chiếu cùng lúc.
Vào
lúc đó, vị Bổn Tôn bẩm sinh của con sẽ nhắc con nhớ lại
tánh giác, Đừng phân tâm! Đừng phân tâm! Ma quỷ bẩm sinh
của con sẽ khuấy động mọi kinh nghiệm của con và kêu những
âm thanh chói tai, mãnh liệt và làm rối loạn con.
Vào
lúc này, nên biết: cảm giác bị đè không phải do núi đè.
Nó là những nguyên tố của con tan rã. Đừng sợ điều đó!
Cảm giác bị giam cầm trong bóng tối không phải là bóng tối.
Nó là sự hòa tan năm căn giác quan của con. Cảm thấy bị
rơi vào hư không mở rộng không phải là bị rơi. Đó là
tâm con không được nậng đỡ vì thân và tâm con đã tách
rời và hơi thở con đã dừng.
Mọi
kinh nghiệm về ánh sáng cầu vồng là những biểu hiện tự
nhiên của tâm con. Mọi tướng phẫn nộ và hiền minh là tướng
tự nhiên của tâm con. Mọi âm thanh là âm thanh của chính
con. Mọi ánh sáng là ánh sáng của chính con. Không nên nghi
ngờ về điều đó. Nếu cảm thấy nghi ngờ, thực sự con
sẽ bị ném vào sinh tử luân hồi. Biết chắc điều này là
sự tự-phô diễn, nếu con tỉnh thức rộng mở trong tánh
không quang minh, thì chính trong trạng thái đó con sẽ đạt
ba thân và giác ngộ. Ngay cả dù bị ném vào sinh tử, con sẽ
không đến đó.
Vị
Bổn Tôn bẩm sinh là sự hộ trì trong hiện tại tâm con tỉnh
giác không xao lãng. Từ lúc này, điều quan trọng là không
hy vọng và sợ hãi, không bám víu và trụ bám đối với các
đối tượng của sáu căn cũng như đối với những say mê,
hạnh phúc, hay đau khổ. Từ giờ trở đi, nếu đạt ổn định
con sẽ có thể đảm đương trạng thái tự nhiên của con
trong trung ấm và được giác ngộ. Thế nên, điểm trọng
yếu nhất là duy trì sự thực hành của con không xao lãng
ngay chính lúc này.
Ma
quỷ bẩm sinh là khuynh hướng vô minh, nghi ngờ và do dự của
con trong hiện tại. Vào lúc đó, bất kỳ hiện tượng đáng
sợ nào xuất hiện như âm thanh, màu sắc, ánh sáng, đừng
tham đắm, đừng nghi ngại và đừng sợ hãi. Nếu rơi vào
nghi ngờ chỉ trong một khoảnh khắc con sẽ lang thang trong
sinh tử, vậy hãy hoàn toàn ổn định.
Vào
lúc này, lối vào tử cung xuất hiện như những thiên cung.
Đừng bị chúng lôi cuốn. Phải chắc chắn về điều đó!
Hãy thoát khỏi hy vọng và sợ hãi! Ta thề rằng chắc chắn
rồi con sẽ đạt giác ngộ không còn tái sanh nữa.
Vào
lúc đó, người ta không phải được một vị Phật giúp đỡ.
Giác tánh của con là sự giác ngộ bổn nguyên. Nó không phải
là người bị hại bởi địa ngục. Sự trụ bám được tự
nhiên tịnh hóa, nỗi sợ sinh tử và hy vọng niết bàn được
cắt đứt tận gốc.
Trở
nên giác ngộ có thể so sánh như nước được lắng cặn
thành trong trẻo, vàng được tinh luyện thành vàng ròng, hay
bầu trời không mây.
Khi
đạt pháp thân như hư không vì lợi ích của chính mình, con
sẽ hoàn thành lợi ích của chúng sanh khắp hư không. Đạt
được báo thân và hóa thân vì ích lợi của người khác
con sẽ lợi ích cho chúng sanh nhiều như tâm con tỏa khắp
mọi hiện tượng.
Nếu
giáo huấn này được ban ba lần cho người dù có tội lớn
như giết hại cha mẹ mình, người đó sẽ không rơi vào luân
hồi ngay cả nếu bị ném vào đó. Chắc chắn họ sẽ đạt
giác ngộ.
Dù
con có nhiều giáo lý uyên thâm khác, mà không có giáo huấn
nào giống như vầy, con vẫn còn ở xa lắm. Vì không biết
kiếp tới con sẽ lang thang ở đâu, hãy thực hành giáo huấn
này với sự kiên trì.
Con
nên ban giáo huấn khẩu truyền này cho người dễ tiếp thu,
có niềm tin lớn, tinh tấn mạnh mẽ và thông tuệ, người
luôn nhớ đến vị Thầy của họ, người tin vào giáo huấn
khẩu truyền, người tự nỗ lực trong thực hành, người
với tâm kiên cố và có thể từ bỏ những mối quan tâm thế
gian. Hãy ban cho họ giáo huấn này với dấu ấn giao phó của
vị Thầy, dấu ấn bí mật của Bổn Tôn và dấu ấn giao
phó của dakini.
Mặc
dù, Ta, đã đi theo nhiều vị Thầy trong ba ngàn sáu trăm năm[38]
đã khẩn cầu những giáo huấn, nhận được giáo lý, học
hỏi và giảng dạy, thiền định và thực hành. Ta không thấy
bất cứ giáo lý nào uyên thâm hơn giáo lý này.
Ta
sắp đi điều phục loài La Sát. Con nên thực hành như vậy.
Hỡi mẹ, người sẽ giác ngộ trong cõi trời. Thế nên, hãy
kiên trì trong giáo huấn này.
Nói
xong, Guru Rinpoche cưỡi lên tia sáng mặt trời và khởi hành
đến xứ sở La Sát. Nghe theo lời, Công Chúa Tsogyal đã đạt
giải thoát. Bà viết giáo lý này thành văn bản và cất giấu
như một kho tàng uyên thâm. Bà đã tạo nguyện này: Trong tương
lai, nguyện giáo lý này được giao cho Guru Dorje Lingpa. Nguyện
giáo lý này làm lợi ích nhiều chúng sanh lúc đó.
