THỰC
HÀNH PHÁP VỚI SỰ CHÂN THÀNH
Đạo
sư Padma nói: Nếu con muốn thực hành Pháp từ cốt lõi
lòng con thì có một cách.
Công
chúa Tsogyal hỏi: Đó là cách gì?
Đạo
sư nói: Khi nhập mình vào sadhana, hãy thoát khỏi tham
và sân.
Khi
con nghiên cứu trong đường lối đúng, hãy mặc áo giáp nhẫn
nhục.
Khi
ở trong những chốn ẩn cư, chớ dính mắc vào thức ăn và
của cải.
Nếu
con khao khát Pháp dẫn tới chứng đắc, hãy theo một Đạo
sư đã đạt được thành tựu.
Nếu
con đã gặp một vị Thầy cao cả, chớ làm ngược lại Ngài
mà hãy cố gắng tốt nhất để làm vừa lòng Ngài.
Khi
con cảm thấy nghi ngờ về Pháp, hãy hỏi Đạo sư của con
để có được lời khuyên bảo.
Khi
bà con thân thuộc chống lại con, hãy cắt đức mối ràng
buộc dính mắc của họ với con.
Hãy
ném bỏ sự xao lãng do những chướng ngại hay ma quỷ.
Hãy
thực hành tức thời không trì hỗn.
Chớ
mong muốn tụ họp mà hãy ở trong đơn độc.
Những
bạn bè và của cái, thân thuộc và đồ vật, tất cả
đều huyễn, thế nên hãy bỏ chúng.
Tham
luyến và hung hăng sẽ sinh ra nếu con ở chung với những người
khác.
Hãy
sống một mình và dấn thân vào thực hành tâm linh.
Nhiều
thứ tiêu khiển sẽ chỉ làm gián đoạn sự thực hành của
con, thế nên hãy từ bỏ chúng.
Bất
luận thế nào, người không thể dấn thân vào thực hành
tâm linh sẽ không tìm ra hạnh phúc chân thực.
GIỮ
GÌN NHỮNG CAM KẾT THỆ NGUYỆN (SAMAYA)
Đạo
sư Padma nói: Khi thực hành Pháp, con phải giữ gìn những cam
kết thệ nguyện. Có vẻ người ta chỉ vi phạm những cam
kết thệ nguyện bởi vì họ không thể chịu đựng khó nhọc.
Công
chúa Tsogyal: Điều ấy nghĩa là gì?
Đạo
sư nói: Có những người vi phạm giữ bí mật về Đạo sư
của họ, tuyên bố mình là người học Đạo, và chỉ quảng
cáo sự tu hành của mình.
Có
những người vi phạm có ý định làm một cúng dường cho
Đạo sư của họ và rồi đổi ý, giữ đồ cúng dường lại
một cách dối trá như một phần của tài sản của họ.
Có
những người vi phạm lừa gạt cả Thầy lẫn bạn đạo của
họ.
Có
những người vi phạm gièm pha vị Thầy từ ái của họ và
rồi khoe khoang tiếng tăm của họ.
Có
những người vi phạm phóng chiếu những lỗi lầm riêng của
mình lên vị Thầy và còn tự cho là có cam kết thệ nguyện
thanh tịnh.
Có
những người vi phạm nghĩ rằng họ có thể phê phán tấm
gương đời sống không thể phê phán của Thầy họ.
Có
những người vi phạm nói lên những đức hạnh của Thầy
họ cho những người khác nhưng mục đích lại nhắm vào sự
cạnh tranh với Ngài.
Có
nhiều người ương ngạnh tuyên bố họ có hiểu biết mà
lại không từng nghe những giáo lý tuyên bố họ đã chín
thành quả mà không từng nhận truyền pháp và tuyên bố họ
có những giáo huấn khẩu truyền mà thật sự chưa nhận được
chúng. Như vậy, chỉ có một ít người nhận được những
ban phước và thần lực gia hộ.
NIỀM
TIN BỀN VỮNG
Đạo
sư Padma nói: Khi thực hành Pháp, chỉ có niềm tin bền vững
là rất quan trọng. Có mười nguyên nhân khởi lên niềm tin.
Công
chúa Tsogyal hỏi: Đó là những nguyên nhân nào?
Đạo
sư nói: Hãy nhận biết rằng những hành động, lợi và danh
hiện tại của mình không chứa đựng hạnh phúc.
Hãy
tin vào nhân quả của những hành động thiện, ác.
Hãy
cảm thấy mệt mỏi chán ngán (với sanh tử) trong khi nhớ
rằng con sẽ chết.
Hãy
hiểu rằng tài sản, của cải, vợ con và thân thuộc là không
quan trọng vì họ sẽ không theo con qua cái chết.
Hãy
hiểu rằng con không có quyền chọn lựa nơi chốn trong đời
tới của con, vì không chắc chắn con tái sanh ở đâu.
Hãy
nhận biết rằng không thực hành Pháp không đã có được
một thân người trọn vẹn con sẽ rời bỏ đời này với
hai bàn tay trắng.
Hãy nhận biết rằng bất kể nơi nào con sanh ra trong sáu cõi
sanh tử con cũng không bao giờ vượt khỏi khổ đau.
Hãy
nghe về những phẩm tánh cao siêu của Tam Bảo.
Hãy
thấy biết những hành động đặc biệt của vị Thầy thiêng
liêng là những phẩm tánh tốt đẹp.
Hãy
tụ họp với những bạn đạo tốt họ trung thành với đức
hạnh.
Người
nào nhớ hay làm khởi lên những điều này sẽ ra khỏi sanh
tử. Nhưng có phải chỉ làm khởi lên một điều thôi cũng
là khó khăn ư?
MƯỜI
BA SỰ TỪ BỎ
Đạo
sư Padma nói: Nếu con muốn thực hành Pháp từ cốt lõi trái
tim mình, con phải có mười ba loại từ bỏ.
Công
chúa Tsogyal hỏi: Đó là những điều gì?
Đạo
sư nói: Nếu con không thể từ bỏ quê hương con không thể
đánh bại Ma kiêu mạn.
Nếu
con từ bỏ những hoạt động của một gia chủ con sẽ không
tìm ra thời giờ để thực hành Pháp.
Nếu
con không thực hành Pháp khi con cảm thấy niềm tin con sẽ
không chấm dứt được dòng nghiệp.
Khi
chính con không có niềm tin, thì đừng chê trách những người
khác.
Nếu
con không thể bỏ những thứ sở hữu của mình, con sẽ không
thể đoạn dứt được những công việc thế gian.
Nếu
con không xa cách thân thuộc, con sẽ không dứt được dòng
tham luyến và sân hận.
Nếu
con không thực hành Pháp ngay bây giờ, không chắc chắn con
sẽ tái sanh ở đâu trong đời tới.
Nếu
con ước nguyện làm điều gì trong tương lai thay vì làm nó
ngay bây giờ khi đang có cơ hội, không chắc bao giờ cơ hội
lại xảy ra.
Chớ
lừa dối mình, hãy cắt đứt những tham vọng của con và
hãy thực hành Thánh Pháp.
Hãy
từ bỏ thân thuộc và bạn bè, người thương yêu và tài
sản. Nếu con làm nhu vậy ngay bây giờ, điều đó là ý nghĩa
nhất.
Chớ
xúc tiến một địa vị xã hội không đức hạnh mà chắc
chắn con không thể mang theo vĩnh viễn, hãy xúc tiến những
hành động đức hạnh chắc chắn không thể không làm.
Chớ
làm những chuẩn bị cho ngày mai không hẳn sẽ cần thiết,
thay vì thế hãy dấn thân vào việc chuẩn bị cho cái chết
bằng sự thực hành tâm linh. Đó là điều thực sự cần
thiết.
Nếu
con nỗ lực trong việc thực hành Pháp, con không cần phải
lo nghĩ về thực phẩm và áo quần, chúng sẽ tự động có.
Ta chưa bao giờ nghe hay thấy ai chết vì đói trong khi thực
hành Pháp.
MƯỜI
BA VIỆC QUAN TRỌNG
Đạo
sư Padma nói: Để thực hành Pháp một cách thành thật, con
phải thực hành mười ba việc quan trọng này.
Công
chúa Tsogyal hỏi: Đó là những việc gì?
Đạo
sư nói: Quan trọng là theo học một Đạo sư có phẩm
tánh tốt.
Quan
trọng là theo học một thời gian dài một Đạo sư có những
giáo huấn khẩu truyền.
Quan
trọng là có lòng sùng mộ kiên định vào Tam Bảo cao cả.
Quan
trọng là tránh hành vi không đức hạnh và xấu xa dù tinh
tế nhất.
Quan
trọng là suy nghĩ về vô thường ba lần trong ngày và ba lần
trong đêm.
Quan
trọng là tinh tấn trong việc thực hành Pháp đức hạnh.
Quan
trọng là nuôi dưỡng từ bi cho mọi chúng sanh trong mọi thời
điểm.
Quan
trọng là dứt bỏ sự bám chấp vào những hình tướng và
vật chất một cách thiện xảo.
Quan
trọng là có được xác tín vào những giáo lý khẩu truyền
là thể sai lầm.
Quan
trọng là giữ gìn những cam kết và thệ nguyện theo cách
đúng đắn.
Quan
trọng là thông tỏ tự tâm của con.
Quan
trọng là không tiết lộ những giáo huấn bí truyền cho những
người không thích hợp.
Khi
thực hành, quan trọng là tự mình nỗ lực và ở trong những
chốn hẻo lánh.
Khi
con thực hành những điều này, sự thực hành Pháp của con
sẽ thành công.
CÁCH
THỨC CỦA PHÁP
Đạo
sư Padma nói: Nếu con muốn thực hành Pháp, đây là cách thức.
Công
chúa Tsogyal hỏi: Người ta phải làm gì?
Đạo
sư nói: Nếu con muốn tri giác nghĩa của pháp tánh, con phải
theo một Đạo sư.
Nếu
con mong muốn thoát khỏi sanh tử, con phải từ bỏ đời sống
của một người chủ gia đình.
Nếu
biết rõ rằng con phải chết, con phải thực hành Pháp.
Nếu
mong ước thực hành bất nhị, con phải từ bỏ những hoạt
động.
Nếu
muốn hoàn thiện những phẩm tính tốt, con phải hoàn thành
những thực hành.
Nếu
muốn xua tan đau khổ, con phải từ bỏ những tín đồ và
quyến thuộc.
Nếu
muốn đạt được kinh nghiệm, con phải thường xuyên nhập
thất trên núi.
Nếu
muốn thoát khỏi bám luyến, con phải từ bỏ quê hương.
Nếu
muốn nhìn một cảnh tượng, con phải nhìn vào tấm gương
trong sáng của tâm con
Nếu
muốn thành tựu, con phải sùng kính guru, yidam và dakini trên
đầu con.
Dường
như chưa có ai thực hành thật sự những giáo lý của giải
thoát.
SỰ
KIÊN NHẪN
Đạo
Sư Padma nói: Khi thực hành Pháp từ tận đáy lòng, con phải
có sự kiên trì nhất.
