LƯỢC
SỬ VỀ ĐỨC LIÊN HOA SANH
NGÀI
JAMGON KONGTRUL ĐỆ NHẤT
Tiểu
sử vắn tắt về cuộc đời của Đức Liên Hoa Sanh, cũng
được biết là Guru Rinpoche hay Padmakara, được trích ra từ
“vòng hoa lam ngọc quý báu”, một bộ sưu tập nói về cuộc
đời của 108 vị terton chính do Ngài Jamgon Kongtrul đệ nhất
viết và thấy trong quyển 1 thuộc bộ Rinchen Terdzo của Ngài.
Đức
Padmakara đã ảnh hưởng đến vô số chúng sanh qua giáo huấn
Kim Cương Thừa, đặc biệt là qua hoạt động chôn dấu những
kho tàng terma thâm sâu. Bậc Thầy vĩ đại này không phải
là người thường trên con đường cũng không phải là thánh
nhân của những địa Bồ Tát mà là một hóa thân của cả
hai Phật A Di Đà và Thích Ca Mâu Ni, xuất hiện để thuần
phục nhân loại và những tinh linh khó thay đổi.
Ngay
cả những đại Bồ Tát cũng khó giải nghĩa đầy đủ những
gương mẫu về cuộc đời Ngài, nên tôi xin được tường
thuật vắn tắt như sau.
Trong
cõi Pháp thân của Tinh túy Kim Cương Quang, Đức Guru Rinpoche
nhờ đạt tự tánh giác ngộ viên mãn từ vô thủy như nền
tảng giải thoát của thanh tịnh nguyên sơ. Ngài nổi tiếng
là đấng Thủ Hộ nguyên thủy Bất biến Quang.
Trong
cõi Báo thân tự-hiển lộ của Sấm Trống Viên mãn, Ngài
đồng thời biểu hiện Vô tận Trí của ngũ bộ Vô biên Đại
dương Chư Phật đang sở hữu ngũ trí.
Như
hiển lộ bên ngoài của sự phô diễn tự-hiện này, trong
vô số phô diễn tướng thân ở những cõi của năm gia đình
Phật bao gồm cõi Hóa thân tự nhiên cùng hiển lộ của Đại
Phạm Thiên, Ngài xuất hiện đến tất cả Bồ Tát ở mười
địa. Vì tất cả những điều này là những đám mây phô
diễn trí tuệ của Guru Rinpoche, “Vô tận Luân Trang nghiêm”
nên Ngài được biết là Đấng Trì Thủ Trọn Vẹn Liên Hoa.
Bằng
năng lực của những phô diễn trí tuệ này Ngài xuất hiện
trong vô số thập phương thế giới như sự xuất hiện huyền
diệu của Hóa thân, bậc điều phục chúng sanh. Đặc biệt
ở cõi Ta bà này, Ngài soi sáng năm mươi thế giới với ngọn
đèn giáo lý sutra và tantra hiển lộ như tám hóa thân để
điều phục chúng sanh trong những nơi khác nhau trên thế giới.
Dakini
Yeshe Tsoygal đã có linh kiến thấy một hóa thân của Ngài
gọi là Vô biên Kim cương Hải ở hướng Đông. Mỗi lỗ chân
lông trên thân Ngài chứa một tỷ cõi và trong mỗi cõi chứa
một tỷ hệ thống thế giới. Trong mỗi hệ thống thế giới
này có một tỷ Guru Rinpoche mà mỗi vị lại tạo ra một tỷ
hóa thân. Mỗi hóa thân này thuần phục cho một tỷ đệ tử.
Sau đó Bà thấy sự phô diễn tương tự ở phương trung ương
và trong mỗi phương khác.
Trong
cõi Diêm Phù Đề này, Guru Rinpoche chỉ là một hóa thân, bậc
điều phục chúng sanh[3] mà tùy theo khả năng, căn cơ
của từng người sẽ cảm nhận Ngài theo nhiều cách. Quyển
Lịch Sử Khẩu Truyền Kilaya và hầu hết nguồn tài liệu
Ấn Độ đều giải thích rằng Ngài sinh ra là con vua hay là
một bộ trưởng ở Uddiyana, trái lại phần lớn những kho
tàng terma kể lại rằng Ngài sinh ra một cách kỳ diệu. Trong
một số kinh văn nói Ngài xuất hiện từ một tia chớp trên
đỉnh Malaya. Mỗi câu chuyện kỳ diệu đều khác nhau. Thật
sự đây là một chủ đề vượt lên tầm hiểu biết của
trí tuệ người thường.
Sự
giải thích giới hạn của tôi chỉ là một nguyên nhân, cuộc
đời Ngài Guru Rinpoche sinh ra kỳ diệu ra sao đã được ghi
trong giáo huấn terma.
Trong
xứ Uddiyana ở hướng tây Bodhgaya (Bồ Đề Đạo Tràng) có
một hòn đảo trong Hồ Danakosha, nhờ ân phước của chư Phật,
trên đó xuất hiện một hoa sen nhiều màu sắc. Đức Phật
A Di Đà gởi từ giữa tâm Ngài một (chày) Vajra vàng có khắc
chữ HRIH vào nụ hoa sen này, và kỳ diệu thay, hoa sen chuyển
thành một đứa trẻ tám tuổi tay cầm một chày và một hoa
sen, được trang hoàng bằng những dấu ấn chính và phụ.
Đứa trẻ ngụ ở đó và giảng dạy Giáo Pháp cao sâu cho
chư Thiên và Dakini trên hòn đảo đó.
Vào
lúc đó vị vua của xứ này là Indrabodhi, không có con. Ông
đã cúng dường hết kho tàng của mình lên Tam Bảo và bố
thí cho người nghèo để cầu con. Như một phương sách cuối
để tìm ngọc như ý, Ông bắt đầu cuộc du hành đến Hồ
lớn Danakosha với vị bộ trưởng Krishnadhara. Trên đường
về trước tiên là Krishnadhara và sau đó Vua Indrabodhi gặp
đứa trẻ kỳ diệu. Nhà Vua xem Ngài như kết quả của
việc cầu con và đem Ngài về cung điện, ở đó ông đặt
tên Ngài là Padmakara, Liên Hoa Sanh. Sau đó Ngài Padmakara được
mời ngồi lên ngai bằng những viên ngọc quý và tất cả
dân chúng cúng dường rất nhiều.
Khi
lớn lên, vị hoàng tử làm cho nhiều người cùng trưởng
thành qua các môn thể thao và trò chơi thời thanh niên của
Ngài. Ngài lập gia đình với Prabhadhari và cai trị vương quốc
Uddiyana theo Giáo Pháp. Vào lúc nhận ngôi, Ngài thấy không
thể đem lại lợi ích lớn lao cho người khác bằng việc
làm cho đất nước phát triển nên Ngài xin Vua Indrabodhi cho
phép thoái vị nhưng không được chấp thuận. Thế nên trong
một cuộc chơi, Ngài giả vờ làm ngọn giáo tuột khỏi tay
và giết chết con của một bộ trưởng. Do vậy Ngài bị kết
án lưu đày đến một nghĩa địa. Ngài sống ở Băng Viên,
Hoan hỷ Lâm, và Sosaling, thực hiện giới luận đạo đức
của một hành giả yogi. Trong thời gian này Ngài nhận được
quán đảnh và ân phước của hai dakini là Đấng Hàng phục
Ma Vương và Bậc Duy trì Cực Lạc. Khi triệu thỉnh tất cả
dakini của nghĩa địa dưới lệnh mình, Ngài được biết
là Shantarakshita.
Padmakara
trở về xứ Uddiyana đến hòn đảo trong hồ, ở đó Ngài
thực hành Mật Chú và ngôn ngữ biểu tượng của chư dakini,
nhờ vậy, Ngài đem chư dakini đến hòn đảo dưới mệnh lệnh
của mình. Sau đó Ngài tu hành ở Rừng Khổ Hạnh và được
ban phước linh kiến thấy Vajra Yogini. Ngài ràng buộc tất
cả loài Rồng trong những hồ cũng như những tinh linh của
hành tinh phát thệ bảo vệ Giáo Pháp nhờ sự trao quyền với
năng lực siêu nhiên của tất cả chư daka và dakini. Vì vậy
Ngài nổi danh là Dorje Drakpo Tsal (Đại lực Phẫn Nộ Kim Cương).
Sau
đó Ngài du hành đến kim cương ngai ở Bồ Đề Đạo Tràng,
tại đây Ngài phô diễn nhiều phép lạ. Dân chúng hỏi Ngài
là ai, và khi trả lời Ngài là một vị Phật tự-hiện, họ
không tin mà còn phỉ báng. Xét thấy có nhiều lý do phải
có một vị thầy, Ngài đến Sahor, ở đó Ngài thọ giới
với Prabhahasti và được ban pháp danh Shakya Sangye. Ngài nhận
giáo huấn về tantra yoga mười tám lần và có linh kiến của
các Bổn Tôn. Sau đó Ngài đến nữ đạo sư Kungamo, là
bậc trí tuệ dakini Guhyasamaya xuất hiện trong thân tướng
của một sư ni. Ngài yêu cầu được quán đảnh và Bà chuyển
Ngài thành chủng tự HUM, sau đó Bà nuốt Ngài vào và nhả
ra qua hoa sen của Bà. Bên trong thân Bà, Ngài được ban toàn
bộ quán đảnh bên ngoài, bên trong, bí mật và được tịnh
hóa ba che chướng (thân, khẩu, ý).
Sau
này Ngài gặp tám vị Đại Trì Minh Vương và thọ tám phần
nghi quỹ. Ngài thọ nhận Maya Jala từ đại sư Buddha Guhya và
Dzogchen từ tổ Shri Singha. Theo cách này, Ngài thọ nhận và
học tập tất cả sutra, tantra từ rất nhiều học giả và
những vị tổ đã thành tựu của Ấn Độ. Ngài rất thông
tuệ, chỉ cần nghiên cứu một chủ đề chỉ một lần mà
đã có linh kiến của tất cả Bổn Tôn không cần thực hành.
Vào lúc đó, Ngài được biết là Loden Choksey và phô diễn
cách thức viên mãn của bậc vidyadhara đẳng cấp cao tột.
Kế
tiếp, Ngài đến vùng ngoại ô của Sahor. Tại đó Ngài lôi
cuốn công chúa Mandarava, con gái của Vua Vihardhara. Ngài nhận
Bà như sự hỗ trợ nghi quỹ của mình, và họ thực hành
ba tháng trong Động Maratika, sau này Đức Phật Vô Lượng Thọ
(Amitayus) xuất hiện trong thân người ban quán đảnh trên họ
và ban phước để bất khả phân với Đức Phật. Họ được
ban một tỷ tantra về trường thọ và đạt thành tựu của
vidyadhara thuộc đẳng cấp làm chủ cuộc sống. Thành tựu
Kim Cương Thân vượt khỏi sinh tử, các Ngài trở lại vương
quốc Sahor để hoằng Pháp. Khi khất thực, các Ngài bị nhà
vua và bộ trưởng bắt và đem thiêu sống, vị Thầy và consort
tạo niềm tin bằng sự phô diễn huyền diệu; chuyển dàn
hỏa thiêu thành hồ nước lạnh giá, các Ngài ngồi trên hoa
sen giữa hồ. Các Ngài đã làm tất cả mọi người thực
hành Giáo Pháp miên mật và đã đưa họ vào trạng thái vượt
khỏi luân hồi.
Sau
đó, Đức Padmakara trở lại xứ Uddiyana để chuyển hóa dân
chúng. Trong khi trì bình khất thực, Ngài bị nhận diện và
đem hỏa thiêu trong một lò thiêu lớn tại rừng đàn hương.
Vị Thầy và phối ngẫu một lần nữa xuất hiện trên một
hoa sen giữa hồ không bị thương tổn, đeo một chuỗi sọ
người biểu tượng cho sự giải thoát tất cả chúng sanh
khỏi luân hồi. Vì sự phô diễn phép màu này Ngài được
biết là Padma Thotreng Tsal (Đại Lực Liên Hoa của Chuỗi Sọ).
Ngài lưu lại Uddiyana trong mười ba năm như một vị thầy
của nhà Vua và làm cho toàn vương quốc thực hành Giáo Pháp.
