|
.
GIA
ĐÌNH VÀ CON CÁI
Thubten
Chodron
Diệu
Liên Lý Thu Linh Việt dịch
 |
 |
Thubten
Chodron, là một nữ tu sĩ Phật giáo Mỹ. Bà đã tu học
ở Ấn Độ, Nepal và đã đến nhiều nơi trên thế giới để
thuyết giảng Phật Pháp cũng như dạy tu Thiền. Bà từng
dạy ở Trung tâm Phật giáo Amitabha ở Singapore, trước khi
trở về Seatle, Mỹ, để trông coi Hội Pháp Hữu (Dharma Friendship
Foundation).
Sau
đây là trích dịch những câu hỏi thường được đặt ra
của Phật tử về gia đình và con cái.
Phật
giáo có thể giúp được gì cho đời sống gia đình của chúng
ta?
Sự
hòa thuận trong gia đình rất quan trọng. Gia đình xào
xáo, tan vỡ gây khổ đau cho cha mẹ cũng như con cái.
Nếu những cặp uyên ương tiến tới hôn nhân với ý nghĩ
là hôn nhân sẽ mang đến cho họ lạc thú hay niềm vui thì
họ sẽ thất vọng, rồi đi đến tan vỡ. Vì khi họ
không tìm được niềm vui, lạc thú như họ mong đợi, họ
sẽ thất vọng, khổ đau đưa đến bất hòa, mầm móng đổ
vỡ. Có nhiều người lại tiếp tục đi tìm đối tượng
mới, để rồi cũng lại thất vọng. Đây là một thí
dụ điển hình về việc bám víu, theo đuổi hạnh phúc cá
nhân chỉ mang lại khổ đau cho chính cá nhân đó và những
người chung quanh.
Tốt
hơn là trong mối quan hệ giữa hai người khác phái, nên đặt
trọng tâm vào Phật Pháp. Có nghĩa là cả hai người
đều quyết tâm sống đạo đức và phát triển lòng từ bi
đối với mọi chúng sinh. Nếu hai người đã trao đổi,
cam kết với nhau rõ ràng như thế, họ sẽ có thể giúp đở
nhau trên nhiều phương diện: Khi một thành viên trở nên chán
lười, bê trể trong việc tu tập, họ có thể ngồi lại với
nhau bàn phương cách sửa đổi. Nếu có con cái, họ sẽ
giúp nhau có thì giờ để tĩnh tâm hay thì giờ dành cho con
cái. Nên nhớ con cái không phải là một chướng ngại
trên đường tu của chúng ta. Cha mẹ có thể học được
rất nhiều từ con cái và cha mẹ có thể giúp đở nhau vượt
qua những khó khăn trong vai trò làm cha mẹ dựa trên các giá
trị của Phật giáo.
Bị
ảnh hưởng của các nhà tâm lý học hiện đại, nhiều người
có thói quen nghĩ rằng tất cả những vấn đề trong đời
sống của họ đều bắt nguồn từ thời thơ ấu của họ.
Tuy nhiên nếu việc đó được thực hiện với thái độ trách
móc: “Tôi có vấn đề nầy nọ, vì cha mẹ tôi đã làm điều
nầy, điều nọ hay không làm điều nọ, điều kia’ -thì
chính ngay những người đó lại thường mặc cảm tội lổi,
lo sợ rằng họ sẽ làm hại cho con cái họ khi họ có gia
đình riêng. Thái độ hoang mang, lo lắng nầy khó thể
dẩn đến các cách dạy dổ con cái tốt, hoặc khiến họ
có lòng thương cảm đối với chính bản thân họ. Nếu
ta coi thời thơ ấu của mình như một thứ ám ảnh cần xa
lánh, thì thái độ nầy tạo ảnh hưởng xấu cho chính ta
và cả con cái ta.
Dù
chúng ta không chối bỏ rằng tuổi thơ ấu có thể đã để
lại những ảnh hưởng không tốt cho ta, nhưng ta cũng cần
phải nghĩ đến những sự tử tế, những ích lợi mà gia
đình đã mang đến cho ta. Không kể chúng ta đã lớn
lên trong bất cứ hoàn cảnh sống nào, chắc chắn là ta đã
mang ơn của bao người để được sống đến ngày hôm nay.
Cách suy nghĩ đó giúp ta có lòng biết ơn đối với mọi người.