Bà
hỏi: Thưa, điều này có nghĩa gì?
Vị
Thầy nói: Bạn bè và con cháu, thực phẩm và tài sản, tất
cả đều là ảo ảnh, vậy hãy từ bỏ chúng.
Trò
giải trí, thanh danh và những hoàn cảnh tốt đẹp, tất cả
đều là những che chướng nghiêm trọng, vậy hãy từ bỏ
chúng.
Tình
bạn, quyến thuộc và người hầu, tất cả đều là gốc
rễ của luân hồi gây nên bám luyến và sân hận, vậy hãy
từ bỏ chúng.
Năm,
tháng, ngày, và giờ tất cả đều làm ngắn lại thời gian
còn lại trước cái chết, vậy hãy nhanh chóng thực hành.
Người
không kiên nhẫn và không có mục đích đúng đắn họ xem
thân nhân, thực phẩm, tài sản và con cháu là quan trọng.
Họ xem sự giải trí tiêu khiển là hoàn cảnh tốt đẹp.
Họ xem tình bạn là vui sướng. Không để ý đến năm, tháng,
ngày trôi qua, họ chỉ ngồi đếm chiều dài cuộc sống. Vào
lúc chết, họ phải tự mình lèo lái.
SỰ
KHÓ KHĂN CỦA VIỆC THỰC HÀNH PHÁP
Đạo
Sư Padma nói: Thật sự là khó thực hành Pháp.
Bà
hỏi: Thưa, như vậy có nghĩa gì?
Vị
Thầy nói: Chấp giữ tà kiến là nguy hiểm.
Thiền
định bị sai lạc do tạo tác của tâm thức.
Kẻ
địch tệ nhất là phá hỏng samaya.
Hành
bị lừa gạt vì những hành vi bất thiện của thân, khẩu,
ý.
Giáo
lý bị hủy hoại vì quá nhiều tham vọng.
Pháp
bị tàn lụi do ham đạt được giàu có.
Giới
nguyện bị hư hỏng do chỉ trích những người khác.
Con
đường bị lầm lạc vì chấp đau khổ là có thật.
Tính
khiêm tốn bị mất vì thèm muốn những sự vật hấp dẫn.
Mục
đích bị sai lạc do tất cả danh lợi của cuộc sống này.
Những
vị thầy không thực hành Pháp đều lúng túng và những thiền
giả như vậy đều chán nản thất vọng.
NHỮNG
CÁCH ĐỂ CẢM THẤY THONG DONG
Vị
Thầy nói: Có những cách làm thong dong nếu con biết làm như
thế nào.
Bà
hỏi: Mong Thầy giải nghĩa!
Vị
thầy nói: Khi thoát khỏi trụ bám nhị nguyên, kiến được
thong dong.
Khi
thoát khỏi hôn trầm, trạo cử, và xao lãng, thiền định
được thong dong.
Khi
bám luyến được tịnh hóa như hư không, hạnh được thong
dong.
Khi
tâm con thoát khỏi buồn khổ, nơi cư trú của con cảm thấy
thong dong.
Khi
thiên chấp được thanh lọc, lòng bi được thong dong.
Khi
trụ bám được tịnh hóa, sự bố thí được thong dong.
Khi
biết thực phẩm và của cải là huyễn ảo, hoan hỷ được
thong dong.
Khi
không có dáng điệu kiêu mạn, những hoạt động hàng ngày
của con được thong dong.
Khi
không sống cuộc đời của một gia chủ bị đau khổ dẫn
dắt, sinh nhai được thong dong.
Khi
không đua tranh theo những phẩm tính tôn quý, tình bạn được
thong dong.
Khi
thoát khỏi cách cư xử ấu trĩ và chấp ngã, người ta được
thong dong.
Khi
đi theo một vị Thầy tôn quý có lòng bi và những hướng
dẫn khẩu truyền, người ta được thong dong.
Khi
hiểu rằng bản tánh Như Lai đều hiện diện trong sáu loại
chúng sanh, con thong dong cảm thấy họ là những thân nhân thân
thuộc.
Khi
cắt đứt bám luyến, con làm bất cứ gì đều thong dong.
Khi
những hình tướng và hiện hữu giải thoát tự nhiên, sự
phát hiện đại lạc được thong dong.
Khi
con biết âm thanh sắc tướng là như huyễn, việc dứt bỏ
đau khổ được thong dong.
Khi
con nhận ra bản lai diện mục, việc thoát khỏi nỗ lực và
cố gắng được thong dong.
Khi
tư tưởng được nhận ra là pháp tánh, con thong dong sử dụng
những gì con thấy như là thiền định.
Hiểu
được những điều này, con sẽ thong dong khi làm bất cứ
điều gì.
Chúng
sanh của thời buổi đen tối chẳng buông bỏ chấp ngã nên
không hạnh phúc. Tất cả họ đều đáng thương.
NHỮNG
CÁCH HẠNH PHÚC
Vị
Thầy nói: Nếu con có thể đi theo những hướng dẫn khẩu
truyền này, thì có những cách để được hạnh phúc.
Bà
hỏi: Thưa, chúng con nên làm gì?
Vị
Thầy nói: Vì vũng lầy bám luyến và chấp thủ không có đáy,
nếu từ bỏ quê hương con sẽ hạnh phúc.
Vì
sự học và tư duy về tri kiến là vô cùng, nếu chứng ngộ
tâm mình con sẽ hạnh phúc.
Vì
những chuyện trò trống rỗng thường tình không bao giờ cạn,
nếu giữ im lặng con sẽ hạnh phúc.
Vì
những hoạt động tiêu khiển của thế gian không bao giờ
ngừng, nếu ở nơi hoang vắng con sẽ hạnh phúc.
Vì
không bao giớ có kết thúc những hoạt động, nếu từ bỏ
hành động con sẽ hạnh phúc.
Vì
việc tích lũy của cải không bao giờ đem đến bằng lòng,
nếu buông bỏ bám luyến con sẽ hạnh phúc.
Vì
những kẻ thù không bao giờ có khuất phục, nếu chiến thắng
những cảm xúc phiền não của mình con sẽ hạnh phúc.
Vì
những thân nhân mà con gắn bó, nếu cắt đứt những liên
hệ con sẽ hạnh phúc.
Vì
gốc rễ luân hồi không bao giờ chịu đứt, nếu cắt đứt
chấp ngã con sẽ hạnh phúc.
Vì
những tư tưởng và khái niệm không bao giờ cạn, nếu cắt
đứt hoạt động của tư tưởng con sẽ hạnh phúc.
Nói
chung, những chúng sanh không thoát khỏi chấp ngã đều không
hạnh phúc. Họ đau khổ lâu dài trong các cõi sinh tử luân
hồi.
ĐI
LẠC ĐƯỜNG
Đạo
Sư Padma nói: Có nhiều hành giả đi lạc và trở thành người
thường sau khi đã thọ giới nguyện.
Bà
hỏi: Thưa, thế có nghĩa gì?
Vị
Thầy nói: Hành giả (yogi) đi lạc đường khi nói
về kiến (cái thấy) mà không nhận biết bản tâm và tìm
nó trong mọi hướng.
Hành
giả đi lạc khi đè nén giam cầm tâm thức mình và vì không
hiểu nên đã thực hành “thiền định mê muội” vô ký.
Hành
giả đi lạc khi tuyên bố mọi sự đều là tâm và sau đó
dấn thân vào những hành vi phù phiếm.
Bà
hỏi: Thưa, người ta tránh đi lạc như thế nào?
Vị
Thầy nói: Hành giả không đi lạc khi nhận biết những hình
tướng là tâm và lấy pháp thân là con đường.
Hành
giả không đi lạc khi cắt đứt mọi tạo tác của tâm và
có xác tín của kiến.
Hành
giả không đi lạc khi áp dụng điều này vào thực hành và
lấy tánh giác làm con đường.
Hành
giả không đi lạc khi hiểu rằng những hình tướng biểu
hiện là những người trợ giúp và thoát khỏi bám luyến,
chấp thủ.
Bất
luận thế nào, trong thời buổi suy đồi phần lớn hành giả
đi lạc đường. Chỉ có một số ít người đi đúng hướng.
MỘT
SỐ ĐIỀU KHÔNG THỂ TRÁNH KHỎI
Đạo
Sư Padma nói: Khi thực hành Pháp, một số điều quan trọng
không thể tránh được.
Bà
hỏi: Thưa, điều đó có nghĩa gì?
Vị
Thầy nói: Khi nhận biết trí tuệ đồng khởi đang hiện diện
trong chính con, thì không cách nào thoát khỏi việc đạt giác
ngộ.
Khi
nhận ra đặc tính của luân hồi là đau khổ liên tục và
chuyển tâm con khỏi nó, thì không cách nào tránh được việc
giải thoát khỏi luân hồi.
Khi
không chấp vào thành kiến đối với những học phái triết
học, không cách nào tránh khỏi đạt được sự học uyên
bác vô biên.
Khi
con nhận ra đặc tính của luân hồi là đau khổ liên tục
và quay lại với nó, thì không cách nào tránh được việc
thoát khỏi luân hồi.
Khi
con không tách lìa với bám chấp và trụ định, thì không
cách nào tránh được việc rơi lại vào sinh tử luân hồi.
Vì
trí tuệ không có bất kỳ hình tướng cụ thể nào, khi con
biết cách làm trong sạch năm độc một cách tự nhiên, thì
không cách nào con có thể đọa địa ngục.
Ở
đây không có ai sở hữu được những phương pháp này, nên
tất cả sẽ phải lang thang trong luân hồi một thời gian dài.
KHÔNG
CHỨNG ĐẮC
Đạo
Sư Padma nói: Cách thực hành Pháp của người ta sẽ không
đem lại chứng đắc.
Bà
hỏi: Thưa, điều đó có nghĩa gì?
Vị
Thầy nói: Khi ban giáo lý, họ lạc vào sự huênh hoang và chê
bai.
Khi
học hỏi, họ lạc vào hy vọng và sợ hãi.
Khi
chủ tọa một bữa tiệc cúng dường, họ lạc vào tham chấp
thực phẩm và đồ uống.
Khi
thiền định, họ lạc vào hôn trầm và trạo cử.
Khi
tạo công đức, họ lạc vào việc tìm sự kính trọng và
lợi lộc.
Khi
đạt được sự khéo léo của hiểu biết, họ lạc vào tham
muốn lớn hơn.
Khi
liên kết với nhiều đệ tử, họ lạc vào căng thẳng trong
thực hành Pháp.
Có
quá nhiều hành giả đi ngược lại với Pháp trong bất kỳ
những gì họ làm.
SỰ
TỰ KIÊU
Đạo
Sư Padma nói: Những người gọi là hành giả ấy có tham vọng
lớn trong sự kiêu mạn và tự cao của họ.
Bà
hỏi: Thưa, điều đó có nghĩa gì?
Vị
Thầy nói: Một số người tự cao xem họ có hiểu biết trong
học và dạy.
Một
số người tự cao xem họ là người thành kính và đang thực
hành Pháp.
