Bất
cứ người nào có nghiên cứu Phật học, có kiến thức về
giáo lý đạo Phật như được ghi trong ba tạng kinh điển,
đều thừa nhận đang có một khoảng cách lớn, phân biệt
đạo Phật trong kinh điển – mà tôi tạm gọi là đạo Phật
lý thuyết – với đạo Phật ở ngoài đời, trong cuộc sống
thực tế.
Ðạo
Phật lý thuyết là đạo Phật lý tưởng. Khoảng cách giữa
lý tưởng và thực tế là chuyện tất nhiên và tất yếu.
Bởi lẽ, nếu không có khoảng cách đó giữa đạo Phật lý
tưởng và đạo Phật thực tế, thì mọi người chúng ta đều
thành Phật cả rồi, và cõi đất này đã là cõi Phật rồi.
Vì
vậy, khi suy nghĩ và nói tới khoảng cách đó qua các sự kiện
thực tế, tôi không có mục đích gì khác là tự nhắc nhủ
mình và nhắc nhủ mọi người luôn luôn có ý thức về khoảng
cách đó và phấn đấu hết sức mình để thu hẹp khoảng
cách đó.
Chính
với tinh thần và thái độ như vậy mà tôi xin có một vài
suy nghĩ về một sự đổi mới phương pháp, hình thức và
nội dung của giáo dục Phật giáo trong thời đại hiện nay.
1.
ÐỔI MỚI VỀ HÌNH THỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC PHẬT GIÁO
a.
Trong giáo dục Phật giáo, thân giáo là quan trọng hàng đầu.
Ðiều
này, ai cũng biết cho nên không cần nói nhiều. Cái khó là
chúng ta không làm, không muốn làm hay là không làm được.
Tôi
cho rằng, một trong những nguyên nhân khiến cho đạo không
truyền bá được vào đời một cách rộng rãi, khiến cho
giáo dục Phật giáo có hiệu quả hạn chế là vì chúng ta
coi nhẹ thân giáo, tức là những người làm chức năng giáo
dục Phật giáo, phải thực hành, từ đó gợi cho người khác
thực hành hàng ngày, hàng giây phút những giá trị cao cả
của đạo Phật trong cuộc sống của mình.
b.
Mở rộng đội ngũ giáo dục
Cho
đến nay, chúng ta thường hạn chế số người làm chức năng
giáo dục trong Tăng sĩ, và giờ giáo dục Phật giáo trong các
buổi thuyết pháp hay là lên lớp ở các trường Phật học
trung cấp và cao cấp. Một quan điểm như vậy làm giảm sút
hiệu quả của giáo dục Phật giáo rất nhiều. Tất cả mọi
người không kể là xuất gia hay tại gia, một khi đã tin vào
chân lý của những giá trị triết lý đạo đức của đạo
Phật và sống theo đúng những giá trị đó, đều mặc nhiên
trở thành những nhà giáo dục Phật giáo, bằng thân giáo,
bằng tư tưởng, hành vi và lời nói của mình. Mọi người
hãy có ý thức đầy đủ về điều này, và không nên nghe
những người nói rằng truyền giáo, giáo dục thì phải có
văn bằng, học hàm, học vị, phải nói cho hùng hồn, điệu
bộ cho oai vệ. Suy nghĩ như vậy sẽ lầm to, và rất có hại
cho sự nghiệp truyền bá của đạo Phật.
Trần
Thái Tông, một ông vua Phật tử đời Trần, đã viết trong
cuốn Khoá hư lục rằng :
"Mạc
vấn đại ẩn tiểu ẩn, hưu biệt xuất gia tại gia, bất
câu Tăng tục, chỉ yếu biện tâm, bản vô nam nữ, hà tu trước
tướng ?(Không phân biệt là sống giữa đời hay sống
ẩn dật trong rừng, không phân biệt tại gia hay xuất gia,
Tăng hay tục, chỉ cốt biện tâm. Vốn không nam nữ, sao lại
còn chấp tướng?).
Có
thể nói đạo lý bình đẳng của Phật không có phân biệt
đối đãi xuất gia và tại gia, nam và nữ, già và trẻ. Tất
cả mọi người đều sẵn có mầm giác ngộ ở trong mình,
tức Phật tánh, cho nên đều có thể thành Phật. Ðạo lý
bình đẳng này thấy rõ trong một số kinh Ðại thừa như
kinh Duy Ma Cật, kinh Thắng Man đã được dịch ra tiếng Việt.