Qua đó ta có thể truyền cho con ta lòng tử tế, bao dung mà
ta đã nhận được.
Phật
Pháp có ích lợi gì cho trẻ con? Làm sao giáo dục chúng
về những điều Phật dạy?
Căn
bản những điều Phật dạy là không làm hại đến người
khác, và cố gắng giúp đở mọi người càng nhiều càng tốt.
Đây là những giá trị đạo đức mà cha mẹ nào, dù là Phật
tử hay không, cũng muốn truyền dạy cho con mình, để giúp
chúng sống hòa thuận với mọi người. Trẻ con thường
học qua gương của người lớn, vì thế cách hữu hiệu nhất
để dạy dổ con cái về những giá trị đạo đức của Phật
giáo là chính cha mẹ phải sống đúng theo đó. Dỉ nhiên
không phải dể thực hành những điều ta nói. Nhưng nếu
cha mẹ có cố gắng thực hiện, thì cũng ảnh hưởng tốt
đến con cái.
Nếu
trong gia đình có thờ hình tượng Đức Phật, điều nầy
cũng giúp ích cho con cái của ta. Ta có thể giao cho chúng
việc lau chùi bàn thờ, dâng cúng phẩm vật. Bạn tôi
và đứa con ba tuổi của cô ấy đều lạy Phật mổi sáng.
Sau đó đứa trẻ dâng cúng Phật bánh trái.
Trẻ
con rất thích âm nhạc, và những âm thanh từ lời kinh tiếng
kệ, cũng như các bài ca Phật giáo có thể dùng để thay thế
cho các điệu nhạc thế gian. Tôi biết một số gia đình
dùng các bài tụng để ru con ngủ hay để dổ khi chúng quấy
rất có kết quả. Gia đình khác thì đọc kinh trước
bữa ăn, và để con cái họ làm nhiệm vụ xướng lể.
Đây chỉ là một số cách đơn giản giúp cha mẹ và con cái
chia sẽ, nuôi dưỡng đời sống tâm linh với nhau.
Các
gia đình Phật tử cũng có thể họp lại hằng tuần hay hằng
tháng để tu tập chung với nhau. Thay vì chỉ dắt con
đến chùa để chúng sinh hoạt với các trẻ con khác, cha mẹ
và con cái ở bên cạnh nhau, thực tập chung với nhau, đó
sẽ là khoảng thời gian hiếm hoi, quý báu khi cả gia đình
có thể cùng nhau chia sẽ những giờ phút thiêng liêng trong
cuộc sống vốn luôn bận rộn nầy. Sinh hoạt nầy cũng
gắn bó các gia đình Phật tử với nhau, giúp đở nhau khi
hoạn nạn.
Ngoài
ra đọc các sách Phật dành cho tuổi thiếu nhi hay xem các video
Phật giáo cũng là những sinh hoạt mà cha mẹ có thể chia
sẻ với con cái. Giảng giải cho con cái về những khái
niệm như luân hồi, nghiệp, từ bi với súc vật, vân vân
cũng là những việc làm hữu ích.
Nếu
con cái không thiết tha tìm hiểu về Phật giáo, chúng ta phải
làm sao?
Không
nên ép buộc ai trong vấn đề chọn lựa tôn giáo. Nếu
con cái chúng ta không cảm thấy thiết tha với Phật giáo,
hãy để chúng tự do. Tuy nhiên, nhìn vào tâm gương, cách
sống của cha mẹ, chúng vẫn có thể học sống tử tế với
mọi người.
Ngay
như nếu chúng muốn tham gia các sinh hoạt tôn giáo khác như
đi nhà thờ, cũng đừng ngăn cấm. Nhưng phải dạy cho
chúng biết rằng mổi người có thể chọn lựa tôn giáo riêng
cho mình, đồng thời cũng phải tôn trọng, chấp nhận tôn
giáo của người khác.
Bằng
cách nào chúng ta có thể giúp con cái làm quen với Thiền?
Khi
cha mẹ hành Thiền mổi ngày ở nhà, chắc chắn sẽ khiến
con cái tò mò, muốn tìm hiểu. Ta có thể nhân đó dạy
cho các con phương pháp Thiền đơn giản bằng cách theo dõi
hơi thở. Trẻ con thích được ngồi cận kề cha mẹ
trong sự im lặng trong khoảng thời gian ngắn chừng năm
hay mười phút. Sau đó, chúng có thể sang chơi chổ khác
để cha mẹ tiếp tục tham Thiền.