Một
số người tự cao xem họ là thiền giả sống cô độc trong
núi non.
Một
số người tự cao xem họ là có thần lực và những khả
năng vĩ đại.
Một
số người khao khát giống như một thú ăn thịt ngửi thấy
mùi máu khi họ thấy của cải hay đối tượng hấp dẫn.cắt
CẮT
ĐỨT SỰ PHỨC TẠP CỦA THIỆN VÀ ÁC
Đạo
Sư Padma nói: Khi thực hành Pháp, cần cắt đứt sự phức
tạp của những hành vi thiện và ác.
Bà
hỏi: Thưa, điều đó có nghĩa gì?
Vị
Thầy nói: Khi những ý niệm chấp ngã bị cạn kiệt, bấy
giờ không có Pháp, không hành động xấu, không nghiệp, và
không quả báo. Thế nên con đã cắt đứt được sự phức
tạp của hành động thiện ác.
Vì
vậy, chừng nào mà con chưa dứt niệm tưởng chấp ngã thì
những hành động bất thiện vẫn sẽ tích lũy nghiệp và
sinh quả cũng như những hành động thiện vẫn tích lũy nghiệp
và tạo ra quả.
Khi
những ý niệm bị cạn kiệt, sẽ không có sự tích lũy của
thiện hay ác và sẽ chẳng có kết quả nào xảy ra. Điều
này được gọi là “Sự cạn kiệt của những nguyên nhân
và điều kiện (nhân và duyên)”. Nó cũng được gọi là
“chân lý tuyệt đối.”
Trong
tương lai, khoảng 500 năm của thời đại suy thoái, một số
người sẽ buông mình vào những cảm xúc tiêu cực thô bạo,
vì không nhận ra sự chấp ngã và thất bại trong việc làm
giảm tư tưởng ý niệm.
Tự
nhận rằng mình đang nắm giữ kiến giải tuyệt đối, họ
sẽ tuyên bố rằng quan tâm đến những hậu quả của những
hành động thiện hay ác là một kiến giải thấp.
Coi
thường luật nhân quả, họ sẽ tuyên bố rằng tâm họ đã
giác ngộ.
Sẽ
có một số người hành động một cách phù phiếm và không
kiểm soát.
Hạnh
của họ bị hư hỏng sẽ dẫn dắt chính họ và người khác
đi lạc hướng.
Chớ
theo gương của họ dù chỉ trong một khoảnh khắc.
Ta,
Tsogyal, một phụ nữ ngu dốt, phụng sự vị Thầy hóa thân
trong một thời gian dài. Vào những dịp khác nhau, Ngài đã
ban khai thị về thực hành Pháp mà Ta luôn luôn khắc ghi trong
trí nhớ hoàn hảo của Ta, thu thập và viết lại vì lợi
ích của những thế hệ tương lai.
Vì
bây giờ chưa phải là thời điểm thích hợp để truyền
bá, Ta đã cất giấu những giáo huấn này như một kho tàng
quý báu. Cầu mong những người xứng đáng và đã được
định trước gặp được chúng.
“Chuỗi
giáo huấn vấn đáp” được ghi lại trong Hang Thượng tại
Chimphu vào ngày hai mươi lăm tháng thứ hai của mùa thu trong
Năm con Heo Cái.
Dấu
ấn kho tàng.
Dấu
ấn cất giấu.
Dấu
ấn giao phó.
KIM
CƯƠNG SƯ VÀ BỔN TÔN YIDAM
Những
lời chỉ dạy cho công chúa Tsogyal
Những
giáo huấn khẩu truyền về Kim Cương Thừa .
Những
câu hỏi và đáp về những tính cách của một vị Thầy
Và
làm sao thiền định về một Bổn Tôn Yidam.
NAMO
GURU
Trước
hết, Padmakara, Đại Đạo Sư từ Uddiyana, được sanh ra từ
một hoa sen. Tiếp theo Ngài thành tựu mức độ Vidyadhara đời
sống[30] . Cuối cùng Ngài đạt sự chứng đắc tối thượng
của Đại ấn (mức độ thứ ba của bốn mức độ Vidyadhara).
Ngài có thể thấy biết nhiều chu Như Lai như số sao trên
trời và thiện xảo trong những phương tiện bi mẫn.
Vì
lòng bi đối với Tây Tạng, một xứ sở không có Phật Pháp,
bị bao phủ trong tối tăm như một màn sương dày đặc, Ngài
đã đi đến đó. Ngài đã xây dựng chùa Samye Vinh Quang ở
Núi Đỏ để đáp ứng nguyện vọng của vua Trisen Deutsen,
một vị Bồ Tát ở vào địa thứ tám.
Ngài
thực hành Sadhana trong hang Dregu ở Chimpu và trụ trong thiền
định. Trong thời gian này, Vua Trisen Deutsen thường hay lui tới
hầu hạ Ngài và là thị giả của Ngài. Vairocana người xứ
Pagor dịch thuật tất cả giáo Pháp từ tiếng Uddiyana
sang tiếng Tây Tạng.
Những
người Tây Tạng học rộng và đức hạnh thỉnh cầu những
lời chỉ dạy của Đạo sư. Đặc biệt công chúa Tsogyal xứ
Kharchen đã kiên trì thỉnh cầu về những giáo huấn khẩu
truyền liên quan đến thực hành và làm thế nào để xóa
sạch những nghi ngờ của bà về Pháp.
Công
chúa Tsogyal hỏi Đạo sư: Thưa Đạo sư, Đạo sư và vị Thầy
là quan trọng nhất khi đi vào những giáo lý Mật Thừa. Vị
Đạo sư mà người ta theo phải có những tính cách gì?
Đạo
sư trả lời: Đạo sư và vị Thầy là quan trọng duy nhất.
Những tính cách của một Đạo sư là: Ngài đã tu hành tâm
thức mình, Ngài phải có nhiều giáo lý khẩu truyền, Ngài
phải học rộng và có kinh nghiệm trong thực hành và trong
thiền định. Ngài phải có tâm an định và thiện xảo trong
những phương tiện làm thay đổi tâm thức của những người
khác. Ngài phải có trí tuệ lớn và chăm sóc những người
khác với lòng đại bi. Ngài phải có lòng tin và sự sùng
mộ vĩ đại đối với Pháp. Nếu con theo một Đạo sư như
vậy, đó cũng giống như tìm thấy một viên ngọc như ý:
tất cả những nhu cầu và mong ước của con sẽ được đáp
ứng.
Công
chúa Tsogyal hỏi Đạo sư: Không nhận sự truyền Pháp từ
một Đạo sư, người ta có đạt được thành tựu hay không?
Đạo
sư trả lời: Nếu nỗ lực nghiên cứu đến đâu mà không
tham học với một vị Thầy và không nhận được những truyền
Pháp, con sẽ không có kết quả và những nỗ lực của con
sẽ bị phung phí.
Truyền
Pháp là cửa vào của Mật thừa. Đi vào Mật thừa mà không
có những truyền Pháp thì vô nghĩa, vì nó sẽ không dẫn đến
kết quả và dòng tâm thức của con sẽ bị hư tổn.
Công
chúa Tsogyal hỏi Đạo sư: Nếu bản thân một vị Thầy chưa
nhận được những truyền Pháp và vị ấy lại ban chúng cho
những người khác thì họ có nhận được những truyền Pháp
hay không?
Đạo
sư trả lời: Dù con có được một kẻ bịp bợm phong chức
vào hàng bộ trưởng và như thế có được quyền hành, con
sẽ chỉ gặp bất hạnh. Cũng thế, dù con có thể có được
một truyền Pháp từ một vị Thầy tự bản thân đã
chưa từng nhận nó, thì tâm thức con sẽ bị hư hại. Hơn
nữa con sẽ hủy hoại tâm thức của những người khác và
rớt vào các cõi thấp như một đàn gia súc đóng ách lại
với nhau cùng rơi xuống một vực thẳm. Bị khiêng đi trong
một hòm sắt không lối thoát, con sẽ bị đưa xuống đáy
địa ngục.
Công
chúa Tsogyal hỏi Đạo sư: Có phải sự cúng dường một phẩm
vật khi nhận được sự truyền Pháp chỉ là một cái gì
do Thầy tự sáng chế ra?
Đạo
sư trả lời: Tất cả mọi giáo lý và mọi tantra giải thích
rằng vào lúc này khi con may mắn sở hữu một thân người
sau vô số lang thang lạc lỏng trên những nẻo đường sanh
tử, con nên thoát khỏi ba lãnh vực của ý niệm đối tượng,
chủ thể và hành động, hãy cúng dường thân thể, đời
sống và chồng vợ của con cho Đạo sư, vị khai thị con đường
giác ngộ vô thượng.
Công
chúa Tsogyal hỏi Đạo sư: Tà hạnh phá vỡ mệnh lệnh khuyên
bảo của Đạo sư nghiêm trọng như thế nào?
Đạo
sư trả lời: Ác hạnh của ba cõi sanh tử cũng không sánh
bằng một phần của sự xấu ác khi phá vỡ mệnh lệnh khuyên
bảo của Đạo sư của con. Vì điều ấy con sẽ tái sanh trong
địa ngục Kim Cương Vô Gián và không tìm thấy giải thoát.
Công
chúa Tsogyal hỏi Đạo sư: Chúng con phải xem Đạo sư sở đắc
những giáo huấn khẩu truyền mà từ Ngài chúng con cầu xin
những lời chỉ dạy như thế nào?
Đạo
sư trả lời bằng bài kệ:
Con
phải biết rằng Đạo sư là quan trọng hơn
Chư
Phật của một trăm ngàn kiếp
Bởi
vì tất cả chư Phật của các kiếp
Có
xuất hiện ở đời là nhờ theo những Đạo sư
Sẽ
không bao giờ có vị Phật nào
Không
theo học một Đạo sư.
Đạo
sư là Phật, Đạo sư là Pháp
Như
vậy Đạo sư cũng là Tăng
Ngài
là hiện thân của tất cả chư Phật
Ngài
là bản tánh của Kim Cương Trì (Vajradhara)
Ngài
là gốc của Tam Bảo.
Hãy
giữ gìn lời dạy bảo của Kim Cương Sư
Không
phá hư dù một phần nhỏ lời Ngài
Nếu
phá vỡ sự dạy bảo của vị Thầy Kim Cương của con,
Con
sẽ rơi vào địa ngục Kim Cương Vô Gián
Nơi
đó sẽ không còn dịp may cho giải thoát.
Phụng
sự Đạo sư con sẽ nhận được những ban phước.
Công
chúa Tsogyal hỏi Đạo sư: Đạo sư hay Bổn Tôn Yidam, vị nào
quan trọng hơn ?
Đạo
sư trả lời: Chớ xem Đạo sư và Yidam là khác nhau bởi vì
chính Đạo sư là người đã đưa Bổn Tôn Yidam đến với
con. Bằng cách luôn luôn tôn thờ Đạo sư trên đỉnh đầu
của con, con sẽ được ban phước gia bị và những chướng
ngại của con sẽ được xua tan. Nếu con nhìn Đạo sư và
Yidam là khác nhau trong phẩm tính hay tầm mức quan trọng, thì
con đang bám giữ những tà kiến.