Đến
đây hoàn tất Cốt Tủy Tinh Hoa Của Giáo huấn Thiêng Liêng,
sự vấn đáp về tự-giải thoát vào lúc chết và trong trung
ấm.
SAMAYA,
ẤN NIÊM, ẤN NIÊM, ẤN NIÊM.
THUẬT
NGỮ
Phần
thuật ngữ này là một soạn thảo về kiến thức chủ yếu
nhận được như giáo lý khẩu truyền từ các Ngài Tulku Urgyen
Rinpoche, Chokyi Nyima Rinpoche, và những vị Thầy khác của đạo
Phật hiện nay. Một số từ mục thì vắn tắt và không định
nghĩa, nhưng vì bao gồm sự tương đương với tiếng Tây Tạng,
người đọc có thể tìm hiểu ý nghĩa sâu hơn từ các nguồn
khác. Một số thuật ngữ tiếng Anh được tạo riêng để
sử dụng trong sách này và có thể có cách diễn đạt khác
nhau trong phạm trù khác.
A LẠI
DA (Tạng, kun gzhi; Phạn, alaya): Nguyên nghĩa là nền tảng của
mọi sự. Căn bản của tâm và của hiện tượng thanh tịnh
và bất tịnh. Từ này trong bối cảnh khác lại có nghĩa khác,
và nên hiểu một cách tương ứng. Đôi khi nó đồng nghĩa
với Phật tánh hay Pháp thân, đôi lúc nó ám chỉ một trạng
thái trung tính của tâm nhị nguyên không được gắn bó với
sự tỉnh giác bẩm sinh.
AKANISTHA
(‘og min): Cõi trời cao nhất (Sắc Cứu Cánh) của pháp thân
Phật Kim Cương Trì. Với một bàn luận về nhiều dạng Akanistha,
hãy xem bản dịch sắp xuất bản của Ngài Gyurme Dorje về
Ngài Longchen Rabjam phyogs bCu Mun Sel, dưới tựa đề Xua Tan Bóng
Tối Trong Mười Phương.
AMITABHA
(snag ba mtha’ yas): Phật A Di Đà, vị Phật chính của Liên
Hoa Bộ, sự biểu lộ của trí tuệ phân biệt (Diệu Quan Sát
Trí).
An
trú bình đẳng trong hư không này của hai chân lý (nhị đế)
bất khả phân.
ARHANT
(dgra bcom pa): “bậc tiêu diệt kẻ thù”, Tàu dịch “ứng
cúng”, A La Hán, là bậc chiến thắng bốn Mara và đạt quả
thứ tư, quả cuối cùng của Tiểu Thừa.
ATI
YOGA (shin tu rnal ‘byor): Cái thứ ba của ba tantra nội. Tương
tự như Dzogchen (Đại Viên mãn).
BA
BẬC NGUYỆN (sdom pa gsum): Nguyện Tiểu Thừa của giải thoát
cá nhân, tu hành Đại Thừa của một bồ tát, và samaya của
Kim Cương Thừa của một vidyadhara.
BA
CẤP ĐỘ GIÁC NGỘ (byang chub gsum): Sự đạt niết bàn của
một A la hán, Bích chi Phật, và toàn giác của một vị Phật.
BA
CẢNH GIỚI (kham gsum): Cõi luân hồi của dục giới, sắc giới
và vô sắc giới.
BA
CÕI THẤP (ngan song gsum): Thế giới của địa ngục, ngạ quỷ
và súc sanh.
BA
GIA ĐÌNH (rigs gsum): Kim cương bộ, Liên hoa bộ và Như lai bộ.
Khi nhắc đến “chủ của ba gia đình”, các Ngài là Văn
Thù, Quán Tự Tại, và Kim Cương Thủ.
BA
GỐC (rtsa ba gsum): Guru, deity, và dakini (Đạo Sư, Bổn Tôn,
và Không Hành Nữ). Guru là gốc rễ của ân phước, Yidam là
gốc rễ của thành tựu, và Dakini là gốc rễ của hành động.
BA
LÃNH VỰC CỦA KHÁI NIỆM (‘khor gsum gyi dmigs pa): Chủ thể,
đối tượng, và hành vi.
BA
LÃNH VỰC CỦA ĐỐI TƯỢNG (yul gsum): thân tướng của Bổn
Tôn xuất hiện hoặc như một đối tượng của tri giác, hoặc
đối tượng của tâm thức hoặc đối tượng của giác quan
của một người nào đó (snang yul, dbang yul, kyi yul).
BA
LOẠI TRI KIẾN (shes grab gsum): Sự hiểu biết và thấu suốt
kết quả từ việc học hỏi, quán chiếu, và thực hành thiền
định.
BA
ĐỘC (dug gsum): Tham, sân và ảo tưởng.
BA
SAMADHI (ting nge ‘dzin gsum): Đại định của chân như, đại
định của quang minh, đại định của chủng tử tự. Đại
định của chân như là an trụ trong sự bình thản của tánh
Không vốn sẵn của mọi hiện tượng được chỉ ra bởi
guru gốc của hành giả, hay đơn giản chỉ quán tưởng mọi
sự đều trống rỗng như hư không. Đại định của quang
minh là hãy để lòng bi xuất hiện tự nhiên như mặt trời
chiếu sáng hư không, hay đơn giản phát sinh lòng bi với mọi
chúng sanh chưa nhận ra bản chất của sự vật. Đại định
của chủng tử tự là sự hợp nhất vốn sẵn của tánh Không
và lòng bi biểu hiện trong dạng một chủng tự, đó là “chủng
tử” hoặc suối nguồn từ đó Bổn Tôn và toàn bộ mandala
sẽ xuất hiện trong lúc thực hành. Ba samadhi này là khuôn
mẫu tuyệt đối cần thiết cho giai đoạn phát triển của
thực hành Kim Cương Thừa. Trong Lamrim Yeshe Nyingpo của Ngài,
Padmasambhava nói:
BA
THÂN (sku gsum): Pháp thân, Báo thân, và Hóa thân. Ba thân như
nền tảng là: tinh túy, bản chất và diễn tả; như con đường
là: cực lạc, trong sáng và vô niệm; và như kết quả là:
ba thân của Phật quả.