Trong thời gian này, Ngài ban quán đảnh và giáo huấn cho Kadue
Chokyi Gyamtso là Biển Pháp Biểu Tượng Cho Mọi Giáo huấn.
Nhờ đó vua và hoàng hậu cùng tất cả những người có căn
cơ đã thành tựu đẳng cấp vidyadhara tối thượng. Do vậy
Ngài được biết là Padma Raja (Liên Hoa Vương).
Tương
ứng với một tiên tri trong Kinh Tri Kiến Huyền Diệu, Ngài
Padmakara tự biến thành nhà sư Wangpo Dey để chuyển hóa cho
vua A Dục (Asoka). Để xây dựng cho vua A Dục niềm tin bất
thoái chuyển, chỉ trong một đêm Ngài dựng nên trong thế
gian này một tỷ bảo tháp chứa những xá lợi của Đấng
Như Lai. Ngài cũng khuất phục một số vị thầy không phải
Phật Giáo, Ngài đã bị đầu độc bởi một vị vua nhưng
không bị thương tổn. Sau đó, khi bị ném xuống dòng sông,
Ngài làm nước sông chảy ngược, còn Ngài thì nhảy múa giữa
trời. Qua đó, Ngài được biết là Đại Lực Kim Xí Điểu.
Ngoài
ra, Padmakara còn tự hiện thân trong thân tướng Acharya Padmavajra,
vị Thầy đã phát hiện Tantra Hevajra, cũng như Brahmin Saraha,
Dombi Heruka, Virupa, Kalacharya, và nhiều vị thành tựu (siddha)
khác. Ngài tu hành trong những đại mộ địa, ở đó Ngài
dạy Kim Cương Thừa cho chư dakini. Ngài hàng phục những tinh
linh thế gian bên ngoài và bên trong, chỉ định cho họ làm
những người bảo vệ Giáo Pháp. Vào lúc đó, Ngài được
biết là Nyima Oser.
Khi
năm trăm vị thầy ngoại đạo sắp đánh bại Giáo Pháp trong
một cuộc tranh luận tại Bồ Đề Đạo Tràng, Đức Padmakara
thách thức họ và Ngài đã chiến thắng. Một số tà sư phải
viện đến tà thuật, nhưng Padmakara đánh tan họ bằng mantra
phẫn nộ mà Ngài đã được dakini Hàng phục Ma Vương ban
cho. Tất cả họ đều chuyển tâm theo Phật Giáo và ngọn
cờ Giáo Pháp tung bay trên bầu trời. Vào lúc đó Ngài được
biết là Senge Dradrok. Lúc đó Ngài diệt hết ba nhiễm ô và
an trụ trong đẳng cấp Vidyadhara làm chủ cuộc sống.
Đi
đến động Yanglesho ở giữa Ấn Độ và Nepal, Ngài gặp Shakya
Devi con gái vua xứ Nepal, người đã nhận lời hỗ trợ và
làm phối ngẫu cho nghi quỹ của Ngài. Trong khi Ngài thực hành
Vishuddha Heruka, ba tinh linh hùng mạnh đã ngăn không cho mưa
trong ba năm tạo ra bệnh tật và đói kém. Đức Padmakara gởi
người đem tin về Ấn Độ cầu những vị thầy của Ngài
ban cho một giáo huấn có thể chống lại những che chướng
này. Hai người đã trở về mang theo kinh văn Kilaya, những
che chướng tự nhiên được dẹp tan ngay khi họ vừa đến
Nepal. Sau đó, Padmakara và vị phối ngẫu thành tựu tất địa
tối thượng và an trụ trong đẳng cấp Vidyadhara đại ấn.
Guru
Rinpoche nhận thấy việc thực hành nghi quỹ của Vishuddha Heruka
đem lại đại thành tựu. Nhưng thực hành này cũng giống
như người đi buôn gặp nhiều chướng ngại, còn Kilaya giống
như sự bảo hộ không thể thiếu. Vì sự trùng hợp ngẫu
nhiên này, Guru Rinpoche đã soạn thảo nhiều nghi quỹ chứa
hai Heruka này. Tại nơi đây Ngài ràng buộc mười sáu vị
bảo vệ thế gian phát nguyện giữ gìn nghi quỹ Kilaya.
Đức
Padmasambhva viếng thăm nhiều vương quốc cổ khác và truyền
dạy Giáo Pháp: như Hurmudzu ở gần Uddiyana, Sikojhara, Dharmakosha,
Rugma, Tirahuti, Kamarupa, vàKancha, cũng như nhiều nơi khác. Kinh
văn không nói rõ Ngài có đến xứ Droding hay không, nhưng những
giáo huấn tantric Ngài đã ban về Hevajra, Guhyachandra Bindu, Vishuddha,
Hayagriva, Kilaya, và Mamo vẫn còn truyền đến ngày nay.
Padmakara
được xem là sống ở Ấn Độ đến ba ngàn sáu trăm năm
giảng dạy làm lợi ích chúng sanh. Nhưng những học giả chỉ
chấp nhận một nửa số năm; vì đó chỉ là con số tượng
trưng.
Để
chuyển tâm dân xứ Mông Cổ và Trung Quốc, Đức Padmakara hóa
thân thành Vua Ngonshe Chen và hành giả Tobden. Ngoài ra Ngài còn
xuất hiện như thần đồng ở vùng ngoại ô Shangshung, Ngài
đã ban những giáo huấn về dòng truyền nghe của Đại Viên
Mãn (Dzogchen) và dẫn dắt nhiều đệ tử xứng đáng thành
tựu thân cầu vồng.
Bằng
nhiều phương tiện, xuất hiện nhiều nơi, trong nhiều thân
tướng khác nhau, nói nhiều thứ tiếng, những hoạt động
của Đức Padmakara thật sự vượt lên mọi suy lường.
Bây
giờ, tôi xin mô tả lại việc Ngài Padmakara đến xứ Tây
Tạng ra sao. Khi Vua Trisong Deutsen, một hóa thân của Bồ Tát
Văn Thù, được hai mươi tuổi; trong Ngài hình thành một khao
khát mạnh mẽ về Giáo Pháp thiêng liêng được phổ biến.
Ngài mời Bồ Tát Khenpo[4] từ Ấn Độ, bậc đã dạy
thập thiện hạnh và thập nhị nhân duyên. Một năm sau, nền
móng của một ngôi Đại Tự đã xong, nhưng những tinh linh
của Tây Tạng tạo chướng ngại và ngăn cản việc xây cất.
Phù hợp với tiên tri của Ngài Khenpo, nhà vua cử năm người
nhanh chóng mời thỉnh đại sĩ Padmakara. Biết trước việc
này, Padmakara đã đến Manyul ở giữa Nepal và Tây Tạng. Trên
đường đến miền trung Tây Tạng, Ngài đi qua Ngari, Tsang,
và Dokham dùng thần thông thăm tất cả các khu vực, ở đó
Ngài ràng buộc mười hai thiên nữ Tenma, mười ba Gurlha và
hai mươi mốt Genyen phát thệ, cũng như nhiều tinh linh hùng
mạnh khác.
Tại
Rừng Tamarisk ở Hồng Thạch, Ngài gặp vua Tây Tạng và lên
đỉnh Hepori thu phục quỷ thần. Ngài đạt nền móng cho tu
viện Samye và trông coi từ đầu đến khi hoàn tất, Ngài giao
cho những quỷ thần trước đây gây cản trở việc xây cất
phải làm việc. Trong năm năm đã xây dựng xong một quần
thể tự viện Samye Quang Vinh, Bất Biến và Thành Tựu Tự
nhiên Vihara, bao gồm ba tu viện của hoàng hậu, các quần thể
cung điện này đã xây theo biểu tượng Núi Tu Di bao quanh bởi
bốn châu lục, tám châu lục phụ, mặt trời, mặt trăng,
và tường thành của núi sắt. Trong lễ thánh hóa, đã xảy
ra năm đấu hiệu kỳ diệu.
Sau
đó nhà vua ước muốn phiên dịch kinh điển và thiết lập
Giáo Pháp, nên vua chọn những thiếu niên Tây Tạng thông minh
học để thành những dịch giả. Ngài mời những Pháp sư
thông hiểu Kinh, Luật, Luận từ Ấn Độ, nhờ Ngài Khenpo
thọ giới cho bảy vị tu sĩ đầu tiên và dần dần thiết
lập một tăng đoàn đã thọ giới. Bồ Tát Khenpo, Đức Padmakara
và các nhà hiền triết khác cùng Ngài Vairochana, Kawa Paltseg,
Chog-ro Lui Gyaltsen và những dịch giả khác đã trao tất cả
Kinh điển Hiển và Mật của Đạo Phật đang tồn tại cũng
như những luận thư giảng nghĩa về chúng cho Tây Tạng.
Vairochana
và Namkhai Nyingpo được gởi tới Ấn Độ, Ngài Vairochana học
Dzogchen với Tổ Shri Singha, trong lúc Namkhai Nyingpo tiếp nhận
giảng dạy về Vishuddha Heruka từ đại sư Hungkara. Cả hai
đều thành tựu và về hoằng Pháp ở Tây Tạng.
Sau
đó, Vua Trisong Deutsen thỉnh cầu Đức Padmakara quán đảnh
và hướng dẫn. Tại Chimphu, nơi ẩn tu trên Samye, đại sư
đã hiển lộ mandala tám nghi quỹ Heruka, Ngài làm lễ nhập
dòng cho nhà vua và tám người khác. Mỗi một vị được giao
phó với một trao truyền đặc biệt, và cả chín người đều
thành tựu nhờ thực hành giáo huấn.
Padmakara
đã ban vô số giáo huấn thâm sâu và kỳ diệu khác liên kết
với ba tanra nội cho nhiều đệ tử đã định trước, đứng
đầu là nhà vua và những con trai và hai mươi lăm vị đệ
tử ở Lhodrak, Tidro và nhiều nơi khác.
Guru
Rinpoche lưu lại Tây Tạng năm mươi lăm năm sáu tháng, bốn
mươi tám năm lúc nhà vua còn sống và và bảy năm sáu tháng
sau đó. Ngài đến Tây Tạng lúc nhà vua được hai mươi mốt
tuổi (810 sau Công nguyên). Nhà vua qua đời vào tuổi sáu mươi
chín. Padmakara ở lại vài năm sau đó trước khi rời khỏi
xứ La Sát (Tây Tạng).
Padmakara
đi thăm hai mươi ngọn núi tuyết của Ngari, hai mươi mốt
nơi thực hành ở miền trung Tây Tạng và Tsang, hai mươi lăm
nơi ở Dokham, ba thung lũng ẩn khuất và nhiều nơi khác. Mỗi
nơi Ngài đều ban phước thành nơi thiêng liêng để thực
hành. Biết trước vị vua sau này sẽ phá hoại Phật Giáo
ở Tây Tạng, Ngài ban nhiều tiên tri cho tương lai. Hội ý
với nhà vua và những đệ tử thân cận, Padmakara chôn dấu
vô số giáo huấn terma, chủ yếu tại tám kho tàng của cá
nhân nhà vua, năm kho đại trí, và hai mươi lăm kho vi diệu.
Lý do chôn dấu những terma này là ngăn ngừa sự hủy diệt
giáo huấn Kim Cương Thừa, tránh sự thêm thắt hay làm sai
lạc Kim Cương Thừa của giới trí thức sau này, để bảo
tồn ân phước và làm lợi ích cho những đệ tử trong tương
lai. Với mỗi kho tàng chôn dấu này, Đức Padmakara đều tiên
tri thời gian phát hiện, người nào sẽ phát hiện và người
gìn giữ giáo huấn đã định trước. Ngài biểu lộ tướng
phẫn nộ khủng khiếp của trí tuệ điên ở mười ba nơi
tên là Hang Cọp, ràng buộc tất cả tinh linh thế gian dưới
lời thề phục vụ Giáo Pháp, và giao cho họ canh giữ những
kho tàng terma. Vào lúc đó Ngài có tên là Dorje Drollo.
Để
gợi niềm tin cho những thế hệ tương lai, Ngài để lại
dấu ấn thân Ngài tại Bumthang dấu bàn tay Ngài
tại Namtso Chugmo, và dấu chân tại Paro Drakat cũng như vô số
dấu ấn ở những chỗ thực hành khác.
