Thật
sự rất ít người biết đến sự đóng góp của phật giáo
cho nền giáo dục. Ngay cả trong các quốc gia phật giáo, nơi
mà truyền thống giáo dục nguyên thủy đã và đang hiện hữu
trong nhiều thế kỷ, các hệ thống giáo dục hiện thời,
hoặc là không có sự phát triển trực tiêᰠtừ truyền thống
quá khứ hoặc cũng không có phát triển trong bất cứ phương
thức nào liên quan tới nó. Truyền thống giáo dục phật giáo
gần như đã bị thay thế tòan bộ nhưng may thay trong qúa khứ
còn vài trung tâm tự viện vẫn được duy trì các tổ chức
huấn luyện các tỳ kheo, sa di và cư sĩ.
Điều
quan trọng cho việc xác định đặc tính, phẩm chất của
nền giáo dục không chỉ dựa trên nét nổi bật của lịch
sử. Từ quan điểm hiểu biết của chúng ta về sự đóng
góp đa dạng, phật giáo đã cống hiến nhiều lợi ích của
nhân loại , sự nghiên cứu như vậy rõ ràng là vô giá. Vì
vậy, tính chất thích ứng và hợp thời hơn vẫn là ngày
nay nên thực hiện sự khảo cứu này.
Nhiều
người đã thất vọng về kết quả của nền giáo dục hiện
đại vì nhiều lý do. Nguồn gốc sai lạc của nền giáo dục
hiện đại và kết quả thiếu thích nghi với mẫu mực văn
hóa và các giá trị của con người là các nguyên nhân cho
mối quan tâm trong các quốc gia này bởi vì vừa bị giới
hạn do các năng lực thuộc địa và giới hạn bởi các lực
lượng khác của sự hiện đại hóa vay mượn mô hình phương
Tây. Sự bành trướng bừa bãi của nền giáo dục này đã
gây nên toàn bộ những rắc rối kinh tế xã hội, đã chứng
tỏ rằng các chính sách giáo dục hiện thời nhìn chung đã
không còn thích hợp và hữu hiệu nữa.
Những
quốc gia có sự gián đọan như vậy trong truyền thống hoặc
suy sụp giá trị văn hóa đã không xảy ra một cách đột
ngột, trong khi đó thật đáng sửng sốt trong nhiều quốc
gia có nền giáo dục hiện đại căn bản lại từ bỏ để
khao khát tìm cầu một cái mới. Tình trạng bất ổn trong
vô số hình thức, được tóm tắt như sự boăn khoăn của
giới trẻ hoặc sự khác nhau về tư tưởng giữa thế hệ
đi trước và thế hệ tiếp nối, có thể được giải thích
trong nhiều cách khác nhau. Nhưng sự thất bại giáo dục không
chỉ trong mối liên quan đến giới trẻ khó tính mà còn đối
với thế hệ lớn tuổi nghiêm khắc hầu như không thể giải
quyết , đó chính là nguyên nhân nổi bật nhất.
Truyền
thống giáo dục phật giáo có thể đáp ứng trong việc tìm
cầu phương thuốc cho nguyên nhân tệ nạn giáo dục đang lan
rộng, 25 thế kỷ của thực nghiệm phật giáo nên được
xem xét cho việc vạch ra nguyên tắc chỉ đạo này.
Ngay
lúc ban đầu cần nên làm sáng tỏ những gì chúng ta đang
tìm kiếm là các khái niệm, thể thức, phương pháp và sự
tiếp cận thực tiễn của giáo dục phật giáo, mà có thể
được nhấn mạnh vào việc phục vụ trong cuộc giao tranh
của thế giới hiện dại. Nói cách khác , chúng ta không bắt
đầu với một luận điễm- tuy nhiên chắc chắn rằng điều
đó có thể xảy ra- thông điệp tinh thần của Đức Phật
biểu hiện những giải pháp cho các vấn đề kinh tế xã hội
ngày nay và do đó các hệ thống giáo dục nên được chuyển
hóa để truyền bá thông điệp này. Thay vì vậy, chúng ta
sẽ chỉ tập trung chú ý trên phương diện hình thức và trong
mô hình dạy-học đã phát triển trong giới phật giáo và
yêu cầu chính chúng ta có điều gì xứng đáng trong những
kinh nghiệm này cho chúng ta trong 25 năm cuối của thế kỷ
XX này không?
