PHÁT
BỒ ĐỀ TÂM THỰC TẾ
Có
hai phần. Phần đầu tiên dành cho người mới bắt đầu phát
bồ đề tâm nguyện.
Tận
đáy lòng người đệ tử nên khơi dậy thái độ suy nghĩ
chân thành: Để cứu giúp tất cả chúng sanh trong luân hồi
thoát khỏi biển khổ, con sẽ đạt giác ngộ vô thượng!
Sau
đó lập lại ba lần bài khẩn cầu này:
Với
thái độ xem tất cả chúng sanh như cha, mẹ của con, anh chị
em, con trai và con gái, hoặc những vị Thầy và đạo hữu
của con. Con______ từ ngay ngày hôm nay cho đến khi đạt được
giác ngộ, con sẽ phát sinh ý định kiên cố giải thoát tất
cả chúng sanh chưa được giải thoát. Con sẽ giúp vượt qua
những người chưa vượt qua. Con sẽ giải thoát những người
chưa giải thoát, và con sẽ an lập trong trạng thái vô trụ
giác ngộ của chư Phật cho những chúng sanh chưa vượt khỏi
đau khổ.[17]
Thứ
hai, để phát bồ đề tâm hạnh, hãy hình thành suy nghĩ: từ
ngay lúc này và khi nào luân hồi còn chưa trống rỗng, không
dám xao lãng dù chỉ trong một chốc lát, con sẽ hoàn thành
hạnh phúc cho chúng sanh theo nhiều cách. Lập lại bài nguyện
trên, sau đó đọc ba lần:
Từ
chính lúc này cho đến khi sinh tử luân hồi trống rỗng, con______
sẽ kiên trì phát nguyện kiên cố tu hành dần dần, thực
hành và hoàn thiện sáu ba la mật và bốn phương tiện lôi
cuốn (tứ nhiếp pháp). Đúng như chư Phật quá khứ và tất
cả Bồ tát nhờ cuộc sống mẫu mực hoàn thiện trong con
đường và các địa bồ tát với những giới nguyện gốc
và nhánh. Con cũng sẽ tu hành, và hoàn thiện chúng! Xin hãy
xem con như một bồ tát.
Bây
giờ vị Thầy nói, Hãy như vậy! Và đệ tử nói, Lành thay!
Diệu nghĩa thay! Sau khi lập lại bài trên ba lần, hành giả
đã đạt được giới nguyện.
Để
giữ giới nguyện được nguyên vẹn, từ lúc này trở đi,
vị Thầy nên chỉ dẫn giới luật cho đệ tử. Người đệ
tử sau đó dâng lên một lễ vật và cúng dường rộng rãi
để tạ ơn.
Từ
lúc đó trở đi, điều quan trọng nhất là hành giả tiếp
tục phát khởi và tu hành bồ đề tâm, giống như dòng chảy
không gián đoạn của một con sông.
7.
NHỮNG
LỢI ÍCH
Những
lợi ích của việc tu hành bồ đề tâm mà con đã khai triển
là như sau: vượt lên trên Thanh Văn, và Duyên Giác (Độc giác
Phật), con được nhập vào hội chúng các hành giả Đại
Thừa. Những cảm xúc phiền não, những hành động xấu, và
những che chướng tất cả đều được loại trừ tận gốc
rễ. Mọi hành động thuộc thân, ngữ, ý của con trở thành
những nguyên nhân đầy ý nghĩa và sự tích lũy công đức
bao la sẽ hoàn thiện trong người con. Con sẽ luôn được chư
Phật, Bồ Tát, và các đại hộ Pháp quan tâm. Mọi chúng sanh
sẽ thương mến con như thương chính con họ và thấy con đáng
yêu. Con sẽ không bao giờ tách lìa khỏi giáo lý Đại Thừa.
Tóm
lại, con sẽ nhanh chóng hoàn thành những phẩm tính siêu việt
của Phật quả, thức tỉnh với giác ngộ chân thật và viên
mãn. Những phẩm tính này là vô song. Do vậy, hãy kiên trì
thực hành như vậy.
8.
LÝ DO TU HÀNH
Có
thể đạt giải thoát một mình con là đủ, vậy tại sao con
phải giải thoát tất cả chúng sanh khỏi luân hồi? Vì chúng
sanh là cha mẹ của con, món nợ của sự biết ơn của con
thì to lớn không thể tưởng, nên con cần tu hành để đền
đáp lòng tốt của họ.
Lòng
tốt của họ bao gồm việc hình thành cơ sở cho cuộc đời
và hình hài con, nuôi dưỡng con từ bé bằng những thức ăn,
đồ uống tốt nhất; chịu đựng mọi loại đau khổ
và khó khăn vì hạnh phúc của con, yêu thương con hơn chính
bản thân họ, xem con còn quan trọng hơn cả trái tim họ.
Ngoài
ra, họ đã cho con tài sản và của cải, dạy dỗ con, kết
nối con với Giáo Pháp thiêng liêng, v.v... Vì lòng tốt không
thể tưởng của những bậc cha mẹ này, con phải giải thoát
tất cả họ khỏi luân hồi. Vì tất cả chúng sanh đều có
nguyên nhân căn bản, bản chất của giác ngộ, nên con cũng
có liên hệ với họ một cách sâu xa, và vì vậy con phải
giải thoát tất cả họ khỏi luân hồi.
Tsogyal,
nếu khao khát hạnh phúc chỉ cho một mình con, con sẽ không
kết nối được với Phật quả viên mãn.
9.
NHỮNG KHIẾM KHUYẾT CỦA SỰ KHÔNG TU HÀNH
Những
khiếm khuyết của việc không tu hành như sau. Rơi vào đẳng
cấp Thanh Văn, Duyên Giác, con gặp trở ngại trong việc đạt
đại giác ngộ; mọi hành động con thực hiện đều phù phiếm,
mọi công đức đã tích lũy trong quá khứ sẽ bị tiêu hao,
con sẽ bị những tinh linh luôn cản trở; người khác sẽ
xung khắc và không thích con. Tóm lại, những mong ước của
con sẽ không bao giờ thỏa mãn, v.v.. Có vô số khuyết
điểm như vậy.
Tsogyal,
thật khờ dại biết bao khi muốn làm người theo Đại Thừa
mà không có bồ đề tâm.
10.
NHỮNG
GIỚI LUẬT.
Có
hai loại giới luật để gìn giữ. Với những giới luật
của bồ đề tâm nguyện con phải thường xuyên tu hành trong
bồ đề tâm với ý định không bao giờ được bỏ mặc chúng
sanh. Bồ đề tâm nguyện sẽ hư hại nếu:
•
Khi đã có ý định chối bỏ chúng sanh khác, khi con nổi giận
hay đánh người và để một ngày trôi qua mà không áp dụng
phương cách đối trị.
•
Khi đã có ý định lừa gạt Thầy, Tổ, huynh đệ Kim Cương
Thừa hoặc bất kỳ người nào xứng đáng được tôn kính,
con lừa gạt họ mà để qua một ngày không áp dụng phương
cách đối trị.
•
Con làm cho người khác hối tiếc về thiện căn bao la của
họ đã tạo ra, mà đúng ra phải hoan hỷ chứ không phải
tiếc nuối. Điều này xảy ra do con đã có ý định khiến
họ cảm thấy hối tiếc, con nói: “Có những việc còn cao
hơn thế này! Điều này chưa tuyệt hảo!”
•
Bị thôi thúc bởi sân hận, con thốt ra một câu chỉ trích
một bồ tát, bậc đã phát triển bồ đề tâm.
•
Không có lòng bi, con lừa dối chúng sanh khác.
Năm
hành vi này gọi là năm hành động lầm lạc, nếu con để
một ngày trôi qua mà không đối trị chúng bằng một giải
độc. Hãy từ bỏ những điều này vì chúng sẽ làm con mất
giới nguyện.
Tsogyal,
con có thể bị tổn hại vì thọ nhiều giới luật mà không
giữ được.
Ngoài
ra, đây là năm hành động con nên gắn bó.
1.
Như một đối trị với sự biểu hiện sân hận hay đánh
đập chúng sanh, con nên luôn an định, dịu dàng và cố gắng
giúp đỡ họ.
2.
Như một đối trị với sự sự lừa dối người xứng
đáng được tôn kính, con nên tận tâm chu đáo và không bao
giờ nói dối dù bị mất sinh mạng.
3.
Như một đối trị với việc gây cho người khác cảm
thấy hối tiếc, hay hãy thiết lập tất cả chúng sanh
trong đức hạnh dẫn đến đại giác ngộ của chư Phật.
4.
Như một đối trị về việc chỉ trích người khác do sân
hận, con nên tán thán những người theo Đại Thừa và xem
họ như những vị Thầy của con.
5.
Như một đối trị cho sự lừa dối chúng sanh, con cần lấy
tự tâm mình làm nhân chứng, và với ý định thanh tịnh,
hãy đi theo những người kiên định.
Gắn
bó với những hành động này con sẽ là một người nắm
giữ giáo lý của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ngay cả dù con
sinh ra làm người nữ.
Thứ
hai, những giới luật của bồ đề tâm hạnh sẽ được giải
thích dưới ba điểm: (1) Mười điều bất thiện cần bỏ
(2), Mười hành động thiện là những đối trị, (3) Mười
ba la mật để dấn thân vào.
Mười
Bất Thiện
Trong
mười điều ác, ba cái đầu tiên là hành động thuộc về
thân: sát sinh, lấy những gì không được cho, và tà dâm.
Sát
Sinh
Tính
chất của sát sinh là cắt đứt sự liên tục của đời sống.
Có ba loại sát sinh được thực hiện bởi ba độc.
1.
Sát sinh vì tham, bằng cách giết thú vật vì thèm thịt, da,
v.v.. của chúng.
2.