Sau
cái chết của Vua Trisong Deutsen, Padmakara đưa Mutig Tsenpo lên
ngôi. Ngài thực hiện một drubchen tại Tramdruk, Ngài trao giáo
huấn thâm sâu cho Gyaltse, vị hoàng tử thứ hai và ban tiên
tri rằng ông sẽ làm lợi ích chúng sanh do trở thành một
vị khai mật tạng trong mười ba kiếp sau.[5]
Không
thể tính đếm được có bao nhiêu đệ tử ở Tây Tạng đã
nhận được quán đảnh từ Đức Padmakara trong thân người,
nhưng phần lớn được nổi tiếng là hai mươi lăm vị đệ
tử ban đầu, hai mươi lăm vị ở khoảng giữa, sau này là
mười bảy và hai mươi mốt đệ tử. Có tám mươi đệ tử
của Ngài đắc thân cầu vồng tại Yerpa, và một trăm lẻ
tám thiền sư tại Chuwori, ba mươi hành giả tantrika tại Yangdzong,
và năm mươi lăm bậc giác ngộ tại Sheldrag. Về đệ tử
nữ có hai mươi lăm đệ tử dakini, và bảy yogini. Nhiều vị
đệ tử thân cận này có dòng truyền thừa liên tục cho tới
ngày nay.
Khi
Ngài sắp rời khỏi xứ la sát đến hướng Tây Nam, nhà vua
và bộ trưởng cùng tất cả đệ tử cố gắng can ngăn Ngài
Padmakara không đi, nhưng không hiệu quả. Ngài ban cho mỗi người
giáo huấn và khai thị rộng lớn và khởi hành từ đèo Gunthang,
cưỡi trên một con ngựa hay sư tử, chư thiên theo hộ
tống và cúng dường. Tại Đỉnh Núi Màu Đồng Quang Vinh trên
châu lục Chamara, Ngài giải thoát Raksha Thotreng, vua các la sát,
và mang hình tướng này. Sau đó, Ngài kiến tạo một cách
phi thường cung điện Liên Hoa Quang với nhiều trang hoàng kỳ
diệu không thể tưởng và Ngài lưu xuất ra tám thân trên
tám hòn đảo bao quanh, ở đó Ngài an trú như nhà vua giảng
dạy tám nghi quỹ Heruka.
Hiện
tại Ngài an trụ ở đẳng cấp vidyadhara tự-hiện trong tướng
quan nhiếp chính của Vajradhara (Kim Cương Trì), bất biến với
thời gian chừng nào luân hồi còn tồn tại. Tràn đầy lòng
bi, Ngài lưu xuất nhiều hóa thân làm lợi ích chúng sanh. Thậm
chí sau khi giáo huấn vinaya (luật tạng) bị hư hoại, Ngài
cũng sẽ xuất hiện với những hành giả tantric. Sẽ có nhiều
đệ tử đã định trước thành tựu thân cầu vồng. Trong
tương lai khi Đức Phật Di Lạc xuất hiện đến thế gian
này, Đức Padmakara sẽ hóa thân là một người được biết
là Drowa Kundul và truyền bá giáo huấn của Kim Cương Thừa
cho tất cả người xứng đáng.
Tiểu
sử vắn tắt này chỉ là một phần tường thuật để thích
nghi với những gì mà người học bình thường có thể tiếp
nhận[6] .
GIÁO
HUẤN DẪN NHẬP
Trong
thời gian mà thế giới chúng ta đang sống, một ngàn vị Phật
sẽ xuất hiện. Tương tự, mỗi vị Phật này sẽ có một
ngàn Guru Rinpoche thực hiện những hoạt động của các Ngài.
Trong thời hiện tại của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, một
thân lưu xuất trong thân người như vậy là Đức Padmasambhava,
Liên Hoa Sanh. Người ta nói rằng trong tiểu sử, Ngài tự nhiên
sinh ra từ một hoa sen ở trong một hồ mà không có cha mẹ.
Sinh ra với thân người một cách kỳ diệu như vậy, Ngài
được phú cho đại thần lực có khả năng hàng phục không
chỉ nhân loại mà còn những tinh linh và những loại phi nhân
khác. Ngài sống trong một thời gian dài. Ngài ở Ấn Độ
khoảng một ngàn năm và sau đó ở Tây Tạng năm mươi năm.
Khi sắp rời Tây Tạng Ngài được hai mươi lăm đệ tử chính
và nhà vua đưa tiễn. Tại biên giới Nepal Ngài được những
dakini của bốn bộ hộ tống trên một con ngựa gọi là Mahabala.
Con ngựa thần thoại này bay lên trời, để lại những đệ
tử nhìn hình ảnh Ngài Guru Rinpoche nhỏ dần rồi biến mất.
Theo
truyện, Đức Padmasambhava xuống Bồ Đề Đạo Tràng và ở
lại đó một thời gian. Sau đó đến tịnh thổ của Ngài
được biết là Sangdok Palri, Núi Huy Hoàng Màu Đồng. Về vật
chất, đó là một hòn đảo rộng lớn, một loại bán châu
lục, ở ngoài biển về hướng Tây Nam của Bồ Đề Đạo
Tràng. Đảo có một số tầng, chỗ thấp nhất là nơi cư
trú của la sát. Theo tiên tri của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni,
loài quỷ ăn thịt người này sẽ xâm nhập thế gian trong
một giai đoạn lịch sử sau này vào khoảng thời gian tuổi
thọ trung bình của con người là hai mươi. Tạo ra một hiểm
họa lớn, loài la sát sẽ khuất phục và tiêu diệt tất cả
nhân loại. Đức Phật cũng tiên tri rằng Ngài Padmashambhava
sẽ đến châu lục này và chiến thắng loài la sát. Guru Rinpoche
đã ứng với lời tiên tri.
Ngọn
núi chính trên đảo màu đồng này đi sâu xuống biển tới
cõi Long cung. Đỉnh núi đâm thủng bầu trời lên tới thế
giới Phạm Thiên của cõi sắc giới. Trên đỉnh núi là một
cõi Phật ba tầng xuất hiện kỳ diệu. Tầng trên cùng là
pháp thân lưu xuất của Guru Rinpoche, là Phật Vô Lượng Thọ
(Amitayus), tầng giữa là tướng báo thân của Guru Rinpoche,
là Đức Avalokitesvhara (Quán Tự Tại), và tầng dưới cùng
là tướng hoá thân của chính Guru Rinpoche bao quanh bởi tám
hiện thân. Guru Rinpoche là tâm lưu xuất của Phật A Di Đà,
ngữ lưu xuất của Quán Tự Tại và thân lưu xuất của Phật
Thích Ca Mâu Ni. Trước khi hiện thân đến thế gian này Ngài
xuất hiện trước tiên trong cõi báo thân như năm gia đình
Thotreng Tsal, sau đó là tám rồi mười hai hiện thân, và cuối
cùng là vô số thân lưu xuất.
Trước
lúc rời Tây Tạng, Guru Rinpoche tiên tri nhiều việc và đem
chôn dấu nhiều giáo huấn để tương lai sau này phát hiện.
Ngài ban phước cho những đệ tử thân cận được bất khả
phân với Ngài. Trong tương lai những thân tái sinh của họ
sẽ phát hiện những giáo huấn chôn dấu. Được phú cho đại
thần lực kỳ diệu như chính đức Guru Rinpoche, họ có thể
bay trong bầu trời, di chuyển tự do qua những vật thể cứng,
giải nghĩa vô chướng ngại kinh điển và luận thư cũng
như ý nghĩa những tantra. Đặc biệt là Guru Rinpoche tiên tri
sự xuất hiện của 108 vị đại terton, những bậc khai mật
tạng. Vì sự thay đổi thăng trầm trong lịch sử thế giới,
mỗi vị terton sẽ xuất hiện vào thời điểm đã định để
giúp chúng sanh đối mặt với khó khăn. Nhận biết được
những khó khăn trong tương lai, Guru Rinpoche chôn dấu những
thực hành đặc biệt nhất là khế hợp với thời điểm
được phát hiện. Khi các terton khám phá ra những terma thì
lúc đó sẽ có một giáo huấn hoàn toàn mới, khế lý, khế
cơ và có ý nghĩa trong thời gian và hoàn cảnh đặc biệt
đó. Ví dụ giống như chúng ta chuẩn bị thực phẩm tươi
mới để không bị bệnh, tương tự những giáo huấn terma
được phú cho những phẩm tính rất đặc biệt. Một phẩm
tính là những terma có dòng truyền vắn tắt sẽ không bị
gián đoạn vì bất kỳ vi phạm hoặc đứt samaya; ngoài ra,
những terma cũng không bị người khác tự ý thêm vào. Những
giáo huấn ẩn tàng bắt nguồn trực tiếp từ Đức Guru Rinpoche
và được phát hiện bởi những đệ tử của Ngài trong những
tái sanh tương lai; sau đó được phổ biến để nhanh chóng
thực hành.
Tóm
lại, để lặp lại và phát triển, phẩm tính đặc biệt
của những giáo huấn terma do Guru Rinpoche chôn dấu cung cấp
một thành tựu thích hợp cho mỗi thế hệ, từng thời điểm
và cá nhân gặp được. Mỗi vị terton phát hiện những giáo
huấn mới cho những người được định trước thực hành.
Những terma cũ có thể bị tì vết do đứt samaya, khiến trì
hỗn những dấu hiệu thành tựu. Vì vậy, những terma mới
có ân phước lớn hơn nên nhanh thành tựu. Hơn nữa, đa số
mọi người kể cả người Tây Tạng đều thích những gì
mới lạ. Những terma mới có vẻ hấp dẫn hơn! Người Tây
Tạng ít tin tưởng vào các terma cũ, nên kết quả của thực
hành bị trì hỗn. Niềm tin lớn hơn và tin tưởng vào những
terma mới khiến siêng năng thực hành nhiều hơn, nên kết
quả sẽ nhanh hơn. Đó là những nhân tố trùng khớp để
những terma mới xuất hiện. Nếu không thì một terma cho mỗi
một trong Ba Gốc Guru (Đạo sư), Yidam (Bổn Tôn) và Dakini là
đủ. Nhưng người ta thường thích những gì mới lạ; một
vị terton mới phát hiện một giáo huấn terma mới gây ra niềm
hoan hỷ to lớn. Điều này là một trong những phương tiện
thiện xảo của Guru Rinpoche.
Yeshe
Tsoygal là một trong năm lưu xuất của Vajra Yogini và, trong
cốt tuỷ cũng chính là biểu hiện của Đức Guru Rinpoche.
Bà xuất hiện để hỗ trợ Guru Rinpoche trong việc truyền
bá Kim Cương Thừa, nhất là những giáo huấn terma trong xứ
tuyết Tây Tạng.
Nhìn
bề ngoài theo nghĩa đen, từ dakini có nghĩa “người an trụ
trong hư không”, một vị trời không cần đi trên mặt đất.
Có nhiều loại dakini khác nhau: dkini trí tuệ, dakini hành động,
và dakini thế gian. Dakini trí tuệ thực sự là tánh hư không
của sự tỉnh giác sáng ngời. Sự nhận biết là khía cạnh
nam, trong khi trong nhận thức của chúng ta là phẩm tính nữ.
Như vậy bà mẹ vĩ đại của pháp thân là nền tảng của
tất cả dakini.
Trong
thực tế, nền tảng của tất cả Bổn Tôn nam là pháp thân
Phật Phổ Hiền (Samantabhadra) và nền tảng của mọi Bổn
Tôn nữ là Samantabhadri. Samantabhadra là nền tảng của tất
cả nhận thức và Samantabhadri là tánh hư không trong tất cả
nhận thức đó. Ngoài ra, Samantabhadri được gọi là nền tảng
của sự lưu xuất, vị nữ Phật đại trí. Vajra Varahi là
một báo thân lưu xuất của trí tuệ, như năm vị Phật nữ
Dhatvishvari, Mamaki, Buddhalochana, Pandaravasini, và Samayatara, là
những vị consort của năm vị Phật nam. Trên bình diện hóa
thân lưu xuất của trí tuệ là Đức Arya Tara. Đây là những
dakini trí tuệ của ba thân.