Đây
không phải là một tài liệu nghiên cứu rộng rãi về chủ
đề này. Muc tiêu nhắm đến là để phát triển những nguyên
tă飠chung của một vài chủ đề liên quan mà chủ đề đó
sẽ hướng dẫn sự chú ý đến nhu cầu nghiên cứu chuyên
sâu vào lãnh vực đặc biệt này.
Sự
khan hiếm những thông tin về giáo dục phật giáo là một
điều đáng kinh ngạc. Người ta có thể khảo xác danh mục
của hàng trăm tác phẩm chuẩn mực về phật giáo, văn hóa,
văn minh hay lịch sử phật giáo nhưng hầu như ít có sự liên
quan tới giáo dục. Nơi nào sự liên quan tới giáo dục được
tìm thấy thì các thông tin như bị giới hạn, không có nêu
rõ về giáo dục AᮠĐộ ở các trung tâm họat động của
giới trí thức như Tỳ Xá Ly (Taxila ) hoặc Varanasi, Kinh Bổn
Sanh hoặc những Ký sự về các trung tâm tu học ở AᮠĐộ
hoặc Tích La do các nhà chiêm bái Trung Quốc như Pháp Hiền,
Huyền Trang, Nghĩa Tịnh thăm viếng và tường thuật.
Nếu
những tin tức này được mở rộng đến thời gian gần đây
hơn thì chúng ta sẽ tìm thấy sự liên quan tới hệ thống
giáo dục trong tu viện và các học viện phật giáo mà đã
bị lọai bỏ một cách có hệ thống đến tận nền móng
hoặc bị lãng quên hòan tòan do sự bắt đầu mạnh mẽ của
nền giáo dục hiện đại. Một vài nỗ lực đã được thực
hiện để làm sáng tỏ triết lý giáo dục phật giáo nhưng
chỉ với kết quả hữu hạn.
Tóm
lại một khuyết điểm lớn trong sự hiểu biết của chúng
ta về sự đóng góp của phật giáo đối với họat động
giáo dục nhân bản vẫn còn bao phủ. Vì vậy, hướng nhắm
đến giới hạn của chúng tôi là sẽ nói đến một vài điểm
đã thu hút sự khảo cứu của chúng tôi trong lãnh vực giáo
dục rộng lớn này .
1.
Phép lạ của lời dạy
Mỗi
nhà sáng lập hệ thống tôn giáo là một đạo sư. Trong truyền
thống tôn giáo AᮠĐộ đạo sư là bậc có nhiều người
đồng lòng ủng hộ. Chính Đức Phật được miêu tả "thiên
nhân chi đạo sư" (bậc đạo sư của trời người). Ngài có
ảnh hưởng như thế nào mà được xem là bậc đạo sư? Những
phương pháp giáo dục nào mà Ngài đã dùng? Những cải cách
nào trong sự tuyên thuyết giáo pháp mà chúng ta có thể gán
cho Ngài ? Khái niệm về học thuật của Ngài là gì? Những
ảnh hưởng nào đã làm cho ý tưởng dạy và học của ngài
tác động lên các nỗ lực giáo dục sau này của tăng đòan
Phật giáo ?
Đức
Phật tin chắc năng lực thuyết pháp có thể thuyết phục
dân chúng thay đổi cách sống, chấp nhận những giá trị
mới và tìm cầu các mục tiêu mới. Ơ렴hời điểm, khi các
bậc đạo sư tôn giáo đối nghịch khác đã sử dụng đến
những phép thần thông để chinh phục những người theo đạo
của mình, thì Đức Phật chỉ ủng hộ một loại pháp thuật
đó là "phép mầu của lời dạy".