Duy Ma Cật là một trưởng lão có gia đình, nhưng trình độ
giác ngộ của ông ngang hàng với Bồ tát Văn Thù. Phu nhân
Thắng Man, trong kinh Thắng Man, cũng có một vị trí cao tương
tự. Trong kinh Pháp Hoa ở phẩm 26, một Long Nữ mới 8 tuổi,
nhờ nghe ngài Văn Thù thuyết pháp mà trở thành đại Bồ
tát và trong nháy mắt dùng phép thần thông biến ngay thành
nam giới rồi thành Phật. Những truyện như vậy có thể không
được Phật giáo Theravada (Nam tông) chấp nhận, nhưng đứng
về tinh thần mà nói, chúng nói lên được truyền thống bình
đẳng và phá chấp của đạo Phật, và truyền thống này
có ngay từ thời Ðức Phật còn tại thế.
Phật
giáo Việt Nam từng có Ni sư Diêụ Nhân đời Lý là một Thiền
sư nổi tiếng thuộc dòng Thiền Tỳ Ni Ða Lưu Chi, có Trần
Thái Tông và Tuệ Trung đều là những cư sĩ và là nhà Phật
học xuất sắc đời Trần. Học trò của hai vị này gồm
cả Tăng sĩ và cư sĩ. Một học trò xuất sắc của Tuệ Trung
chính là Trần Nhân Tông, là Tổ thứ nhất của phái Thiền
Trúc Lâm đời Trần. Một học trò thứ hai của Tuệ Trung
là Pháp Loa, là vị Tổ thứ hai của phái Thiền Trúc Lâm và
là người đứng ra san định bản thảo Tuệ Trung Thượng
sĩ ngữ lục, đã được cư sĩ Trúc Thiên dịch ra Việt văn.
Trong thời hiện đại, chúng ta có cư sĩ Tâm Minh Lê Ðình
Thám, là một nhà Phật học lớn, nhiều Tăng sĩ vốn là học
trò của ông, nay giữ nhiều vị trí chủ chốt trong Giáo hội
Phật giáo Việt Nam.
Ở
nước Phật giáo nào cũng vậy, cư sĩ bao giờ cũng chiếm
số đông, họ lại là người có kiến thức thế tục khá
rộng, nếu họ có thêm kiến thức nội điển nữa thì họ
sẽ trở thành những nhà giáo dục Phật giáo, những nhà truyền
giáo rất tốt, rất có hiệu quả. Tăng sĩ vốn số lượng
ít hơn, tất nhiên cũng làm chức năng giáo dục và truyền
giáo, nhưng trước hết họ là những người duy trì kỷ cương
xuất thế của đạo, và điều này cũng rất là quan trọng
trong cuộc sống văn minh vật chất và thế tục hiện nay.
Nói tóm lại, phải thu hút rộng rãi từng lớp cư sĩ vào
đội ngũ giáo dục và truyền giáo của đạo Phật. Ðó là
một trong những biện pháp chủ chốt để rút ngắn lại khoảng
cách giữa đạo Phật lý thuyết và đạo Phật trong thực
tế, trong đời sống.
c.
Một vấn đề mang tính cấp thời là dùng rộng rãi tiếng
dân tộc, tức tiếng Việt, trong công tác giáo dục và truyền
giáo, bớt dùng chữ Hán, nhất là đối với các kinh nhật
tụng. Các bản Việt dịch của Ðại tạng kinh Việt Nam
phải được nhuận văn thế nào cho đông đảo Phật tử đọc
mà hiểu được, và áp dụng được nội dung vào đời sống
hàng ngày, vấn đề này quá rõ, cho nên tôi không nói nhiều.
II.