Thêm
vào các dakini trí tuệ, còn có những dakini thực hiện
những hoạt động giác ngộ vì lợi ích của mọi chúng sanh,
những dakini samaya (giới nguyện) giám sát cẩn thận những
cam kết tantric samaya của chúng ta. Cũng có những dakini sống
trong những thánh địa chính và phụ trong thế gian này như:
ba mươi hai thánh địa chính và hai mươi bốn thung lũng thiêng
liêng phụ, bao gồm tám đại mộ địa, được biết là sáu
mươi bốn nơi linh thiêng mà sáu mươi bốn vị daka và dakini
cư trú. Tương ứng với sáu mươi bốn địa điểm bên ngoài,
trên bình diện vi tế, chư daka và dakini cũng trụ trong sáu
mươi bốn trung tâm trên thân thể chúng ta như tinh túy thanh
tịnh của các kinh mạch, năng lượng, và tinh chất.
Yeshe
Tsoygal cũng là một lưu xuất của Đức Arya Tara. Arya Tara là
một lưu xuất của Vajra Varahi. Nền tảng lưu xuất của Vajra
Varahi là Prajnaparamita (Trí tuệ) và Samantabhadri. Ba thân nam
tương ứng là Phật Phổ Hiền, Phật Kim Cương Trì và Phật
Thích Ca Mâu Ni. Thật hoàn toàn sai lầm khi nói chỉ có phái
nam mới thành Phật còn phụ nữ thì không, vì cả hai Prajnaparamita
và Samantabhadri đều là Phật. Năm phương diện của Vajra Varahi
cũng là năm vị Phật toàn giác. Đức Arya Tara xuất hiện
trong thân tướng của một bồ tát ở địa thứ mười, nhưng
trong thực tế Bà cũng là một vị Phật toàn giác. Ngoài ra,
tám nữ bồ tát trong bốn mươi hai Bổn Tôn hiền minh cũng
là những vị Phật. Thuộc tính nam, nữ không phải là quyết
định tối hậu. Tám nam và nữ bồ tát trong số những Bổn
Tôn hiền minh trong trạng thái trung ấm về cốt lõi giống
hệt như tám thiên nữ mamo và tám yogini, tất cả phái nữ
đều thuộc về Bổn Tôn phẫn nộ. Những vị Phật nam xuất
hiện trong tướng người nữ, và ngược lại. Các dakini có
thể xuất hiện trong nhiều cách và hình tướng khác nhau,
một số có tướng phẫn nộ hay ghê sợ để ngăn chận những
tư duy và nhận thức sai lạc.
Cuối
cùng khi thực hành Giáo Pháp, thật là tốt khi nhớ lại phẩm
tính đặc biệt của hệ thống Kim Cương Thừa theo truyền
thống cựu dịch và nhất là giáo huấn Dzogchen là “nâng
cao hành vi đạo đức trong lúc hạ mình khiêm tốn trong quan
điểm.” Tuyên thuyết này của Guru Rinpoche là một quyết
định quan trọng. Nếu chúng ta bắt đầu hành động theo quan
niệm cao, thì giống như điên hay loạn trí. Nếu chỉ giữ
quan điểm của những thừa thấp chúng ta sẽ không bao giờ
gặp cơ hội giải thoát. Quan điểm của một Thanh văn hay
Phật Độc giác không mang lại giải thoát trong một kiếp
mà phải trải qua sau ba a tăng kỳ kiếp (không thể tính đếm)
mới được giải thoát. Chúng ta phải hành động theo những
thừa thấp trong lúc vẫn giữ quan điểm của những tantra
nội.
TULKU
URGYEN RINPOCHE
Động
Asura 1989
NHỮNG
GIÁO LÝ ĐI LÊN VỚI HẠNH
Đạo
sư Padmakara xuất hiện trong nhiều hình thức khác nhau với
nhiều loại y phục. Trong cách thức vượt ngoài tuân thủ,
Ngài tuân thủ mọi giới luật từ giới thanh văn cho đến
các lời thệ Mật thừa của những bậc Vidyadhara. Ngài khẩu
truyền chín thừa thứ bực và như thế chỉ bày cái thấy
và hạnh là một thể thống nhất, đi xuống với cái thấy
trong khi đi lên với hạnh. Bởi vì tâm Ngài sở đắc sự
chứng ngộ toàn giác, với Bồ đề tâm Ngài yêu quý chúng
sanh hơn chính Ngài.
Ngài
là một hóa thân làm người, một bậc giác ngộ, và nói ra
tất cả những lời dạy về làm sao để ứng xử, hành động
(hạnh) đã được công chú Tsogyal chép lại.
Đạo
sư vĩ đại nói: Bất kỳ giáo lý của những thừa ngoại
hay thừa nội nào con thực hành, trước tiên con phải quy y
Tam Bảo. Đã có những giới luật làm nền tảng cho sự thực
hành của mình[7] , mỗi khi con đi về hướng nào, hãy quy y
chư Phật và Bồ Tát của hướng ấy.
Hãy
luôn luôn có niềm tin không lay chuyển vào Tam bảo. Làm như
thế, con tạo ra một nối kết nghiệp báo ngay từ giờ, và
trong tương lai con sẽ trở thành đệ tử của chư Phật. Bởi
thế, cần yếu phải cúng dường và cầu nguyện Tam bảo.
Đạo
sư Padma nói: Hãy thực hành Pháp thập thiện và hãy có niềm
tin vào cái nên tránh và cái nên làm theo các loại hậu quả
trắng và đen của những hành động ấy. Làm như thế những
hành động của con sẽ giữ được sức mạnh lớn lao.
Bởi
vì năng lực của chân lý là vĩ đại, hãy vất bỏ mọi hạnh
xấu và tội lỗi, hãy áp dụng phương thuốc trị lại những
phiền não của con, và dành cho những hành động công đức
một nỗ lực lớn lao.
Người
không tích tập công đức sẽ không tạo được một thái
độ cao cả. Người tích tập công đức sẽ có một tâm thái
cao cả. Một khi con giữ tâm thái cao cả trong hiện thể của
con, con sẽ nỗ lực cho điều đức hạnh và kiềm chế với
điều bất thiện. Bởi thế cần yếu là phát khởi siêng
năng trong mọi loại phương tiện khác nhau cho việc tích tập
công đức qua thân, ngữ và tâm của con.
Đạo
sư Padma nói: Phát Bồ đề tâm, tâm đặt vào giác ngộ tối
thượng, trước khi làm bất cứ một thực hành Pháp nào,
là tối quan trọng. Người đã phát Bồ đề tâm sẽ trau dồi
tâm bình đẳng, thấy tất cả chúng sanh là những người
mẹ của mình, thoát khỏi thiên vị và thành kiến, để có
thể phụng sự tất cả chúng sanh.
Trong
hết thảy chúng sanh, không có một ai không từng là cha hay
mẹ của con. Thế nên như một cách để trả ơn lòng tốt
của tất cả chúng sanh, hãy bắt tay làm việc cho hạnh phúc
của họ.
Hãy
trưởng dưỡng từ bi cho tất cả chúng sanh. Thường trực
tu hành Bồ đề tâm. Hãy tự huấn luyện mình làm lợi lạc
cho tất cả chúng sanh qua mọi hành động của con. Hãy tự
huấn luyện quý trọng người khác hơn chính con.
Tóm
tắt, điểm thiết yếu nhất là quyết định phát Bồ đề
tâm phải đi trước mọi thực hành nội và ngoại và những
giai đọan phát triển và thành tựu.
Phát
sanh Bồ đề tâm là gốc rễ thâm sâu nhất của mọi thực
hành Pháp.
Đạo
sư Padma nói: Nếu con muốn đạt đến Phật tánh toàn giác
bây giờ con hãy tu hành sự hiểu biết rằng tất cả mọi
chấp ngã và chấp Pháp đều không có tự tánh.
Bất
kể công hạnh gì con có thể dấn thân vào, hãy thấu hiểu
rằng mọi hiện tượng là như mộng và huyễn thuật.
Hợp
với giáo huấn khẩu truyền của ta, con hãy tu hành tánh không
của mọi hiện tượng mà không bám chấp vào sáu ba la mật
hay đại bi.
Bằng
năng lực thiền định về tánh Không, con cần đi đến chỗ
chứng ngộ rằng sáu ba la mật và đại bi được sinh ra cũng
như huyễn mộng.
Dẫu
con thiền định về tánh Không, hãy chắc chắn rằng nó phải
trở thành một trợ giúp cho thực hành đức hạnh và một
phương thuốc trị hết những phiền não của con.
Bất
cứ thiện căn nào con dấn thân vào, hãy cung cấp nhiên liệu
cho nó bằng Bồ đề tâm và không lìa khỏi sáu ba la mật.
Bất
cứ con làm điều gì, hãy luôn luôn có ý định tăng trưởng
công đức và giảm bớt nghiệp xấu.
Bất
cứ hành động thân thể nào con dấn thân vào, hãy biến chúng
thành công đức. Bất cứ lời nào con nói ra, hãy biến chúng
thành công đức. Bất cứ ý nghĩ nào con khởi lên, hãy biến
chúng thành công đức.
Tóm
lại, hãy nỗ lực trọn vẹn chỉ cho sự hoàn thiện và đức
hạnh của những hành động của thân, ngữ, tâm. Hãy xa lánh
ngay cả một việc xấu hay tội lỗi nhỏ nhất.
Nếu
con không giữ gìn sự che chở của áo giáp chánh niệm và
tỉnh giác, những vũ khí của phiền não sẽ cắt đứt động
mạch chủ cho việc đạt đến những cõi cao hơn và sự giải
thoát. Bởi thế suốt bốn oai nghi của hoạt động hằng ngày,
cần yếu là bảo vệ mình với áo giáp chánh niệm và tỉnh
giác.
Đạo
sư Padma nói: Trước hết hãy tin vào nhân và quả của những
hành động của con.
Hãy
nhớ trong tâm chẳng bao lâu chắc chắn con sẽ chết. Cuộc
đời này chỉ kéo dài một chốc lát thế nên chớ có nỗ
lực cho những sự vật của đời này.
Hãy
nhớ trong tâm tương lai thì kéo dài và hãy nỗ lực cho lợi
lạc của tương lai.
Hãy
chuẩn bị và chắc chắn từ bây giờ cho sự lợi lạc của
những đời tương lai để con không trượt vào lối mòn thoái
hóa.
Chớ
tự phụ về điều gì cả. Nếu con giữ sự kiêu hãnh khi
nghĩ rằng con có học, lớn lao hay cao cả, con sẽ không có
được phẩm tính tốt đẹp nào. Thế nên hãy vất bỏ tự
phụ và tu hành Pháp mà không dao động dù chỉ một khoảnh
khắc.
Hãy
áp dụng những phương thuốc chống lại những hạnh xấu.Thậm
chí một phiền não hay một việc không đức hạnh nhỏ nhất
khởi lên trong con, hãy nghĩ đến nó như là một khổ đau
to lớn nặng nề như núi Tu Di không thể chịu đựng được.
Những
hành động được làm với sự nghi ngờ sẽ chẳng thành tựu
được gì, thế nên chớ mang giữ một nghi ngờ nào nhỏ nhất.
Chừng
nào con chưa từ bỏ được chấp ngã, bấy giờ hạnh xấu
dù nhỏ đến đâu cũng sẽ còn mang lại những hậu quả.
Thế nên cần yếu là phải tránh hạnh xấu.
Đạo
sư Padma nói: Đã nhận những thệ nguyện của Đại thừa
hay tiểu thừa[8] , chớ bỏ chúng dù có mất mạng. Nếu con
làm hư hỏng chúng, tối quan trọng là tức khắc sám hối
và nhận lại những thệ nguyện.
Một
số người khi thệ nguyện của họ bị hư hỏng, trở nên
ngã lòng và còn mắc phải những hành động vi phạm hơn nữa.
Nhưng giống như tự tẩy uế mình bằng cách tắm rửa và
xịt nước thơm sau khi trợt vào chỗ dơ, hãy tịnh hóa những
che chướng và những hành vi vi phạm làm sa đọa để cho việc
vi phạm giới nguyện không bao giờ tích tập trở lại.