2.
Các pháp thoại khai tâm
Các
pháp thọai do Đức Phật tuyên thuyết đều chứa dựng tính
cách mạch lạc và trong sáng. Trong những hội chúng dù nhỏ
hay lớn ngài đều dùng những pháp thoại đó để dần dần
đưa họ đến điểm mà ngài thiết lập. Kinh Chuyển Pháp
Luân (Dhammacakkappacattana) và kinh Satipatthana là những ví dụ
rõ ràng cho những pháp thọai này. Một vài tính chất nổi
bật trong những pháp thọai này: Đức Phật đã bắt đầu
với một lời khẳng định rất đáng chú ý là :" Có hai cực
đoan mà người tìm cầu chân lý không nên theo" hoặc là "Có
một đạo lộ hướng thượng và chắc chắn…." Ngài đã
phân tích cặn kẻ từ khái niệm cho đến yếu tố cấu thành
những khái niệm đó và trình bày chúng với một bảng liệt
kê các pháp số nhằm làm một khung sườn tóm gọn cho việc
trình bày và giúp cho việc dể nhớ.
Đức
Phật cũng thường dùng các ví dụ và phép lọai suy tự do
cũng như luôn luôn áp dụng chúng trong đời sống hàng ngày
của người dân bình thường ngay cả như là công việc của
những người hàng thịt, người bán hoa, người đưa đò,
người lính, quan chức. Đức Phật thường lập đi lập lại
những khái niệm quan trọng bất kỳ khi nào nó có liên quan.
Sự trình bày các khái niệm như vậy đã phát triển gần
như trở thành các cấp độ công thức tiêu chuẩn và rập
khuôn mà những công thức này thường được xuất hiện trong
những đọan giống hệt nhau bất cứ khi nào khái niệm này
có liên quan tới. Các pháp thọai đã hướng dẫn thính giả
dần dần đi tới kết luận mà luôn luôn là tâm nguyện tha
thiết cho việc theo đuổi con đường gíac ngộ mà các Ngài
đã đưa ra.
3.
Đối thọai và tranh luận
Pháp
thọai của Đức Phật thường sống động khi Ngài dùng các
từ hình tượng (hình dung từ). Ngài luôn luôn có những cuộc
hội đàm để làm sáng tỏ quan điểm của mình và để thừa
nhận những quan điểm đúng đắn. Những giả thuyết sáng
sủa dể hiểu thường vận dụng bắt đầu ở mỗi cuộc
thảo luận. Nếu Ngài không đồng ý thì ngài cũng không nhạo
báng ý tưởng của người tranh luận, nhưng ngài sẽ bắt
đầu đặt ra nhiều câu hỏi sâu sắc để khéo léo làm cho
người tranh luận nhận thấy những sai lầm của mình trong
biện luận. Người tranh luận dần dần hướng đến sự nhượng
bộ và từ bỏ luận điểm ban đầu của mình. Đức Phật
thường gây ấn tượng khi ngài chuyển hóa dòng tư tưởng
của người đối thọai bằng những câu hỏi vô cùng tinh
tế thâm thúy. Những phép so sánh và lọai suy đã được dùng
trong việc giải thích tỉ mỉ những vấn đề này. Các giai
thọai từ truyền thuyết và lịch sử đã tạo hình tượng
nổi bật.
Chỉ
sau khi người tranh luận từ bỏ luận điểm của mình, Đức
Phật mới bắt đầu trình bày ý kiến của mình về điểm
đang bàn bạc đó và dẩn dắt đối tượng từ từ đi vào
lộ trình gíac ngộ. Đó là chủ đích của Đức Phật.
4.