GIÁO DỤC HƯỚNG NỘI VÀ ÐẶC BIỆT COI TRỌNG MÔN DUY THỨC
HỌC
Về
nội dung giáo dục, phải rất chú trọng môn tâm lý học Phật
giáo, tức là môn Duy thức học. Cho đến nay, ở các nước
phát triển của phương Tây, người ta chú trọng nghiên cứu
thế giới bên ngoài, hơn là nội tâm con người. Nói thế
giới bên ngoài, bao gồm cả xã hội và thiên nhiên. Do đó
mà các ngành khoa học tự nhiên ở phương Tây rất phát triển,
tạo ra nhiều thành tựu thần kỳ trong lĩnh vực khoa học
kỹ thuật và công nghệ, dẫn tới một sự tăng trưởng vũ
bão của lực lượng sản xuất. Thành công đó của khoa học
kỹ thuật phương Tây không thể phủ nhận được. Thế nhưng
trong các ngành khoa học xã hội học thì chỉ có ngành xã
hội học (socialogy) là phát triển tương đối. Ngay Mác, khi
dẫn chứng một điểm trong luận cương của Phơ Bách cũng
khẳng định con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội.
Nhưng trên thực tế, theo quan điểm của triết học và tôn
giáo phương Ðông, đặc biệt là Phật giáo, thì nội tâm
con người là cả một thế giới mênh mông sâu thẳm, mà mãi
tới thế kỷ XX, Sigmund Freud mới sơ bộ phát hiện ra, và
trên cơ sở đó xây dựng môn Phân tâm học nổi tiếng của
ông.
Chúng
ta biết là để trình bày môn Phân tâm học, một môn học
rất mới mẻ đối với người phương Tây, Freud đã phải
sáng tạo ra cả một pho ngữ vựng Phân tâm học với những
danh từ, động từ và hình dung từ rất lạ tai… Thế nhưng
môn tâm lý học Phật giáo cụ thể là môn Duy thức học Phật
giáo so với môn Phân tâm học của Freud, đã phân tích nội
tâm của con người sâu sắc và chi tiết hơn nhiều, khiến
cho những học trò danh tiếng của Freud như Fromm, Carl Jung đã
theo nghiên cứu Phật học và trở thành môn đệ của Thiền
sư Nhật Bản Suzuki (xem Thiền và Phân tâm học – các bản
Anh và Việt văn).
Vì
không chú trọng đời sống nội tâm, cho nên ở các nước
công nghiệp rất phát triển của phương Tây, con người có
thể có rất nhiều tiền và đầy đủ mọi tiện nghi của
đời sống vật chất nhưng lại thiếu sự bình tĩnh nội
tâm và do đó cũng ít có hạnh phúc. Một nhà báo người Mỹ
nói : "Về vật lý học, chúng ta đang ở thời đại nguyên
tử; về mặt tâm lý học, chúng ta đang ở thời đại đồ
đá". Một hình ảnh khác, có sức gợi cảm mạnh hơn,
là hình ảnh của một con người, một chân thì buộc vào
một chiếc máy bay phản lực, còn chân kia thì buộc vào một
chiếc xe bò kéo !
Sự
mất thăng bằng giữa tâm lý học (hết sức lạc hậu) và
các môn khoa học tự nhiên, đặc biệt là vật lý học (hết
sức phát triển) giữa nội tâm tán loạn, hôn mê vì dục
vọng và ngoại cảnh đầy cám dỗ, kích thích và diễn biến
cực kỳ nhanh chóng (thời đại hiện nay là thời đại của
tốc độ) là nguyên nhân của bao nhiêu tai nạn khủng khiếp,
bao nhiêu hiện tượng bạo lực, bạo hành, khủng bố thật
không sao hiểu được, đang diễn ra hiện nay, có thể nói
là hàng ngày. Những chuyện giết người hàng loạt một cách
dã man, không phải chỉ xảy ra ở những nước lạc hậu,
kém văn hoá như ở Campuchia thời Pôn Pốt, ở Rwanda và Burundi
tại châu Phi hiện nay mà ngay ở trung tâm châu Aâu, ở nước
Nam Tư cũ, ở Nga tại Tchesnia, ở Mỹ (Oklahoma) và ở Nhật
trong các vụ đầu độc dưới tàu điện ngầm v.v….
Ðúng
như Einstein dự đoán nhân loại là con người điên. Khoa học
kỹ thuật trao cho người điên đó cái búa, và bây giờ, người
điên đó đang dùng cái búa đập phá lung tung.
Duy
thức và Trung quán là hai đỉnh cao của Phật giáo Ðại thừa.