Trẻ
con cũng có thể học Thiền bằng cách tưởng tượng.
Bản chất trẻ con là thích tưởng tượng ra nhiều việc.
Cha mẹ có thể dạy con cái tưởng tượng ra Đức Phật bằng
những luồng ánh sáng. Tưởng tượng ánh sáng từ Đức
Phật tõa đến chúng, đến mọi người chung quanh. Nếu
người thân, bạn bè hay thú vật trong nhà bị đau ốm, bịnh
tật, đứa trẻ có thể nghĩ đến người đó, và tưởng
tượng ánh sáng của Đức Phật cũng tõa sáng đến họ, thể
hiện lòng từ bi.
Làm
sao để sự liên hệ giữa cha mẹ và con cái được tốt,
nhất là ở độ tuổi thiếu niên?
Có
được sự liên hệ tốt với con cái khi chúng đang độ tuổi
thiếu niên là điều quan trọng, và phần nào tùy thuộc vào
sự liên hệ của ta với chúng khi chúng còn bé. Nhưng
việc đó lại tùy thuộc vào thời gian ta đã dành cho con cái,
cũng như thái độ thương yêu, hiểu biết của ta đối với
chúng. Những bậc cha mẹ luôn bận rộn, thường coi con
cái là gánh nặng cho họ. Con cái họ sẽ cảm nhận được
điều đó, khiến cho liên hệ giữa mẹ cha và con cái không
được tốt. Muốn tạo được mối liên hệ tốt với
con cái, cha mẹ cần phải đặt lại ưu tiên của mình.
Có thể là họ phải chấp nhận một công việc ít lương
nhưng bù lại có được nhiều thì giờ dành cho gia đình,
con cái; hay phải từ chối một cơ hội nghề nghiệp dầu
nó đem lại nhiều tiền hơn, nhiều quyền hạn hơn, nhưng
cũng mang đến nhiều stress hơn, và ít thì giờ ở nhà hơn.
Đối với con trẻ, tình thương quan trọng hơn là của cải
vật chất. Nếu cha mẹ chọn kiếm ra nhiều tiền, bất
chấp hạnh phúc gia đình bị đe dọa, thì có thể sau nầy
họ phải dùng chính những đồng tiền ấy vào việc chữa
trị hay tư vấn tâm lý cho cả cha mẹ và con cái!
Trẻ
con có cần kỷ luật không? Ta phải kỷ luật chúng như
thế nào mà không có thái độ nóng giận?
Con
cái thường là cơ hội tốt nhất -và khó nhất- để các
bậc cha mẹ thực tập tính kiên nhẫn. Tuy nhiên, kiên
nhẫn không có nghĩa là để con cái muốn làm gì thì làm.
Kiểu tự do đó thật tai hại cho con cái sau nầy. Chúng
sẽ có những thói quen xấu, khiến người khác không thể
gần gủi chúng. Con cái cần phải được hướng dẩn
để biết đâu là giới hạn; chúng cần được giáo dục
về hậu quả của các hàng động của chúng, cũng như phân
biệt tốt xấu để biết điều gì cần tránh, điều gì cần
tiếp thu, học hỏi.
Một
trong những giáo lý cơ bản của Phật giáo là sự bằng lòng,
biết đủ. Làm thế nào ta dạy cho con cái những điều
đó?
Tôi
nghĩ một trong những nguyên nhân dẫn đến sự khó khăn là
chúng ta cho con cái quá nhiều lựa chọn để thõa mãn các
ham muốn của chúng. Ngay từ tuổi nhỏ, chúng đã được
hỏi: “Con uống nước dừa hay nước cam? Con muốn xem
chương trình TV nào? Con thích xe đạp loại nầy hay loại
kia? Con muốn đồ chơi màu đỏ hay màu xanh?”. Do
đó thay vì được rèn luyện để bằng lòng với cái mình
có, con cái gần như luôn bị ép buộc phải chọn lựa, để
rồi khi lớn lên, chúng sẽ tự hỏi: “Cái gì sẽ đem lai
cho tôi hạnh phúc nhất? Tôi còn cần có thêm gì nữa
để được hạnh phúc?” Điều đó làm cho con cái khó
xử cũng như tập cho chúng tánh tham. Ngược lại cha mẹ
cũng không nên quá độc tài, không cho con cái được có ý
kiến hay đòi hỏi gì khác. Tốt hơn là cha mẹ không
nên đặt nặng vần đề phải thỏa mãn những đòi hỏi của
dục vọng. Tất cả sẽ tùy thuộc vào thái độ của
cha mẹ đối với việc thỏa mãn các ham muốn vật chất của
riêng mình. Nếu cha mẹ luôn tỏ ra bằng lòng với cái
mình có, thì con cái cũng dể dàng noi theo gương đó.