Thực tập mang tánh cách giáo dục tiêu chuẩn
Dù
trong các pháp thọai và giải thích hay trong các cuộc đối
thọai và tranh luận, Đức Phật đã khéo léo đưa ra một
lọat các phương pháp tu tập có tánh cách giáo dục thực
tiễn. Ngài nhắm vào trình độ hiểu biết của "người học
trò." Ngài đã trình bày chi tiết lý tưởng tương tự trong
nhiều cách khác nhau tùy theo căn cơ người nghe. Ngài bắt
đầu với sự biết rõ những điều mà người ta chưa biết
và nhấn mạnh nó như là một nguyên lý nền tảng trong tất
cả các lời dạy của ngài. Ngài đã không lãng phí thời
gian vào những việc hí luận và khuyến khích chúng ta nên
cố gắng để "biết các pháp như nó đang là"- điều này
nhấn mạnh cả hai mặt lý thuyết và thực tiễn.
Tuy
nhiên, Đức Phật xem bản thân trí thức không có giá trị
đáng kể, bởi vì trí thức chỉ có giá trị trên những phạm
trù nó ứng dụng. Chỉ có ít kiến thức được vận dụng
thích hợp trong đời sống thì được coi như vượt trội
hơn hẳn mớ kiến thức mà không có giá trị thực tiễn.
Những người tin tưởng những kiến thức không thực tiễn
thì bị chỉ trích như người chăn bò cho lợi ích những người
khác. Ngài đã không bao giờ thỏa mãn cho đến khi Ngài chắc
rằng đệ tử của mình thực sự đã hiểu biết những gì
đã được giảng dạy. Ngài đã trắc nghiệm họ khi Ngài
đưa ra những câu hỏi tinh tế. Ngài dùng một chuỗi những
từ đồng nghĩa cho những từ vựng quan trọng. Lúc thuận
duyên Ngài kể chuyện và tóm tắt các bài pháp trong hình thức
ngắn gọn thường là có vần điệu.
Lợi
ích của thi kệ, đặc biệt được ghi nhận là dể nhớ.
Hầu hết các chủ đề phổ thông được trình bày trong các
pháp thoại bằng thi kệ. Nhưng Ngài không ủng hộ sự hiện
diện của lời ngài giảng Ngài trong kệ Sanskrit – là phương
tiện truyền đạt của giới triết gia thượng lưu và những
đạo sư khác trong thời của Ngài. Ngài mong những người
học hỏi giáo lý phải học bằng ngôn ngữ của chính họ
và chính Đức Phật đã chọn ngôn ngữ phổ biến trong thời
đó là ngôn ngữ Ma Kiệt Đà hơn là Sanskrit.
Ngài
khuyến khích các đệ tử nên thảo luận chánh pháp và Ngài
chỉ là bậc "trọng tài." Ngài cũng sắp đặt các đệ tử
ưu tú trở thành đạo sư của những người khác. Đức Phật
đánh giá cao những lời dạy các pháp của các bậc có khả
năng và đặt họ vào theo khả năng chuyên môn và các phương
pháp hướng dẫn của họ. Đức Phật đã tổ chức tăng đòan
là một hội chúng có đầy đủ hiểu biết mà trong đó mỗi
thành viên phải sống đời sống tu học và thực tập những
gì đã học được, đồng thời hướng dẫn những người
khác đưa họ tham dự các buổi hội thảo, ghi nhớ những
bài pháp, các khái niệm trong sáng, những lời khuyên của
Đức Phật và trùng tuyên những lời đó cho việc duy trì
và phát triển các bộ sớ giải cũng như thuyết phục ngày
càng nhiều các thành viên người muốn tiếp tục như vậy
trong tiến trình tu tập và hoằng pháp.
5.
Tạo những cơ hội thuyết giảng
Là
bậc đạo sư, Đức Phật đã thể hiện nhiều khả năng nổi
bật. Ngài có thể giáo hóa bất cứ người nào và rất nhiều
trong những dịp thuyết giảng này. Trong những dịp thuyết
giảng Ngài nắm bắt được trình độ căn cơ của thính chúng
để gíup họ dể thâm nhập vào chánh pháp. Điều này khiến
cho họ rất ngạc nhiên trước sự khéo léo tài tình của
Đức Phật.