Sát sinh vì sân, chẳng hạn như giết với ý định tàn ác.
3.
Sát sinh vì si mê, có nghĩa giết không cố ý, ví dụ; khi một
đứa trẻ giết một con chim hay con kiến bằng cách dẫm lên..
Chúng
sanh không thoát khỏi ba độc thì không có hạnh phúc.
Hành
vi giết hại hoàn tất khi vi phạm bằng phương tiện có đủ
bốn chi phần sau:
1.
Ý tưởng dự định có trước “Tôi sẽ làm việc xấu này!”
2.
Cố ý đi vào hành động và nỗ lực theo đuổi hành vi.
3.
Hành động giết hại thật sự, trải qua trong hành động.
4.
Kết thúc bằng sự hoan hỷ với hành vi mà không hối hận.
Kết
quả của sát sinh xuất hiện trong ba cách.
1.
Kết quả khi chín thì sát sinh vì tham, chủ yếu đọa vào
cõi ngạ quỷ, sát vì sân phần lớn đọa vào cõi địa ngục,
sát vì si chủ yếu đọa vào cõi súc sinh.
2.
Quả của hành động nổi trội là bị hành động bất thiện
lúc trước khống chế sẽ bị nhiều bệnh tật, tuổi thọ
ngắn nếu được tái sanh làm người.
3.
Quả tương ứng với nguyên nhân là sẽ thích thú trong hành
vi giết hại do tập khí trước.
Tsogyal,
vì thế chúng ta không nên phạm những hành động này. Kinh
điển dạy rằng nếu nỗ lực từ bỏ những hành động này
con sẽ thoát khỏi quả khi chín, quả tương ứng với nguyên
nhân, và quả nổi trội. Do vậy con sẽ đạt được hạnh
phúc dồi dào của Trời và người.
Lấy
Những Gì Không Được Cho
Tính
chất bất thiện thứ hai của thân, lấy những gì không được
cho là hành vi lấy những sở hữu của người khác làm của
mình.
Sự
bất thiện này bao gồm việc lấy bằng vũ lực, ví dụ như
ăn cướp vào ban ngày, lấy trộm như ăn cắp lúc không bị
để ý, và lấy bằng sự lừa gạt, ví dụ như không trung
thực trong việc cân, đo lường.
Tsogyal,
người không bỏ tính tham sở hữu thì không có hạnh phúc.
Cũng
y như trước, hành vi này hoàn tất khi đủ bốn chi phần,
và kết quả lại cũng là ba loại.
1.
Quả khi chín sẽ rơi vào ba cõi thấp tùy theo mức độ hành
động là lớn, trung bình hay nhỏ. Đặc biệt, sẽ bị đọa
vào cõi ngạ quỷ.
2.
Quả nổi trội là cho dù được sinh làm người, sẽ nghèo
khó và hay bị trộm cướp.
3.
Quả tương ứng với nguyên nhân, vì tập khí xấu được
tích lũy trong tiềm thức nên trong những kiếp sau sẽ vui thích
lấy những gì không được cho
Tsogyal,
nếu con từ bỏ vi phạm những hành động này, con sẽ được
ba kết quả ngược với những quả trên như được sinh vào
cõi Trời, người, có nhiều của cải, v.v..
Tà
Dâm
Tính
chất bất thiện thứ ba của thân, tà dâm; là hành vi thực
hiện giao hợp với một đối tượng dục vọng mà họ không
có quyền làm như vậy.
Khi
phân chia, có những loại sau:
1.
Không thích hợp cho một người bình dân giao hợp với người
được sự bảo vệ của một vị vua, như hoàng hậu.
2.
Không thích hợp khi giao hợp với người bị luật pháp cấm
đoán.
3.
Ở Ấn Độ, không thích hợp cho việc giao hợp với người
được cha mẹ bảo hộ, vì nam, nữ khi chưa có gia đình riêng
thì được bảo vệ bởi cha mẹ.
4.
Không thích hợp để giao hợp với người được “những
nguyên tắc văn minh” bảo vệ, nghĩa là việc ấy là nỗi
ô nhục, như mẹ và chị em gái.
5.
Không thích hợp để giao hợp với người được Giáo Pháp
thiêng liêng bảo vệ, như vị phối ngẫu của guru, người
đã thọ giới, v.v..
Người
dâm dục không đi vào con đường giải thoát, Tsogyal, hãy áp
dụng sự đối trị.
Cũng
có những lúc không thích hợp để giao hợp cho dù với người
bạn đời hợp pháp.
1.
Không thích hợp để giao hợp vào thời điểm không thuận
lợi như ngày rằm, mồng một và mồng tám.
2.
Không thích hợp để giao hợp ở một nơi không thích đáng
như trước bàn thờ Tam Bảo.
3.
Không thích hợp để giao hợp vào một chỗ không thích đáng
như thực hiện theo cách của thú vật.
Tsogyal,
nơi người thường, những người không bỏ đời sống chủ
nhà đều bị giam giữ trong nhà tù của Ma Vương.
Như
trước, hành vi tà dâm được xem là vi phạm khi hoàn tất
đủ bốn chi phần và cũng có ba loại kết quả.
1.
Quả khi chín sẽ bị đoạ vào ba cõi thấp. Ngay cả dù được
tái sanh ở những cõi cao sẽ phải bất hòa với vợ hay chồng,v.v..
2.
Quả nổi trội là trong các kiếp sau, những người giúp việc,
vợ hay chồng sẽ không hợp ý và biểu lộ nhiều hành động
vô ơn.
3.
Quả tương ứng với nguyên nhân là khuynh hướng thói quen
xấu khiến con ham thích làm chuyện tà dâm.
Tsogyal,
nếu con từ bỏ những hành động này và kềm chế không thực
hiện, con sẽ có kết quả ngược lại, vậy hãy từ bỏ chúng
là điều rất quan trọng.
Thứ
hai, là bốn loại hành động bất thiện của khẩu.
Nói
Dối
Tính
chất của cái đầu tiên , là điều gì không thật mà nói
là thật.
Khi
phân chia, có những loại sau.
1.
Nói dối không có lợi cũng không hại, như lời nói dối của
người già, lão suy.
2.
Nói dối thật sự có lợi hoặc gây hại như nói dối làm
lợi cho một người trong lúc gây hại cho người khác.
3.
“Nói dối mình có phẩm tính siêu phàm” là con tuyên bố
mình có tri giác cao cấp trong khi không có.
Tsogyal,
không nên nói những lời thiếu suy nghĩ.
Như
trước, hành vi nói dối hoàn tất khi đủ bốn chi, và cũng
có ba loại quả.
1.
Quả khi chín sẽ đọa vào những cõi thấp.
2.
Quả nổi trội cho dù được tái sanh làm người, tiếng nói
của con cũng không có năng lực.
3.
Quả tương ứng với nguyên nhân là trong những kiếp tới
con sẽ thích thú trong việc nói dối.
Tsogyal,
nếu con từ bỏ những hành động này, con sẽ đạt được
những kết quả nghịch lại, vậy hãy từ bỏ chúng là điều
rất quan trọng.
Nói
Chia Rẽ
Tính
chất bất thiện thứ hai của khẩu là nói gây chia rẽ, nghĩa
là hành động chia rẽ những người bạn tốt.
Khi
phân chia có những loại sau:
1.
Nói chia rẽ công khai bằng cách nói trực tiếp trước mặt
người nào đó.
2.
Nói chia rẽ gián tiếp bằng cách nói quanh co.
3.
Nói chia rẽ riêng tư bằng cách nói riêng với người nào
đó.
Tsogyal,
người không giữ kín được miệng mình sẽ không có hạnh
phúc.
Cũng
đủ bốn chi như trước, và cũng có ba loại quả.
1.
Quả khi chín sẽ đọa vào ba cõi thấp.
2.
Quả nổi trội là cho dù được tái sanh làm người, con sẽ
có ít bạn bè và hay tranh cãi. Con sẽ luôn có nhiều hối
tiếc, bị mọi người ghét, và bất kỳ những gì con nói
đều không hiệu quả.
3.
Quả tương ứng với nguyên nhân là trong những kiếp tương
lai con sẽ lại thích thú trong việc nói chia rẽ.
Tsogyal,
nếu con từ bỏ những hành động này, con sẽ đạt được
những kết quả nghịch lại, vậy hãy từ bỏ chúng là điều
rất quan trọng.
Nói
chuyện phiếm
Tính
chất bất thiện thứ ba của khẩu, nói chuyện phiếm, là
lãng phí thời gian.
Khi
phân chia có những loại sau:
1.
Niệm chú của thầy pháp.
2.
Kể chuyện và chơi đố chữ
3.
Đàm luận đùa giỡn.
Như
trước, bị vi phạm khi đủ bốn chi phần, và có ba loại
quả
1.
Quả khi chín sẽ bị đọa vào ba cõi thấp.
2.
Quả nổi trội là cho dù được sinh làm người, lòi nói của
con sẽ vụng về, nói nhiều và không mạch lạc.
3.
Quả tương ứng với nguyên nhân là trong những kiếp tương
lai con sẽ lại thích nói chuyện phiếm.
Tsogyal,
nếu con từ bỏ những hành động này, con sẽ đạt được
những kết quả ngược lại, vậy đừng thích nói chuyện
vô mục đích.
Nói
lời thô ác
Tính
chất bất thiện thứ tư của khẩu, nói thô ác là lời nói
làm tổn thương người khác.
Khi
phân chia có những loại sau:
1.
Vạch lỗi người khác giữa chỗ đông người.
2.
Gián tiếp làm tổn thương người khác.
3.
Nói riêng điều gì sẽ làm tổn hại người khác.
Tsogyal,
ngọn lửa của lời nói thô ác sẽ thiêu đốt trái tim của
con và người khác. Vũ khí của lời nói thô ác giết chết
sinh lực giải thoát.