BẤT
SINH (skye ba med pa): Trong phương diện của chân lý tuyệt đối,
mọi hiện tượng đều không có một độc lập, giống hệt
nhau một cách cụ thể do vậy không có nền tảng cho những
thuộc tính như sinh, trụ, hay diệt.
BẠN
HỮU VAJRA (rdo rje gros po): Người bạn của hành giả, cùng
chia xẻ sự liên kết tâm linh, có cùng vị Thầy, thực hành,
hay cùng nhận được giáo lý.
BARDO
(bar do; Phạn, antarabhava): Trạng thái trung gian, trung ấm. Thường
để chỉ giai đoạn giữa chết và tái sanh. về chi tiết của
bốn bardo, hãy xem Sự Phản Ánh Của Tánh Giác (Nhà xuất bản
Shambhala, Boston, 1989).
BẢN
CHẤT CỦA HIỆN TƯỢNG (chos kyi bdag): Một thực thể độc
lập hay sự hiện hữu đồng nhất vốn sẵn trong hiện tượng.
BẢN
NGÃ CÁ NHÂN (gang zag gi bdag): Ý niệm sai lầm là có hiện hữu
một “cái tôi”, đó là một thực thể thường hằng, độc
lập và đặc biệt.
BÁNH
XE CỦA SỰ TỤ HỘI (tshogs kyi ‘khor lo; Phạn, ganachakra): Thời
xưa, một bữa tiệc tập thể của dâng cúng có giá trị bằng
số lượng vàng. Ngày nay tương đương với bữa tiệc
cúng dường (tshogs kyi mchod pa).
BẢY
CHI (yan lag bdun pa): Sự thực hành bảy chi: đảnh lễ Tam Bảo,
sám hối hành động bất thiện, cúng dường, hoan hỷ với
công đức của người khác, khẩn thỉnh không nhập niết
bàn, và hồi hướng công đức cho sự giác ngộ của tất
cả chúng sanh.
BHUMI
(sa): Cấp độ hay phạm vi hoạt động (địa) của Bồ Tát:
mười giai đoạn của ba con đường cuối của năm Bồ Tát
đạo. Hãy xem thập địa (mười bhumi).
BIẾT
MỘT LIỀN GIẢI THOÁT ĐƯỢC TẤT CẢ (geig shes kun grol): Sự
thấu suốt Phật tánh chính mình, trạng thái căn bản trong
mọi tư duy và cảm xúc, sẽ tự động giải thoát sự quy
chiếu về những gì xảy ra.
BINDU
(thig le): Trong phạm trù của du già Bổn Tôn, là một trái
cầu thật nhỏ bằng ánh sáng, thường bằng cỡ hạt đậu.
BÌNH
THƯỜNG (tha mal): Trạng thái tâm của một người bình thường
không chấp vào sự từ bỏ hay thấu suốt được sự vô ngã
mà không phải bằng bồ đề tâm nguyện, nhận thức thanh
tịnh hoặc sự nhận biết của bản tâm. Trong trạng thái
đó, suy nghĩ và cảm xúc của họ khởi lên không nghi ngờ
và tự động tích luỹ nghiệp cho những vòng luân hồi sau.
BỒ
ĐỀ TÂM HẠNH (‘jug pa’i byang chub kyi sems): Bao gồm chủ
yếu là sáu ba la mật.
BỒ
ĐỀ TÂM KHÔNG RỜI TÁNH KHÔNG VÀ LÒNG BI (stong nyid snying rje
dbyer med byang chub kyi sems): Tương tự như bồ đề tâm tuyệt
đối.
BỒ
ĐỀ TÂM NGUYỆN (smon pa’i byang chub kyi sems): Bao gồm
chủ yếu tứ vô lượng tâm.
BỐI
RỐI, LO LẮNG (rgod pa): Trạng thái tâm bị khích động do tư
duy và cảm xúc.
BỐN
BA LA MẬT (phar phin bzhi): Bốn cái cuối của mười ba la mật
thiện xảo, phương tiện sức mạnh khao khát, và trí tuệ.
BỐN
BẬC PHẠM TRÙ NHẬN THỨC (skye mehed mu bzhi): Tương tự như
bốn cõi vô sắc. Bốn trạng thái thiền định chưa giác ngộ
của việc an trụ trên những niệm: hư không vô tận, ý thức
vô tận, hoàn toàn không, không hiện diện cũng không thiếu
vắng nhận thức..
BỐN
BỘ DAKINI (mkha’ ‘gro sde bzhi): Những dakini của bốn gia đình:
kim cương, bảo sanh, liên hoa và tác nghiệp. Các Ngài là những
sinh linh tâm linh đem đến bốn hoạt động tức tai, tăng ích,
kính ái và hàng phục.
BỐN
CẤP VIDYADHARA (rig ‘dzin gyi sa):
BỐN
CẤP VIDYADHARA (trì minh vương – rig ‘dzin rnam pa bzhi): Bốn
giai đoạn thành tựu của bậc trì thủ trí tuệ, bậc thầy
của bốn giai đoạn về con đường tantric mahayoga. Bốn cấp
vidyadhara là: hoàn toàn trưởng thành, làm chủ cuộc sống,
mahamudra (đại ấn), và hiện diện tự nhiên (rnam smin, tshe
dbang, phyag chen, lhun grub).
BỐN
HOẠT ĐỘNG (las bzhi): Tức tai, tăng ích, kính ái và hàng phục.
BỐN
HOẠT ĐỘNG HÀNG NGÀY (spyod lam bzhi): Đi, đứng, nằm và ngồi.