Từ
những đứa trẻ chọc giỡn rắn, những người già bị con
cháu hất hủi, kẻ cướp của giết người đang bị truy nã,
bà la môn thực hành nghi lễ tế thần, chiến tranh giữa những
người cùng giòng giống và hàng ngàn những hòan cảnh tương
tự như vậy đều có mặt trong số những đối tượng giáo
hóa của Đức Phật. Đôi khi Đức Phật có ý định sắp
xếp độ người khi ngài biết nhân duyên người đó đã thuần
thục như trường hợp Ngài đã độ các cô gái mãi dâm, và
Ngài đã thành công trong những dịp này. Ngài sẳn sàng chấp
nhận các thách đố của những người khác và luôn luôn sẳn
lòng để tham dự các cuộc tranh luận. Là một nhà đại hùng
biện với trí tuệ vượt bậc, Ngài đã thông suốt tất cả
những cách sử dụng phương pháp giáo dục của những người
khác. Phương pháp khám phá của Ngài cho thấy là sớm nhất
và có lẽ là hòan hảo nhất. Việc áp dụng đầy hiệu quả
cụ thể như có một bà mẹ đau buồn khi mất con thân yêu
nhất. Bà đã xin Đức Phật là đấng siêu xuất cứu con của
mình cho sống lại. Đức Phật dạy hãy đi xin hạt cải ở
bất cứ nhà nào mà không có người chết đem về thì ngài
sẽ cứu cho. Tìm mãi mà nhà nào cũng có người chết. Từ
việc này bà đã nhận thức được cái chết là một quy luật
chung của tất cả mọi người, mọi hữu tình trong vũ trụ
này.
6.
Người mở đường trí tuệ
Theo
Divyavadana, Ngài A Nan đã thuật lại cách Ngài Mục Kiền Liên
làm sáng tỏ pháp thoại về duyên khởi với biểu đồ bánh
xe mà trong đó 12 căm nhân duyên là những biểu tượng được
mô tả một cách đặc trưng. Đức Phật không chỉ bày tỏ
sự ngợi khen Ngài Mục Kiền Liên là một đạo sư mà còn
đề nghị rằng biểu đồ này nên được trưng bày ở cửa
ra vào của tịnh xá Trúc Lâm (Veluvana) ở thành Vương Xá để
mọi người có thể chiêm ngưỡng và học hỏi.
Minh
họa này được nổi tiếng là nguồn gốc của bánh xe luân
hồi, được khắc ở hang đá thuộc hang động Ajanta vào thế
kỷ thứ VII. Chính nó cũng là một chủ đề phổ biến cho
hội họa Tangka (trên lụa) của Tây Tạng và Nepal.
Chính
Đức Phật cũng được quy cho việc dùng hàng lọat các hình
tượng trí tuệ, các sáng tạo thần thông để thuyết phục
một hoàng hậu trẻ đẹp kiêu căng nhận ra tính chất phù
du vô thường của sắc đẹp và cuộc đời.
7.
Khái niệm dạy và học
Quan
trọng hơn nữa là việc áp dụng thực tiển một số các
phương thức giáo dục là quan điểm của Đức Phật về việc
dạy và học cũng như những chủ đề có liên quan. Một đọan
thú vị trong kinh Thiện sanh (Sigalovada) đã liệt kê các trách
nhiệm và bổn phận của người thầy và đệ tử như sau:
Người
thầy nên:
Nên
bày tỏ lòng yêu mến đối với học trò
Dạy
hoc trò bằng cách thức tốt đẹp và đức hạnh
Hướng
dẫn ân cần, truyền đạt mọi kiến thức khoa học và trí
tuệ của người xưa
Khen
học trò của mình trước bạn bè và người thân
Bảo
vệ học trò khỏi nguy hiểm
Người
đệ tử nên:
Chăm
sóc thầy của mình
Đến
lớp sớm hơn thầy và đợi thầy
Lắng
nghe những lời thầy dạy với sự chăm chú tôn kính
Làm
tròn bổn phận cần thiết cho thầy khỏe khoắn
Chú
ý thực hành lời thầy hướng dẫn
Các
điều trên đây có nghĩa là nghĩa vụ cần làm giữa thầy
và đệ tử theo quy ước thế gian và trong kinh này cũng đã
đưa ra một số nhiệm vụ tương tự giữa các đạo sư với
các đệ tử. Ơ렦#273;ây nội dung đạo đức được nhấn
mạnh hơn. Một bổn phận là một phương tiện để người
đệ tử gần gủi học tập nơi thầy của mình.