Diệu
Liên-Ly Thu Linh
(Theo
Family and Children, NXB Snow Lion)
HOÀ
HỢP GIA ĐÌNH
Dharmacharya
Shantum Seth
Diệu
Liên Lý Thu Linh Việt dịch
 |
 |
Tối
đêm tân hôn của tôi, mẹ vợ tôi nói với vợ chồng tôi
rằng. . . “Trong hôn nhân, mỗi ngày người ta đều có lý
do để chia tay nhau. Điều các con cần làm là chú
tâm vào việc giữ vững hôn nhân”.
Bà
làm tôi nhớ đến Thầy tôi, một vị tu sĩ Phật giáo, Thầy
Thích Nhất Hạnh, đã khuyên chúng tôi nên chú tâm đến việc
hàn gắn và sống lành mạnh với nhau; bằng cách đó ta sẽ
được nuôi dưỡng, và lớn mạnh để chấp nhận và chuyển
hóa những sự xung đột và khổ đau. Thầy đã lập lại
những lời dạy đầu tiên của Đức Phật trong Vườn Nai
ở Sarnarth, Ấn Độ.
Bằng
lòng và hạnh phúc với chính bản thân là cách thực hành
Phật pháp. Để tìm được cảm giác an lành và
đầy đủ giữa hai điều này cũng là một thử thách.
Và cố gắng thực hiện điều đó khi còn phải nuôi dạy
con cái càng là một thử thách, và để tìm được an lạc
và hòa hợp trong gia đình tăng thân rộng lớn hơn, là một
cách thực hành tuyệt vời; cách mà giáo lý Đức Phật trực
tiếp nói đến.
Thực
hành an lạc nội tâm bao gồm một số giới hạnh: tu tập
an lạc nơi tâm, thọ và thân, từ đó có thể nhìn thấy rõ
ràng hơn những vấn đề ở quanh ta và bên trong ta. Điều
đó giúp ta phát triển một trí tuệ không phân biệt, một
cái nhìn giúp ta có thể được giải thoát trong từng giây
phút.
Điều
mà ít người có thể giải thích là làm cách nào áp dụng
Phật pháp trong cuộc sống của người cư sĩ và trong cuộc
sống gia đình. Dĩ nhiên gia đình là một thành viên của
xã hội, và chúng ta có thể quán sát gia đình dưới nhiều
khía cạnh: tinh thần, giai cấp, bộ tộc, quốc gia, khu vực
hay ngay cả toàn cầu. Ở đây tôi sẽ nói đến gia đình
dưới ba khía cạnh phổ quát nhất; với những người sống
chung do liên hệ huyết thống hay do kết hôn. Tôi cũng
nghĩ rằng việc thực hành của một tăng thân trong gia đình
chỉ có thể thực sự được kiểm chứng khi các thành viên
sống chung với nhau.
Khi
chúng tôi cưới nhau ở Ấn Độ, không chỉ là hai cá nhân
kết hôn, mà là sự kết hợp giữa hai gia đình, hai hộ tộc,
hai nghiệp căn. Chúng ta thường nói đến việc kết hôn
với cùng một người trong 7 kiếp người! Từ là hai
người, chúng ta trở thành một và đó là một cơ hội tốt
để ta thực hành sự không bám víu vào ý nghĩ của ‘cái
tôi’. Mỗi ngày chúng tôi càng thấy rõ là hạnh phúc
hay khổ đau của người này cũng là hạnh phúc hay khổ đau
của người kia, và điều đó cũng lan truyền đến tất cả
mọi thành viên khác trong gia đình.