Như
trước, bị vi phạm khi đủ bốn chi phần, và có ba loại
quả
1.
Quả khi chín sẽ bị đọa vào ba cõi thấp.
2.
Quả nổi trội là cho dù được tái sanh làm người, bất
cứ những gì con nói đều làm người khác khó chịu và sự
xuất hiện của con sẽ luôn làm họ nổi giận.
3.
Quả tương ứng với nguyên nhân là con sẽ thích nói những
lời thô tục.
Tsogyal,
nếu con từ bỏ những hành động này, con sẽ đạt được
những kết quả ngược lại. Chúng sanh của thới đại đen
tối này không có hạnh phúc. (vì hay nói lời thô ác)
Thứ
ba, có ba bất thiện thuộc ý.
Tham
lam
Tính
chất của cái đầu tiên, tham lam là bám luyến vào những
gì tốt đẹp.
Khi
phân chia có những loại sau:
1.
Kềm chế không cho tài sản của mình.
2.
Tham muốn tài sản người khác thuôc về mình.
3.
Bám luyến những gì tốt đẹp không phải của mình cũng không
phải của người khác.
Tsogyal,
đừng bám giữ những sở hữu vật chất. Người thực hành
Giáo Pháp mà không hiểu lẽ vô thường thì không hạnh phúc.
Hành
động này vi phạm khi đủ bốn chi phần và có ba loại quả.
1.
Quả khi chín sẽ bị đọa vào ba cõi thấp.
2.
Quả nổi trội là dù tái sanh làm người, con sẽ bị sống
nơi vùng không thoải mái ở đó luôn bị đói khát.
3.
Quả tương ứng với nguyên nhân là trong những kiếp tới
con sẽ thích thú sự tham lam.
Tsogyal,
điều thiết yếu là từ bỏ những hành động này.
Ác
ý
Bản
chất của bất thiện thứ hai thuộc ý, sân hận là thái độ
thù hận.
Khi
phân chia có những loại sau:
1.
Ác ý do giận dữ.
2.
Ác ý do oán ghét.
3.
Ác ý do ghen tỵ
Tsogyal,
đừng phạm những hành vi thuộc ý khiến tổn thương mình
và làm hại người khác.
Hành
động này xem là vi phạm khi đủ bốn chi phần, và có ba loại
quả.
1.
Quả khi chín sẽ bị đọa vào ba cõi thấp.
2.
Quả nổi trội là dù tái sanh làm người, người khác sẽ
xung khắc với con một cách vô lý và con luôn gặp thù hằn,
kiện cáo.
3.
Quả tương ứng với nguyên nhân là trong những kiếp tới
con sẽ phát triển một trạng thái tâm hiểm
độc.
Tsogyal,
nếu con không từ bỏ sân hận con sẽ chẳng thực hành được
Tiểu Thừa lẫn Đại Thừa.
Những
Tà Kiến
Tính
chất bất thiện thứ ba của ý; tà kiến, là phóng đại và
phỉ báng.
Khi
phân chia có những loại sau:
1.
Tà kiến chủ trương chủ nghĩa Hư vô và Vĩnh cửu. (Thường
kiến và Đoạn kiến) phi Phật giáo.
2.
Tà kiến chủ trương có một thực thể “ngã” trong thân,
một điều luật hay nghi thức là tối cao như “Sự tu khổ
hạnh của chó và gà.”[18]
3.
Tà kiến chủ trương có một thực thể bản ngã trong thân.
Tsogyal,
chỉ có ít người hiểu được sự khác nhau của Giáo Pháp
và phi-Giáo Pháp.
Hành
động này xem là vi phạm khi đủ bốn chi, và có ba loại quả.
1.
Quả khi chín sẽ bị đọa vào ba cõi thấp.
2.
Quả nổi trội là dù tái sanh làm người, con sẽ sinh vào
nơi biên địa, bộ tộc không văn minh, ở đó thậm chí sẽ
không được nghe danh hiệu của Tam Bảo.
3.
Quả tương ứng với nguyên nhân là những khuynh hướng thói
quen nắm giữ tà kiến sẽ kiên cố trong tiềm thức con sau
đó con sẽ thích thú nắm giữ tà kiến.
Tsogyal,
tất cả các đấng tôn quý đều lên án mười điều bất
thiện này. Chúng bị những người có học từ bỏ. Ngay cả
những người tìm kiếm việc đạt được sự rạng rỡ đặc
biệt và giàu có của cõi Thiên và cõi người cũng không vi
phạm, vậy, hãy từ bỏ chúng.
Có
nhiều người không nhận ra được điều tốt, xấu, nhưng
người đã đi vào giáo lý của Đức Phật thì không như vậy.
Vi phạm điều ác trong khi biết rõ nhân quả của hành động
bất thiện thì không khác gì thú vật.
Công
Chúa Tsogyal hỏi: Khi từ bỏ những hành động này, người
ta sẽ đạt được kết quả gì?
Vị
Thầy đáp: Quả khi chín, con sẽ sinh vào cõi Trời, và người.
Giống như Trời Phạm Thiên, giọng nói của con sẽ du dương,
giống như Trời Đế Thích; thân con sẽ đẹp hơn người khác,
và giống như một vị vua của hoàn vũ con sẽ rất giàu có.
Như
một quả nổi trội con sẽ có được sự uyên bác lớn lao,
con sẽ rất thông minh và sẽ gặp Giáo Pháp của Đức Phật.
Cuối cùng con sẽ đạt được ba cấp độ giác ngộ.
Như
quả tương ứng với nguyên nhân, trong tất cả kiếp tương
lai con sẽ tự nỗ lực từ bỏ mười điều bất thiện.
Công
Chúa Tsogyal hỏi: Về mười bất thiện này có khác biệt nào
trong tính nghiêm trọng của cái xấu không?
Vị
Thầy đáp: Có. Nói chung, có sự phân chia theo phiền não.
1.
Do sân hận mà vi phạm mười bất thiện, con sẽ tái sanh vào
địa ngục.
2.
Khi vi phạm mười bất thiện vì tham lam, con sẽ tái sanh là
ngạ quỷ.
3.
Khi vi phạm vì si mê, con sẽ tái sanh làm súc sinh.
Cũng
có những khác biệt trong sự nghiêm trọng về mặt đối tượng.
1.
Do phạm mười điều bất thiện với một đối tượng đặc
biệt, con sẽ sinh vào địa ngục.
2.
Do phạm mười điều bất thiện với một đối tượng
bình thường, con sẽ sinh làm ngạ quỷ.
3.
Do phạm mười điều bất thiện với một đối tượng thấp
hơn, con sẽ sinh làm súc vật.
Đặc
biệt, trong những loại sát sinh khác nhau, quả chín xấu trầm
trọng nhất là giết một vị bồ tát đã phát triển
bồ đề tâm.
Trong
những loại lấy những gì không được cho, tội lớn nhất
là ăn trộm của Tam Bảo.
Trong
những loại tà dâm, tội lớn nhất là cưỡng ép một vị
a la hán giao hợp.
Trong
những loại nói dối, tội lớn nhất là lừa gạt một vị
Thầy hay một thành viên tôn kính của Tăng Đoàn.
Trong
những loại nói chia rẽ, tội lớn nhất là gây bất hòa trong
Tăng Đoàn.
Trong
những loại nói lời thô ác, tội lớn nhất là nói lời khó
chịu với một tu sĩ.
Trong
những loại nói chuyện phiếm, tội lớn nhất là quấy phá
tâm của tu sĩ hoặc người đang thiền định về bản tánh
của bất nhị.
Trong
những loại tham, tội lớn nhất là tham quỹ cúng dường Tam
Bảo.
Trong
những loại ác ý, tội lớn nhất là có ý phạm năm tội
có hậu quả tức khắc (ngũ nghịch: giết cha, mẹ, một vị
A La Hán, chia rẽ Tăng Đoàn, làm thân Phật chảy máu.)
Trong
những loại tà kiến, tội lớn nhất là chê bai thực nghĩa.
Tsogyal,
con không nên vi phạm bất kỳ cái nào trong những hành động
này cho dù phải mất mạng.
Nói
chung, cũng có những khác biệt trong mười bất thiện.
1.
Do sát sinh, nói chia rẽ, nói thô tục, và ác ý sẽ đọa địa
ngục.
2.
Do tà dâm ,trộm cướp và tham lam, sẽ bị tái sanh làm ngạ
quỷ.
3.
Do nói dối, nói chuyện phiếm và chấp thủ tà kiến sẽ sinh
làm súc sinh.
THẬP
THIỆN
Công
Chúa Tsogyal hỏi vị Thầy: Người ta nên thực hành thập thiện
như thế nào, thực hiện những đối trị ra sao?
Vị
Thầy đáp: Mười điều thiện có bốn chủ đề.
1.
Bản chất là một hành động thanh tịnh của thân, khẩu,
và ý khiến sinh ra sự cao cả thật sự.[19]
2.
Định nghĩa thiện hạnh là khi một người có tự do và giàu
có thực hiện hành động đúng đắn, sẽ sinh ra kết quả
được hạnh phúc mong muốn.
3.
Sự phân biệt là những thiện hạnh ngược lại với mười
bất thiện: phóng sinh, rất rộng lượng, sống trong sạch,
lời nói chân thật, nỗ lực hòa giải tranh chấp, lời nói
dịu dàng dễ nghe và tự chủ, nói lời có ý nghĩa, yêu thương
mọi người, không bám luyến, và không nghi ngờ luật nhân
quả và ý nghĩa quyết định.
4.