Hai môn học này bổ sung cho nhau, thay vì mâu thuẫn và chống
đối với nhau như một vài người lầm tưởng. Nếu môn học
Trung quán chú ý nhiều tới sự phân tích logic và tư duy biện
chứng, do đó rất thích hợp với các phương pháp khoa học
hiện đại, thì môn Duy thức học lại chú trọng phân tích
nội tâm, kết hợp với tu tập thiền định. Không phải không
có lý do mà tông Duy thức còn mang tên Du Già tông. Dù Già
hay Yoga là một tên gọi khác của Thiền định, nhưng ý nghĩa
của nó có phần rộng hơn.
Giảng
môn Duy thức học mà không biết kết hợp với tu tập thiền
định thì sẽ biến thành môn học có tính kinh viện và sách
vở. Chính trong những giờ phút ngồi thiền và thực hành
thiền quán hay nội quán, mà hành giả quán thấy mọi sự
kiện ngoại cảnh và nội tâm một cách minh bạch rõ ràng,
đúng như chúng tồn tại.
III/
GIÁO DỤC VỀ TINH THẦN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC,
ÐỀ CAO TÍNH LÝ TRÍ TRONG GIÁO DỤC PHẬT GIÁO, CHỐNG MỌI
HÌNH THỨC GIÁO ÐIỀU, CŨNG NHƯ MÊ TÍN VÀ CUỒNG TÍN
Thời
đại hiện nay là thời đại của khoa học và dân chủ. Phương
pháp giáo dục Phật giáo, nếu đi ngược lại hai tinh thần
khoa học và dân chủ, nhất định sẽ kém hiệu quả, thậm
chí đem lại hậu quả ngược với ý muốn dự định của
chúng ta. Nghĩa là tuyên truyền đạo Phật mà trở lại phản
tuyên truyền đạo Phật, biến đạo Phật thành một trò cười
cho số đông.
Gần
đây, có người thường nhấn mạnh tính phi lý, tính trái
thường của những ngữ Thiền. Ðúng là có một số câu nói
nhà Thiền hay là có những hành vi của một số Thiền sư
là khó hiểu, thậm chí không hiểu được, đại loại như
câu của phái Thiền Lâm Tế : "Gặp Phật giết Phật, gặp
Tổ giết Tổ" v.v… Tôi không dám phê bình những câu,
những lời thiền như vậy, mà tôi tin là chỉ có giá trị
giáo dục nhất định, trong những trường hợp cá biệt nhất
định giữa Thiền sư và thiền sinh, giữa thầy và trò. Tuy
nhiên, những câu kiểu như vậy không có một giá trị giáo
dục phổ biến.
Ðạo
Phật khác với các tôn giáo thần khải, không bao giờ phủ
định lý trí như là chuẩn mực đáng tin cậy của chân lý.
Con người là một động vật có lý trí. Tất nhiên, con người
còn có tình cảm và ý chí. Nhưng ở nơi con người, tình cảm
và ý chí phải được soi sáng và hướng dẫn bởi lý trí.
Với lý trí, con người phải học lập luận một cách logic
chặt chẽ, sử dụng thông thạo các thao tác như suy lý, diễn
dịch và quy nạp. Do đó, môn logic học Phật giáo (Nhân minh
học) phải được đưa vào dạy ở các trường Phật học
trung cấp và cao cấp. Ðó là điều hiện nay chúng ta chưa
làm, thậm chí ngay cả đối với trường Phật học cao cấp,
chứ đừng nói gì ở các trường Phật học trung cấp. Khi
nói và viết, khi suy tư, con người phải biết lập luận một
cách logic, nghĩa là có lý có lẽ, chứ không thể suy nghĩ
lung tung, viết và nói lung tung, thậm chí cả trong khi giảng
dạy.
Nhà
bác học Einstein nói : "Tôn giáo mà không có khoa học sẽ là
tôn giáo mù, khoa học mà không có tôn giáo thì sẽ là khoa
học què".
Khi
Einstein nói tôn giáo mà không có khoa học là tôn giáo mù,
theo tôi là Einstein muốn nói tôn giáo không phải chỉ là lĩnh
vực của đức tin thuần túy, yêu cầu không được bàn cãi,
suy tư, hoài nghi. Tuyệt đối không phải như vậy. Chính kiểu
lập luận như vậy biến tín đồ thành một đám người mù,
nhắm mắt làm theo chỉ thị của những người tự xưng là
đạo sư, hay là vô thượng sư của họ, nhưng trên thực tế,
đôi khi chỉ là những phần tử cơ hội, có thể không từ
một tội ác nào mà không làm, như đạo sư của giáo pháp
Aum ở Nhật, đã cho đầu độc hàng loạt người vô tội,
hay là như một số giáo phái ở Mỹ, tổ chức những vụ
tự sát tập thể….