Công
chúa Tsogyal hỏi Đạo sư: Tại sao thực hành Bổn Tôn Yidam
là quan trọng?
Đạo
sư trả lời: Thiết yếu cần thực hành một Bổn Tôn Yidam
vì qua đó con sẽ đạt đến Ngài thành tựu (siddhi), những
chướng ngại của con được dẹp bỏ, con sẽ đạt được
những thần lực, nhận những ban phước và làm phát sanh chứng
ngộ. Bởi vì mọi phẩm tính này đến từ sự thực hành
Bổn Tôn Yidam, nếu không có Bổn Tôn Yidam con sẽ chỉ là
một người bình thường. Thực hành Bổn Tôn Yidam con đạt
được những thành tựu, thế nên thực hành Bổn Tôn Yidam
là thiết yếu.
Công
chúa Tsogyal hỏi Đạo sư: Khi thực hành một Bổn Tôn Yidam,
chúng con nên thiền định và thực hành như thế nào để
thành tựu?
Đạo
sư trả lời: Bởi vì phương tiện và trí tuệ là thực hành
thân, ngữ, tâm hiện diện tự nhiên qua phương pháp yoga sadhana,
chúng sẽ thành tựu bất kỳ con tiến hành những mặt nào
của sadhana với thân, ngữ, tâm. Chúng sẽ thành tựu khi sadhana
và trì tụng được thực hành tới mức đầy đủ.
Công
chúa Tsogyal hỏi Đạo sư: Chúng con nên tiếp cận Bổn Tôn
Yidam như thế nào?
Đạo
sư trả lời: Hãy thấu hiểu rằng con và Yidam là không hai
và không có Yidam nào ở ngoài chính con. Con tiếp cận Bổn
Tôn Yidam khi con thấu hiểu rằng bản tánh của con chính là
Pháp thân vô sanh.
Công
chúa Tsogyal hỏi Đạo sư: Một Bổn Tôn hiền minh hay một
Bổn Tôn phẫn nộ, Bổn Tôn Yidam nào tốt hơn để thực hành?
Đạo
sư trả lời: Bởi vì Phật và trí tuệ là thực hành thân,
ngữ, tâm hiện diện tự nhiên qua phương pháp yoga sadhana,
nên tất cả vô số chư Thiện Thệ, hiền minh hay phẫn
nộ, những nhân vật chính hay tùy tùng, quyến thuộc, biểu
lộ phù hợp với những chúng sanh cần được thuần hoá theo
cách thức nào cần thiết-hiền minh hay phẫn nộ, nhân vật
chính hay tùy tùng quyến thuộc. Nhưng vì các Ngài là đều
một vị trong trạng thái Pháp thân, nên mỗi người có thể
thực hành bất cứ Yidam nào mình (y) có khuynh hướng.
Công
chúa Tsogyal hỏi Đạo sư: Nếu chúng con thực hành một Bổn
Tôn Yidam thì có giống như thực hành tất cả các bậc
Thiện Thệ hay không?
Đạo
sư trả lời: Thân, ngữ, tâm của tất cả các Bổn Tôn
đều biểu lộ bởi ba thân phù hợp với tri giác của những
chúng sanh cần được thuần hoá. Thật ra, bất kể các vị
xuất hiện như thế nào, nếu con thực hành một vị tức
là con đang thực hành tất cả các vị. Nếu con thành
tựu một vị sẽ thành tựu tất cả các vị.
Công
chúa Tsogyal hỏi Đạo sư: Có lỗi lầm nào khi thực hành một
Bổn Tôn Yidam rồi lại thực hành một vị khác?
Đạo
sư trả lời: Dù các vị Thiện Thệ biểu lộ thành các loại
bộ tộc và hình thức khác nhau, từ những phương tiện thiện
xảo dễ hoá độ chúng sanh, thì trong thực tế các vị là
không thể phân chia, nhất như bình đẳng. Nếu con thực hành
tất cả các vị Phật với sự thấu hiểu bản tánh bất
khả phân của các Ngài, công đức của con sẽ tột bậc.
Nhưng nếu con thực hành khi vẫn xem các Bổn Tôn Yidam
là có những phẩm tính khác nhau mà con nên chấp nhận hay
khước từ, con sẽ bị che ám vô cùng. Không nên xem các Bổn
Tôn là tốt hay xấu, chấp nhận hay khước từ các Ngài. Nếu
không xem các Ngài như vậy, thì sẽ rất tốt khi con thực
hành dù là bao nhiêu vị.
Công
chúa Tsogyal hỏi Đạo sư: Qua việc thực hiện sự tiếp cận[31]
với một bậc Như Lai, chúng con sẽ thành tựu tâm của
tất cả chư Như Lai?
Đạo
sư trả lời: Bằng cách thực hành với một cái thấy bao
la và ở trong bản tánh bổn nhiên, con sẽ đạt được sự
vững chắc, an trụ trong một Bổn Tôn Yidam. Khi con hoàn thành
việc trì tụng, con sẽ thành tựu những hoạt động của
tất cả các bậc chiến thắng không trừ một vị nào bằng
cách chỉ bắt đầu khởi sự các hoạt động ấy.
Công
chúa Tsogyal hỏi Đạo sư: Nếu cái thấy (tri kiến) của người
ta thì cao, có thể không cần đến Bổn Tôn Yidam chăng?
Đạo
sư trả lời: Nếu con đạt được xác tín vào cái thấy đúng,
bấy giờ chính cái thấy đúng ấy là Bổn Tôn Yidam. Chớ
nhìn Bổn Tôn Yidam như một thân thể sắc tướng. Một khi
con chứng ngộ bản tánh của Pháp thân, con sẽ thành tựu
Bổn Tôn Yidam.
Công
chúa Tsogyal hỏi Đạo sư: Thân thể con nên xuất hiện như
mạn đà la của Bổn Tôn như thế nào và con nên tu hành hai
bộ tộc như thế nào?
Đạo
sư trả lời: Quán tưởng thân con là đại ấn[32] của
sắc tướng Bổn Tôn, tức là quán tưởng bản tánh của tâm
con trong sắc tướng của Bổn Tôn.
Bởi
vì bản tánh của tâm con biểu lộ trong nhiều cách khác nhau,
như những nhân vật chính và những tùy tùng quyến thuộc,
nhưng dù họ có xuất hiện ra sao, họ cũng đều là sự phô
diễn như huyễn hoá của tâm giác ngộ của Phật tánh.
Công
chúa Tsogyal hỏi Đạo sư: Những Bổn Tôn phẫn nộ dẫm đạp
lên các vị cao cả như Brahma (Trời Phạm Thiên), Indra (Trời
Đế Thích) và các hộ pháp bốn góc thế giới dưới chân
mình. Thiền định như vậy có phạm tội không?
Đạo sư trả lời: Việc ấy được bày tỏ như một tượng
trưng hay biểu thị để diệt trừ chấp ta và người, để
dẫm đạp những tư tưởng vào trong Pháp giới, và để sáng
chói hơn sự kiêu ngạo của những chúng sanh tự phụ. Xem
các thần đó như toà ngồi cụ thể là vô minh và lầm lẫn.
Công
chúa Tsogyal hỏi Đạo sư: Thiền định về những Bổn Tôn
có ba đầu và sáu tay hay chỉ một đầu và hai tay thì có
sự khác biệt nào về mức độ công đức?
Đạo
sư trả lời: Khi các Bổn Tôn phẫn nộ có nhiều đầu và
tay, ba đầu của các Ngài tượng trưng cho ba thân, sáu tay
tượng trưng sáu ba la mật, bốn chân tượng trưng bốn tâm
vô lượng và những thuộc tính của các Ngài tượng trưng
sự hủy diệt các sự xấu ác cũng như tượng trưng cho những
phiền não khác. Trong thực tế những sắc tướng này không
có bản chất nào cả, chúng đều vô tự tánh.
Khi
những Bổn Tôn con một đầu và hai tay. Cái đầu độc nhất
tương trưng Pháp thân bất biến và hai tay tượng trưng sự
hoàn thành lợi lạc của chúng sanh qua phương tiện và trí
tuệ. Hai chân các Ngài tượng trưng hư không và trí huệ,
vừa biểu lộ vừa thường trụ, cho lợi ích của hữu tình.
Dù con quán tưởng những Bổn Tôn như thế nào, pháp thân
thì siêu việt khỏi mọi khác biệt về phẩm tánh và số
lượng.
Công
chúa Tsogyal hỏi Đạo sư: Chúng con cần phải làm gì để
có một thị kiến về Bổn Tôn Yidam?
Đạo
sư trả lời: Chớ nhìn Bổn Tôn Yidam như một thân thể sắc
tướng, đó là Pháp thân. Sự thiền định về thân thể sắc
tướng này như biểu lộ từ Pháp thân và xuất hiện với
những màu sắc, thuộc tính, trang sức, trang phục, các tướng
chánh và phụ cần được thực hành như có thấy được nhưng
vô tự tánh. Nó cũng giống như bóng trăng trong nước. Khi
con đạt đến sự định tĩnh của tâm thức bằng cách thực
hành như thế, con sẽ có một thị kiến về Bổn Tôn, nhận
những lời dạy,v.v.. Nếu con bám chấp vào đó con sẽ đi
lạc và bị Ma bắt giữ. Chớ trở nên mê mẩn hay vui mừng
quá độ bởi các thị kiến như vậy bởi vì chúng chỉ là
những biểu hiện của tâm thức con.
Công
chúa Tsogyal hỏi Đạo sư: Nếu chúng con có một thị kiến
về một Bổn Tôn Yidam, có phải điều đó cũng như có một
thị kiến về tất cả các đấng Thiện Thệ?
Đạo
sư trả lời: Nếu con có một thị kiến về một Bổn Tôn
Yidam, đấy cũng như có một thị kiến về tất cả Bổn
Tôn bởi vì Pháp thân vượt khỏi số lượng.
Con
sẽ một thị kiến về bất kỳ Bổn Tôn nào con đang thực
hành bởi vì tâm thức con đang trở nên dễ dàng uốn nắn.
Bởi vì Bổn Tôn là một biểu lộ của tâm thức chúng ta,
nó không hiện hữu ở một nơi nào khác ngoài chính chúng
ta.
Công
chúa Tsogyal hỏi Đạo sư: Khi nói rằng người ta đạt đến
mức độ của một vị Vidyadhara, điều ấy nghĩa là sao?
Đạo
sư trả lời: Qua việc thiền định về thân thể con như là
một sắc tướng thân thể thiêng liêng (đại ấn) bằng trí
của tánh giác, con sẽ đạt đến Bổn Tôn của bản tánh
tâm đã được chứng ngộ. Bổn Tôn này có đầy đủ những
tướng chánh và tướng phụ và những tri giác siêu nhiên.
Đó là một sắc tướng đại ấn của bộ nào mà con đã
thực hành. Cái ấy gọi là Vidyadhara.