Sau đây là mười hỗ trợ tạo ra những thiện hạnh trong
dòng tâm thức con: tin tưởng vào những giáo lý chân chính,
giữ lòng tự trọng và lương tâm trong sạch, kềm chế không
cờ bạc, không tranh cãi, không xem họp chợ, luôn hành động
một cách chu đáo tận tình, từ bỏ lười biếng, không giao
thiệp với bạn xấu, tu hành thân, khẩu, ý nhu hòa, trau dồi
bốn bậc hoạt động của tri giác, và nhất là chú tâm vào
con đường của các đấng tôn quý.
Tsogyal,
nhờ hành động theo cách này, nhất định con sẽ đạt được
những cõi cao thật sự.
MƯỜI
PARAMITA (BA LA MẬT)
Thứ
ba, để dấn thân vào những hành động của mười ba la mật,
có năm chủ đề.
1.
Bản chất chung là những hành động có tính chất con đường
đưa đến giác ngộ vô thượng.
2.
Định nghĩa paramita: là điều làm cho con đến (ita) đại niết
bàn, bờ bên kia (param) của biển sinh tử luân hồi.
3.
Nhiệm vụ là hoàn thiện hai tích lũy và hoàn thành sự lợi
lạc cho chúng sanh.
4.
Có hai loại; thông thường và đặc biệt. Thông thường là
sáu ba la mật: bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền
định, và trí tuệ phân biệt.
Đặc
biệt, bố thí có ba loại: Pháp thí, tài thí, và vô úy thí.
Trì
giới cũng có ba loại: Cố gắng không làm ác, cố gắng thu
thập những phẩm tính thiện, và giới nguyện làm lợi ích
chúng sanh. Nói khác đi, giữ được những giới luật này
là nhờ cố gắng không làm mười bất thiện, nhờ sáu ba
la mật, và nhờ tứ nhiếp pháp.
Nhẫn
nhục cũng có ba loại: Không màng đau khổ khi từ bỏ luân
hồi, kiên nhẫn chịu gian khổ vì lợi ích chúng sanh, và kiên
trì giữ niềm tin trong Giáo Pháp, nghĩa là cố gắng không
sợ hãi những trạng thái thâm sâu.
Tinh
tấn cũng có ba loại: Tinh tấn áp dụng giáo lý Đại Thừa,
tinh tấn như áo giáp chống lại nghịch cảnh, và tinh tấn
không ngưng để thành tựu quả Phật toàn giác.
Thiền
định cũng có ba loại: Thiền định tập trung vào con đường
thế gian đúng đắn, thiền định tập trung vào con đường
xuất thế gian, thiền định tổng quát tập trung vào cả hai.
Trí
tuệ cũng lại có ba loại: Trí tuệ nhận biết sự vật hữu
vi thì vượt khỏi tập trung, trí tuệ nhận biết bản tánh
vượt khỏi tập trung, và trí tuệ nhận biết rằng mọi hiện
tượng đều siêu vượt nhị nguyên và vượt khỏi lời nói,
suy nghĩ và mô tả.
Con
nên biết rằng để thu nhập mỗi phương pháp vào dòng tâm
thức, con phải có đầy đủ bốn ba la mật nữa.
Để
vượt qua tính bủn xỉn và nghèo khó thì bằng sự bố thí
không cầu báo đáp là sức mạnh ba la mật.
Bố
thí mà thoát khỏi mục đích của người thường và người
Tiểu Thừa là phương tiện ba la mật.
Bố
thí với ý tưởng: mong cho con ngăn chận sự nghèo khó của
chính con và mọi chúng sanh! là nguyện ba la mật.
Bố
thí với ba phạm vi[20] hoàn toàn thanh tịnh là trí ba
la mật.
Tương
tự, khắc phục bất thiện bằng giới luật không tham muốn
kết quả của sanh tử là lực ba la mật.
Duy
trì những giới nguyện trong khi thoát khỏi tám mối quan tâm
thế gian là phương tiện ba la mật.
Mong
ước rằng sự cư xử bất thiện của mọi chúng sanh được
chấm dứt trong lúc không mong muốn quả báo nhân thiên cho
chính con, là nguyện ba la mật.
Không
khởi ý niệm phân biệt ba lãnh vực (chủ thể, đối tượng
và hành động) là trí ba la mật.
Chiến
thắng sân hận nhờ cư xử bình đẳng với mọi người là
lực ba la mật.
Không
bám giữ ý định thế gian như sự lừa gạt và đạo đức
giả là phương tiện ba la mật.
Không
tham cầu mình được tái sanh với thân thể đẹp đẽ của
cõi nhân, thiên, mà mong ước sự xấu xí của tất cả chúng
sanh được chấm dứt là nguyện ba la mật.
Không
khởi ý niệm phân biệt của ba lãnh vực là trí ba la mật.
Khắc
phục sự lười biếng với sự tinh tấn suy niệm những tính
tốt và xấu là lực ba la mật.
Không
bám giữ ý định thế tục như hy vọng được người
khác tin tưởng là phương tiện ba la mật.
Mong
cầu cho mọi chúng sanh hết lười biếng và nỗ lực trên
con đường là nguyện ba la mật.
Không
khởi ý niệm phân biệt ba lãnh vực là trí ba la mật.
Khắc
phục tán tâm nhờ thiền định vượt khỏi cõi vô sắc là
lực ba la mật.
Thực
hành vì lợi ích thành tựu những phẩm tính của giác ngộ
vô thượng, không mong cầu những trạng thái của cõi nhân,
thiên, là phương tiện ba la mật.
Mong
cầu cho sự phóng tâm của mọi chúng sanh được kết thúc
là nguyện ba la mật.
Không
khởi ý niệm phân biệt ba lãnh vực (chủ thể, đối tượng,
hành vi) là trí ba la mật.
Chiến
thắng những tạo tác phân biệt bằng trí tuệ tánh Không
chẳng tách lìa bản tánh của lòng bi là lực ba la mật.
Chẳng
lìa bản tánh của trí tuệ và lòng bi suốt ba thời là phương
tiện ba la mật.
Mong
cầu cho con và mọi người nhận ra được thực nghĩa là nguyện
ba la mật.
Nhận
ra rằng từ vô thủy, tâm con sẵn có bản tánh trí tuệ này
là trí ba la mật.
Tsogyal,
hãy thực hành theo cách này không xao lãng.
5.
Quả của việc thực hành mười ba la mật là con sẽ giải
thoát khỏi những cõi thấp, và đạt được những cấp đặc
biệt của cõi nhân, thiên, con sẽ hoàn thiện những con đường
và nhanh chóng đạt Phật quả, sau đó con sẽ trở thành một
người hướng dẫn vĩ đại giải thoát chúng sanh khỏi luân
hồi.
11.
RANH
GIỚI PHÂN CHIA GIỮA ĐƯỢC VÀ MẤT GIỚI NGUYỆN
Giây
phút có được bồ đề tâm nguyện như sau: đã tích lũy rất
nhiều công đức, khi con phát sinh tư tưởng phải hoàn thành
hạnh phúc đích thực của chúng sanh nhờ sự tịnh hóa hoàn
toàn dòng tâm thức của con, con đắc Bồ đề tâm nguyện
vào lúc cuối lần bày tỏ thứ ba của nghi thức trọn vẹn.
Lúc
mất bồ đề tâm nguyện là khi phát sinh tà kiến hay xúc phạm
Tam Bảo do vậy làm hư sự tu hành. Do vậy điều cốt lõi
là nỗ lực giữ tâm chánh niệm tỉnh giác.
2.
PHƯƠNG
PHÁP PHỤC HỒI NGUYỆN VI PHẠM
Nếu
con làm hư hại các giới nguyện gốc, phải thọ giới nguyện
lại như hướng dẫn trước. Nếu hư hại giới nguyện nhánh
con phải sám hối trước vị Thầy hay Tam Bảo.
3.
BỒ
ĐỀ TÂM BÊN TRONG
Công
Chúa Tsogyal hỏi vị Thầy: Người ta phải tu hành ra sao khi
phát bồ đề tâm bên trong?
Vị
Thầy đáp: Có mười hai điểm để tu hành.
1.
CỐT
TỦY
Cốt
tủy là khơi dậy ý định giúp đỡ những người không nhận
biết rằng bản tánh bẩm sinh, thực nghĩa, là không do tạo
tác
2.
ĐỊNH
NGHĨA
Không
tuỳ thuộc vào những hành động “bên ngoài” của thân
hay khẩu được gọi là “bên trong” vì chỉ khai triển trong
tâm con.
3.
SỰ
PHÂN CHIA
Có
hai dạng: nguyện và hạnh.
Ý
nguyện là là mong muốn những chúng sanh chưa chứng ngộ bản
tánh này có thể nhận ra nó. Chỉ ngồi và niệm điều này
thì chưa đủ; con phải nỗ lực đẻ cách nhằm làm cho tất
cả chúng sanh nhận ra nó.
Tsogyal,
chừng nào con chưa thoát khỏi chấp nhặt nhị nguyên thì việc
hành sẽ rất khó khăn.
4.
NHỮNG
ĐẶC TÍNH CỦA HÀNH GIẢ
Thêm
vào những giải nghĩa trước, đặc tính của người dấn
thân vào việc tu hành này là chỉ có một ít khái niệm tạo
tác.
Tsogyal,
hãy để tâm con được nghỉ ngơi!
5.
ĐỐI
TƯỢNG ĐỂ THỌ NGUYỆN
Con
cần nhận từ một vị Thầy đã chứng ngộ bản tánh của
hai vô ngã (cá nhân vô ngã và các pháp vô ngã) nhờ tu hành
trong ba dạng trí tuệ (học, tư duy, thiền định), và vì vậy
đã thoát khỏi tám mối quan tâm thế gian.
Tsogyal,
một vị Thầy là thiết yếu để nhập môn giáo lý Đại
Thừa.
6.