Ðạo
Phật ngay từ đầu đề cao vai trò của trí tuệ thay vì niềm
tin mù quáng. Phật từng nói tiếp thu giáo pháp của Phật
mà không hiểu cũng không khác gì một cái thìa đựng mật,
nhưng không thể biết mùi vị của mật là gì, Phật lại
nói "Chớ có tiếp thu giáo pháp của Ta chỉ vì kính nể
Ta, trái lại hãy thử thách nó như là lửa thử vàng vậy".
Ðạo
Phật không bao giờ có những lời tuyên bố vô lý như thế
này : "Ðiều này có thể tin được vì rằng quá ư vô lý,
điều này là đúng vì không có khả năng xảy ra". Những
điều đó, logic học Phật giáo, tức Nhân minh học, gọi là
thế gian tương vi. Ðạo Phật khuyến khích mọi người hãy
lập luận một cách logic, dựa trên những sự kiện thực
tế của cuộc sống hàng ngày. Một lần, Phật nói với một
người Bà la môn : "Có những người Bà la môn và Sa môn
nói rằng ngày là đêm và đêm là ngày. Nhưng Ta, này Bà la
môn, Ta nói đêm là đêm, và ngày là ngày".
Hiện
nay, có một số ít người, kể cả một số trí thức, thích
kể những chuyện lạ về cõi âm, và cũng thích bàn về những
quyền năng siêu nhiên, như bay trên không, đi trên nước, một
thân biến thành nhiều thân, hô phong hoán vũ, sai khiến quỷ
thần.
Trong
phương pháp giáo dục Phật giáo, chúng ta xử lý những vấn
đề đó như thế nào ?
Trước
hết, đạo Phật thừa nhận có nhiều cõi sống khác nhau với
cõi người. Có những cõi sống cao cấp hơn cõi người, mà
sách Phật thường gọi chung là chư Thiên. Có những cõi trời
ở xa, thậm chí rất xa cõi người trên trái đất này, nhưng
cũng có những cõi trời ở tương đối gần. Lại có những
cõi sống thấp hơn cõi người, như cõi sống của loài vật,
cõi quỷ đói và cõi địa ngục. Ðạo Phật cũng thừa nhận,
con người sau khi chết, mang một cái thân tạm thời gọi là
thân trung ấm, làm bằng loại vật chất tế nhị, cho nên
mắt người không thấy được. Các thân trung ấm sống tối
đa 49 ngày, rồi theo nghiệp mà tái sanh hoặc trở lại làm
người hay là qua một cõi khác hoặc thấp hơn hoặc cao hơn
cõi người. Ðó là một mặt của vấn đề. Tức là đạo
Phật thừa nhận có những chúng sanh khác với con người,
những cõi sống khác với cõi người. Còn gọi họ, và cõi
sống của họ bằng tên gọi gì thì chỉ là vấn đề quy
ước mà thôi.
Nhưng
một số vấn đề khác mà đạo Phật rất nhấn mạnh, chúng
sanh ở các cõi sống khác nhau, do nghiệp khác nhau, giác quan
khác nhau cho nên cũng không có quan hệ trực tiếp với nhau
gì (trong các cõi sống khác, có lẽ chỉ có loài vật (animal)
là có quan hệ trực tiếp với cõi người hơn cả). Phúc hay
họa đến cho con người là do con người tạo nghiệp tương
xứng, chứ không phải do quỷ thần. Cho nên, điều người
phải làm, không phải là cúng bái quý thần để được ban
phước hay tránh họa. Họa hay phước đều do người chứ
không phải do quỷ thần. Nếu chúng ta hàng ngày làm điều
thiện, nói thiện, nghĩ thiện, nghĩa là thường xuyên làm
việc thiện thì chiùnh quỷ thần cũng kính nể ta, bảo vệ
ta. Còn nếu chúng ta hàng ngày làm ác, nói ác, nghĩ ác, thì
chúng ta sẽ mang họa, không chóng thì chầy, không có quỷ
thần nào cứu vớt chúng ta được. Ðó là thuyết nghiệp
của đạo Phật, một thuyết rất khoa học, và công bằng.