Công
chúa Tsogyal hỏi Đạo sư: Các Vidyadhara trụ ở đâu?
Đạo
sư trả lời: Vidyadhara (Trì Minh Vương) chính là tự tâm của
con đang trụ trong hình thức một vị Bổn Tôn, và nó trụ
theo cách không trụ vào ai cả. Có nói rằng một khi con đạt
đến một mức độ Vidyadhara , con sẽ vượt khỏi mọi sự
rơi trở lại.
Công
chúa Tsogyal hỏi Đạo sư: Chúng con nên tôn thờ vị Bổn Tôn
Yidam như thế nào?
Đạo
sư trả lời: Con phải tôn thờ vị Bổn Tôn Yidam bằng cách
không rời bỏ Bổn Tôn Yidam dù với cái giá của cuộc đời
con, bằng cách không giữ một nghi ngờ nào về Bổn Tôn Yidam,
bằng cách không tách lìa với Yidam dù một khoảnh khắc chứng
nào con chưa đạt được tâm vô thượng của giác ngộ. Bằng
cách quán tưởng Bổn Tôn khi con đi, đứng, nằm, ngồi, con
sẽ tự động nhận được những thành tựu và ban phước.
Công
chúa Tsogyal hỏi Đạo sư: có cần thiết thực hành Bổn Tôn
Yidam một cách liên tục không? Một khi đã thực hành một
phương pháp, có còn cần thiết để thực hành nữa không?
Đạo
sư trả lời: Khi trước tiên thực hành một Bổn Tôn Yidam
và sau đó là một bản văn sadhana, cho dù con có một thị
kiến về Bổn Tôn và nhận được những chỉ dạy, nếu con
gián đoạn sự thực hành thì đó là một trọng tội. Bởi
thế cần yếu là thực hành liên tục.
Công
chúa Tsogyal hỏi Đạo sư: Chúng con cần liên tục thực hành
sự tiếp cận và thành tựu Bổn Tôn Yidam như thế nào?
Đạo
sư trả lời: Khi thực hành một Bổn Tôn Yidam, con cần thực
hành giai đoạn phát triển trong mỗi thời. Hãy thực hiện
sự trì tụng trong mỗi thời, dâng cúng torma , tán thán và
cầu khẩn sự đáp ứng những ước muốn của con. Hãy đóng
dấu ấn lên sự thực hành với tánh Không và trong tánh Không,
bằng giai đoạn thành tựu.
Tốt
nhất hãy làm tám thời mỗi ngày, tốt hạng nhì là làm bốn
thời. Ít nhất hãy làm một thời mỗi ngày. Ít hơn nữa thì
không thể được. Qua đó, những thệ nguyện của con được
thực hiện và con sẽ nhận được những thành tựu.
Khi
con đạt được sự vững chắc trong giai đoạn phát triển
và thành tựu mà không lìa bỏ thân xác, con sẽ chín muồi
trưởng thành thành một Bổn Tôn. Đó gọi là mức độ trưởng
thành của Vidyadhara. Dù cho thân thể con vẫn là một người
bình thường, tâm con đã chín thành một Bổn Tôn. Điều như
cũng như một bức tượng được tạo hình trong cái khuôn.
Khi
bỏ thân đi vào trạng thái trung ấm, con trở thành Bổn Tôn
đặc biệt đó giống như bức tượng được lấy ra khỏi
khuôn. Đó gọi là mức độ đại ấn của Vidyadhara. Thân
thể của hành giả được gọi là một hộp chứa, và phút
giây thân thể được bỏ lại, hành giả trở thành hình thể
của Bổn Tôn Yidam.
Công
chúa Tsogyal hỏi Đạo sư: Tại sao một số Bổn Tôn được
biểu hiện có đầu thú vật trên thân thể? Thế có phải
thiền định về Bổn Tôn như có một hiện hữu bản chất?
Đạo
sư trả lời: Những Bổn Tôn biểu lộ với đầu thú vật
tượng trưng phẩm tính đặc biệt mà con thú đó có. Đấy
không phải là những Bổn Tôn hiện hữu một cách bản chất
và thực sự với đầu thú vật được thành tựu từ nơi
nào khác, các vị Bổn Tôn này là những biểu lộ của tự
tâm con.
Hóa
xuất từ những Bổn Tôn kết hợp là những con cái pha trộn
giống (tramenma) với những đầu thú vật, như những Bổn
Tôn Ăn Thịt và Giết Chết của Kilaya hay tám nữ thần pha
trộn (tramenma) của Yangdag. Cũng như một hỗn hợp của vàng
và bạc được gọi là một pha trộn (tramen), những Bổn Tôn
này được hoá xuất có thân của một Bổn Tôn với cái đầu
của một con thú. Các vị được hoá xuất giữa đại bi của
Bổn Tôn nam và trí tuệ của Bổn Tôn nữ, hay từ Bổn Tôn
nam là bản tánh của phương tiện và từ Bổn Tôn nữ là
bản tánh của trí tuệ. Tượng trưng hoạt động đặc biệt
mà các vị thực hành, các vị được biểu lộ với cái đầu
có phẩm tính đặc biệt ấy.
Công
chúa Tsogyal hỏi Đạo sư: Có mâu thuẫn không khi đặt những
Bổn Tôn siêu thế gian và thế gian cùng với nhau, như khi vị
Bổn Tôn chính là siêu thế gian được một đoàn tùy tùng
gồm những Bổn Tôn thế gian bao quanh?
Đạo
sư trả lời: Nhân vật chính siêu thế gian là một Bổn Tôn
trí tuệ. Giống như một đức vua quyền lực, Ngài đặt những
người kiêu căng dưới sự sai bảo của mình. Tùy tùng quyến
thuộc gồm những Bổn Tôn thế gian được quán tưởng ra
là những Bổn Tôn thực hiện những mệnh lệnh của Ngài,
thả các kẻ địch, ngăn chặn các lực lượng, v.v.. Siêu
thế gian và thế gian giống như một nhà vua và triều thần
của mình, thế nên không có gì mâu thuẫn.
Công
chúa Tsogyal hỏi Đạo sư: Thiền định và trì chú cái nào
quan trọng hơn trong sự thực hành hằng ngày?
Đạo
sư trả lời: Đối với sự hoàn thành thành tựu tối thượng
của Đại ấn, khi tâm thức con mềm dẻo dễ sử dụng, sự
tập trung của con sẽ mềm dẻo dễ sử dụng, và bấy giờ
thực sự con sẽ gặp hình thể của Bổn Tôn. Bằng cách nhận
biết rằng Bổn Tôn là tâm thức của chính con, ba thân sẽ
biểu lộ trong con.
Đối
với sự hoàn thành những thành tựu thông thường, những
hoạt động vô số như làm bình an, tăng ích, kính yêu, hàng
phục, v.v thì những thần chú là quan trọng nhất. Do đó hãy
hoàn thành đủ số biến trì tụng. Cho đến khi con chấm dứt
việc ẩn cư nhập thất, điều thiết yếu là không làm gián
đoạn sự thực hành của con bằng sự chuyện trò thường
tục. Dù con có thành tựu cái gì đi chăng nữa, con phải kiên
trì trong trì chú, hãy rất kiên trì.
Công
chúa Tsogyal hỏi Đạo sư: Nếu người ta thành tựu Bổn Tôn
Yidam tự nhiên hiện diện, thì có sự thành tựu nào nữa
không?
Đạo
sư trả lời: Bổn Tôn Yidam biểu lộ như hoạt động vô ngại
của những phương tiện đại bi của tất cả các bậc
Thiện Thệ. Bởi thế trong tri giác của những chúng sanh cần
được hoá độ, các Ngài xuất hiện như hoà bình hay phẫn
nộ, như những mạn đà la và các cõi Phật, nam và nữ, nhân
vật chính với tùy tùng quyến thuộc hay nhân vật đơn độc.
Cung điện của Bổn Tôn, nhân vật chính, tùy tùng quyến thuộc,v.v
ở trong cõi Akanishtha (của Phật Pháp thân Vajradhara) bởi
thế khác với những cõi của chư thiên. Những sắc thân biểu
lộ từ trạng thái Pháp thân vô sanh cho lợi lạc của chúng
sanh và được thấy biết theo khuynh hướng tập khí riêng
biệt của họ.
Công
chúa Tsogyal hỏi Đạo sư: Về việc làm những lễ cúng torma
cho Bổn Tôn, nếu Bổn Tôn chấp nhận đồ cúng và vui lòng
vì những sự tán thán, thì cũng giống như thần, trời thế
gian hiện hữu với chất thể. Nếu không thế, thì thực hiện
những việc ấy có lợi ích gì đâu?
Đạo
sư trả lời: Bổn Tôn trí tuệ không thích thú vì những tán
thán hay vui lòng vì những đồ dâng cúng. Để tịnh hoá tâm
thức của con, con quán tưởng và thỉnh mời Bổn Tôn, tán
thán, cúng dường v.v... Làm như vậy, sự sùng mộ của con
sẽ tịnh hoá tâm thức con. Nhờ phương tiện đại bi không
ngừng của các bậc Thiện Thệ, con sẽ nhận được những
ban phước gia bị và những thành tựu. Điều ấy giống như
thí dụ sau: khi làm lễ cúng cho một viên ngọc như ý, nó
sẽ đáp ứng những nhu cầu và mong muốn của chúng sanh dù
cho nó không có ý định làm lợi lạc cho họ.
Tsogyal,
những hành giả Tây Tạng bỏ qua một bên Bổn Tôn đang hiện
diện trong chính họ mà đi tìm Phật trong cõi Akanishtha. Không
có một hạt bụi tập trung thiền định nào, hoạt động
của họ lạc vào những cầu đảo bùa chú. Không biết làm
sao tịnh hoá tự nhiên ba độc của họ, họ cúng torma thịt
và máu. Không thực hành cho sự đạt đến thành tựu tối
thượng, họ ham mê những năng lực huyền thuật, con cháu
và giàu có. Ứng dụng sai Mật Thừa, họ làm tiết lộ những
bí mật của nó. Đổi chác, mua bán những giáo huấn khẩu
truyền như những món hàng, họ bận rộn lo toan với những
thần chú cầu đảo huyền thuật và ma thuật. Nhiều người
trong họ sẽ tái sanh thành những người tà kiến, ma vương,
dạ xoa, la sát. Thế nên hãy hoàn thiện năng lực của cái
thấy (tri kiến), thực hành với định tâm, dấn thân vào
bốn hoạt động (tức tai, tăng ích, kính ái, hàng phục) như
là hạnh của con, và đạt đến quả, thành tựu tối thượng
của đại ấn.
Đến
đây chấm dứt những giáo huấn khẩu truyền về Mật chú
do Đạo sư Padmakara dạy cho công chúa Tsogyal xứ Kharchen, trong
hình thức những câu hỏi đáp.
Dấu
ấn kho tàng.
Dấu
ấn chôn giấu.
Dấu
ấn giao phó.
TU
TÂM THEO KIM CƯƠNG THỪA
Sự
Tu Tâm Vô Thượng Trí Của Mât Thừa
Những
Giáo Huấn Về Thực Hành Một Bổn Tôn
Với
Những Thuộc Tính
NAMO
GURU DHEVA DAKINI HUNG.