BỐN
NĂNG LỰC HUYỀN DIỆU (rdzu ‘phrul bzhi): Trong những Thừa phổ
thông được kể ra là mục đích, quyết định, siêng năng,
sáng suốt; bốn nguyên nhân để đạt được năng lực của
siêu trí tuệ. Trong Kim Cương Thừa, bốn phô diễn huyền diệu
(cho ‘phrul bzhi) được nói đến làsamadhi (đại định), thánh
hóa, ban quán đảnh, và cúng dường.
BỐN
PHƯƠNG DIỆN CỦA SỰ TIẾP CẬN VÀ THÀNH TỰU (bsnyen sgrub
kyi yan lag bzhi): Tiếp cận, hoàn toàn tiếp cận, thành tựu
và đại thành tựu. Bốn phương diện quan trọng của thực
hành Kim Cương Thừa, nhất là giai đoạn tụng niệm của thực
hành Bổn Tôn. Tuy nhiên, bốn phương diện này có thể áp
dụng vào bất cứ mức độ ý nghĩa nào trong tantra. Sự tương
tự truyền thống của chúng như mời người cai trị đất
nước đến, dâng tặng phẩm và yêu cầu một điều đặc
biệt, đạt được sự cho phép của ông ta để áp dụng vào
mục đích của mình, và dùng thẩm quyền của mình hoàn thiện
lợi ích cho chính mình và người khác. Trong phạm vi thực
hành tụng niệm, tiếp cận là sự quán tưởng Bổn Tôn với
mantra ở ngực Ngài, hoàn toàn tiếp cận là vòng chủng tự
mantra quay tròn chiếu ra ánh sáng cúng dường tất cả chư
Phật trong mười phương, thành tựu là nhận được ân phước
của các Ngài làm tịnh hóa mọi che chướng của hành giả,
và đại thành tựu là chuyển hóa thế gian thành mandala của
cõi Phật, chúng sanh thành nam và nữ Bổn Tôn, âm thanh thành
mantra, và mọi niệm tưởng; cảm xúc thành sự phô diễn thanh
tịnh của tánh giác bẩm sinh.
BỐN
PHƯƠNG TIỆN CỦA KÍNH ÁI (bsdu ba’i dngos po bzhi): Rộng lượng,
nói lời tử tế, ban giáo lý thích hợp, và giữ kiên định
giữa lời nói và hành động. Đức Liên Hoa Sanh nói trong Lamrim
Yeshe Nyingpo:
Làm
trưởng thành chính con, tụ hội những người đi theo nhờ
sự rộng lượng.
Làm
vui thích họ với lời lẽ dịu dàng, và an ủi họ bằng việc
thích hợp.
Nhờ
khuyên bảo họ hành động đầy ý nghĩa, xây dựng họ một
cách tạm thời và tối hậu.
Trong
sự hoàn toàn lợi ích huy hoàng và hạnh phúc. (bố thí, ái
ngữ, lợi hành, đồng sự).
BỐN
QUÁN ĐẢNH (dbang bzhi): Quán đảnh cái bình, bí mật, trí tuệ-tri
kiến, và từ ngữ quý báu. Đức Liên Hoa Sanh nói trong Lamrim
Yeshe Nyingpo:
Quán
đảnh cái bình làm tịnh hóa thân và kinh mạch (nadi),
Là
hạt giống của Thân Kim Cương và Hóa Thân,
Quán
đảnh bí mật khiến tịnh hóa khẩu và khí (prana),
Là
hạt giống của Ngữ Kim Cương và Báo Thân,
Quán
đảnh trí tuệ làm tịnh hóa ý và giọt bồ đề tâm (bindu)
Là
hạt giống của Ý Kim Cương và Pháp Thân,
Quán
đảnh tối hậu khiến tịnh hóa những khuôn mẫu quen thuộc
của A lại da thức,
Là
hạt giống của Trí Kim Cương và Đại Cực Lạc Thân (svabhavikakaya).
BỔN
TÔN VỚI NHỮNG THUỘC TÍNH (mtshan beas kyi lha): Bổn Tôn tối
thượng là pháp thân chúng ta. Để nhận ra trạng thái tự
nhiên này, chúng ta sử dụng sự hỗ trợ của một đấng
giác ngộ với mặt, tay, chân, trang phục, v.v...
BỐN
VÔ LƯỢNG (tshad med bzhi): Từ, bi, hỷ, và xả.
BODHICITTA
(byang sems, byang chub kyi sems): Bồ đề tâm, [1] Sự khao khát
đạt giác ngộ vì lợi ích của mọi chúng sanh, [2] Trong phạm
vi Dzogchen là sự tỉnh giác bẩm sinh của tâm tỉnh thức.
BODHISATTVA
(byang chub sems dpa’): Bồ Tát, bậc đã phát triển bồ đề
tâm, khao khát đạt giác ngộ để làm lợi ích tất cả chúng
sanh. Một hành giả của con đường Đại Thừa; nhất là người
đã đạt sơ địa.
BRAHMA
(sangs rgyas): Phạm Thiên, Thiên chủ của cõi trời sắc giới.
BUDDHA
(sang rgyas): Phật, đấng giác ngộ, bậc đã hoàn toàn xua tan
mọi che chướng và viên mãn mọi phẩm tính thiện. Một bồ
tát viên mãn, sau khi đạt chân lý và toàn giác được biết
là một vị Phật. Thông thường, Phật dùng để chỉ Đức
Phật Thích Ca Mâu Ni, vị Phật của thời hiện nay, đã sống
ở Ấn Độ vào khoảng thế kỷ thứ 6 trước công nguyên.
Đã có vô số chư Phật trong những kiếp quá khứ đã hiển
lộ con đường đến giác ngộ. Trong thời Hiền Kiếp này
sẽ có một ngàn vị Phật, trong đó Phật Thích Ca Mâu Ni là
vị thứ tư.
CẢM
XÚC PHIỀN NÃO (nyon mongs pa): Năm độc chất của tham dục,
sân hận, ảo tưởng, kiêu mạn, và thù ghét làm mệt mỏi,
rối loạn và hành hạ tâm thức hành giả.
CẢNH
GIỚI CAO (mtho ris): Ba cõi cao: người, bán thần (a tu la), và
trời.