NGHI
LỄ THỌ NHẬN
Tự
giải thoát khỏi ba khái niệm chủ thể, đối tượng, và
hành vi, từ bỏ mọi hoạt động thế gian, như vậy con hãy
cầu thỉnh được những hướng dẫn khẩu truyền chân thực.
7.
NHỮNG
LỢI ÍCH CỦA VIỆC TU HÀNH
Con
sẽ vượt lên xa Tiểu Thừa và những con đường sai lầm.
Nhờ vậy, con sẽ từ bỏ mọi tư duy ích kỷ và chấp bám
nhị nguyên, và nhận ra bản tánh vô ngã.
8.
LÝ
DO TU HÀNH
Lý
do tu hành khi phát bồ đề tâm bên trong là đem tất cả chúng
sanh vào con đường chân thật, đó là bản tánh của hai vô
ngã.
9.
NHỮNG
KHUYẾT ĐIỂM CỦA KHÔNG TU HÀNH
Sự
khuyết điểm của không tu hành là con sẽ đi lạc khỏi bản
tánh vô ngã.
Với
người thường mà tâm họ chưa được thay đổi nhờ một
trường phái triết học, và với những người phi-Phật giáo
đã đi vào một trường phái triết học sai lạc, bản ngã
cá nhân được xem là người kiểm soát và kinh nghiệm ngũ
uẩn, mười hai cơ sở giác quan và mười tám yếu tố cấu
tạo. Ngoài ra khi coi bản ngã này là vĩnh cửu, bền vững,
họ gắn bó với nó như bạn và thù, ta và người khác.
Tsogyal,
con phải nhổ bỏ sự gắn kết này.
Mối
nguy hiểm của việc ý niệm hóa chẳng hạn một bản ngã
cá nhân là do thấy có một tự ngã và một thực thể bản
ngã, những đối tượng sẽ xuất hiện như “cái gì khác”.
Vì sự bám chấp nhị nguyên này, con sẽ xem những gì lợi
ích cho “cái tôi” là bạn, và những gì tổn hại cho “cái
tôi” là thù. Do đó, những kinh nghiệm của thương và ghét
sẽ gây cho con phạm nhiều loại hành động bất thiện. Do
những hành động này, con sẽ lang thang trong ba cõi thấp và
khắp cả cõi luân hồi.
Tsogyal,
nếu không loại trừ tâm thức xấu xa này; con sẽ không tìm
thấy hạnh phúc.
Dạng
người nào lên án bác bỏ bản ngã này? Nói chung, tất cả
Phật tử đều phản bác. Nói riêng, những Thanh văn cực lực
bác bỏ bản ngã. Dĩ nhiên, chúng ta đã nhập môn Đại Thừa
cũng phản đối việc bám chấp bản ngã cá nhân.
Người
ta khẳng định rằng những Thanh Văn chứng ngộ một phần
bản tánh vô ngã của những hiện tượng và những vị Độc
Giác Phật cũng không chứng ngộ điều đó hoàn toàn. Có nghĩa
là các Thanh Văn khẳng định sai lầm sự hiện hữu của vật
chất thay vì hiểu rõ sự vô ngã của những hiện tượng,
và các Độc Giác Phật trụ trong tâm trống không thay vì hiểu
nghĩa đúng đắn.
Tsogyal,
chừng nào con chưa thoát khỏi những trường phái triết học
thấp con sẽ không lĩnh hội được thực nghĩa.
Sự
nguy hiểm của việc vọng tưởng ra cái ngã của những hiện
tượng là, do sự khẳng định và bám chấp đó, con sẽ tạo
ra những phiền não. Những điều này sẽ khiến con lang thang
trong luân hồi. Đó là nỗ lực vô nghĩa, cho dù con cố gắng
trong nhiều kiếp.
Loại
người nào bác bỏ cái ngã của những hiện tượng? Nói chung
tất cả người đi theo Đại Thừa đều bác bỏ nó. Nói riêng,
nó là một dấu hiệu xấu nếu chúng ta đi vào cửa Kim Cương
Thừa mà chấp vào thiên kiến, như những người theo phái
Trung Đạo cũng bác bỏ nó.
10.
NHỮNG
ĐIỂM CẦN TUÂN THỦ.
Con
nên tu hành trong ý nghĩa vô ngã, về điều này có hai loại,
nguyện và hạnh.
Ba
điểm quan trọng của nguyện phải tuân thủ như sau.
1.
Liên tục hình thành suy nghĩ về nguyện, Cầu mong tất cả
chúng sanh luôn nhận ra ý nghĩa của vô ngã.
2.
Tu hành ngày ba thời, đêm ba thời trong sự tùy hỷ với những
người khác đang thiền định về ý nghĩa của vô ngã.
3.
Luôn tự tu hành siêng năng không lạc khỏi ý nghĩa của vô
ngã.
Thứ
hai, hai điểm của hạnh phải tuân theo là bên trong và bên
ngoài.
Bốn
tu hành bên ngoài là:
1.
Không rời vị Thầy hay người bạn tâm linh đã giảng dạy
ý nghĩa của vô ngã cho đến khi con nhận ra nó.
2.
Buông bỏ thiên kiến liên quan đến nơi chốn cư trú, xứ
sở hay khu vực, đẳng cấp, thù và bạn.
3.
Học hỏi, tư duy và thiền định về giáo lý hiển bày sự
vô ngã và tánh Không.
4.
Không cho mình là một tên tuổi, gia đình, hay thân thể.
Bốn
tu hành bên trong là:
1.
Chớ hiểu tên gọi là sự vật, vì mọi nhãn hiệu và tên
gọi của sự vật bên ngoài thì không hiện hữu trong tâm
con.
2.
Hãy biết mọi sự và những sinh linh trong thế gian đều vô
tự tánh, dù nó xuất hiện cũng chỉ như giấc mộng và huyễn
ảo.
3.
Ngày ba thời, đêm ba thời tìm cho ra tâm bám chặt vào những
đối tượng khác nhau, dù thật ra chẳng có thứ gì hiện
hữu.
4.
Không lạc khỏi ý nghĩa của không có tên và không có những
cực đoan. Thậm chí dù tìm kiếm tâm con, cũng chẳng tìm thấy
bất cứ thứ gì.
Tự
tu hành chuyên cần theo cách này là điều tối quan trọng.
Nhờ hành theo lối này con sẽ tiêu diệt được những tâm
thức xấu và thoát luân hồi.
11.
ĐƯỜNG
PHÂN CHIA GIỮA ĐƯỢC VÀ MẤT GIỚI NGUYỆN
Khoảnh
khắc được giới nguyện nội bồ đề tâm là khi nhận được
những hướng dẫn khẩu truyền từ vị Thầy con.
Lúc
mất nguyện là khi con theo đuổi những bám chấp nhị nguyên
thông thường không hiểu được sự không có tự tánh. Ngay
lúc bị mất, con phải áp dụng sự đối trị!
12.
PHƯƠNG
PHÁP PHỤC HỒI NGUYỆN KHI BỊ TỔN HẠI
Tu
hành không xao lãng những nghĩa vừa giải thích trên, con sẽ
tự động cởi nút thắt của sự ràng buộc của bám chấp
nhị nguyên.
TU
HÀNH BÍ MẬT
Công
Chúa Tsogyal hỏi vị Thầy: Người ta tu hành việc phát bồ
đề tâm bí mật ra sao?
Vị
Thầy đáp: Về điều này có mười một điểm.
1.
CỐT
TỦY
Cốt
tủy của việc phát bồ đề tâm bí mật là nhận biết cái
vượt khỏi sự nỗ lực từ vô thủy, tâm thanh tịnh bổn
nguyên của vô sanh thoát khỏi những giới hạn của tư tưởng
và diễn tả.
2.
ĐỊNH
NGHĨA
Nó
bí mật tự nhiên với mọi Thừa thấp vì nó vượt khỏi
những gì biểu thị bằng ngôn từ hay tư duy bởi tâm trí.
3.
SỰ
PHÂN CHIA
Khi
phân chia, có hai quan điểm: xác nhận sự thanh tịnh phổ quát
là không-thiền định và xác nhận bản tánh hiện tiền tự
nhiên vốn viên mãn là không-thiền định. Con phải tự tại
với bất kỳ sự thiên chấp nào liên quan đến điều này.[21]
4.
ĐAC
TÍNH CỦA HÀNH GIẢ
Đặc
tính của người dấn thân vào điều này là phải có khả
năng cao nhất, với một tâm nhàm chán thế giới hiện tượng
hình tướng.
Tsoygal,
điều này chỉ có thể là người đã có tu hành từ trước.
5.
ĐỐI
TƯỢNG ĐỂ NHẬN PHÁP
Đối
tượng để con tiếp nhận phải là một người đã chứng
ngộ tính độc nhất của Pháp thân và nhờ vậy an trụ trong
pháp giới phi nỗ lực.
Tsogyal,
người này chỉ có thể là một vị Thầy đã nhận ra ý nghĩa
của Đại Viên Mãn.
6.
NGHI
LỄ TIẾP NHẬN
Nghi
lễ để tiếp nhận là sự quán đảnh về sự phô diễn của
tánh giác.
Hãy
từ bỏ những hoạt động thuộc thân phàm tục bất tịnh
cũng như những hành động đạo đức thanh tịnh của con.
Hãy an trú như một người đã hoàn tất mọi công việc của
mình.
Hãy
từ bỏ mọi lời nói bất tịnh cũng như sự tụng niệm,
tán thán của con và hãy an trụ thưởng thức yên lặng vị
ngọt của đường.
Hãy
từ bỏ những hoạt động tư tưởng bất tịnh thuộc sinh
tử cũng như tư tưởng niết bàn thanh tịnh qua hành vi và
an trụ như một người bị moi mất trái tim.
Nhờ
những chỉ bày của vị Thầy, con sẽ nhận biết Pháp thân
bổn nguyên của tâm con vượt khỏi tầm với của ngôn từ
và mô tả.