Trong
nghi lễ kết hôn theo Phật giáo, khi Gitanjali và tôi kết hôn
ở làng Mai, chúng tôi đã cùng nhau chia sẻ năm điều chánh
niệm. Đó là cốt lõi của buổi lễ, Gitanjali và tôi
đều lập lại nghi thức này vào mỗi ngày rằm kể từ khi
chúng tôi lập gia đình vào khoảng đầu năm 1996. Nếu
không có mặt bên nhau cùng một thời điểm, chúng tôi lại
thực hiện qua điện thoại. Tôi muốn nhấn mạnh thêm
rằng sự thực hành này càng được phát triển thêm lên kể
từ khi chúng tôi có thêm hai con nhỏ. Ở mỗi ‘điều
chánh niệm’ chúng tôi dừng lại để quán tưởng và tôi
muốn chia sẻ một số chứng nghiệm của mình, rằng cách
thực hành này đã giúp giải quyết được bao xung đột và
tạo nên sự hòa hợp trong gia đình. . . nó đã giúp chúng
tôi như thế nào trong việc nhìn lại và chú tâm vào việc
giữ vững gia đình chứ không phải để chia tay nhau.
1.
Chúng tôi ý thức rằng tất cả thế hệ của tổ tiên và
tất cả thế hệ con cháu đều có mặt trong chúng tôi.
2.
Chúng tôi ý thức được những kỳ vọng của tổ tiên, của
con cháu nơi chúng tôi.
3.
Chúng tôi ý thức rằng niềm vui, hạnh phúc, tự do và hòa
hợp của chúng tôi là niềm vui, hạnh phúc, tự do và hòa
hợp của tổ tiên, của con cháu chúng tôi.
4.
Chúng tôi ý thức rằng sự thông cảm chính là nền tảng
của tình thương yêu.
5.
Chúng tôi ý thức rằng sự đổ lỗi và tranh cãi không ích
lợi gì cả mà chỉ khiến chúng tôi càng xa cách nhau hơn;
rằng chỉ có sự thông cảm, tin tưởng và thương yêu là
có thể giúp chúng tôi chuyển hóa và trưởng thành.
Điều
quan trọng không chỉ là nhận ra được sự truyền thừa sinh
học từ thế hệ này sang thế hệ khác mà còn phải nhận
ra nó trong tính cách, năng lực thói quen, tư duy, vân vân.
Ở Ấn Độ, nơi hơn 99% cuộc hôn nhân là do cha mẹ xếp đặt,
khi chúng tôi đến viếng nhà cô dâu hay chú rễ tương lai,
chúng tôi thường chú ý xem tính cách cha mẹ người ấy như
thế nào.
Dĩ
nhiên là cần phải cởi mở trong đối thoại, để có thể
thông cảm với những kỳ vọng hay lo âu của từng thành viên
trong gia đình. Hãy dành thời gian và không gian cho những
cuộc họp mặt gia đình để chia sẻ tâm tư, nguyện vọng.
Thực
hành phương pháp “Bắt đầu Làm Mới Lại” (Beginning Anew)
là một phương cách hữu hiệu nhất cho việc này. Đó
là cách thực hành mà chúng tôi đã được học khi sống như
một gia đình trong cộng đồng tăng thân làng Mai, dưới sự
dìu dắt của Thầy Thích Nhất Hạnh và Ni sư Chân Không.
Ở đó chúng tôi ‘tưới hoa’ cho người khác, (ND: làm hay
nói những điều tốt đẹp với người), chia sẻ những
nỗi ân hận và hoàn cảnh của từng cá nhân, trước khi có
thể chia sẻ bất cứ khó khăn gì trong tinh thần từ bi và
hiểu biết. Chúng tôi đã sống với nhau trong hòa hợp
và đó là điều cốt lõi. Nếu có khó khăn gì phát sinh,
chúng tôi biết là mình phải cố gắng để tái tạo lại
sự hiểu biết, tình thương và hòa hợp, trước khi sự đối
thoại trở nên căng thẳng khiến chúng tôi quên đi mục đích
của sự có mặt bên nhau này.
Suy
cho cùng, cả thế giới này đều là gia đình của chúng ta,
nhưng vấn đề là chúng ta coi một số ít người là quan trọng
hơn những người còn lại. Qua số ít người này, chúng
ta có thể phát triển tình thương yêu, bi mẫn không điều
kiện đối với bản thân và tha nhân, thực hành ý nghĩa sâu
xa của vô thường, vô ngã và khổ. Dĩ nhiên các thành viên
trong gia đình này chính là tấm gương soi qua đó chúng ta có
thể nhìn được con người thật của mình, mà vẫn nhận
được sự hỗ trợ vô điều kiện để đạt được trạng
thái cao cả nhất mà con người có thể đạt được, đó
là Niết bàn.