Chớ
đồng hành hay làm bạn với người đã làm hư hỏng giới
nguyện của nó dù chỉ một giây phút. nếu khi mặc áo trắng
mà con đi vào một vũng bùn lầy, chất bùn đen đó chắc chắn
sẽ phá hư màu trắng. Tương tự, dù cho những giới nguyện
của tự thân con vẫn trong sạch, con chắc chắn sẽ bị nhiễm
ô cho những giới nguyện bị hư hoại của những người khác.
Còn nếu những giới nguyện của tự thân con không trong sạch,
nó đã đen thì không thể bị nhuộm đen. Thế nên hãy rất
cẩn thận.
Cần
yếu là không sống chung với người xấu hay người đồng
hành xấu đã đánh mất những giới nguyện của họ.
Bất
luận thế nào con cần bảo đảm cho mình không phải hổ thẹn
vì chính mình.
Đạo
sư Padma nói: Trong bất kỳ hành động nào con dấn thân vào,
chớ làm điều gì trái với Pháp mà điều ấy không trở
thành sự tích tập công đức và trí tuệ.
Chớ
ham muốn điều gì khác ngoài Phật quả toàn giác và làm lợi
lạc cho khắp cả chúnh sanh.
Chớ
chấp chính điều gì. Bản thân sự tham luyến là gốc rễ
của trói buộc nô lệ.
Chớ
phê phán những giáo lý khác và chê bai, coi rẻ người khác.
Tất cả mọi giáo lý là rốt ráo không thể phân chia, như
vị mặn của muối trong biển.
Chớ
phê phán thừa nào của những thừa cao và thấp. Chúng đồng
nhất là con đường để hành trình, như những cấp bậc của
một cầu thang.
Con
không thể biết người khác trừ phi con có thể tri giác bằng
hiểu biết siêu nhiên. Thế nên chớ phê bình những người
khác.
Trong
cái
nhìn tổng quát, tất cả chúng sanh trong bản tánh chân thật
sâu sa của họ vốn vẫn là những vị Phật toàn thiện. Họ
có bản tánh của giác ngộ. Chớ xem xét lỗi lầm và những
mê vọng của người khác.
Chớ
xem xét những giới hạn của những người khác mà hãy xem
xét làm thế nào con có thể cải đổi chính mình.
Chớ
xem xét những khuyết điểm của những người khác mà hãy
xem xét những khuyết điểm của chính con.
Cái
lớn nhất trong mọi cái xấu xa là bám chấp vào thành kiến
tôn giáo và phê bình người khác mà không biết tâm thức
họ. Thế nên hãy vất bỏ thành kiến như với thuốc độc.
Đạo
sư Padma nói: Dù con đã chịu bao nhiêu lần tái sanh từ vô
thủy, con đã không hoàn thành lợi lạc cho chính con và cho
những người khác. Giờ đây, trong thân thể này, con nên hoàn
thành lợi lạc của mình và của những người khác.
Dù
con đã nhập thân bao nhiêu lần trong quá khứ, con đã không
có cơ hội tu hành Pháp mà chỉ phóng sâu thêm vào ngục tối
của sanh tử. Giờ đây hãy nỗ lực tu hành những giáo lý
Đại thừa trong khoảng thời gian ngắn ngủi này khi con đã
gặp được Pháp.
Hãy
đồng hành với những người đức hạnh tăng trưởng. Hãy
từ bỏ những bạn bè hạnh xấu tăng trưởng.
Chớ
khao khát không ngừng sự vật như một con chó hay một con
ma đói, mà hãy nghỉ ngơi thư thả nhờ áp dụng những phương
thuốc trị liệu. Nếu con tự làm mình mệt mỏi với khao
khát không ngừng, con sẽ làm xáo động tâm thức con bằng
việc xấu, và qua đó xáo động tâm thức những người khác
nữa. Như thế con sẽ tích tập hạnh xấu.
Nếu
con xem chỉ một khó chịu nhỏ là khổ đau, nó sẽ trở thành
đau đớn hơn. Con sẽ không tìm ra hạnh phúc trừ phi con để
cho tâm thức con nghỉ ngơi thư thả.
Chớ
đeo đuổi những khổ đau trước kia. Mọi thứ dù tốt hay
xấu đều đã qua đi. Chớ dự đoán trước khổ đau tương
lai.
Bất
kể khổ đau nào có thể xảy ra với con bây giờ, chớ nhượng
bộ nó mà phát triển can đảm thêm nữa.
Trong
mọi trường hợp, nếu con không áp dụng những phương thuốc
cho tâm thức con, khổ đau sẽ không bao giờ chấm dứt.
Hãy
buông xả tâm con trong trạng thái bổn nhiên của nó mà không
sửa trị hay làm hư hỏng nó và nhẹ nhàng chuyển nó thành
công đức.
Đạo
sư Padma nói: Khi con kiên trì thực hành Pháp, điều cần yếu
là bằng thân ngữ tâm luôn luôn tu hành mọi hành động thiện
căn cho sự lợi lạc của những người khác.
Trước
hết, thực hành dần dần điều này với những công hạnh
nhỏ nhất. Thỉnh thoảng hãy xét nghiệm xem con có bị ích
kỷ làm dơ nhiễm hay không. Con sẽ không thành công nếu con
còn giữ lại một chút vết bẩn nhỏ nhất của cái ta. Hãy
chắc chắn con không bị làm bẩn bởi sự mhiễm ô của ích
kỷ.
Sự
khác biệt giữa thừa lớn và thừa nhỏ là sự phát Bồ đề
tâm. Sự khác biệtkhông bởi do cái thấy của trí tuệ mà
do bởi lòng bi. Bởi thế trong khi giữ gìn cái thấy về trạng
thái tự nhiên, con hãy tu hành lòng bi.
Vì
lợi lạc của chính mình và của những người khác, con hãy
từ bỏ vĩnh viễn khổ đau của sanh tử.
Hãy
tu hành lặp đi lặp lại cảm giác từ bỏ đối với sanh
tử.
Hãy
tu hành nhận lấy trên con gánh nặng khổ đau của những người
khác.
Trước
tiên hãy tu hành xem mọi chúng sanh như là chính con. Hãy tu
hành cảm thấy rằng sự khổ đau của những người khác
là khổ đau của chính con. Bấy giờ tu hành yêu quý chúng
sanh hơn bản thân con.
Hãy
tu hành đại bi, nó tự nhiên hành động vì lợi lạc của
những người khác.
Danh
từ Đại thừa chỉ đơn giản bao hàm yêu quý những người
khác hơn bản thân mình. Đại thừa không bao giờ chứa đựng
sự theo đuổi hạnh phúc chỉ cho chính mình mà không nghĩ
đến sự khổ đau của những người khác khi tự xem mình
là quan trọng hơn.
Đạo
sư Padma nói: Nếu con tu hành tâm thức con trong từ, bi và Bồ
đề tâm, con sẽ không tái sanh vào ba cõi thấp. Hơn nữa ngay
giây phút ấy con cũng sẽ không bao giờ rơi trở lại. Chỉ
điều này là giáo huấn khẩu truyền của ta.
Bất
cứ nơi nào con đi, hãy giữ Bồ đề tâm trong tâm thức, chớ
bao giờ tách lìa sự đồng hành của nó với con.
Bất
cứ hành động nào con dấn thân vào, hãy làm nó vì lợi ích
của chúng sanh. Hãy tu hành nhìn những người khác quan trọng
hơn chính con. Con sẽ đạt được nhiều phẩm tính như là
kết quả của sự tu hành này, chẳng hạn như samaya và những
thệ nguyện không bị hư hoại. Trừ phi con trau dồi Bồ đề
tâm, không thì con không bao giờ đạt đến giác ngộ, dù con
có thể thành thạo thần chú và có rất nhiều thần lực.
Tất
cả những thành tựu thông thường và tối thượng sẽ đến
từ Bồ đề tâm khởi lên trong con người của con. Chỉ điều
này là giáo huấn khẩu truyền của Ta.
Đạo
sư Padma nói: Dù con có thiền định về tánh Không hay cái
gì khác, nó vẫn là một thiền định sai lầm trừ phi nó
trở thành một phương thuốc hiệu nghiệm chống lại những
phiền não và tánh tầm thường thế tục. Bất cứ thứ gì
không chống lại những phiền não và những tầm thường thế
tục đều là một nguyên nhân để rơi vào sanh tử.
Nếu
bất cứ giáo lỳ nào con nghiên cứu, suy nghĩ, hay trình bày
trở thành một phương thuốc hiệu quả chống lại những
phiền não cũng như là một trợ giúp khiến cho Pháp thanh tịnh
sanh ra trong con, bấy giờ nó được gọi là một giáo lý Đại
thừa và không sai lầm.
Bất
kể con có thể được ca ngợi nhiều bao nhiêu như giỏi trong
nghiên cứu, thuyết pháp và thiền định, nếu ý định của
con chỉ là tám mối quan tâm thuộc thế gian, hoạt động của
con được gọi là một thực hành tà pháp.
Trong
mọi trường hợp, điều cần yếu là thiền định về hình
tướng và hiện hữu[9] (vũ trụ và chúng sanh) như là
những ảo ảnh huyễn thuật, để không cho phép sự luyến
ái và bám chấp của con càng ngày càng mạnh thêm.
Một
thiền giả vĩ đại đơn giản chỉ có nghĩa là thoát khỏi
luyến ái và bám chấp.
Đạo
sư Padma nói: Phúc lợi và hạnh phúc của tất cả chúng sanh
có từ những giáo lý của Phật. Thế nên hãy học những
tantra, kinh điển và nghe lời dạy của những bậc Đạo sư.
Những
hành động và kết quả của chúng là hạnh phúc và khổ đau
như những hạt giống lớn lên, thế nên hãy phân biệt giữa
hành động tốt và xấu.
Nếu
con không tuân thủ những thệ nguyện của con, gốc thực hành
Pháp của con bị hư thối. Hãy bảo vệ những giới nguyện
của con cẩn thẩn như hai con mắt mình.
Trong
mọi trường hợp, nếu con không có niềm tin khi thực hành
Pháp, cố gắng của con sẽ uổng phí, và điều gì con làm
đều sẽ vô ích. Trong bất cứ điều gì con làm, cần yếu
là thoát khỏi nghi gờ và không tin.
Đạo
sư Padma nói: Một số người tự gọi mình là hành giả Mật
thừa và dấn thân vào một cách cư xử thô lỗ nhưng đó
không phải là hành động của một hành giả Mật thừa.
Đại
thừa nghĩa là yêu quý hết thảy chúng sanh với một lòng
bi không thiên vị.
Không
thể tự cho mình là một hành giả Mật thừa mà rồi không
chịu làm hạnh tốt và không bỏ hạnh xấu. Đối với mọi
hành giả Mật thừa, điều cốt yếu là trau dồi đại bi
trong con người họ.
Không
phát khởi lòng bi trong con, con sẽ trở thành một người không
phải là Phật tử với những quan kiến sai lầm, dù cho con
có tự cho là một hành giả của Mật thừa.
Đạo
sư Padma nói: Mật thừa có nghĩa là Đại thừa, Đại thừa
có nghĩa là làm lợi lạc cho những người khác.
Để
làm lợi lạc cho những người khác con phải đạt được
ba thân của quả. Để đạt được ba thân con phải gom góp
hai thứ tích tập. Để gom góp hai thứ tích tập con phải
tu hành Bồ đề tâm. Con phải thực hành những con đường
phát triển và thành tựu như một thể thống nhất.
Trong
mọi trường hợp, một hành giả Mật thừa không có Bồ đề
tâm là hoàn toàn không xứng hợp và cũng không phải đang
thực hành Đại thừa.
Đạo
sư Padma nói: Đại thừa và Kinh thừa[10] nói là hai nhưng
rốt ráo chúng là một. nếu con không có cái thấy hay hạnh,
con sẽ lạc thành một thanh văn. Thế nên hãy đi xuống với
cái thấy trong khi đi lên với hạnh. Tối cần yếu là thực
hành hai cái này như là một thể thống nhất. Đó là giáo
huấn khẩu truyền của Ta.
SAMAYA
Đến
đây hoàn tất giáo lý về đi lên với hạnh. Lời dạy này
được ghi chép ở chỗ ẩn cư trên cao Chimphu vào ngày tám
tháng cuối của mùa hè năm Con Thỏ.
Dấu
ấn kho tàng.
Dấu
ấn che dấu.
Dấu
ấn giao phó.