Tsogyal,
hướng dẫn miệng này của Ta là một giáo lý giải thoát
tức thời bằng hiển ngộ.
7.
KẾT
QUẢ CỦA TU HÀNH
Mục
tiêu của sự tu hành này là không từ bỏ luân hồi bởi vì
nó vốn tự giải thoát, theo đó những cảm xúc phiền não
là tự nhiên viên mãn như trí tuệ. Do vậy, nó có tính chất
đem lại giác ngộ trong khoảnh khắc hiện tại.
8.
LÝ
DO TU HÀNH
Lý
do tu hành theo cách này là con phải có bản tánh thoát khỏi
với định kiến và thiên lệch.
9.
KHUYẾT
ĐIỂM CỦA KHÔNG TU HÀNH
Sự
nguy hiểm không tu hành là con sẽ rơi vào những trườmg phái
triết học thiên kiến và có nhược điểm là nội tâm bị
ràng buộc.
Tsogyal,
nếu con thực hành mà bị rơi vào phân biệt thì không phải
là Đại Viên Mãn.
10.
NHỮNG ĐIỂM PHẢI TUÂN THỦ
1.
Hãy thấy rằng gốc rễ của mọi hiện tượng đều bao gồm
trong tánh giác bồ đề tâm của con, sự thanh tịnh bổn nguyên
bất sanh.
2.
Hãy thấy rằng tánh giác bồ đề tâm này vốn giác ngộ vì
nó không có bất kỳ tạo tác nào như người quan sát hay một
đối tượng được quan sát.
3.
Hãy nhận ra rằng bất cứ loại tư tưởng hay bám chấp nào
khởi lên trong trạng thái tánh giác này đều vốn làbản
thân tánh giác trống không và quang minh.
4.
Hãy nhận biết rằng bất kỳ hình tướng bên ngoài nào xuất
hiện đều không có bất cứ bản sắc nào ngay từ lúc được
kinh nghiệm và do vậy đều không vượt khỏi được sự phô
diễn của pháp tánh.
5.
Hãy kinh nghiệm tính bất nhị của đối tượng và tâm thức
như đại lạc bẩm sinh, thoát khỏi mọi lấy, bỏ, khẳng
định hay phản bác.
6.
Đặc biệt, hãy kinh nghiệm mọi cảm xúc phiền não và đau
khổ là con đường linh thiêng của sự giác ngộ.
7.
Hãy nhận biết rằng những chúng sanh từ lúc được kinh nghiệm,
đều không thực sự hiện hữu và do vậy sinh tử luân hồi
là sự thanh tịnh bổn nguyên bất sinh và không cần phải
từ bỏ.
8.
Hãy nhận biết rằng mọi sự được kinh nghiệm là những
thân (kaya) và những trí tuệ đều dung chứa trong tâm con và
do vậy quả Phật thì vượt khỏi việc thành tựu.
Hãy
làm điều này và con sẽ trở thành người tiếp nối Đức
Phật Phổ Hiền quang vinh.
11.
RANH
GIỚI PHÂN CHIA GIỮA MẤT VÀ ĐƯỢC,
PHƯƠNG
PHÁP PHỤC HỒI KHI BỊ TỔN HẠI
Ở
đây, không có nỗ lực nào cả, vì con vốn chưa từng phân
cách với nó suốt ba thời.
KẾT
LUẬN
Tsogyal,
Ta đã cô đọng ý nghĩa tất cả kinh điển, tantra, sutra và
những hướng dẫn miệng vào những con đường phát bồ đề
tâm bên ngoài, bên trong, và bí mật.
Hãy
áp dụng chúng vào thực hành!
Hãy
đem chúng vào con đường!
Hãy
ghi nhớ chúng trong tâm!
Hãy
hòa hợp với ý nghĩa của chúng!
Chúng
là gốc rễ của những giáo lý Đại Thừa!
Chính
Ngài đã nói như thế.
Đây
là sự tu hành bồ đề tâm của Đại Thừa có tiêu đề “Những
Giáo lý về Phát Bồ Đề Tâm như là Con Đường”. Được
viết ở Monkha Senge Dzong.[22]
Đã
hoàn tất.
Dấu
ấn kho tàng.
Dấu
ấn cất dấu.
Dấu
ấn giao phó.
MƯỜI
NỀN TẢNG CỦA KIM CƯƠNG THỪA
VÀ
NHỮNG LỜI DẠY CHỌN LỌC KHÁC.
VÒNG
CHỈ DẠY THẬM THÂM
QUA
HỎI VÀ ĐÁP
NAMO
GURU
Đạo
sư Padmakara sinh ra từ một bông sen, không nhiễm ô vì phải
vào một thể xác. Ngài trải qua nhiều loại thực hành khổ
hạnh và cuối cùng đạt được mức độ làm chủ đời sống
của Vidyadhara và trụ ở đó, cắt đoạn dòng sông sanh và
tử.
Ngài
dạy 84.000 pháp môn. Ngài hiểu tiếng nói của sáu loại chúng
sanh và tám loại trời, thần. Với giọng nói như Phạm Thiên,
Ngài đem lại lợi lạc cho tất cả chúng sanh.
Tâm
thức Ngài chứng ngộ toàn giác. Ngài thấu hiểu bản tánh
siêu vượt khỏi sanh diệt và trong bản tánh của mọi vật
Ngài không phân biệt thiên vị.
Với
mọi phẩm tánh thâu đạt được từ chính mình, Ngài là nền
tảng và nguồn gốc của mọi điều tốt đẹp và cao cả.
Ngài thiện xảo trong những phương tiện để hóa độ tất
cả chúng sanh.
Hoạt
động của Ngài cảm ứng tâm của các Bậc Thiện Thệ và
Ngài kiểm soát sinh lực tâm ý của tám loại trời, thần.
Padmakara
sinh ra trên một hòn đảo trong đại dương và trị vì vương
quốc Uddiyana. Ngài tu hành ở tám nghĩa địa. Trải qua những
thực hành khổ hạnh ở Ấn Độ, vì lòng bi Ngài đã đến
Tây Tạng. Ngài đáp ứng mong mỏi của vua Tây Tạng và an
lập các vương quốc Ấn Độ và Tây Tạng trong hòa bình.
Đạo
sư từ ái này đã nhận tôi, Tsogyal,công chúa xứ Kharchen khi
tôi mười ba tuổi, tôi chỉ là một cô gái có lòng tin, nhân
ái và tâm hồn vị tha, tính kiên trì và trí thông minh nhạy
bén.
Trong
một trăm mười một năm,(1) Đạo sư đã ở lại Tây tạng.
Tôi phụng sự Ngài và làm vui lòng Ngài. Không bỏ sót điều
gì, Ngài đã ban cho tôi toàn bộ tinh chất những giáo huấn
khẩu truyền của Ngài, tinh túy của tâm Ngài. Trong thời gian
này, tôi sưu tập và ghi lại tất cả những lời dạy
Ngài đã ban và cất giấu chúng như những kho tàng quý giá.
MƯỜI
NỀN TẢNG CỦA SỰ TU HÀNH
Đạo
sư nói: Khi thực hành Pháp, con phải tu hành hoàn hảo mười
nền tảng của sự tu hành.
Công
chúa Tsogyal hỏi: Cái gì là mười nền tảng của sự tu hành?
Đạo
sư nói: Con phải tự quyết trạch[23] qua cái thấy,
có được sự thấu hiểu tất cả giáo lý, như chim Garuda
bay vút trên bầu trời.
Con
phải tìm thấy sự xác tín qua hạnh, không ngại sợ bất
cứ thứ gì, như một con voi băng vào nước.
Con
phải thành tựu mục tiêu qua những giáo huấn, giải thoát
tất cả các Pháp vào trong bản tánh của con, như tìm ra một
viên ngọc như ý.
Con
phải tiến bộ dần dần qua những truyền Pháp, thoát khỏi
sự sợ hãi phải rơi lại vào sanh tử, như một hoàng tử
bước lên ngôi vua.
Con
phải giữ căn cứ nền tảng qua những thệ nguyện cam kết,
không để cho bất cứ hành động nào của con bị phung phí,
như đất màu mỡ.
Con
phải giải thoát hiện thể của con qua sự học, trở thành
người đệ tử trong mọi phương diện của Pháp như một
con ngựa phá tung những xiềng xích.
Con
phải so sánh tất cả các nguồn giáo lý, thấu hiểu
mọi trường phái triết học của Pháp, như một con ong tìm
một tổ ong để chứa mật.
Con
phải
cô đọng chúng thành một điểm duy nhất, thấu hiểu rằng
tất cả mọi giáo lý vô số đều cùng một vị, như một
người buôn bán cộng lại các tiền lời của mình.
Con
phải đạt đến sự trổi vượt về trí tuệ, thấu hiểu
rõ ràng và rạch ròi ý nghĩa của tất cả các giáo lý,
như lên đến đỉnh của ngọn núi Tu Di.
Người
Tây Tạng ham thích học mà không tu hành những điểm này đều
không học được trong nghĩa thiết yếu, nên chỉ thành những
hành giả đầy phe phái. Đó là vì lỗi lầm đã không trở
thành đệ tử trong mười nền tảng thiết yếu.
MƯỜI
LỖI LẦM
Đạo
sư Padma nói: Con sẽ có mười lỗi lầm khiến không thể thành
công trong việc thực hành Pháp khi con không trở thành đệ
tử trong mười nền tảng của sự tu hành.
Công
chúa Tsogyal hỏi: Những nền tảng đó là gì?
Đạo
sư nói: Nếu con không quyết trạch được qua cái thấy, con
sẽ có lỗi lầm là con sống nơi nào cũng không có được
sự xác tín.
Nếu
con không tìm thấy sự xác tín qua hạnh, con sẽ có lỗi lầm
là không thể hợp nhất cái thấy và hạnh.