Diệu
Liên Lý Thu Linh
(Dịch
Theo Peace in The Family)
GƯƠNG
SOI
Dr.
Akong Tulku Rinpoche
Diệu
Liên Lý Thu Linh Việt dịch
 |
 |
Bác
sĩ Akong Tulku Rinpoche là một thiền sư đạo hạnh của dòng
Karma Kagyu, Phật giáo Tây Tạng. Ngài đã đến phương
Tây vào 1963, và cùng với Chogyam Trungpa Rinpoche, thành lập
nên Trung tâm Thiền Tây Tạng Kaguy Samye Ling ở Aùi Nhĩ Lan,
một trung tâm Thiền Tây Tạng lâu đời nhất ở phương Tây.
Ngài cũng là một bác sĩ đã được huấn luyện về y học
dân tộc Tây Tạng.
Khi
chúng ta đi tìm hạnh phúc ở bên ngoài, đó là một sai lầm.
Ta có thể tìm đến bao điều mới lạ để làm giàu thêm
kinh nghiệm sống của mình, ngay cả đi du lịch khắp nơi trên
quả địa cầu, nhưng rồi ta vẫn nhìn mọi việc bằng con
mắt ‘cũ’ của mình. Chính những tư duy và cảm thọ
của chúng ta tạo nên cái nhìn về thế giới ta đang sống.
Khi
ta cố gắng thay đổi thế giới theo cái nhìn hay sự mong mỏi
của riêng mình, chắc chắn là ta sẽ thất bại. Nếu
trời đang mưa, ta không thể bắt trời nắng chỉ bằng ao
ước; nhưng điều ta có thể làm được là nhìn lại mình,
để xem cái gì trong ta khiến ta thấy khó chịu vì mưa.
Điều đó không có nghĩa là ta phải thay đổi cá tính của
mình -chúng ta đã có cá tính rồi. Nói một cách thực
tế, cái chúng ta cần là một tấm gương soi cho ta biết ta
thực là ai, và ta có thể sửa đổi như thế nào để được
tốt hơn.
Từ
bấy lâu nay, chúng ta có khuynh hướng tạo cho mình nhiều khuôn
mặt (mặt nạ). Mổi khuôn mặt cho một hoàn cảnh khác
nhau, nhưng chúng ta chưa bao giờ tự soi gương mặt thật của
mình, có thể vì quá cận ảnh thì khó nhìn cho rõ. Ngược
lại chúng ta hay nhìn người chung quanh, và khi nhìn thấy một
gương mặt đẹp đẽ nào đó, ta hình dung ra mình cũng như
thế.
Tuy
nhiên, ‘mặt nạ’ của ta cũng có lúc bị rơi xuống, hay
ta quên không mang nó lên, lúc đó ta mới thoáng thấy
hình dáng thực sự của nó ra sao. Thường thì sự thật
quá đau lòng đến nỗi ta không thể chịu đựng được.
Ta vội vả che đậy nó lại. Vì chúng ta đã quen thay
đổi mọi thứ đến nỗi ta không thể chấp nhận chính bản
thân. Trong lúc đó, dưới tấm mặt nạ, gương mặt thật
của ta đang thối rửa vì thiếu không khí, ánh sáng, vì chúng
ta không bao giờ nghĩ đến việc lau chùi nó cho sạch sẽ.
Bề
ngoài ta có vẻ như là một người tốt, nhưng chính con người
bên dưới chiếc mặt nạ mới cần được thanh tịnh hóa.
Nếu thật sự tâm ta trong sáng, thì ta rất hữu ích cho những
người ở chung quanh ta. Tuy nhiên, giả bộ tốt bên ngoài,
mà bên trong xấu xa, thì không ích lợi gì cho chính ta và kẻ
khác.
Đằng
sau tấm mặt nạ là con người ta cần phải hiểu và tu sửa.