CHÂN
NHƯ (de bzhin nyid; Phạn, tattva): Đồng nghĩa với tánh Không
hay bản chất của sự vật, pháp tánh, cũng có thể dùng để
mô tả sự hợp nhất của duyên sanh và tánh Không.
CHẤP
NGÃ (bdag ‘dzin): Thói quen bám víu vào ý niệm sai lầm
rằng cái “tôi” là một phụ thuộc, nổi bật, và một
thực thể thường hằng. Chấp ngã là nguồn gốc của cảm
xúc phiền não, và là nền tảng cho mọi hành động nghiệp
bất thiện dẫn đến vòng luân hồi vô tận.
CHẤT
LIỆU CỦA THÀNH TỰU (dngos grub kyi rdzas): Những vật phẩm
thiêng liêng, như cam lồ, torma (một loại bánh bằng bột),
hưởng một phần vào sáng ngày cuối của thực hành nhập
thất.
CHE
CHƯỚNG (sgrib pa): Bức màn che phủ sự nhận biết trực tiếp
của bản tâm hành giả. Trong giáo lý đạo Phật phổ thông
có vài loại được nhắc đến: sự che chướng của nghiệp
ngăn cản hành giả đi vào con đường giác ngộ, sự che chướng
của cảm xúc phiền não ngăn cản sự tiến bộ trên con đường,
sự che chướng của tập khí ngăn cản sự biến mất của
nhầm lẫn, và che chướng cuối cùng của tri kiến nhị nguyên
ngăn cản đạt được toàn giác.
CHIM
GARUDA (bya khyung – kim xí điểu): Một con chim của thần thoại
có thể bay từ cuối vũ trụ này đến vũ trụ khác chỉ trong
một lần vỗ cánh. Truyền thuyến nói rằng chim mới nở đã
hoàn toàn phát triển và sẵn sàng bay lên bầu trời. Trong
giáo lý Dzogchen, kim xí điểu biểu tượng sự thành tựu bẩm
sinh của một thiền giả sự hiện diện những phẩm tính
tự nhiên của Phật tánh được biểu lộ hoàn toàn vào lúc
chết; sự đạt được Phật quả xảy ra cùng lúc rời bỏ
thân xác.
CHIMPHU
(chims phu): Hang động ẩn tu trên Samye ở giữa Tây Tạng. Đức
Guru Rinpoche đã nhập thất vài năm tại đây.
CHÍN
THỪA TIỆM TIẾN (theg pa rim pa dgu): Thanh văn, Bích chi Phật,
Bồ tát, kria, upa, yoga, maha, anu, ati.
CHƯ
PHẬT HIỀN MINH VÀ PHẪN NỘ (zhi khro): Bốn mươi hai vị Phật
hiền minh: Samantabhadra và Samantabhadri [Phổ Hiền và phối ngẫu),
năm vị Phật nam, nữ, tám Bồ tát nam và nữ, sáu vị muni,
và bốn vị giữ cổng nam và nữ; năm mươi tám vị Phật
phẫn nộ: năm vị Heruka nam và nữ, tám vị yogini, tám thiên
nữ tramen, bốn người nữ giữ cổng, hai mươi tám vị shvaris.
Xem chi tiết trong quyển Tử Thư Tây Tạng: Giải Thoát Trong
Bardo Nhờ Sự Nghe, bản dịch của Francesca Fremantle và Chogyam
Trungpa (nhà xuất bản Shambala 1987).
CHỦ
CỦA GIA ĐÌNH (rigs kyi bdag po): Vị Phật chính của gia đình
mà vị Bổn Tôn Yidam riêng của hành giả thuộc về. Ví dụ,
vị Phật trên đỉnh đầu Đức Avalokiteshvara (Quán Tự Tại)
là A Di Đà.
CHỦ
NGHĨA HƯ VÔ (chad lta): Nguyên nghĩa là “quan điểm gián đoạn”.
Quan điểm cực đoan không có gì cả: không tái sanh hay nghiệp
quả, và không có sự hiện hữu của một tâm sau khi chết.
CHỦ
NGHĨA VĨNH CỬU (thường kiến – rtag lta): Tin rằng mọi sự
là thường hằng không do ai tạo ra; đặc biệt, sự nhận
dạng hay ý thức của người đó có tính chất cụ thể đó
là sự độc lập, vĩnh viễn và duy nhất.
Chú
tâm một điểm trong tâm và đem sự hiện diện sống động
của nó vào hoàn thiện.
CHÚNG
SANH (sems can): Bất kỳ sinh linh nào sống trong sáu cõi chưa
được giải thoát.
CHUYỂN
LUÂN VƯƠNG (Universal monarch, ‘khor los sgyur ba’i rgyal po; Phạn,
chakravartine): Bậc cai quản bốn châu lục của nhân loại.
Ngài mang ba mươi hai hảo tướng của một Bậc Vĩ đại, và
với những cộng sự trợ giúp Ngài cai quản bằng bảy sở
hữu quý báu: Bánh xe báu, ngọc báu, hoàng hậu báu, bộ trưởng
báu, voi báu, ngựa báu, và tướng lĩnh báu.
CHUYỂN
PHÁP LUÂN (chos kyi ‘khor lo skor ba): thành ngữ biểu tượng
cho việc ban Giáo Pháp.
CÔNG
CHÚA TSOGYAL (jo mo mtsho rgyal): Cũng được biết là Khandro (Dakini)
Yeshe Tsogyal, bà là đệ tử thân cận của Đức Guru Rinpoche
và là người soạn thảo phần chính yếu giáo lý của Ngài.
CÔNG
CHÚA XỨ KHARCHEN (mkhar chen bza’): Yeshe Tsoygal.
CÔNG
ĐỨC (bsod nams): Thiện nghiệp kết quả từ hành vi đạo đức.
CỰC
LẠC, TRONG SÁNG, VÀ VÔ NIỆM (bde gsal mi rtog pa): Ba kinh nghiệm
tạm thời của thiền định. Bám vào chúng là gieo trồng chủng
tử tái sanh trong ba cõi. Không bám vào chúng là sự trang hoàng
của ba thân.