Nếu
con không biết làm thế nào thực hành nhờ phương tiện chánh
định, con sẽ không thấy biết được Pháp tánh.
Nếu
con không thành tựu mục tiêu qua những giáo huấn khẩu truyền,
con sẽ không biết làm thế nào thực hành.
Nếu
con không tiến bộ dần dần qua những truyền Pháp, con sẽ
thích hợp để thực hành Pháp.
Nếu
con không giữ căn cứ nền tảng qua những thệ nguyện cam
kết, con sẽ gieo trồng hạt giống cho những cõi địa ngục.
Nếu
con không giải thoát hiện thể của con qua sự học, con sẽ
không nếm được vị của Pháp.
Nếu
con không so sánh tất cả các nguồn giáo lý, con sẽ không
cắt đoạn được tính bè phái của những trường phái triết
học.
Nếu
con không cô đọng chúng thành một điểm duy nhất, con sẽ
không thấu hiểu gốc của Pháp.
Nếu
con không đạt đến sự trổi vượt về trí tuệ, con sẽ
không thấy biết bản tánh của Pháp.
Những
người thầy tâm linh trên danh nghĩa không tu hành theo Pháp
sẽ không hiểu được rằng Pháp thoát khỏi những giới hạn
phe phái. Họ tấn công lẫn nhau với những thành kiến sâu
nặng. Bởi vì tất cả các thừa đều có giá trị tự
thân, con chớ dấn thân vào sự tranh cãi. Hãy thong dong tự
tại.
MƯỜI
ĐIỂM THEN CHỐT
Đạo
sư Padma nói: Khi thực hành Pháp con phải có mười điểm then
chốt.
Công
chúa Tsogyal hỏi: Mười điểm then chốt là gì?
Đạo
sư nói: Con phải có điểm then chốt là niềm tin là không
dao động thất thường, như một dòng sông chảy mãi.
Con
phải có điểm then chốt là lòng bi không thù địch, như mặt
trời tỏa sáng khắp nơi.
Con
phải có điểm then chốt là sự rộng lượng bố thí không
thành kiến, như một suối nước vô tư.
Con
phải có điểm then chốt là thệ nguyện cam kết không vết
rạn nứt, như một trái cầu pha lê.
Con
phải có điểm then chốt là thiền định không sáng hay tối,
như bầu trời lúc rạng đông.
Con
phải có điểm then chốt là hạnh không nhận hay bỏ, như
những con chó và con heo.
Con
phải có điểm then chốt là quả không được hay mất, như
đến một hòn đảo toàn bằng vàng ròng.
Con
phải thèm khát Pháp như một người sắp chết đói thèm thức
ăn hay người sắp chết khát tìm nước uống.
Bất
luận thế nào, có vẻ người ta không thực hành Pháp như
là điểm chính yếu, thay vào đó chỉ xem của cải là đích
nhắm của họ. Con không thể đem theo sự giàu có của con
khi chết, thế nên hãy bảo đảm rằng con không đi vào các
cõi thấp.
MƯỜI
LOẠI HỜI HỢT BỀ NGOÀI
Đạo
sư Padma nói: Có nhiều người để cho sự thực hành Pháp
của họ thành sự hời hợt bề ngoài.
Công
chúa Tsogyal hỏi: Điều ấy thế nào?
Đạo
sư nói: Là hời hợt bề ngoài khi tụng tán kinh kệ mà không
có niềm tin.
Là
hời hợt bề ngoài khi vị tha mà không cảm thấy lòng bi.
Là
hời hợt bề ngoài khi rộng lượng bố thí mà không thoát
khỏi keo kiệt.
Là
hời hợt bề ngoài khi là một hành giả Mật thừa mà không
giữ những thệ nguyện cam kết.
Là
hời hợt bề ngoài khi là một nhà sư mà không giữ giới
nguyện.
Là
hời hợt bề ngoài khi tỏ ra cao cả mà không thiền định.
Là
hời hợt bề ngoài khi có kiến thức mà không thực hành Pháp.
Là
hời hợt bề ngoài khi dấn thân vào một Pháp môn mà không
có tinh túy của thực hành.
Là
hời hợt bề ngoài khi dạy cho những người khác mà tự mình
lại không hành động phù hợp với Pháp.
Là
hời hợt bề ngoài khi cho lời khuyên nhủ mà bản thân người
ta không theo.
Bất
luận là thế nào, ta đã chán nghe những người uyên bác mà
sự thực hành Pháp của họ không thuần hoá được tâm thức
của chính họ mà họ chỉ để cho nó thêm lên phiền não
nhiễu loạn, bất cứ điều gì họ nói không là gì cả ngoài
sự nói năng cạn cợt.
MƯỜI
LOẠI THỔI PHỒNG HOANG ĐƯỜNG
Đạo
sư Padma nói: Khi thực hành Pháp có mười loại thổi phồng
hoang đường.
Công
chúa Tsogyal hỏi: Chúng là gì?
Đạo
sư nói: Là hoang đường khi tuyên bố hiểu biểt Pháp mà chưa
từng nghe những giáo lý.
Là
hoang đường nếu con tuyên bố có những thần lực mà
chưa từng thực hành sadhana.
Là
hoang đường nếu con tuyên bố nhận được những ban phước
gia bị mà chưa từng có lòng sùng mộ.
Là
hoang đường nếu con tuyên bố đã đạt đến Pháp tánh mà
chưa từng thiền định.
Là
hoang đường nếu con tuyên bố đã tìm được một vị thầy
mà chưa từng phụng sự Ngài.
Là
hoang đường nếu con tuyên bố đã giải thoát nhờ một giáo
lý mà không có dòng truyền thừa.
Là
hoang đường nếu con tuyên bố có chứng ngộ mà không có
những giáo huấn khẩu truyền.
Là
hoang đường nếu con tuyên bố bản thân được giải thoát
mà chưa từng làm một thực hành nào.
Là
hoang đường nếu con tuyên bố có thực hành khi mà không có
tinh tấn.
Là
hoang đường nếu con tuyên bố có những hoàn cảnh thuận
lợi tốt lành khi mà không giữ những thệ nguyện cam kết.
Bất
luận thế nào, người muốn thực hành dễ dàng mà không phải
chịu những khó nhọc đều chỉ là những kẻ khoác lác và
không bao giờ thành công.
TRÁNH
MƯỜI LỖI LẦM
Đạo
sư Padma nói: Khi thực hành Pháp, con phải chắc chắn không
rơi vào mười lỗi lầm.
Công
chúa Tsogyal hỏi: mười lỗi lầm đó là gì?
Đạo
sư nói: Dù con có thể thực hành thiền định, nếu điều
đó không trở thành một món thuốc trị dứt những phiền
não và loạn tưởng của con, thì con có lỗi lầm là những
giáo huấn khẩu truyền không được làm cho hiệu quả.
Dù
con có thể nhận biết tâm thức con, nếu điều đó không
giải thoát con khỏi thức phân biệt thiên chấp, thì con có
lỗi lầm là đã không gặp được giáo huấn đặc biệt.
Dù
con có thể có sùng mộ mạnh mẽ, nếu con không nhận được
những ban phước, thì con có lỗi lầm là đã không nối kết
với một vị thầy thành tựu.
Dù
con có thể rất nỗ lực, nếu sự thực hành của con không
tiến bộ, thì con có lỗi lầm là tâm thức con chưa được
tịnh hóa đầy đủ.
Nếu
con cảm thấy mệt mỏi khi đi vào thực hành tâm linh, thì
con có lỗi lầm là đã không nhận biết trạng thái bổn nhiên
của tánh giác của con.
Dù
con thực hành, nếu tâm thức con vẫn phân tán, thì con có
lỗi lầm là đã không có được sự tự tin trong thiền định.
Nếu
kinh nghiệm không sanh khởi trực tiếp từ trạng thái tâm
thức con, thì con có lỗi lầm là đã lạc vào shamatha (thiền
chỉ).
Nếu
sức mạnh của tỉnh giác không sanh khởi trong hiện thể[24]
của con, thì con có lỗi lầm là không biết làm thế nào dùng
những hình tướng xuất hiện như những trợ giúp cho con đường.
Nếu
con cảm thấy khó khăn cắt đứt sự bám níu của con vào
phiền não, thì con có lỗi lầm là không biết làm thế nào
để dùng năm độc như con đường.
Nếu
con không thể đương đầu với khổ đau và những khó khăn,
thì con có lỗi lầm là không biết làm thế nào để xoay tâm
thức con khỏi sanh tử.
Bất
luận thế nào, khi con cho rằng mình thực hành Pháp mà vẫn
còn đầy đủ những lỗi lầm ở bên trong, làm sao có được
cơ may nào gặp những hoàn cảnh tốt đẹp?
MƯỜI
PHẨM TÍNH ĐỨC HẠNH
Đạo
sư Padma nói: Con cần mười đức hạnh như dấu hiệu đã
thực hành Pháp.
Công
chúa Tsogyal hỏi: Mười đức hạnh ấy là gì?
Đạo
sư nói: Nếu con có thể chiến thắng tư tưởng phân tán vọng
động, đó là dấu hiệu đã nhận biết trạng thái tự nhiên
của tánh giác.
Nếu
trí tuệ của tinh túy tâm biểu lộ không thiên chấp, đó
là dấu hiệu những giáo huấn khẩu truyền đã có hiệu quả.
Nếu
con thấy biết thầy của con là một vị Phật chân thực,
đó là dấu hiệu đã phát sanh lòng sùng mộ đối với thầy.
Nếu
con nhận được những ban phước gia bị không trở ngại,
đó là dấu hiệu dòng truyền thừa của các thành tựu giả
(siddha) không bị đứt đoạn.