Đạo
sư vĩ đại Padmakara đã thành tựu giai đoạn phát triển và
thành tựu, và đã đạt được năng lực phô diễn của tánh
giác tự nhiên. Ngài đã đạt đến tất địa an trụ trong
thân tướng mahamudra. Trong hư không của sự biểu hiện, Ngài
nô đùa với toàn thể hiện tượng và hiện hữu. Vì lợi
ích của nhà vua và công chúa đương thời cũng như cho
những thế hệ tương lai, Ngài đã ban cho công chúa xứ Kharchen,
Công Chúa Tsogyal những giáo huấn chân thật này, Sự tu hành
tâm Vô Thượng theo Kim Cương Thừa.
Công
Chúa Tsogyal nói: Emaho, Thưa Đại Sư! con khẩn cầu những khẩu
truyền của Ngài về sự thực hành Bổn Tôn cùng với những
thuộc tính. Vì hành giả sẽ không đạt tất địa nếu không
dựa vào một Bổn Tôn Yidam, chúng con nên thực hành một Bổn
Tôn Yidam ra sao?
Vị
Thầy đáp: Sự thiền quán về Bổn Tôn Yidam với những thuộc
tính có hai loại: sự thiền quán tiệm tiến cho một người
khả năng tâm thức kém và sự thiền quán về thân bất nhị
của người có khả năng lớn hơn.
NGƯỜI
CÓ KHẢ NĂNG TÂM THỨC KÉM
Người
có khả năng tâm thức kém nên tu hành trong bồ đề tâm, tức
sự quý báu của tâm giác ngộ. Khởi đầu, dù ở đâu hành
giả nên rửa tay, súc miệng, rửa mặt, với cam lồ bí mật
hay nước trong tịnh bình và ngồi kiết già hoặc bán già
trên một chỗ ngồi thoải mái.
Sau
đó nên hướng tâm con đến chúng sanh trong tam giới luân hồi
đã vướng mắc vào khổ đau và những nguyên nhân của đau
khổ. Trước tiên hãy hình thành ý nghĩ của bồ đề tâm:
Để đưa tất cả chúng sanh ra khỏi luân hồi, con sẽ thực
hành thân tướng của Bổn Tôn Yidam! Kế tiếp trau dồi lòng
bi thương xót tất cả chúng sanh, tình thương (từ) muốn họ
thoát khỏi đau khổ, hoan hỷ muốn họ gặp được hạnh phúc,
tính không thiên vị (xả) muốn họ không xa rời hạnh phúc.
Sau
đó tụng ba chủng tự OM AH HUNG, kế tiếp đảm đương niềm
tự hào mình là vị Bổn Tôn Yidam rồi quán tưởng chủng
tử tự riêng của vị đó trên một hoa sen, một mặt trời,
và một mặt trăng ở giữa ngực vị Yidam.
Kế
đó quán tưởng ánh sáng chiếu ra từ chủng tử tự, tất
cả chư Phật, Bồ Tát an trụ trong mười phương cũng như
tất cả chư Guru, Yidam, và Dakini đều hiện diện trên bầu
trời phía trước con. Hãy đảnh lễ và cúng dường đến
các Ngài, sám hối những sai phạm, hoan hỷ trong công đức
của các Ngài, thọ quy y nơi Tam Bảo, khẩn thỉnh các Ngài
chuyển Pháp luân, khẩn cầu các Ngài đừng nhập niết bàn,
phát khởi bồ đề tâm, và hồi hướng thiện căn. Phụng
tống vị Thầy và những vị khác, và để sự quán tưởng
lắng xuống hay tan hòa vào trong con tùy theo cách nào thích
hợp. Những bước này tất cả đều là phương diện tích
lũy công đức.
Sau
đó, để tích lũy trí tuệ, hãy để thân con trở thành bản
tánh của ánh sáng nhờ những tia sáng chiếu ra từ chủng
tử tự nơi giữa ngực con. Ánh sáng cũng chiếu vào mười
phương nhờ đó mọi sự vật trong thế gian cũng như tất
cả chúng sanh trở thành bản tánh ánh sáng. Sau đó, ánh sáng
này được tất cả chư Phật và Bồ Tát trong mười phương
ban phước.
Về
việc hòa nhập lại ánh sáng vào con, thế gian trở thành ánh
sáng, thấm nhập vào chúng sanh, họ hóa tán vào con, và ánh
sáng của thân con tan hòa giống như sự bốc hơi nước trên
mặt gương. Rồi dần dần hóa tán vào tòa ngồi mặt trăng,
kế tiếp là mặt trời và mặt trăng, sau đó hòa tan vào chủng
tử tự. Kế tiếp tan hòa vào hình lưỡi liềm và bindu (Giọt
ánh sáng). Ánh sáng của bindu là của bản tâm, kích thước
bằng một phần trăm của đầu sợi tóc. Hãy quán tưởng
điều này nhiều lần.
Khi
sự quán tưởng của con không rõ ràng, hãy niệm mantra tánh
Không (shunyata), v.v.., sau đó hãy để sự quán tưởng tan biến
Quả
của hai thân là do hoàn thiện hai loại tích lũy này.
Từ
trạng thái của tánh Không này, hãy quán tưởng bản tâm con
hiện diện như chủng tử tự của vị Bổn Tôn Yidam hay quán
tưởng chủng tử tự chuyển hóa thành một thuộc tính biểu
tượng được chạm nổi với chủng tử tự. Từ sự chuyển
hóa này, tạo ra đầy đủ vị Bổn Tôn Yidam riêng của con
với đầu, những thuộc tính, v.v.., sau đó là chủng tử tự
trên một dĩa mặt trời hay mặt trăng trên một hoa sen giữa
trung tâm của Bổn Tôn.
Những
tia sáng chiếu ra từ đó cầu thỉnh tất cả chư Như Lai,
Guru (đạo sư), Bổn Tôn Yidam, Dakini của mười phương trong
bầu trời phía trước con. Sau đó dâng cúng các Ngài năm loại
cúng dường. Mời thỉnh Bổn Tôn trí tuệ và khẩn cầu chư
vị an tọa.
Quán
tưởng chư Như Lai ban quán đảnh và trên đỉnh đầu con là
vị Phật thống nhiếp của gia đình (bộ). Sau đó khẩn thỉnh
phụng tống các Ngài.
Tiếp
theo sau, quán tưởng ba chủng tử tự trên dĩa mặt trời ở
giữa đỉnh đầu, cổ họng, và ngực của con. Thánh hóa chúng
như thân, khẩu, ý. Tập trung chú tâm một điểm vào vị Bổn
Tôn Yidam.
Sau
đó, khi cảm thấy thiền định mệt mỏi, hãy tụng niệm.
1.
Sự tụng niệm vajra lầm thầm là tụng niệm chỉ ở vùng
cổ có thể nghe được.
2.
Tụng niệm vajra với âm điệu êm tai là tụng niệm với giai
điệu như vào lúc thực hành đại hoàn thiện.
3.
Tụng niệm vajra bí mật là niệm thầm trong tâm.
4.
Tụng niệm như luân xa là quán tưởng rằng âm thanh xuất
hiện qua miệng con, đi vào rốn, và tan hòa lại vào giữa
ngực.
5.
Tụng niệm như tràng hoa là xoay vòng mantra quanh chủng tử
tự ở giữa ngực và niệm nhất tâm trong lúc tập trung tâm
con vào những chủng tự.
6.
Tụng niệm tập trung vào âm thanh là trong lúc niệm chỉ tập
trung tâm con vào âm thanh của mantra.
THỰC
HÀNH GIỮA THỜI
Công
Chúa Tsogyal hỏi Đạo Sư: Chúng con nên làm gì trong khoảng
giữa thời thiền quán về vị Bổn Tôn Yidam?
Đạo
Sư khuyên: Khi con không thể trì tụng, hãy cúng dường torma,
tán thán sau khi rung chuông. Khi phụng tống Bổn Tôn trí tuệ,
hãy an trụ với tư duy ý niệm bình thường của con.
Sau
đó, khi con muốn cúng dường để hoàn tất, hãy đặt một
bức hình, bức tượng, hay kinh điển phía trước con và làm
một mandala với nước thơm và rải hoa. Trong một thoáng, hãy
tự hào là một Bổn Tôn Yidam và chiếu ra những tia sáng từ
chủng tử tự giữa ngực con. Cầu thỉnh tất cả pháp thân
và sắc thân an trụ trong mười phương. Khẩn cầu pháp thân
trụ trong pháp khí và kinh điển. Khẩn cầu sắc thân trụ
trong tranh, tượng.
Hãy
quán tưởng vô số tập hội chư Phật, Bồ Tát, các Tổ,
Yidam, và Dakini ở trong mười phương lưu lại trước mặt
con. Dâng cúng các Ngài bất kỳ vật cúng dường nào con có,
thực hiện bảy tịnh hóa[33] trước sự hiện diện của
các Ngài.
Vào
lúc này, con có thể cúng dường torma đến vị Bổn Tôn Yidam.
Dâng các vị Hộ Pháp torma nước, làm tượng tsa tsa, tượng
đất sét hay những thực hành khác như vậy.
Sau
đó nếu muốn tụng các lời của chư Như Lai, hãy quán tưởng
rằng chỉ trong chốc lát lưỡi con trở thành hư không, từ
đó xuất hiện chữ HUNG và chày vajra một chấu. Quán tưởng
rằng niệm những bài tụng này xuất ra từ chủng tử tự
qua ống của chày vajra. Vô lượng những phân thân của con
tràn ngập hàng tỉ vũ trụ, mỗi thân có một chày vajra trong
miệng. Quán tưởng rằng tất cả chúng sanh đều nghe được
và họ được giải thoát khỏi luân hồi. Đó là nghi lễ
niệm kinh.
Tất
cả những bước này đều là thực hành Pháp thực hiện trong
giữa thời hoặc khi làm những hoạt động hàng ngày.
NIÊM
ẤN GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN
Công
Chúa Tsogyal hỏi Đạo Sư: Chúng con nên niêm ấn giai đoạn
phát triển với giai đoạn hoàn thiện như thế nào?
Vị
Thầy khai thị: Hành giả nào muốn thực hành giai đoạn thành
tựu nên quán tưởng tự thân trong tướng Bổn Tôn, khẩn
thỉnh Bổn Tôn trí tuệ rời khỏi (phụng tống). Hóa tán
nguyện hữu tình thành ánh sáng, trở thành chủng tử tự
của Bổn Tôn hoặc một chữ HUNG. Chữ HUNG tan hòa dần thành
bindu. Bindu nhỏ dần thành tánh không trong sáng. Từ trong trạng
thái này, hãy an trú trong “tính như thị của mọi hiện tượng”,
trống không, tự nhận biết vô niệm vượt lên những cực
đoan của hiện hữu và phi hiện hữu. Thường xuyên hãy tự
nhắc mình tương ứng với những hướng dẫn khẩu truyền
về giai đoạn thành tựu mà con nhận được từ Thầy mình.