CON
ĐƯỜNG (lam): Năm con đường hay giai đoạn đến giác ngộ,
con đường tích lũy, kết hợp, thấy, trưởng dưỡng và không
còn học. Chúng có thể được giải thích tùy theo mỗi thừa.
CON
ĐƯỜNG CỦA CÁI THẤY (mthong lam): Cái thứ ba của năm con
đường, đó là sự đạt được địa thứ nhất (sơ địa),
giải thoát khỏi luân hồi và nhận ra được chân lý của
thực tại.
CON
ĐƯỜNG HOÀN THIỆN (thar phyin pa’i lam): Cái thứ năm của
năm con đường, và là trạng thái hoàn tất, giác ngộ viên
mãn.
CON
ĐƯỜNG TIẾP HỢP (sbyor lam): Cái thứ hai của năm con đường,
trong đó hành giả tiến triển thân cận và tiếp hợp với
nhận thức chân lý của thực tại.
CON
ĐƯỜNG KHÔNG BỊ GIÁN ĐOẠN (bar chad med lam): “Con đường”
hay “nền tảng” là phương thuốc xóa trực tiếp nhiễm
ô cần được từ bỏ trên con đường hiện tại của hành
giả và nhờ đó đảm bảo rằng không có sự gián đoạn
nào có thể gây trở ngại cho việc hiển lộ trí tuệ vốn
là kết quả từ con đường đặc biệt của hành giả ấy.
CON
ĐƯỜNG TÍCH LŨY (tshogs lam): Cái đầu tiên của năm con đường,
làm nền tảng cho cuộc hành trình đến giải thoát và bao
gồm sự tích lũy công đức to lớn hướng đến thành tựu
này. Trên con đường này, hành giả đạt trí tuệ, khái niệm
hiểu biết về vô ngã nhờ học hỏi và quán chiếu. Nhờ
phương tiện trưởng dưỡng bốn áp dụng của tỉnh thức,
bốn chánh tinh tấn, và bốn chi của hành động kỳ diệu,
hành giả thành công trong việc loại bỏ những nhiễm ô thô
nặng gây ra đau khổ luân hồi và đạt được những phẩm
tính thiện của siêu tri kiến và “đại định của dòng
Pháp” dẫn đến con đường tích lũy.
CON
ĐƯỜNG TRƯỞNG DƯỠNG (sgom lam): Cái thứ tư của năm con
đường, trong đó hành giả trau dồi và tu hành những thực
hành cao hơn của một Bồ tát, đặc biệt làtám phương diện
của con đường các bậc tôn quý.
CON
ĐƯỜNG VÀ BHUMI (sa lam): năm con đường và thập địa bồ
tát.
CÕI
THẤP (ngan song): Ba cõi: địa ngục, ngạ quỷ, và súc sinh.
CÕI
THIỀN CỦA CHƯ THIÊN (lha’i bsam gtan gyi ris): Một trạng thái
thiền định của tâm tập trung với sự quy chiếu không dẫn
đến giải thoát mà tái sanh là một vị trời trong cõi sắc
giới, phát sinh qua những tập trung tâm thức như thế.
DẤU
ẤN CHÍNH VÀ PHỤ (mtshan dpe): Ba mươi hai hảo tướng chính
và tám mươi vẻ đẹp phụ là sự đặc tính hóa tối ưu
của thân tướng viên mãn một hóa thân hay báo thân Phật.
Một đấng cai quản vũ trụ (chuyển luân thánh vương) cũng
được nói là có những tướng tương tự.
DAKA:
Dũng thức nam (giống như dakini)
DAKINI
(mkha’ ‘gro ma): Không hành nữ, một trong ba gốc, những bậc
tâm linh đáp ứng những hoạt động giác ngộ, những Bổn
Tôn tantric nữ, bậc bảo vệ và phục vụ Giáo Pháp Đức
Phật và hành giả.
DHARMA
(chos) Giáo Pháp, giáo lý của Đức Phật; đôi khi dharma có
nghĩa hiện tượng hay đối tượng tâm linh, cũng như thuộc
tính hay phẩm tính.
DHARMAPALA
(chos skyong): Những phi nhân nguyện bảo vệ và canh giữ giáo
lý của Đức Phật và những người đi theo Phật. Những Dharmapala
có thể thuộc “thế gian” như những sinh linh đạo đức
của luân hồi, hoặc “những Hộ Pháp trí tuệ”, là những
hóa thân lưu xuất của chư Phật và Bồ tát.
DHARMATA
(chos nyid): Pháp tánh, bản tánh bẩm sinh của tâm và hiện
tượng.
DÒNG
TRUYỀN NGHE (nyan brgyud): Dòng truyền giáo lý miệng từ vị
Thầy đến đệ tử.
DZOGCHEN
(rdzogs pa chen po, rdzogchens; Phạn, mahasandhi, maha ati, Đại Viên
Mãn):, là giáo lý vượt lên những Thừa nguyên nhân, cao nhất
trong những tanra nội của Phái Nyingma (Mũ đỏ), được dạy
đầu tiên trong thế giới loài người bởi bậc vidyadhara vĩ
đại Garab Dorje. Dzogchen là pháp tối thượng của tất cả
tám vạn bốn ngàn pháp môn uyên thâm. Nó là sự nhận biết
của Đức Phật Phổ Hiền, chính xác như nó là. Những khía
cạnh của trí tuệ và phương tiện của Dzogchen được biết
là trekcho và thogal.
GIAI
ĐOẠN THÀNH TỰU (rdzogs rim): Giai đoạnthành tựu với những
biểu hiện có nghĩa những thực hành yoga như nội hỏa (tummo).
Giai đoạn thành tựu không có biểu hiện là sự thực hành
của Dzogchen.
GIAI
ĐOẠN PHÁT TRIỂN (bskyed rim; Phạn, utpattikrama): Một trong hai
phương diện của thực hành Kim Cương Thừa đó là tạo ra
một hình ảnh tâm linh thanh tịnh để tịnh hóa tập khí.