Khi
nỗ lực áp dụng tỉnh giác, nếu con có thể chuyển đổi
trạng thái của tâm thức con một cách không trở ngại, đó
là đức hạnh đã tu hành năng lực trọn vẹn của tỉnh giác.
Nếu
con cảm thấy không mệt mỏi dù con thực hành suốt ngày đêm,
đó là đức hạnh đã đạt đến điểm then chốt của tâm-khí
(khí: prana)
Nếu
không có sự khác biệt nào về sự sáng tỏ dù con thực hành
hay không thực hành, đó là dấu hiệu đã đạt được tự
tin trong thiền định.
Nếu
con có thể tự nhớ đến Pháp tánh bất kể tư tưởng hay
hình tướng nào xảy ra với con, đó là dấu hiệu đã dùng
những hình tướng xuất hiện như những trợ giúp trên
con đường.
Nếu
xác chết của những phiền não không khởi sanh hay dù có khởi
sanh, nếu nó được làm bình lặng tức thời, đó là dấu
hiệu đánh tan tự nhiên năm độc.
Nếu
con bất bại đối với khổ đau và những khó khăn, đó là
đức hạnh đã hiểu vô thường là tính chất của sanh tử.
Bất
luận thế nào, những đức hạnh xuất hiện từ trong chính
con khi Pháp mọc lên như mặt trời trong hiện thể con. Những
người Tây Tạng không có đức tin, siêng năng hay trí thông
minh sẽ khó có những đức hạnh khởi sanh từ bên trong họ.
MƯỜI
DẤU HIỆU
Đạo
sư Padma nói: Khi con chịu ảnh hưởng của Pháp, sẽ có mười
dấu hiệu.
Công
chúa Tsogyal hỏi: Mười dấu hiệu ấy là gì?
Đạo
sư nói: Khi sự chấp thủ của con giảm đi, đó là dấu hiệu
đã trục xuất được ác ma bám trụ vào hiện hữu cụ thể.
Khi
sự bám luyến của con giảm bớt, đó là dấu hiệu thoát
khỏi khao khát tham muốn.
Khi
những phiền não của con giảm bớt, đó là dấu hiệu năm
độc đã được lặng dứt bên trong.
Khi
sự vị kỷ của con giảm đi, đó là dấu hiệu đã trục
xuất được ác ma chấp ngã.
Khi
con thoát khỏi mê mờ rối rắm và không bám giữ một điểm
qui chiếu nào cả, đó là dấu hiệu tri giác mê lầm của
con đã sụp đổ.
Khi
con thoát khỏi những ý niệm về người thiền định và đối
tượng thiền định, và không bao giờ mất cái thấy về bản
tính bổn nguyên của mình, đó là dấu hiệu con đã gặp bà
mẹ pháp tánh[25] .
Khi
bất cứ tri giác nào khởi lên như một kinh nghiệm cá nhân
không thiên chấp, đó là dấu hiệu đã đạt đến cốt lõi
của cái thấy và thiền định.
Khi
đã giải quyết sanh tử và niết bàn là không thể phân chia,
đó là dấu hiệu sự chứng ngộ đầy đủ đã sanh khởi
bên trong.
Tóm
lại, khi con không bám vào thậm chí cả thân thể của mình,
đó là dấu hiệu hoàn toàn thoát khỏi tham luyến.
Khi
con vẫn không bị tác hại bởi khổ đau và những khó khăn,
đó là dấu hiệu đã thấu hiểu những hình tướng là huyễn.
Khi
con chỉ có một mức độ nhỏ tám mối quan tâm thế gian,
đó là dấu hiệu đã nhận biết bản tánh của tâm.
Bất
luận thế nào, khi những dấu hiệu bên trong của con biểu
hiện ra bên ngoài, đó cũng giống như một cái cây trở lá.
Khi những dấu hiệu bên ngoài được người khác ghi nhận
đó cũng giống như quả của cây đó đã chín muồi và có
thể ăn được.
Có
nhiều người thực hành Pháp không có thậm chí cả một
phẩm tánh đức hạnh nào. Người chứng ngộ thì cực kỳ
hiếm hoi, thế nên thiết yếu là con hãy nỗ lực thực hành
thiền định.
MƯỜI
SỰ KIỆN
Đạo
sư Padma nói: Đối với tất cả người nào có thể thực
hành Pháp, có mười điều kiện.
Công
chúa Tsogyal hỏi: Mười sự kiện đó là gì?
Đạo
sư nói: Khi sự có mặt của những giáo lý của Đức Phật
trùng hợp đồng thời với sự đạt được thân người của
một ai, đó là sự kiện người đó đã có sự tích tập
công đức và trí tuệ trong những đời trước.
Khi
một người ưa thích Pháp và một vị thầy có giáo huấn
khẩu truyền gặp gỡ, đó là sự kiện giống như một người
mù tìm được một viên ngọc như ý.
Khi
sự đạt được thân người toàn vẹn trùng hợp với có
niềm tin và trí thông minh, đó là sự kiện dòng tương tục
nghiệp quả của việc tu hành đời trước đã được đánh
thức.
Khi
con giàu có mà lúc ấy gặp những người ăn xin, đó là sự
kiện đã tới thời của bố thí ba la mật.
Khi
cái hồ của khốn khổ tràn đầy lúc con cố gắng dấn thân
vào thực hành tâm linh, đó là sự kiện nghiệp xấu và những
che chướng của con đang được tịnh hóa.
Nếu
con gặp sự thù nghịch không có lý do khi đang cố gắng xoay
tâm thức con về Pháp, đó là sự kiện đấy là một người
hướng dẫn đưa con trên con đường nhẫn nhục.
Khi
sự thấu hiểu của con về tính vô thường của các sự việc
có điều kiện và niềm tin toàn hảo của con trùng hợp với
sự nhận được những giáo huấn sâu sa, đó là sự kiện
đã tới thời để xoay tâm thức con xa lìa đời sống của
một người thế gian.
Khi
nỗi sợ chết của con trùng hợp với cái chết của một
người khác, đó là sự kiện đã tới thời cho lòng tin đặc
biệt sanh khởi.
Bất
luận thế nào, nếu trước tiên con cố gắng hoàn thành những
theo đuổi thế gian và sau đó hoạch định việc thực hành
Pháp, thì quả là lạ lùng nếu con sẽ tìm thấy cơ hội để
làm được như vậy! Thế nên chỉ một số ít được giải
thoát khỏi sanh tử.
Đạo
sư Padma nói: Khi thực hành Pháp có bảy loại hư thối.
Công
chúa Tsogyal hỏi: Chúng là gì?
Đạo
sư nói: Nếu lòng tin của con thì nhỏ trong khi trí thông
minh của con lớn, con trở nên hư thối bằng cách tự xem mình
là một vị Thầy.
Nếu
con có nhiều người đến nghe Pháp trong khi sự tự cao của
con là lớn, con trở nên hư thối bằng cách tự xem mình là
một thiện tri thức.
Nếu
con tỏ ra có những phẩm tánh cao cả trong khi không tự mình
thực hành chúng, con trở nên hư thối bằng cách làm một
nhà chuyên môn về Pháp không có thực chất.
Nếu
con thích nói những lời lảm nhảm vô nghĩa trong khi không
có Pháp trong lòng, con trở nên hư thối bằng cách làm một
thiền giả bịp bợm tham lam.
Nếu
con có chút việc học trong khi thiếu những giáo huấn khẩu
truyền, con trở nên hư thối bằng cách làm một kẻ tầm
thường dù lòng tin của con có thể lớn.
Một
hành giả chân chính hành động phù hợp với những lời dạy
chân thật cần giải thoát mình với trí thông minh, thuần
hóa tâm thức mình với lòng tin, cắt đứt tà kiến bằng
các giáo huấn khẩu truyền, vất bỏ những quan tâm xã hội,
hoà trộn tâm thức mình với Pháp, hoàn thiện hiểu biết
với nghe và suy nghĩ, giải quyết tâm thức mình với những
giáo huấn khẩu truyền, và đạt được sự xác tín tối
hậu qua cái thấy và thiền định. Tuy nhiên, điều ấy là
khó khăn.
HIỂM
NGUY CỦA NHỮNG LẦM LẪN
Đạo
sư Padma nói: Có thể có nhiều loại lầm lẫn với những
người đã đi vào cửa Pháp. Hãy cẩn thận!
Công
chúa Tsogyal hỏi: Những lầm lẫn ấy là gì?
Đạo
sư nói: Có thể lầm lẫn một người thầy đã nghiên cứu
thông minh mà cho là một thiện tri thức đã giải thoát qua
học hỏi và tư duy.
Có
thể lầm lẫn một chuyên gia về Pháp không thực chất, không
tự mình thực hành mà cho là người đã có kinh nghiệm qua
thực hành cá nhân.
Có
thể lầm lẫn một người đạo đức giả lừa dối mà cho
là một người cao cả đã điều phục tâm thức mình qua thực
hành Pháp.
Có
thể lầm lẫn những lời trống rỗng của sự hùng biện
rỗng tuếch mà cho là sự chứng ngộ của người có những
giáo huấn khẩu truyền.
Có
thể lầm lẫn một người khoác lác oang oang về Pháp mà cho
là sùng mộ đối với thực hành Pháp của một người có
lòng tin.
Bất
luận thế nào, con phải hoà trộn tâm thức con với Pháp một
cách chắc chắn. Người thực hành Pháp ngoài môi mép tự
cho là những hành giả trong khi vẫn để Pháp ở xa bên
ngoài họ, sẽ không có thành công nào trong việc thực hành
Pháp.
BỐN
PHÁP
Đạo
sư Padma nói: Con phải chắc chắn sự thực hành Pháp của
con trở thành Pháp đích thực. Con phải chắc chắn Pháp của
con trở thành con đường đích thực. Con phải chắc chắn
con đường c