Tất cả chúng ta đều mang một tên gọi là ‘Tôi’ nhưng
thật ra ta không hiểu mình là ai. Khi ta cho ai một thứ
gì, dầu là một mẫu bánh mì nhỏ, là ta đã nghĩ mình quá
tốt, quá hữu ích, đến nỗi ta cứ nhớ mãi đến hành động
đó một thời gian dài. Ngược lại, nếu ta làm điều
gì xấu, ích kỷ, ta cố gắng quên nó ngay lập tức.
Chúng ta có khuynh hướng tạo nên một hình ảnh giả tạo
về con người mình để tự an ủi bản thân. Hành động
tự lừa dối mình rất khó để kiểm soát -đó là lý do tại
sao ta cần cái gương soi.
Ở
Tây tạng, có một vị đại sư rất nổi tiếng, Ngài Lodro
Thaye Jamgon Kongtrul Ripoche, đã nói về vấn đề nầy như sau:
“Khi tôi nhìn các vị truyền giáo, tôi thấy bên ngoài họ
có thể ăn mặc lịch sự, nói năng hoạt bát, nhưng khi tôi
nhìn vào tâm họ, họ giống như những con rắn độc.
Mỗi khi họ gặp hoàn cảnh khó khăn, hay trở ngại, lúc đó
tâm thực sự của họ mới hiện ra. Giống như các con
rắn độc sẽ cắn dầu bên ngoài thấy nó điềm tĩnh, họ
cũng sẽ hành động như thế nếu có điều gì đó cản trở,
đe doạ họ”.
Điều
đó, dĩ nhiên không có nghĩa hể rắn là xấu; rắn có khả
năng để trở thành xấu hay tốt, nhưng vì lòng sợ hãi, ghen
ghét hay u mê, nó có thể trở nên nguy hiểm khi nó cảm thấy
bị đe dọa. Cũng thế, khi chúng ta nhìn thấy cái xấu
trong ta, do vô minh tạo nên, chúng ta có thể và phải sữa
đổi nó thành trí tuệ. Khi chúng ta có thể quay vào bên
trong để tự soi tâm mình, và thanh tịnh hóa tâm, là ta đã
tìm được con đường đạo, và tất cả mọi hoàn cảnh bên
ngoài tự nhiên trở thành dể dàng để ta ứng phó bằng những
phương cách tích cực và hữu hiệu.
Điều
quan trọng là ta phải có thái độ công bằng đối với những
gì ta nhìn thấy trong gương. Chỉ nhìn thấy những mặt
xấu thì cũng tai hại và vô ích như chỉ nhìn thấy những
mặt tốt đẹp của ta. Chỉ nghiêng về những mặt tiêu
cực của cá tính có thể dẫn đến trạng thái trầm cãm
nặng nề và tuyệt vọng. Chúng ta có thể quan sát mình
trong gương soi mà không kết án những gì ta thấy hay muốn
đập vỡ cã gương. Ngược lại, ngó lơ hay che dấu những
mặt xấu của chúng ta, chỉ làm cho chúng thêm sức mạnh,
dẫn đến những dồn nén bên trong, để rồi một ngày nào
đó nó vỡ tung.
Ngày
nay phần lớn nhân loại đều phẫn nộ trước vũ khí hạt
nhân, trong khi đó có một loại vũ khí hạt nhân khác lúc
nào cũng hiện hữu trong tâm ta. Mỗi ngày, cái Ngã tạo
nên tự ái, ganh tỵ, sân hận, ham muốn, căm hờn, dẫn đến
sợ hãi và xung đột ở mọi mặt, làm hại cho chính chúng
ta và cả tha nhân. Để vô hiệu hóa vũ khí hạt nhân
hay các phản ứng của nó, không thể chỉ việc đem chôn giấu
nó và ước muốn nóù sẽ biến mất đi. Cũng thế để
dập tắt những động lực xấu xa trong ta, ta phải tháo gở,
làm tiêu trừ chúng với sự cẩn trọng và khéo léo, bằng
những phương tiện của lòng từ và tình thương. Công
việc khó khăn nầy cần được làm với lòng kiên nhẫn và
thái độ không bám víu.
Những
gì chúng ta đã học được bằng cách nhìn vào ‘gương’
có thể rất hữu ích trên con đường tu đạo, nhưng trước
hết chúng ta phải biến chúng thành một phần trong kinh nghiệm
sống của ta, chứ không phải là một cái gì riêng rẽ.
Vì nếu ta không thực sự hòa tan vào trí tuệ và tình thương
vừa được khơi dậy, thì cũng giống như chúng ta vừa mang
một chiếc mặt nạ mới.