Nếu
con, hành giả làm như vậy, thực hành ba hay bốn thời một
ngày, thì ngay trong kiếp này hay không bị gián đoạn bởi
những tái sanh khác, con sẽ an trú trong đại yoga trong trạng
thái trung ấm và đạt được thân mahamudra của vị Bổn Tôn
Yidam. Ngay cả dù năng lực của giai đoạn phát triển của
con chưa hoàn toàn viên mãn, trong kiếp tới con sẽ trụ trong
trạng thái đại yoga và chắc chắn đạt được cấp mahamudra
của Vidyadhara.
Tất
cả những bước này là những khai thị về những giai đoạn
tuần tự của thiền định cho những người khả năng tâm
thức đơn giản.
NGƯỜI
CÓ KHẢ NĂNG TÂM THỨC CAO NHẤT
Công
Chúa Tsogyal hỏi Đạo Sư: Người có khả năng tâm thức cao
nên thực hành ra sao?
Đạo
Sư đáp: Khi một người có tâm thức cao nhất thiền quán
về một Bổn Tôn, họ không quán tưởng từng bước. Đơn
giản chỉ tụng tâm chú, một câu chú, hay đơn giản chỉ
muốn hay nghĩ về vị Bổn Tôn, là họ thấy Bổn Tôn một
cách sinh động mạnh mẽ, lập tức, và tự-hiện hữu, giống
như một bọt nước xuất hiện từ nước. Đây là sự cầu
thỉnh Bổn Tôn từ pháp giới.
Tự
quán tưởng chính con như Bổn Tôn là hư không, và Bổn Tôn
có thể thấy được nhưng không có tự tánh là trí tuệ.
Như vậy, đó là hư không và trí tuệ là bất khả phân.
Chân
lý tương đối là xuất hiện bất tận như là Bổn Tôn, trong
khi chân lý tuyệt đối là chứng ngộ rằng tinh túy của Bổn
Tôn không có tự tánh, là trống không. Do vậy, chân lý tương
đối và chân lý tuyệt đối là bất khả phân.
Vị
Bổn Tôn xuất hiện như phái nam là phương tiện, khi xuất
hiện như phái nữ là trí tuệ. Như vậy, đó là trí tuệ
và phương tiện bất khả phân.
Vị
Bổn Tôn xuất hiện trong thân tướng Bổn Tôn là phúc lạc,
nó không có tự tánh là tánh Không. Như vậy, đó là cực
lạc và tánh Không bất khả phân.
Vị
Bổn Tôn xuất hiện trong thân tướng Bổn Tôn là tánh giác,
hình tướng xuất hiện của nó không có tự tánh là tánh
không. Như vậy, đó là tánh giác và hư không bất khả phân.
Vị
Bổn Tôn xuất hiện trong thân tướng Bổn Tôn là quang minh,
nó không có tự tánh là tánh Không. Như vậy, đó là quang
minh và tánh Không bất khả phân.
Hãy
quán tưởng chính con như Bổn Tôn theo cách đó, thân tướng
hữu hình nhưng không có tự tánh và do vậy vượt lên tuổi
tác và suy hoại. Khẩu thì tụng niệm bất tận do vậy, tinh
túy của mantra vượt khỏi sự ngưng dứt. Tâm siêu vượt
sinh tử và như vậy là sự tương tục của pháp tánh.
Không
lìa Bổn Tôn trong bốn hoạt động hàng ngày – đi, đứng,
nằm, ngồi – đó là con đường của người có khả năng
tâm thức cao nhất. Điều này cực khó và là lãnh vực của
người có nghiệp báo đã từng tu hành trước kia.
NHỮNG
GIAI ĐOẠN QUÁN TƯỞNG
Công
Chúa Tsogyal hỏi Đạo Sư: Khi thiền quán về vị Bổn Tôn
Yidam, xin Ngài khai thị về cách lưu giữ Bổn Tôn trong tâm.
Đạo
Sư đáp: Trước tiên là những hướng dẫn khẩu truyền về
sự quán tưởng Bổn Tôn: Dù con thiền quán Bổn Tôn ở trước
mặt hay thiền quán chính con là vị Bổn Tôn, sau khi nhận
được hướng dẫn khẩu truyền của vị Thầy, Ngài sẽ ban
ân phước cho con, đệ tử của Ngài và bảo vệ con chống
lại những thế lực gây chướng ngại.
Kế
tiếp, hãy ngồi ở nơi thích hợp, thân thể thoải mái. Đặt
một bức hình Bổn Tôn thật đẹp trước mặt. Ngồi một
lúc ngắn không suy nghĩ rồi nhìn vào bức hình từ đầu xuống
chân. Nhìn lần nữa, toàn bộ chi tiết dần dần từ chân
lên đầu. Hãy nhìn chăm chú vào bức hình như một toàn thể.
Thỉnh thoảng nghỉ ngơi không suy nghĩ về bức hình và hãy
tự làm tươi tỉnh. Sau đó theo cách này nhìn lại nhiều lần
trong trọn ngày.
Tối
đó hãy ngủ suốt đêm. Khi thức dậy hãy nhìn như trước.
Vào buổi tối đừng quán tưởng Bổn Tôn mà chỉ an nghỉ
tâm con trong trạng thái vô niệm.
Làm
theo điều này, Bổn Tôn sẽ xuất hiện sống động trong tâm
con dù không thiền quán. Nếu không được như vậy, hãy nhìn
chăm chú vào bức hình, nhắm mắt lại và hình dung bức hình
ở trước con. Ngồi cho đến khi nào hình ảnh vẫn còn tự
nhiên. Khi nó trở nên mờ nhạt và không rõ, hãy nhìn lại
bức hình và lâïp lại sự quán tưởng, hãy để hình ảnh
hiện diện sống động. Cắt đứt suy nghĩ khái niệm và ngồi
(với hình ảnh Bổn Tôn).
Khi
thiền quán như vậy con sẽ có năm loại kinh nghiệm: kinh nghiệm
chuyển động, kinh nghiệm thủ đắc, kinh nghiệm thói quen,
kinh nghiệm ổn định và kinh nghiệm hoàn thiện.
1.
Khi tâm con không giữ được an định, lúc đó con có nhiều
tư tưởng, ý nghĩ, và hồi ức, đó là kinh nghiệm chuyển
động. Qua đó, con tiến gần đến việc kiểm soát tâm. Kinh
nghiệm này giống như thác nước đổ xuống vách đá.
2.
Sau đó, khi con có thể quán tưởng Bổn Tôn trong một lúc
ngắn với hình dáng và màu sắc sống động và rõ ràng cùng
lúc, đó là kinh nghiệm thủ đắc. Kinh nghiệm này giống như
một hồ nhỏ.
3.
Tiếp sau đó, khi Bổn Tôn xuất hiện rõ ràng dù con thiền
quán trong khoảng thời gian ngắn hay dài, và khi Bổn Tôn ở
yên trong sáu thời công phu của con mà không có niệm tưởng
thô nào xảy ra, đó là kinh nghiệm của thói quen, giống như
dòng chảy của một con sông.
4.
Kế tiếp, không động niệm và con có thể duy trì thời công
phu trong lúc vẫn thấy Bổn Tôn rõ ràng. Đó là kinh nghiệm
ổn định giống như Núi Tu Di.
5.
Sau đó, khi con duy trì được trọn ngày hay hơn mà không mất
sự hiện diện sống động của tứ chi ngay cả đến tóc
trên thân Bổn Tôn và không khởi niệm, đó là kinh nghiệm
hoàn thiện.
Hành
giả, hãy áp dụng điều này cho kinh nghiệm của mình!
Nếu
ngồi quán tưởng Bổn Tôn quá lâu mà không rõ ràng, thân
con sẽ rối loạn. Con sẽ trở nên mệt mỏi và không thể
tiến bộ trong sự thiền quán của mình. Con sẽ có nhiều
niệm tưởng hơn, vậy trước tiên hãy tự làm tươi tỉnh
và sau đó tiếp tục thiền định.
Cho
đến khi đạt được quán tưởng rõ ràng, đừng thiền quán
vào ban đêm. Nói chung, điều quan trọng là quán tưởng trong
thời gian ngắn. Thiền quán trong lúc có ánh sáng mặt trời,
khi bầu trời trong sáng, hay với một ngọn đèn bơ. Không
nên thiền quán khi vừa thức giấc hoặc con cảm thấy uể
oải hay mệt mỏi.
Vào
ban đêm hãy ngủ thẳng giấc và thiền quán tám thời ngắn
vào ngày hôm sau.
Khi
thiền định, nếu xả thiền đột ngột, con sẽ mất tập
trung, vậy hãy xả thiền chậm rãi.
Lúc
thiền quán khi sự quán tưởng của con trở nên sống động,
con có thể thực hành vào ban đêm, lúc hoàng hôn, và bình
minh.
Nói
chung đừng làm con mệt mỏi, hãy chú tâm vào quán tưởng,
lần lần quen thuộc với thiền quán ổn định, và quán tưởng
đầy đủ hình tướng Bổn Tôn.
KÉO
DÀI SỰ QUÁN TƯỞNG
Công
Chúa Tsogyal hỏi Đạo Sư: Chúng con nên quán tưởng vị Bổn
Tôn trụ trong thời gian bao lâu?
Đạo
Sư đáp: Sau khi con quán tưởng được rõ ràng và một ít
ổn định như đã giải thích ở trên, có thể kéo dài thời
gian an trụ. Thường thì sự tụng niệm quyết định dộ dài
của thời công phu. Nhưng vì chưa tới lúc tụng niệm, sự
kéo dài thời thiền nên theo khả năng an trụ trong quán tưởng
của con.
Đối
với cách đo lường bên trong của thời thiền, thì khoảng
cách của những hơi thở là quan trọng nhất. Tuy nhiên, với
sự đo lường bên ngoài thì thời gian và số lượng thời
thiền là quan trọng nhất.
Số
lượng của thời thiền có thể quyết định là giữ bốn
thời trong một ngày và đêm, và kéo dài càng lâu càng tốt.
Mục tiêu của việc đo lường thời thiền là không làm xáo
trộn thân thể, giữ cho thực hành thăng bằng, gia tăng sự
tập trung, và có thể quán tưởng trong một thời gian dài.
Về
việc tính đếm, không nên đếm miệng mà dùng chuỗi để
đếm bằng tâm. Sau đó gia tăng số lượng; hãy nghỉ một
lúc và thiền định một lúc.
Về
sự đo thời gian bằng bóng râm, hãy chia một ngày thành mười
sáu hay tám thời (chia bóng râm theo đường vạch) và thiền
định mỗi hai phần của vạch bóng râm rồi nghỉ một phần.
Tóm lại, hãy thiền định trong tám thời ngắn và nghỉ ngơi
xen kẽ tám thời.
Khi
con đã ổn định theo cách này, hãy thiền quán trong hai thời
ngắn rồi dần dần kéo dài thêm. Sau đó con sẽ có thể trụ
trong cả ngày, một ngày và một đêm, nửa tháng, một tháng,
v.v...