Theo
tinh thần của đạo Phật, thì không những quỷ thần không
thể can thiệp vào quy luật nghiệp báo, mà các con người
đối đãi với nhau cũng vậy. Người thiện thật sự sống
thiện, nay cũng như xưa thì người ác muốn hại cũng không
làm gì được. Người ác, muốn hại người thiện cũng như
kẻ ngu ngửa mặt lên trời mà phun nước bọt, hay là đi ngược
gió mà tung bụi… người thiện sống giữa đời ác độc,
cũng như một bàn tay không thương tích nhúng vào một bát
thuốc độc, không có quan hệ gì hết.
Còn
về vấn đề thần thông và quyền năng siêu nhiên, đạo Phật
cho rằng đó là sản phẩm phụ của công phu thiền định,
là một cái gì tự nhiên đến với người tu tập thiền định,
trong đạo Phật cũng như ở các đạo khác. Thế nhưng, trong
các loại thần thông, thì loại thần thông mà Phật đề cao
nhất là "Giáo hóa thần thông", hay là nếu nói theo từ ngữ
thông thường là "giáo dục thần thông". Phật nói đó mới
là thần thông thật sự, chuyển hóa con người ác thành con
người thiện, con người ngu thành người có trí, người dữ
thành người hiền… Còn các loại thần thông khác như bay
trên không, đi trên nước, chui xuống đất…., Ðức Phật
đều xem như những trò ảo thuật mà Ðức Phật khuyên học
trò mình không nên làm.
Ðạo
Phật là đạo của trí tuệ, của tình thương rộng lớn.
Ðạo Phật đem lại cho mọi người nhiệt tình sống cuộc
sống đạo đức, sống cuộc sống tâm linh cao cả, cuộc sống
trong sáng, thanh tịnh, đầy lòng bao dung… Ðạo Phật, cũng
như bản thân Ðức Phật, luôn khuyên mọi người hãy tin ở
sức mình, hãy tin ở mình, hãy tự thắp đuốc lên mà đi
…. "Chớ có vội tin vì đó là truyền thống do nhiều thế
hệ để lại, chớ tin vì đó là tin đồn, được nhiều người
nói tới, chớ có tin vì đó là điều đã viết thành sách
bởi một nhà hiền triết cổ xưa, chớ có tin vì đó là điều
anh thích thú, cho là tân kỳ, và nghĩ tằng đó phải là do
thần hay một vật kỳ diệu truyền đạt lại. Chỉ sau khi
quan sát và phân tích, thấy rằng đó là điều hợp với lý
trí, đem lại sự tốt lành , có lợi cho bản thân anh và cho
mọi người, thì hãy chấp nhận điều đó và sống theo điều
đó" (Tăng Chi I, kinh Kalama- các vị ở Kesaputta).
Ðó
quả là một lời dạy đầy minh triết. Nếu tất cả mọi
người đều vâng theo lời dạy minh triết đó, sống tỉnh
táo, luôn luôn quan sát và phân tích, dựa vững vàng vào các
dữ kiện thực tế của đời sống, kể cả đời sống nội
tâm, thì lịch sử nhân loại, kể cả quá khứ và hiện tại,
sẽ giảm bớt bao nhiêu tội ác, tang tóc, và đau thương, bao
nhiêu máu bớt chảy, bao nhiêu nước mắt đỡ tuôn rơi, bao
nhiêu quả tim đỡ tan nát…
Có
người nói đạo Phật là tôn giáo của niềm tin nhưng không
phải là niềm tin ở Thượng đế mà là niềm tin ở con người,
ở lý trí của conngười biết phán xét phải trái, ở trái
tim của con người biết yêu thương đồng loại, ở ý chí
của con người vươn tới cái tối thiện.
Ðạo
Phật là như vậy, và toàn bộ giáo dục Phật giáo trong thời
đại hiện đại phải đổi mới như vậy, nhằm mục đích
như vậy, theo hướng như vậy. Ðó sẽ là đạo Phật của
tương lai, của thế kỷ XXI.
(Nguyệt-san
Giác-Ngộ số 61/2001)