QUY
Y
Đạo
sư Padmakara cõi Uddiyana, Ngài xuất hiện như một hóa thân
làm người. Công chúa Tsogyal xứ Kharchen hỏi Ngài rằng: Thưa
Đạo sư, xin rủ lòng từ bi chỉ dạy cho chúng con nền tảng
của mọi sự thực hành Pháp, phương cách để chấm dứt
sanh và tử, một nhân nhỏ mà có lợi lạc bao la, một phương
pháp dễ áp dụng và ít khó khăn.
Đạo
sư hóa thân trả lời: Tsogyal, quy y là nền tảng cho mọi sự
thực hành Pháp. Tam bảo là sự nâng đỡ cho mọi thực hành
Pháp. Phương cách để đưa sanh và tử đến chỗ chấm dứt
là quy y cùng với những phương diện phụ của sự việc ấy.
Công
chúa Tsogyal hỏi: Nghĩa cốt lõi của quy y là gì ? Định nghĩa
của nó ra sao ? Khi phân chia, có bao nhiêu loại quy y ?
Đạo
sư trả lời: Nghĩa cốt lõi của quy y là chấp nhận Phật,
Pháp, Tăng là thầy, con đường và những người đồng hành
để thực hành con đường với con, và rồi hứa rằng ba cái
đó là quả con sẽ đạt đến. Như thế quy y nghĩa là một
lời hứa hay chấp nhận. Tại sao một sự chấp nhận như
vậy được gọi là quy y ? Nó được gọi là quy y bởi vì
sự chấp nhận Phật, Pháp và Tăng là sự nâng đỡ, nương
tựa, và bảo vệ hay cứu giúp cho chúng sanh khỏi sự sợ
hãi lớn lao của những khổ đau và che chướng. Đấy là nghĩa
cốt lõi của quy y.
Định
nghĩa của quy y là tìm sự che chở khỏi những khủng khiếp
của ba cõi thấp và khỏi quan kiến thấp kém tin vào một
tự ngã trong năm uẩn vô thường[11] như các triết gia
phi Phật pháp chủ trương.
Khi
phân chia thì có ba loại: quy y cách bên ngoài, quy y cách bên
trong và quy y cách bí mật.
QUY
Y CÁCH BÊN NGOÀI
Công
chúa Tsogyal hỏi: Về quy y cách bên ngoài, nguyên nhân muốn
thọ quy y là gì ? Người ta quy y đối tượng nào ? Loại người
nào được thọ quy y ? Cách thức nào để thọ quy y ? Người
ta thọ quy y với thái độ đặc biệt nào ?
Đạo
sư Padma trả lời: Nguyên nhân của thọ quy y là sợ hãi những
khổ đau của vòng sanh tử, tin vào Tam Bảo là chỗ để quy
y và hơn nữa, chấp nhận Tam Bảo là đối tượng quy y và
là những bậc bảo hộ của sự quy y. Do ba điều này mà người
ta có ý định thọ quy y. Nói chung người ta muốn quy y vì
sợ chết.
Có
nhiều người thậm chí không thấy rằng nửa cuộc đời đã
trôi qua và không nghĩ đến tương lai dù chỉ một khoảnh
khắc. Họ không có sự quy y.
Nếu
con sẽ không chết hay nếu con chắc chắn có lại kiếp làm
người, con sẽ không cần quy y. Tuy nhiên sau khi chết và chuyển
kiếp, có những thống khổ tràn khắp trong những cõi thấp.
Người
ta quy y đối tượng nào ? Con cần quy y Tam Bảo. Ai có thể
chấm dứt sanh tử ? Chỉ có vị Phật toàn giác là vị hoàn
toàn thoát khỏi mọi khuyết điểm và đã viên mãn mọi đức
hạnh. Thế nên chỉ có Pháp Ngài chỉ dạy và Tăng đoàn giữ
gìn giáo lý của Ngài mới có thể chấm dứt được khỏi
vòng sanh tử của ta và những người khác. Thế nên ba cái
ấy là những đối tượng duy nhất để quy y, con cần quy
y Tam Bảo.
Nói
chung, có nhiều người xem những lời dạy của những bậc
giác ngộ không hơn gì những lời của một thầy bói, và
có những người khi kẹt quá thì nương nhờ vào hồn linh
ma quỷ. Những người như vậy thật khó có sự quy y.
Loại
người nào quy y ? Đó là những người có quan tâm, sùng mộ,
đức tin và nghĩ đến những công đức của Tam Bảo. Người
ta cần có ba thái độ đặc biệt này :
Vì
vòng sanh tử không có khởi đầu và kết thúc, tôi phải tách
lìa nó ngay lúc này !
Những
thần thánh chẳng phải Phật giáo không phải là những đối
tượng quy y của tôi !
Duy
chỉ có trạng thái toàn giác của Phật quả là đối tượng
quy y chân thật của tôi.
Cách
thọ quy y diễn ra như thế này.
Khi
thọ quy y, chỉ môi niệng suông thì vô ích. Đó giống như
sự lẩm bẩm trống rỗng, không chắc sẽ dẫn con đến đâu.
Cách
thọ quy y là sao ? Con phải quy y với thân, ngữ, tâm thành
kính. Con phải quy y với ba ý nghĩ: sợ hãi những cõi thấp
của sanh tử, tin vào những ban phước của Tam Bảo, và niềm
tin kiên định cùng với lòng bi.
Người
tin đời này tốt đẹp và đời sau cũng tốt đẹp thì chỉ
chết sau khi vừa định thực hành Pháp.
Điều
ấy chưa đủ, con cần biết những nghi thức quy y.
Người
ta quy y với thái độ đặc biệt nào ? Con cần quy y với một
cảm thức trách nhiệm đối với lợi lạc của những người
khác. Con cần quy y với thái độ này, vì con sẽ không đạt
được giác ngộ trọn vẹn và đích thực chỉ nhờ từ chối
sanh tử và mong muốn niết bàn.
Để
giải thoát tất cả chúng sanh khỏi đau khổ của sanh tử
,
Tôi
sẽ thọ quy y cho đến khi tôi và tất cả chúng sanh trong ba
cõi điều thành tựu giác ngộ tối thượng !
Nói
chung, mọi mong ước điều là mong ước nhị nguyên. Quy y mà
không thoát khỏi chấp trước nhị nguyên thì không đủ.
Bấy
giờ công chúa Tsogyal hỏi Đạo sư: Quy y cách bên ngoài kèm
theo bao nhiêu loại tu hành ?
Đạo
sư trả lời: Đã quy y con phải khéo léo thực hành tám sự
tu hành để ngăn chặn sự cam kết của con khỏi hư hỏng.
Bà
hỏi: Tám sự tu hành đó là gì ?
Ngài
trả lời: Trước hết có ba tu hành đặc biệt: Đã quy y Phật
con không nên lễ lạy những thần thánh khác. Đã quy y Pháp
con cần thôi gây hại cho chúng sanh. Đã quy y Tăng, con không
nên kết giao với người ngoại đạo. Đấy là ba tu hành đặc
biệt.
Giải
thích thêm: Trước hết đã quy y Phật, không lễ lạy những
thần thánh khác nghĩa là nếu con lễ lạy những vị thần
thế gian như Mahadeva, Vishnu, Maheshvara hay những vị khác thì
nguyện quy y của con bị hủy hoại.
Thứ
hai, đã quy y Pháp, thôi gây hại chúng sanh, nghĩa là nguyện
quy y của con nhất định bị hủy hoại nếu con thực hiện
sát sanh. Nguyện ấy bị hư hại nếu con đánh đập chúng
sanh khác vì giận dữ, bắt chúng làm nô lệ, xỏ mũi chúng,
nhốt chúng trong chuồng, cắt lông làm áo, v.v...
Thứ
ba, đã quy y Tăng, không kết giao với người ngoại đạo nghĩa
là nguyện của con bị hư hại nếu con kết bạn với người
chấp giữ cái thấy và hạnh của chủ nghĩa thường biến
hay đoạn kiến. Nếu cái thấy và hạnh của con phù hợp với
họ, nguyện quy y của con bị hủy hoại.
Bất
cứ trường hợp nào, mọi thực hành Pháp đều bao hàm trong
quy y. Người có tà kiến không có hiểu biết này.
Đây
là năm tu hành tổng quát:
1-
Khi bắt đầu thực hành, hãy làm một lễ cúng dường lớn
với nhiều đồ ăn thức uống tốt nhất. Bày trước các
đấng Tôn Quý vào ngày mười bốn và khẩn cầu các Ngài
đến hưởng cúng dường. Sau đó làm lễ cúng dường vào
ngày rằm. Những cúng dường này có bốn loại: cúng dường
lễ lạy, cúng dường phẩm vật, cúng dường tán thán và
cúng dường thực hành.
Thứ
nhất là cúng dường lễ lạy: đứng thẳng và chấp hai tay.
Tưởng nhớ những công đức của chư Phật và chư Bồ Tát.
Hãy quán tưởng đầu con chạm vào chân có dấu hiệu Pháp
luân của các Ngài khi con đảnh lễ.
Tiếp
theo là cúng dường phẩm vật: hãy bày những đồ cúng dường
không phải là sở hữu của người nào (như hoa) và những
đồ cúng dường được quán tưởng, với chính thân con cũng
vậy.
Hãy
cúng dường những lời tán thán với âm điệu du dương.
Cúng
dường thực hành là phát nguyện rằng những thiện căn từ
sự trau dồi Bồ đề tâm của tánh Không và lòng bi bất khả
phân là để cho giác ngộ vì lợi lạc của tất cả chúng
sanh.
Đạo
sư Padma nói: Tam Bảo không cần một chút gì trong chén nước
hay sự tôn kính. Mục tiêu của việc cúng dường là để
cho con nhận được những tia sáng quang minh của chư Phật.
Về
việc cúng dường những thức ăn uống tốt nhất, hãy làm
ba mâm và trì tụng OM AH HUM ba lần. Hãy tưởng tượng đồ
cúng dường của con nhờ đó mà trở thành một đại dương
cam lồ. Sau đó, quán tưởng Bổn Tôn của con được bao quanh
bởi vô số chúng hội Tam Bảo và tưởng tượng con dâng cúng
cam lồ này, khẩn cầu tất cả các Ngài thọ nhận. Nếu con
không thể dâng cúng theo cách này, hãy chỉ làm một cúng dường
vừa và nói: Xin Tam Bảo chấp nhận cho!
Nếu
con không có gì để cúng dường, ít nhất con phải dâng những
chén nước mỗi ngày. Nếu không làm thế, nguyện quy y của
con sẽ hư hao.
Tam
Bảo không cần những phẩm vật cúng dường như chúng sanh.
Lễ cúng thực phẩm là để con tích tập công đức mà không
trụ chấp.
2-
Tu hành thứ hai là không bỏ Tam Bảo cao cả dù con có mất
thân, mất mạng hay mất một vật gì quý báu.
Không
từ bỏ quy y dù vì chính thân thể con: thậm chí có ai dọa
móc mắt, chặt chân, cắt mũi, cắt tai hay cánh tay con, con
cứ để họ làm còn hơn là phải từ bỏ Tam Bảo.
Không
từ bỏ quy y dù với cái giá là đời sống của con: thậm
chí có ai dọa giết con, con cứ để họ làm còn hơn là phải
từ bỏ Tam Bảo.
Không
từ bỏ quy y vì một món quà tặng quý giá : thậm chí nếu
con được hứa cho toàn thể thế giới với châu báu để
đổi lấy sự từ bỏ quy y. con cũng chớ chối bỏ quy y.
3-
Tu hành thứ ba là bất kể cái gì xảy đến cho con, dù bệnh
tật, nhọc nhằn, thoải mái, hạnh phúc hay đau buồn, con nên
lập một mạn đà la với năm loại đồ cúng và dâng cúng
Tam Bảo, rồi phát nguyện quy y và khẩn cầu như sau:
Đạo
sư thiêng liêng, bậc trì giữ kim cương vĩ đại, tất cả
chư Phật và chư Bồ Tát, xin lắng nghe con! Cầu mong bệnh
tật của con và bất cứ cái gì gây ra bởi những hồn linh
và những thế lực bất thiện đều không xảy đến. Xin ban
an bình, thiện lành và tốt đẹp.