Tóm
lại, bất kể thời thiền của con ổn định ra sao, điểm
chính là đừng làm thân con mệt mỏi. Hãy giữ những thời
thiền cân xứng và kéo dài một cách tự nhiên thời gian trong
sáng bất động và vô niệm.
Đây
là những giáo huấn khẩu truyền về việc kéo dài sự quán
tưởng Bổn Tôn.
SỬA
CHỮA NHỮNG LỖI LẦM
Công
Chúa Tsogyal hỏi Đạo Sư: Khi thiền quán về Bổn Tôn, chúng
con nên sửa những lỗi biến đổi ra sao?
Đạo
Sư đáp: Để sửa những lỗi biến đổi, có hai phương diện:
nhận ra lỗi và sửa lỗi.
Về
nhận ra lỗi có hai loại: thông thường và đặc biệt.
Những
lỗi thông thường là quên quán tưởng, lười biếng, e ngại,
hôn trầm, trạo cử (kích động), quá nỗ lực và thiếu cố
gắng.
1.
Quên quán tưởng là thiền quán bị xao lãng.
2.
Lười biếng là suy nghĩ một cách giải đãi, “Tôi sẽ làm
sau”.
3.
E ngại là sợ mình không thành tựu và sợ sai lạc.
4.
Hôn trầm là cảm thấy trì trệ vì hoàn cảnh, một cách ngẫu
nhiên hay tự nhiên.
5.
Trạo cử là cảm thấy tự nhiên bị kích động do hoàn cảnh
hay hoạt động có chủ ý.
6.
Quá nỗ lực là không bằng lòng trong lúc quán tưởng Bổn
Tôn đã được rõ ràng lại phát sinh ý muốn quán tưởng
thêm lần nữa.
7.
Thiếu cố gắng là vẫn dửng dưng khi sự quán tưởng Bổn
Tôn không được rõ.
Khi
quán tưởng Bổn Tôn, có mười hai lỗi đặc biệt như sau:
lờ mờ và không trong sáng, trên và dưới đảo lộn, thân
thể không cân xứng, trang phục biến đổi, tư thế thay đổi,
hình dạng biến đổi, số lượng biến đổi, màu sắc của
thân biến đổi, xuất hiện chỉ có màu sắc, xuất hiện
chỉ có hình dạng, ngồi nghiêng ngả và dần dần biến mất.
Bây
giờ giải thích về phương pháp sửa những lỗi này. Với
bảy lỗi thông thường, con nên giữ vững tám áp dụng để
sửa chữa chúng.
Áp
dụng chánh niệm khi quên quán tưởng. Áp dụng niềm tin, quyết
tâm và kiên trì để đối trị lười biếng. Áp dụng chánh
tư duy như phương thuốc chống lại lo sợ. Để đối trị
hôn trầm, hãy phát triển nhiệt tình, đi tắm và đi dạo.
Khi bị xáo động, hãy phát triển sự buồn chán đối với
luân hồi, hãy cột tâm của con với sự tỉnh thức, và buộc
tâm vào cây quán tưởng. Tóm lại, với hôn trầm và trạo
cử, hãy sử dụng sự cảnh giác của người canh giữ. Áp
dụng sự bình thản buông xả khi mong muốn nỗ lực quá nhiều.
Hãy quán tưởng chuyên cần khi thiếu cố gắng.
Về
cách sửa những lỗi đặc biệt của Bổn Tôn, hãy nhìn kỹ
những chi tiết khi bị lờ mờ, tối tăm hay không rõ và thực
hành thiền định về tánh Không vô niệm. Hãy thực hành luân
phiên giữa vô niệm, nhìn Bổn Tôn và thiền định.
Khi
sự cân đối của thân, trang phục, hình dáng, hay tư thế
biến đổi, hãy quán tưởng rằng thân Bổn Tôn là vật chất
cụ thể và rất to lớn, vững chắc. Quán tưởng rằng những
con bồ câu bay vào và ra lỗ mũi, những con chim, cừu và nai
nô đùa trên tay và chân. Quán tưởng rằng vị Bổn Tôn an
trụ như chất liệu cứng chắc giống một bức tượng.
Nếu
biến đổi số lượng, hãy hạn chế quán tưởng một hay
hai Bổn Tôn. Khi chỉ xuất hiện màu sắc, hãy quán tưởng
hình dáng. Nếu Bổn Tôn đổi màu đỏ hay vàng theo sức nóng
của thể trạng máu hay mật v..v... hãy nghỉ ngơi. Nếu Bổn
Tôn dần dần biến mất, hãy tập trung tâm vào tay và mặt
Bổn Tôn. Với lỗi quán tưởng không trọn vẹn, hãy quán
tưởng toàn bộ thân thể Bổn Tôn với đầy đủ trang hoàng
và những thuộc tính.
Tóm
lại, hãy thực hành mà không trở nên mệt mỏi vì bất kỳ
những lỗi nào có thể xảy ra. Sau đó, thiền định về tánh
Không vô niệm. Kế tiếp thực hành trong lúc nhìn và chú tâm
vào thân thể vị Bổn Tôn.
Đây
là những giáo huấn khẩu truyền về sửa chữa lỗi lầm
khi thiền quán về Bổn Tôn.
TU
HÀNH VỚI BỔN TÔN
Công
Chúa Tsogyal hỏi Đạo Sư: Chúng con nên rèn luyện với Bổn
Tôn như thế nào?
Đạo
Sư khai thị: Giáo huấn khẩu truyền về tu hành với Bổn
Tôn là quán tưởng Bổn Tôn bằng thiền định về vô niệm
cho đến khi con thoát khỏi những lỗi này. Hãy thiền định
luân phiên giữa Bổn Tôn và vô niệm. Khi con có thể quán
tưởng Bổn Tôn không bị lỗi, hãy quán tưởng Bổn Tôn đứng
thẳng, hay ngồi, nằm ngửa hoặc sấp trên một bình nguyên
hay đỉnh núi, gần hay xa, trên đá hay dưới nước. Hãy tu
hành việc quán tưởng Bổn Tôn theo những cách này bất cứ
khi nào con muốn thực hành.
HÒA
NHẬP VỚI BỔN TÔN
Công
Chúa Tsogyal hỏi Đạo Sư: Chúng con nên hòa nhập với Bổn
Tôn ra sao?
Vị
Thầy khai thị: Một khi con đã tu hành và quen thuộc với Bổn
Tôn, hãy hóa tán Ngài vào trong con. Hãy quán tưởng điều
đó khi con là một Bổn Tôn đơn hay một mandala với một cõi
Phật. Sau đó, để nối kết Bổn Tôn với cái tối hậu,
Bổn Tôn được quán tưởng và được ổn định nhờ niệm
tưởng của con. Tâm con và tám thức kết tập là cái xuất
hiện như thân tướng và trí tuệ của Bổn Tôn. Một cách
tuyệt đối, nó là tỉnh giác của tâm giác ngộ, trí tuệ
vĩ đại tự-hiện hữu, tinh túy của quả. Vị Bổn Tôn không
xuất hiện từ đâu khác. Cho dù Ngài xuất hiện ra sao đêàu
vô tự tánh và do vậy là một thân tướng bất nhị. Xuất
hiện trong thân tướng Bổn Tôn là vượt khỏi bám luyến
vì Ngài là thân, khẩu, ý như kim cương (thân vajra) xuất hiện
nhưng vô tự tánh.
Dù
tâm con xuất hiện như Bổn Tôn, nó cũng không có tự tánh.
Vì nó không thể khảo sát hay biểu thị bằng bất cứ hình
tướng gì, nó là pháp thân.
Hỡi
hành giả, con đã tu hành như vậy theo ý nghĩa này,cần tuân
thủ và an trú trong sáu samaya của thực hành. Con không nên
từ bỏ sự sùng kính vị Thầy, người đã ban cho con giáo
lý khẩu truyền. Áp dụng những gì có lợi cho thiền định
và tránh những gì không lợi. Đừng để sự tập trung của
con bị lãng phí vì những hoạt động hàng ngày. Tiếp tục
cho đến khi hoàn thiện mà không từ bỏ Bổn Tôn, hãy giữ
bí mật việc thực hành Bổn Tôn riêng của con và không thiền
định với suy nghĩ bỏ vị này lấy vị khác. Bất kỳ vị
Bổn Tôn nào con thực hành đều tương tự như thiền quán
về tất cả chư Phật. Việc thiền quán về chư Phật không
gì khác hơn là giúp nhận ra tâm con. Thậm chí việc quán tưởng
Bổn Tôn cũng chỉ là một biểu hiện của tâm thức. Ngoài
điều này ra thì không có gì để thành tựu và thiền định.
Chư Phật và Bồ Tát đều hiện thân trong vị Bổn Tôn Yidam
của con.
Đây
là hướng dẫn khẩu truyền về hòa nhập với Bổn Tôn và
nối kết Ngài với tuyệt đối.
LÀM
THẾ NÀO ĐỂ THÀNH TỰU BỔN TÔN
Công
Chúa Tsogyal hỏi vị Thầy Hóa Thân: Thưa, người ta lấy một
vị Bổn Tôn như con đường và thành tựu Ngài ra sao?
Vị
Thầy đáp: Để thành tựu một Bổn Tôn, trước tiên hãy
quán tưởng vị Bổn Tôn phía trước con. Sau đó ổn định
sự quán tưởng vế chính con như Bổn Tôn. Cho đến lúc này
tránh tụng niệm.
Bây
giờ, khi sắp thực hành Bổn Tôn, hãy sắp xếp một mandala
cho sự thành tựu và bày đồ cúng dường. Hãy đặt những
đối tượng thiêng liêng trước mặt và tự làm tươi tỉnh,
ngồi xuống trên một chỗ thoải mái.
Cầu
thỉnh vị Thầy và tập hội chư Bổn Tôn Yidam, đảnh lễ,
cúng dường và tán thán, thực hiện tám chi. Vị Bổn Tôn
sau đó tan thành ánh sáng và hóa tán vào trong con, bằng cách
này hãy quán tưởng chính con là vị Bổn Tôn Yidam. Hãy vẽ
một vòng bảo vệ để nhập thất và thánh hóa sự cúng dường.
Nhờ
ba samadhi v.v.., hãy quán tưởng mandala cùng với những Bổn
Tôn. Thực hiện sự hiến cúng thánh hóa và quán đảnh. Cầu
thỉnh và hòa nhập Bổn Tôn trí tuệ, đảnh lễ, cúng dường
và tán thán.
Lập
lại sự quán tưởng Bổn Tôn tách biệt phía trước con, và
tụng niệm. Khi hoàn tất tụng niệm hãy tán thán.
Thể
nhập Bổn Tôn vào thân con và đi ngủ trong lúc duy trì niềm
tự hào con là Bổn Tôn.
Sáng
hôm sau khi thức dậy lập tức quán tưởng Bổn Tôn và tụng
niệm theo nghi quỹ của con như trên.
Hãy
thánh hóa thực phẩm và đồ uống và cúng dường như một
bữa tiệc.