Tinh hoa của giai đoạn phát triển là “nhận thức thanh tịnh”
hay “quan điểm sùng kính”, có nghĩa nhận biết sắc tướng,
âm thanh và niệm tưởng như Bổn Tôn, mantra và trí tuệ.
GIÁC
NGỘ (byang chub, Phạn, bodhi): Thông thường như trạng thái
Phật quả được đặc tính hóa bằng sự viên mãn tích lũy
công đức và trí tuệ, và nhờ tẩy trừ hai che chướng, nhưng
đôi lúc cũng chỉ cho sự giác ngộ của những phạm vi thấp
như một A la hán hay Bích chi Phật.
GIÁC
NGỘ RỐT RÁO (byang chub mchog, byang chub snying po): Như Phật
quả.
GIÁC
NGỘ VÔ THƯỢNG (bla na med pa’i byang chub): Phật quả hoàn
toàn viên mãn.
GIẢI
THOÁT (thar pa): Thoát khỏi luân hồi.
GIẢI
THOÁT CÁ NHÂN (so sor thar pa; Phạn, pratimoksha – biệt giải
thoát): Bảy bộ giới luật cho người thường, thọ nhận
theo luật tạng của Hinayana. Giới nguyện cho cận sự nam và
nữ, giới nguyện cho sa di và sa di ni, thêm vào những giới
nguyện thử thách cho sa di ni như một bước tiến đến việc
thọ cụ túc giới; giới luật của một tỳ khưu ni (bhikshuni):
cũng như của tỳ khưu. Có tám loại khi nhận giới nguyện
ăn kiêng chỉ ăn ngày một bữa. Giới luật của giải thoát
cá nhân là chuẩn mức đạo lý căn bản của đạo đức đó
là nền tảng chung cho một thực hành của đạo Phật.
GIÁO
LÝ ĐẠI THỪA (theg pa chen po’i chos): Giáo lý của Đức Phật
được kết tập trong lần chuyển pháp luân lần thứ hai và
ba và những luận giảng về chúng của các đại học giả
Ấn Độ và Tây Tạng.
GIỌNG
NÓI PHẠM THIÊN (tshang pa’i dbyang): Giọng nói được phú cho
những phẩm tính hoàn thiện của Phạm Thiên, vị vua của
chư thiên.
GỐC
RỄ ĐẠO ĐỨC (dge ba’i rtsa ba): Hành động thiện.
GURU
(bla ma): Vị thầy tâm linh.
GURU,
YIDAM VÀ DAKINI (bla ma yi dam mkha’ ‘gro): Ba gốc của thực
hành Kim Cương Thừa: guru là gốc của ân phước, yidam là
gốc của thành tựu, dakini là gốc của hoạt động
HAI
BẬC VÔ NGÃ (bdag med gnyis): Không có tự tính trong bản ngã
cá nhân cũng như trong mọi hiện tượng.
HAI
TÍCH LUỸ (tshog gnyis): Sự tích luỹ công đức bằng khái niệm
và trí tuệ vượt trên khái niệm.
HÀNG
TỈ TỈ VŨ TRỤ (stong gsum ‘jig rten gyi khams): Phạm vi của
một hóa thân siêu phàm dung thông trong một tỉ Núi Tu Di, mà
một Núi Tu Di được bao quanh bởi bốn châu lục và những
rặng núi.
HÀNH
GIẢ TANTRIC (sngags pa): Một người đã nhận quán đảnh, tiếp
tục thực hành nghi quỹ và giữ cam kết.
Hãy
giữ tinh túy trí tuệ bất biến này, xuất hiện trong hư không,
HỆ
THỐNG KẾT QUẢ CỦA KIM CƯƠNG THỪA (‘bras bu gsang sngags):
Hệ thống Kim Cương Thừa nhận kết quả là con đường nhờ
xem Phật tánh là hiện diện vốn sẵn và con đường là khai
mở trạng thái nền tảng của hành giả. Điều này khác với
“Thừa triết học nguyên nhân” của Đại Thừa và Tiểu
Thừa xem con đường là sự dẫn đến và tạo ra trạng thái
Phật quả. Một cách cơ bản, hai tiếp cận này không mâu
thuẫn. Xem Kim Cương Thừa.
HIỆN
TƯỢNG (chos, snang ba): Bất cứ những gì có thể kinh nghiệm,
biết hay tư duy.
HINAYANA
(theg pa dman pa): Thừa chú tâm thiền quán về tứ điệu đế
và thập nhị nhân duyên vì mục đích giải thoát cá nhân.
Hư
không rỗng rang vĩ đại của chân như thanh tịnh như bầu
trời.
HỘ
PHÁP (chos skyong): Vị bảo vệ giáo lý Đức Phật.
HỌC
PHÁI TRIẾT HỌC (grub mtha’): Bốn học phái hay tư duy Phật
giáo là: Vaibhashika (Thắng Luận Tông), Sautrantika (Kinh Lượng
Bộ), Cittamatra (Duy Thức Luận), và Madhyamaka (Trung Quán Luận).
Hai cái trước thuộc Tiểu Thừa, và hai cái sau thuộc Đại
Thừa.
GIÁO
HUẤN KHẨU TRUYỀN TOÀN GIÁC (thams cad mkhyen pa): Đối nghịch
với truyền thống triết học kinh viện, những giáo huấn
khẩu truyền của dòng truyền thực hành là ngắn gọn và
súc tích nên chúng luôn có thể giữ được trong tâm; đó
là những lời giáo huấn rất thực tế và vì thế chúng là
những phương tiện hiệu quả giải quyết trực tiếp với
việc thực hành tịnh hoá những che chướng của hành giả
và tập hợp hai tích lũy.
HỎA
(drod): Cái đầu tiên trong bốn khía cạnh biết chắc trên
con đường kết hợp. Thân cận với trí tuệ như lửa của
con đường thấy biết nhờ sở hữu sự tập trung đồng quy
với trí tuệ biện biệt.
INDRA
(brgya byin): Thiên chủ của cõi dục giới. Ngài ở trên đỉnh
Núi Tu Di trong Cung Điện Toàn Thắng và cũng được biết là
Shakra, bậc cai quản chư thiên.