Trong
cả hai cách giáo dục thế tục và tôn giáo, nghĩa vụ quan
trọng của người học trò là phần học tập. Học trò mong
lắng nghe mọi điều thầy dạy, sự chú tâm kính cẩn. Tương
tự, người đệ tử cũng được yêu cầu chăm sóc thầy của
mình với tất cả ba nghiệp thân khẩu ý.
Đức
Phật chưa từng thừa nhận một cách vô điều kiện quyền
lực của người thầy trên mọi phương diện. Chủ trương
như vậy là một trong những nguyên lý căn bản của Đức
Phật về quyền bảo vệ tự do tư tưởng của mỗi người.
Sự thân cận để học hỏi Đức Phật giống như thực tập
tự do và không trói buộc khả năng trí thức của chính người
đó. Ý tưởng này đã được biểu hiện một cách hùng hồn
trong kinh Kalama khi Đức Phật nói rằng:
"Đừng
tin những gì đã được nghe. Đừng tin những gì có trong truyền
thống bởi vì nó được truyền trao trong nhiều thế hệ.
Đừng tin bất cứ điều gì do nhiều người đồn đại. Đừng
tin chỉ vì nó được ghi nhận trong thánh điển. Đừng tin
vào sự phỏng đóan, chấp nhận bất cứ điều gì chỉ bởi
vì suy luận. Đừng tin bất cứ điều gì chỉ vì dựa vào
một vài lý do. Đừng tin bất cứ điều gì bởi vì điều
đó hợp với nhận thức của mình. Đừng tin bất cứ điều
gì bởi vì dường như nó có thể chấp nhận được. Đừng
tin bất cứ điều gì dựa vào uy quyền của bậc đạo sư
hoặc những người lớn tuổi chỉ vì nghĩ rằng họ là người
đáng kính. Nhưng nếu sau khi tự chính mình đã xem xét và
phân tích kỹ lưỡng rằng những điều này là đạo đức,
không bị khiển trách, được người trí ngợi khen, nếu thực
hiện cũng như áp dụng sẽ dẫn đến an lạc hạnh phúc cho
mình và người, mới nên chấp nhận và sống theo nó".
Phương
thức mà Đức Phật đề nghị ở trên cho tiến trình tự
thẩm tra mọi kiến giải là phương pháp quán sát và phân
tích. Triết học hay tôn giáo của Đức Phật được mô tả
là "đến để mà thấy" (ehi-passika) hoặc là "hãy chứng nghiệm
bởi chính mình" (paccattam veditabha). Ơ렧iai đọan rất sớm
phật giáo được mệnh danh là "triết lý phân tích" (vibhajjavada).
Vị trí của Đức Phật cũng được khẳng định như là bậc
thầy chỉ đường và mỗi người phải tự chứng nghiệm
con đường đó.
8.