Ngoài
những điều này cũng nên tích tập công đức bằng cách tụng
tán kinh điển lớn tiếng và làm những lễ cúng dường, vì
những thực hành như vậy là những cái căn bản để quy y.
Nếu không được như ý thì chớ sanh những tà kiến, nghĩ
rằng Tam Bảo không ban phước, Pháp không thật ! Trái lại
hay nghĩ tôi sẽ cảm thấy tốt hơn khi nghiệp xấu của tôi
đã cạn kiệt. Không nên theo đuổi những cách khác như bói
toán, phù thủy, mà chỉ nên thực hành quy y.
4-
Dù con đi về phương hướng nào, hãy nhớ chư Phật và chư
Bồ Tát, hãy cúng dường và quy y. Chẳng hạn, nếu ngày mai
con đi về hướng đông, thì hôm nay làm một mạn đà la và
cúng dường, quy y chư Phật, chư Bồ Tát của phương đó.
Con
nên khẩn cầu như sau trước khi đi:
Đạo
sư bậc trì giữ kim cương, tất cả chư Phật và chư Bồ
Tát, xin hãy nghe con ! Xin ngăn chặn những chướng ngại do
người và loài chẳng phải người gây ra và làm cho mọi sự
đều tốt lành từ lúc con rời khỏi nơi này cho đến nơi
con đến.
Nếu
không làm điều này vào ngày trước khi khởi hành thì con
phải làm vào lúc khởi hành.
Vào
lúc quy y, nếu con không nhớ thọ quy y trong mười hoặc bảy
bước khi đi qua ngưỡng cửa thì sự quy y của con bị hao
tổn.
Một
khi tâm con đã giao phó cho sự quy y, con sẽ không thể bị
lầm lạc.
5-
Hãy nghĩ đến những phẩm tính tốt của quy y và thực hành
nó thường xuyên. Đã quy y Tam Bảo hãy xem đó là nơi chốn
của hy vọng và niềm tin. Hãy giữ gìn Tam Bảo như nguồn
quy y duy nhất và hãy khẩn cầu các Ngài. Hãy cầu sự ban
phước của Tam Bảo.
Hãy
nghĩ rằng biểu trưng của Tam Bảo, hoặc một bức hình, một
tượng tạc, một bức vẽ, một cái tháp, một cuốn kinh,
chính là Pháp thân. Có thể khi lễ lạy, cúng dường, cầu
nguyện thình lình con chứng ngộ bản tánh của Pháp thân.
Dù điều đó không xảy ra, bằng cách đảnh lễ cúng dường
Tam Bảo và tạo nên một mối nối kết nghiệp báo, người
ta sẽ trở thành đệ tử của một vị Phật tương lai.
Đạo
sư Padma nói: Bất kể cái gì sanh khởi trong con như những
đức hạnh và an lạc của những bậc giác ngộ, con hãy xem
đó là những ban phước của Thầy con và Tam Bảo. Bằng cách
suy nghĩ như vậy mà con sẽ nhận được những ban phước.
Bất kể những vấn nạn và những khổ sở nào con gặp, hãy
xem chúng là nghiệp xấu riêng của con. Điều này sẽ chấm
dứt tất cả nghiệp xấu của con. Nói chung, nếu con không
giao phó cho Tam Bảo mà nắm giữ những suy nghĩ tà kiến thì
Tam Bảo không ban phước! Và có thể con không thoát khỏi những
địa ngục thấp nhất.
Công
chúa Tsogyal hỏi Đạo sư: Quy y có những phẩm tính tốt nào
?
Đạo
sư trả lời: Quy y có tám phẩm tính tốt.
1-
Con gia nhập chúng hội Phật tử. Đã quy y Tam Bảo con được
gọi là một Phật tử. Không quy y con không ở trong chúng hội
Phật tử cho dù con có tự xưng là một con người thánh thiện,
một đại thiền giả hay một vị Phật bằng xương bằng
thịt.
2-
Con trở thành một pháp khí thích hợp cho mọi lời nguyện
như giải thoát của cá nhân (biệt giải thoát giới) chẳng
hạn. Còn nếu con mất nguyện quy y thì mọi giới nguyện căn
cứ trên đó đều bị hủy hoại.
Để
phục hồi, chỉ thiết lập lại giới nguyện quy y là đủ.
Nghĩa là con cúng dường và thọ quy y trước sự hiện diện
của Tam Bảo là đủ.
Con
cũng cầu nguyện quy y trước bất kỳ lời nguyện nào, từ
những giới nguyện cho một ngày đến những lời nguyện của
Mật thừa. Thế nên quy y được xem là cái khiến cho con thành
một nền tảng thích hợp cho mọi lời nguyện.
3-
Nguyện quy y Tam Bảo làm giảm và chấm dứt mọi nghiệp chướng
đã tích lũy trong tất cả những đời quá khứ. Nghĩa là
những che chướng của con sẽ hoàn toàn cạn kiệt nhờ quy
y đặc biệt, trong lúc thọ quy y tổng quát thì những nghiệp
chướng sẽ giảm.
Lại
nữa khi một cảm nhận đích thực về quy y sanh ra nơi con,
những nghiệp chướng sẽ chấm dứt rốt ráo, trong khi chỉ
những lời nguyện quy y thì đã làm chúng giảm bớt.
Hơn
nữa, nếu con quy y vào mọi lúc, khi đi, đứng, nằm, ngồi,
thì những nghiệp chướng sẽ hoàn toàn hết sạch, trong khi
chỉ thỉnh thoảng quy y thì chúng sẽ giảm bớt.
4-
Con sẽ có công đức bao la. Những phước đức thế gian như
sống thọ, khỏe mạnh, rạng rỡ uy nghi, giàu có lớn đều
phát xuất từ quy y. Sự giác ngộ vô thượng siêu thế gian
cũng có từ quy y.
5-
Con sẽ miễn nhiễm với sự tấn công của người và phi nhân
và với những chướng ngại trong đời sống này. Có nói rằng
khi tám quy y chân thật đã sanh ra trong con thì không có chướng
ngại nào do con người có thể làm tổn hại được con trong
cuộc đời này.
6-
Con sẽ thành tựu bất cứ điều gì con mong muốn. Khi tâm
quy y chân thật đã sanh ra trong con, bất cứ điều giì con
dự định đều không thể không thành. Tóm tắt, có nói rằng
tin vào những đối tượng quy y, con sẽ nhận được bất
cứ điều gì con mong muốn như khi khẩn cầu một viên ngọc
như ý.
7-
Con sẽ không rơi vào các cõi thấp, những số phận xấu hay
những nẻo hư hỏng. ba cõi thấp là cõi địa ngục, ngạ
quỷ và súc sanh. Những số phận xấu ám chỉ sanh ra ở những
nơi không có Phật Pháp, giữa những bộ lạc biên địa sơ
khai. Những nẻo hư hỏng ám chỉ những triết học phi Phật
Pháp. Thế nên để tránh khỏi rơi vào những chỗ ấy, người
ta chỉ cần quy y.
Trong
những giáo lý Đại thừa của Mật giáo có nói rằng người
ta có thể giác ngộ trong chỉ thân này và trong chỉ đời
này. Điều này nghĩa là không nghi ngờ gì con sẽ nhanh chóng
giác ngộ. Thế nên cần phải bỏ tà kiến nghĩ rằng chỉ
quy y một lần là đủ. Con cần phải quy y trở đi trở lại
cả ngày lẫn đêm. Rồi con chắc chắn sẽ giác ngộ nhanh
chóng.
Đạo
sư Padma nói: Nếu con hết mình trong việc quy y, con không cần
thực hành nhiều giáo lý khác. Không nghi ngờ gì con sẽ đạt
quả vị giác ngộ.
Công
chúa Tsogyal lại hỏi Đạo sư: Thực hành quy y thực tế là
sao?
Đạo
sư trả lời: Áp dụng quy y thực tế như sau. Trước hết,
hãy tưởng nguyện:
Con
sẽ đặt tất cả chúng sanh trong giác ngộ viên mãn.
Để
làm điều đó con sẽ thực hành tích tập phước đức và
trí hiệ, tịnh hoá những che chướng và xóa tan những trở
ngại. Vì mục đích này, con xin quy y từ ngay giây phút này
cho đến khi giác ngộ.
Tối
thượng trong hết thảy loài người, tất cả chư Phật mười
phương, con và tất cả chúng sanh vô biên xin quy y từ giây
phút này cho đến khi đạt giác ngộ vô thượng.
Tối
thượng trong hết thảy, không dính nhiễm, giáo Pháp của muời
phương, con và tất cả chúng sanh vô biên xin quy y từ giây
phút này cho đến khi đạt giác ngộ vô thượng.
Tiếp
theo chú tâm lập lại ba lần:
Con
quy y Phật
Con
quy y Pháp
Con
quy y Tăng
Rồi
cầu khẩn ba lần:
Cầu
xin Tam Bảo che chở cho con khỏi những sợ hãi của đời này.
Xin che chở cho con khỏi những sợ hãi của ba cõi thấp. Xin
che chở cho con khỏi lọt vào những nẻo hư hỏng !
Khi
sắp kết thúc hãy nói:
Qua
những thiện căn này của con, nguyện con đạt được Phật
quả để lợi lạc cho chúng sanh!
Con
nên hồi hướng theo cách này.
Công
chúa Tsogyal hỏi Đạo sư hóa thân Padmakara: Phương pháp nguyện
quy y là gì ?
Đạo
sư trả lời: Người ta cần đảnh lễ và nhiễu quanh vị
Thầy có nguyện quy y, dâng Ngài hoa và nói như sau:
Thưa
Thầy, xin hãy lắng nghe con. Thưa chư Phật và chư Bồ Tát
trong mười phương, xin hãy lắng nghe con. Kể từ giây phút
này cho đến khi giác ngộ, con[12] (tên) xin quy y bậc tối
thượng của hết thảy loài người, muôn triệu chư Phật
pháp thân viên mãn vô thượng.
Con
quy y cái tối thượng trong hết thảy an lạc, không dính
nhiễm, những Giáo Pháp Đại thừa.
Con
quy y cái tối thượng trong hết thảy chúng hội, Tăng già
của những Bồ Tát cao cả bất thối chuyển.
Vào
lúc lặp lại lần thứ ba lời này, con sẽ đắc giới nguyện.
Hãy đảnh lễ và rải hoa. Rồi thực hành sự tu hành giải
thích ở trên và tận lực trong quy y.
Đây
là giải thích và áp dụng cách quy y bên ngoài.
Công
chúa Tsogyal hỏi Đạo sư: Đã quy y thì người ta được bảo
vệ như thế nào ?
Đạo
sư trả lời: Bất kỳ ai có những thực hành quy y đúng đắn
như giải thích ở trên thì nhất định được Tam Bảo bảo
vệ. Vì vậy, nếu con sợ lạc vào một nẻo lang thang và cầu
nguyện gặp được một con đường chân chánh, chắc chắn
con sẽ gặp. Con cũng chắc chắn được bảo vệ khỏi những
sợ hãi của cuộc đời này.
Khi
mọi phẩm tánh của quy y đã sanh nơi con, con chớ nên bằng
lòng mà dừng lại. Hãy tăng thêm nữa những phẩm tính đã
sanh trong con. Con cần sử dụng mọi phẩm tính sanh trong tâm
con để gom góp những tích tập và tịnh hóa những che chướng.
Khi sự vận dụng như vậy được phát sanh, toàn bộ khả
năng đã được phát động.
Tất
cả những người cảm thấy không có khuynh hướng làm phát
sanh trực tiếp những phẩm tính sâu sa như (quán chiếu) tánh
Không hay mạn đà la của những Bổn Tôn trong con người họ
thì vẫn có thể tịnh hoá những che chướng và gom góp những
tích tập chỉ bằng sự quy y.
Bấy
giờ con có thể tự hỏi rằng, nếu người ta được bảo
vệ khi quy y như vậy, thì có phải chư Phật sẽ xuất hiện
và dẫn dắt tất cả chúng sanh hay không? Câu trả lời là
chu Phật không thể tự tay đem tất cả chúng sanh ra khỏi
sanh tử. Nếu các Ngài làm như vậy được, thì chư Phật
với lòng đại bi và những phương tiện thiện xảo đã giái
thoát cho tất cả chúng sanh không trừ một ai rồi.