JAMPUVIPA
(dzam bu gling): Diêm phù đề, châu lục ở hướng nam Núi Tu
Di, trung tâm của thế giới trong vũ trụ học Phật giáo.
KAYA
(sku): Thân, trong ý nghĩa của một thân hay sự lưu xuất của
vô số phẩm tính.
KẾT
QUẢ CỦA HAI THÂN (sku gnis kyi ‘bras bu): Trạng thái Phật quảhoàn
tất và viên mãn bao gốm pháp thân và sắc thân, trong đó
sắc thân ám chỉ cả hai báo thân và hóa thân.
Khiến
tịnh hóa cái chết, trung ấm và tái sanh;
KIẾN,
THIỀN, HÀNH (lta ba sgom pa spyod pa): Định hướng triết học,
hành động phát triển thói quen đó, thường ngồi thực hành
và thực hành đầy đủ sự thấu suốt đó trong hoạt động
đời sống hàng ngày. Mỗi thừa của chín thừa có định
nghĩa riêng về kiế, thiền, hành.
KILAYA
(phur ba): Dao găm thiêng liêng sử dụng trong nghi lễ tantric.
KIM
CƯƠNG SƯ (rdo rje slob dpon): Một vị Thầy tantric tinh thông
ý nghĩa và nghi lễ của Kim Cương Thừa. Vị Thầy từ đó
hành giả nhận được giáo lý tantric. Cũng có thể chỉ vị
Thầy chủ tọa một nghi lễ tantric.
KINH
NGHIỆM VÀ NHẬN BIẾT (nyams rtog): Một diễn tả dùng cho sự
thấu suốt và tiến bộ trên con đường. Kinh nghiệm ám chỉ
kinh nghiệm tạm thời của thiền định, và nhận biết để
bất biến sự hiểu biết về bản chất của sự vật.
KLESHAS
(nyon mongs pa): Phiền não.
KỶ
LUẬT (tshul khrims): Hãy xem nguyện và giới luật.
Là
chủng tử nhân quả khiến sản sinh mọi sự.
Là
hạt giống cho thân kim cương và hóa thân,
Là
hạt giống của ngữ kim cương và báo thân,
Là
hạt giống của tâm kim cương và pháp thân,
Là
hạt giống của trí tuệ kim cương và svabhavikakaya (thân tinh
túy).
Làm
trưởng thành chính con, tụ hội những người đi theo nhờ
sự rộng lượng.
Làm
vui thích họ với lời lẽ dịu dàng, và an ủi họ bằng việc
thích hợp.
LÃNH
VỰC NHẬN THỨC (skye mched): Ở đây ám chỉ trạng thái của
tâm trong bốn cõi vô sắc.
Lưu
xuất sự huyền diệu của lòng bi, một tánh giác sáng soi
như mây tỏa khắp.
MAHADEVA
(lha chen): Một dạng của Thần Shiva.
MAHAMUDRA
(phyag rgya chen po): Trong phạm vi sách này, hoặc mahamudra ám
chỉ sự thành tựu tối thượng của mahamudra (đại ấn),
đồng nghĩa với toàn giác, hoặc thân mahamudra của Bổn Tôn
Yidam, đã nhắc đến ở trên.
MAHANIRVANA
(mya ngan las ‘das pa chen po): Đại niết bàn, trạng thái an
trụ của Phật quả cuối cùng không trong luân hồi và cũng
không giống như trạng thái niết bàn thụ động của một
A la hán.
MAHASANDHI
(Phạn, rdzogs pa chen po): Đại Viên Mãn.
MAHAYANA
(theg pa chen po): Thừa của Bồ Tát nỗ lực đạt toàn giác
vì mục đích giải thoát tất cả chúng sanh. Đại Thừa có
hai phương diện: kinh (sutra), nhấn mạnh đến giáo lý sâu
rộng và mantra, nhấn mạnh đến sự uyên thâm. Sự giải thích
chi tiết về sutrayana (hiển giáo), hãy xem quyển Abhisamayalamkara
của Maitreya hoặc Viên Ngọc Trang Hoàng Của Sự Giải Thoát
của Ngài sGam.po.pa, do Hernert V. Guenther phiên dịch (Nhà xuất
bản Shambala, Boston, 1989).
MAHESHVARA
(dbang phyug chen po): Một trong những vị Thần chính của Ấn
Độ giáo (Hindu).
MANDALA
(dkyil ‘khor): Nghĩa đen là “trung tâm và chung quanh”, thông
thường, một Bổn Tôn cùng với những hoàn cảnh chung quanh.
Mandala là một biểu tượng đại diện cõi của một Bổn
Tôn tantric, toàn thể vũ trụ được quán tưởng như một
cúng dường, và cũng là sự sắp xếp của sự cúng dường
trong nghi lễ mật tông.
MANTRA
(sngags): [1] Đồng nghĩa với Kim Cương Thừa. [2] Một kết
hợp đặc biệt của âm thanh biểu tượng và liên thông với
bản thể của một Bổn Tôn: ví dụ OM MANI PADME HUNG. Có ba
loại chủ yếu: guhya mantra, vidya mantra, và dharani mantra.
MANTRA
BÍ MẬT (gsang sngags; Phạn, Guhyamantra): Đồng nghĩa với Kim
Cương Thừa hay giáo lý tantric. Guhya có nghĩa bí mật, gồm
cả hai sự che dấu và tự-bí mật. Mantra trong phạm vi này
có nghĩa xuất chúng, lỗi lạc hay lời nguyện tán thán quý
giá.
MANTRA
SHUNYATA (shu nya ta’i sngags): Mantra của Tánh Không: OM SVABHAVA
SHUDDHO SARVA DHARMA SVABHAVA SHUDDHO HAM.
MANTRA
VÀ TRIẾT HỌC: Mantra có nghĩa Kim Cương Thừa, trong khi thừa
triết học gồm Tiểu thừa và Đại thừa.
MANTRADHARA
(sngags ‘chang): Người thành thạo về nghi lễ tantric.