Vai trò của bậc đạo sư
Ơ
đây dĩ nhiên có một vấn đề nêu ra là liệu vai trò của
người thầy theo quan điểm của Đức Phật có phải thụ
động không? Nét phác thảo tóm tắt của chúng ta về Đức
Phật giống như một bậc đạo sư đã cho thấy rằng Ngài
là tất cả trừ việc thụ động. Đức Phật đã mô tả
vai trò của mình chỉ là một bậc đạo sư. Trong Trung bộ
kinh khi nói với Dhaddali, ngài đã so sánh chính mình giống
như bậc điều ngự sư. Ngài đã đưa ra phương pháp tu tập
của Ngài giống như người huấn luyện ngựa luyện tập một
con ngựa mới. Trong cách này kinh đã nói rằng "Đức Phật
đã cống hiến cho mọi người một phương pháp thiền định,
do đó đã thanh tịnh tâm, giải thóat khỏi tham và an trú trong
cõi thanh tịnh " (Trung Bộ, p. 445, PTS)
Lại
nữa, một đọan khác trong Trung bộ kinh (vol. II, p. 256 và vol.
III, p. 1 PTS) nói phương pháp tiệm tu của Đức Phật, tiến
trình tu tập và thăng tiến từ bước thấp nhất dần dần
lên cao, được so sánh giống như qúa trình luyện bắn cung
tên và kế tóan như "Khi chúng ta nhận đệ tử, đầu tiên
chúng ta đếm một là nhất thể, hai là nhị nguyên, ba là
tam bảo, và như vậy chúng ta đếm cho đến 100".
Trong
một bài kệ của Udana (vol. V, p. 5), Đức Phật đã giải thích
tiến trình này rõ ràng hơn: "Giống như một đại dương rộng
lớn, dần dần ăn sâu vào đất liền mà không có sự sụp
đổ đột ngột. Cũng giống như vậy, trong pháp và luật này,
giáo dục là tiệm tiến, việc tu tập là tiệm tiến, lộ
trình tu tập là tiệm tiến và không có sự thăng tiến đột
ngột nào trong trí tuệ viên mãn".
Một
đọan khác trong Trung bộ kinh (vol. I, p. 179 PTS) Đức Phật
đã so sánh Ngài như người luyện voi, mà người đó dùng
con voi đã thuần hóa để dụ dỗ con voi hoang vào trong rừng
trống và luyện nó khỏi tính hoang dã ngang qua tiến trình
huấn luyện có phương pháp để làm cho nó "trở nên quen với
môi trường làng xóm xung quanh và chấp nhận cách sống chung
với con người".
Để
tóm lại những điều nói trên, có thể nói rằng Đức Phật
được coi là bậc điều ngự trượng phu có phương pháp tu
tập thực tiển. Một điều quan trọng nữa nên chú ý ở
đây là tất cả sự nhấn mạnh tiến trình tu tập tâm linh
của Đức Phật là một trong những sự rèn luyện tâm lý
một cách tiệm tiến và khó khăn, cần nhiều sự nỗ lực
và quyết tâm. Giới luật (sila) là một sự nền tảng căn
bản. Rồi bắt đầu bằng sự chú tâm đơn thuần vào phép
quán sổ tức, hoặc thiền định trên nhiều đề mục thiền
khác nhau để đạt đến các trạng thái tâm cao hơn. Đây
gọi là tiến trình thiền định (dhayanas).
Đức
Phật nhận thức tầm quan trọng của từng căn cơ và phát
triển phương pháp thiền định thích hợp cho các đệ tử
tùy theo bản chất tâm lý của mỗi vị. Chú tâm và thực
hiện những điều đã được hướng dẫn là phương tiện
để đi đến mục đích của tiến trình tu tập là trí tuệ
tối thượng (panna). Với trí tuệ này, hành giả sẽ đạt
được trạng thái cao nhất của cảnh giới vô sanh. Có hành
giả đã để lại mọi thứ sau lưng kể cả những lời dạy
của Đức Phật chỉ là phương tiện chuyên chở giống như
chiếc thuyền, như một phương tiện để qua bờ kia. Khi đến
bờ bên kia thì không cần giữ thuyền lại.
(Trích
dịch từ nguyên tác tiếng Anh "The Contribution of Buddhism to Education"
của Ananda W. P. Guruge, trong Dharmadoot, Maha Bodhi Society of India,
Sarnath, 2000, pp. 20-25)
02-05-2002
05:23:46