Rồi
con có thể tự hỏi, vậy người ta được bảo vệ bằng
cái gì? Câu trả lời là người ta được bảo vệ bằng (sự
thực hành) Pháp.
Khi
quy y đã sanh ở trong con, con không cần thực hành những giáo
lý khác. Không thể nào con không được bảo vệ bởi lòng
bi của Tam Bảo. Điều đó giống như con chắc chắn không
sợ hãi khi con đã có một đội vệ sĩ tuyệt hảo.
Đạo
sư Padma giải thích quy y cách bên ngoài cho công chúa Tysogyal
như thế.
QUY
Y CÁCH BÊN TRONG
Công
chúa Tsogyal xứ Kharchen hỏi Đạo sư hoá thân Padmakara,
Người
ta quy y những đối tượng bên trong nào? Loại người nào
thọ quy y? Người ta quy y bằng cách thức hay phương tiện
nào? Với thái độ đặc biệt và kéo dài bao lâu? Cần hoàn
cảnh đặc biệt nào? Mục tiêu là gì và những phẩm tính
nào?
Đạo
sư trả lời: Về những đối tượng quy y, con cần quy y Bổn
Tôn, Guru và Dakini.
Người
thọ quy y là người đã thọ môn Mật thừa.
Cách
thức hay phương pháp là quy y với thân, ngữ, tâm sùng mộ
và thành kính.
Về
thái độ đặc biệt của thọ quy y, con phải nhận thức vị
Thầy là một vị Phật, không từ bỏ Bổn tôn dù phải từ
bỏ mạng sống và thường xuyên cúng dường Dakini.
Về
thời gian, con cần quy y từ khi phát Bồ đề tâm trong lễ
quán đảnh cho đến khi đạt đến trạng thái một bậc Kim
Cương Trì.
Về
hoàn cảnh, con cần quy y với lòng sùng kính Mật thừa.
Về
mục tiêu hay những đức hạnh của quy y, nó làm cho con trở
thành một pháp khí thích hợp cho Mật thừa và để nhận
những ban phước phi thường.
Công
chúa Tsogyal hỏi Đạo sư: Về quy y cách bên trong, người ta
cần những tu hành gì?
Đạo
sư trả lời: Có tám tu hành. Trước hết có ba tu hành đặc
biệt:
1.
Đã quy y Guru, con không được ý xấu đối với Ngài hoặc
thậm chí có ý định nhạo báng Ngài.
2.
Đã quy y Bổn Tôn, con không được gián đoạn sự thiền định
về hình tướng Bổn Tôn hay sự trì tụng Ngài.
3.
Đã quy y Dakini, con không được bỏ những ngày cúng dường
định kỳ.
Năm
tu hành tổng quát như sau:
1.
Hãy dâng cúng phần đầu tiên của bất cứ thứ gì con ăn
hay uống như là cam lồ. Cúng dường phần đó khi quán tưởng
Guru trên đầu con. Cúng dường khi quán tưởng Bổn Tôn nơi
trung tâm trái tim và Dakini nơi trung tâm rốn. Con cần tu hành
trong việc chia phần thực phẩm như vậy.
2.
Dù đi về hướng nào, hãy cầu nguyện Guru, Bổn Tôn và Dakini.
Hãy quán tưởng Guru trên đỉnh đầu con. Hãy quán tưởng
chính con là Bổn Tôn và Dakini cùng những hộ pháp là những
vệ sĩ của con. Đây là tu hành khi đi.
3.
Dù phải mất mạng hay tay chân, con cần tu hành xem Guru cũng
thân thiết như trái tim mình. Bổn Tôn thân thiết như đôi
mắt mình, và Dakini thân thiết như thân thể mình.
4.
Bất cứ điều gì xảy ra, như bệnh tật, khó khăn hay dễ
chịu, vui hay buồn, con cần cầu khẩn Guru, cúng dường cho
Bổn Tôn và lễ tiệc cho Dakini. Ngoài việc này con không nên
chạy theo những phương thức khác như bói toán và phù phép.
5.
Nhớ những đức hạnh của Guru, Bổn Tôn và Dakini, con phải
quy y thường xuyên. Do quy y Guru, những che chướng đều bị
xoá sạch. Do quy y Bổn Tôn, thân đại ấn[13] sẽ đạt
được. Do quy y dakini, con sẽ nhận được những thành tựu
(siddhi).
Công
chúa Tsogyal hỏi Đạo sư Padma: Quy y cách bên trong có được
những đức hạnh nào?
Đạo
sư Padma trả lời: Do quy y Guru, con được bảo vệ khỏi những
trói buộc của tâm ý niệm. Những chướng ngại của
vô minh và ngu si được xoá sạch. Sự tích tập quán chiếu
và tỉnh giác được hoàn thiện, và con sẽ nhận được thành
tựu chứng ngộ tự phát.
Do
quy y Bổn Tôn, con được bảo vệ khỏi những tri giác thường
tục, gom góp được sự tích tập trí tuệ tự hữu và đạt
được sự thành tựu đại ấn.
Do
quy y Dakini, con sẽ được bảo vệ khỏi những chướng ngại
và hồn linh xấu ác. Trở ngại đói khổ của ngạ quỷ được
loại bỏ, sự tích tập buông bỏ và thoát khỏi những bám
níu được hoàn thiện và sẽ đạt được sự thành tựu
hoá thân đại lạc.
Công
chúa Tsogyal hỏi Đạo sư: Quy y cách bên trong thực tế là
gì?
Đạo
Sư Padma đáp: Trước tiên con nên phát khởi nguyện vọng hướng
đến giác ngộ tối thượng. Sau đó quán tưởng guru, yidam,
dakini ngự trên mặt trời, mặt trăng, và hoa sen trên bầu
trời phía trước con và nói ba lần:
Guru
tôn quý, gốc rễ của dòng truyền,
Bổn
Tôn Yidam, đấng khởi nguyên của mọi thành tựu,
Dakini, đấng ban ân phước tối diệu,
Con
xin kính lễ ba gốc.
Sau
đó, hãy tập trung không xao lãng tâm con vào guru, yidam, dakini
và lập lại:
Con
quy y nơi guru, yidam, và dakini.
Kế
tiếp khẩn nguyện như sau:
Chư
guru, yidam, và dakini, cầu xin ban cho con ân phước của thân,
khẩu, ý các Ngài!
Xin
ban những quán đảnh trên con! Xin ban những thành tựu thông
thường và tối thượng! Xin mở lòng từ của Ngài đến con,
đứa con sùng mộ của Ngài!
Sau
đó hóa tán guru vào đỉnh đầu con, yidam vào giữa ngực con,
và dakini vào giũa rốn con.
Công
Chúa Tsogyal hỏi vị Thầy: Phương pháp nguyện thọ quy y cách
bên trong như thế nào?
Vị
Thầy đáp: Nghi thức nguyện thọ quy y cách bên trong lần đầu
như sau: quan trọng là phải nhận được quán đảnh. Vẫn
giữ được tự thân quán đảnh là nhận được quy y. Nếu
con thật sự thọ quy y mà không nhận quán đảnh, hãy đảnh
lễ và đi nhiễu quanh vị guru, dâng cúng hoa cho Ngài và nói:
Thưa
Thầy, xin lắng nghe con. Tập hội chư Bổn Tôn, chư dakini,
và quyến thuộc của mandala Bổn Tôn, xin hãy lắng nghe con.
Ngay từ giờ cho đến khi đạt được cấp bâïc vidyadhara
tối thượng của mahamudra, con tên là _______ xin thọ quy y nơi
gốc của dòng truyền, tất cả những guru thiêng liêng và
siêu phàm.
Con
xin thọ quy y nơi tất cả tập hội của Bổn Tôn, suối nguồn
của mọi thành tựu.
Con
xin thọ quy y nơi tất cả dakini, những đấng ban ân phước
tối diệu.
Nguyện
thọ quy y đạt được sau khi niệm bài này ba lần.
Đó
là nghi thức thọ giới nguyện. Ta đã giải thích quy y cách
bên trong.
QUY
Y CÁCH BÍ MẬT
Công
Nương Tsogyal, Công chúa xứ Kharchen, hỏi vị Thầy: Về thọ
quy y cách bí mật, người ta thọ quy y nơi đối tượng nào?
Loại người nào thọ quy y? Người ta thọ quy y theo cách thức
hay phương pháp nào? Người thọ quy y với thái độ đặc
biệt nào? Quy y trong thời gian nào? Thọ quy y trong hoàn cảnh
nào? Có mục đích và đức hạnh gì?
Vị
Thầy trả lời: Về phần những đối tượng của quy y cách
bí mật, con phải thọ quy y trong kiến (quan điểm), thiền
(suy niệm), và hành (hành động).
Loại
người thọ quy này phải là người có những khả năng cao
nhất, mong muốn đạt được giác ngộ.
Về
phương pháp hay cách thức, con phải thọ quy y nhờ kiến, thiền,
hành và quả. Nghĩa là con phải quy y với kiến xác quyết,
thiền định có kinh nghiệm, và hành vi có vị bình đẳng.
Về
phần thái độ đặc biệt, kiến thoát khỏi tham dục, có
nghĩa không mong muốn nào khác hơn là đạt Phật quả hay dứt
bỏ luân hồi. Sự thiền định thoát khỏi trụ vào sự tập
trung trên hình tướng cụ thể và không rơi vào thiên kiến,
thì không thể mô tả bằng ngôn từ bình thường. Hành động
thoát khỏi lấy, bỏ, tức là không rơi vào bất cứ phạm
trù nào.
Về
thời gian là kể từ lúc quy y cho đến khi đạt giác ngộ.
Về
hoàn cảnh là thọ quy y mà không muốn tái sanh nào nữa.
Về
mục tiêu hay đức hạnh là đạt được giác ngộ viên mãn
ngay trong kiếp sống này.
Công
Chúa Tsogyal hỏi: Về quy y cách bí mật, người ta cần tu hành
những thực hành nào?
Đạo
Sư Padma đáp: Có ba tu hành tiên khởi:
1.
Về cái thấy (kiến) sở hữu sự chứng ngộ: con phải tu
hành trong xác quyết rằng không có Phật quả nào khác cần
thành tựu, vì tất cả chúng sanh và chư Phật đều có cùng
nền tảng (Phật tánh). Con phải tu hành trong xác quyết rằng
hình tướng xuất hiện và tánh Không là bất khả phân, qua
chứng ngộ rằng những hình tướng đó và tâm là không khác
biệt.
2.
Về tu hành trong sự thiền định có kinh nghiệm: Không nên
để tâm hướng ngoại, đừng tập trung vào trong, mà hãy tu
hành để tâm được nghỉ ngơi tự nhiên, và thoát khỏi điểm
quy chiếu.
3.
Về phần hành động: Hãy tu hành kinh nghiệm không gián đoạn.
Dù vào tất cả mọi lúc đi, đứng, nằm, ngồi đều không
có gì để thiền định về, tu hành không xao lãng dù chỉ
trong một khoảnh khắc.
Sau
đây là tám tu hành thông thường:
1.
Không từ bỏ vị Thầy cho dù chứng ngộ tâm con là Phật.
2.
Không gián đoạn những thiện căn cho dù con chứng ngộ những
hình tướng là tâm.
3.
Tránh làm những hành động xấu dù là vi tế nhất, cho dù
con không còn sợ cõi địa ngục.
4.
Không phỉ báng bất kỳ giáo lý nào, cho dù con không còn nuôi
dưỡng bất cứ hy vọng đạt giác ngộ nào.
5.
Không nên kiêu mạn hay khoe khoang cho dù con chứng ngộ những
đại định cao cấp.
6.
Luôn luôn cảm thấy có lòng bi với chúng sanh, cho dù con hiểu
được chính mình và người khác là bất nhị.
7.
Hãy tu hành nơi chốn nhập thất (hoang vắng), cho dù con nhận
ra luân hồi và niết bàn là không hai (bất nhị).
Công
Chúa Tsogyal hỏi vị Đạo Sư Hóa Thân: Về thọ quy y cách
bí mật, người ta được ban sự bảo vệ nào và đức hạnh
gì?
Đạo
Sư Padma đáp: Đã thọ quy y nơi kiến, con được bảo vệ
khỏi cả hai thường kiến và đoạn kiến, tà kiến và chấp
chặt được loại bỏ, sự