Nên
nhớ tất cả những khám phá của chúng ta phải được áp
dụng vào thực tế. Không ích lợi chi nếu ta bỏ ra một
tiếng đồng hồ ngồi suy gẫm về việc buông bỏ lòng ghen
ghét, nhưng khi vừa hết giờ ngồi thiền, ta lại để bị
lôi kéo vào những tình cảm ghen ghét thì thật hoài công.
Những gì ta đã suy gẫm phải được áp dụng vào đời sống
hằng ngày, vào những hoàn cảnh ta phải đối mặt trong cuộc
đời.
Thêm
nữa cho dầu ta có thể học hỏi, sưu tầm rất nhiều pháp,
với tất cả lòng chân thành, nhưng nếu chúng không liên hệ
hay có thể được ứng dụng trong hoàn cảnh riêng của ta
thì cũng vô ích. Giáo dục trường lớp và các khả năng
tri thức có thể phần nào giúp ta hiểu và đương đầu với
nhiều hoàn cảnh trong đời; nhưng có được một tâm rộng
mở thì quan trọng hơn.
Dầu
trong mỗi chúng ta ai cũng đều có khả năng thông cảm và
yêu thương, nhưng nếu ta không phát triển những đức tính
nầy cũng như không đem chúng áp dụng vào cuộc đời, thì
cũng bằng như không có. Một kẻ giàu mà không biết
sử dụng đồng tiền của mình, cũng không bằng người nghèo
mà biết cách dùng tiền một cách hữu ích.
Vì
thế ta cần có chánh niệm, sử dụng những gì ta có một
cách hữu hiệu. Thí dụ, chỉ biết đến tình cảm ghen
ghét bên trong ta, chưa đủ. Ta còn cần phải có sự cố
gắng và khéo léo để điều phục, hoán chuyển nó. Bằng
cách đó, lòng tự tin và sức mạnh của ta được tăng trường,
cảm tưỡng nghèo nàn và vô ích sẽ biến mất, nhường chỗ
cho sự giàu sang của tâm hồn và lòng tự trọng. Nếu
ta tiếp tục sử dụng chiếc gương soi, dần dần ta sẽ nhận
rõ được những sự tiến bộ của mình, chứng tỏ ta có
sự phát triển tâm linh, và những đau khổ chúng ta phải chịu
đựng trước đó sẽ dần dần biến mất.
Từng
bước, từng bước một, ta sẽ có thể xác định và làm
vô hiệu hóa những chất độc nội tâm, những trạng thái
tiêu cực của tâm đã khiến cho cuộc đời càng thêm khó
sống. Không ai có thể làm chủ được thế giới bên
ngoài, nhưng chúng ta có thể đánh bại sân hận, tự ái, ham
muốn, lòng căm ghét và ganh tỵ trong lịng ta. Những chướng
ngại đã khiến chúng ta thêm xa cách với cuộc sống.
Khi đã khuất phục đưọc chúng, lúc đó ta sẽ không còn
cảm thấy cuộc sống đối nghịch với ta. Chúng ta sẽ
thấy dể chịu với chính mình, với thế giới quanh ta, và
ta sẽ có thể giúp đở người quanh ta. Tất cả mọi
người, mọi việc đều trở nên thuận lợi, hữu ích đối
với chúng ta, cũng như ngược lại.
Sống
với một chiếc gương soi luôn ở trước mặt, không phải
là chuyện dễ, nhưng để hiểu và giải quyết những vấn
đề của chúng ta trong cuộc sống, ta cần phải chịu đựng
một số khó chịu, bực bội. Sức mạnh của thói quen
khiến chúng ta dể phán đoán và cố sữa đổi người khác,
vì thế phải đối mặt với chính lổi của mình để sữa
đổi chúng có thể làm chúng ta cảm thấy e sợ. Cũng
là điều tự nhiên khi ta sợ điều ta chưa biết; hướng giải
quyết là phải tìm hiểu và làm bạn với chính mình, giống
như người luyện tập thú, trước hết phải lấy được
lòng tin của con vật.
Phuong
pháp để tu sữa bản thân nầy không là những lời nói dể
dãi đầu môi, nó phải được xuất phát từ trong lòng một
cách chân thành, quyết liệt. Vậy chúng ta hãy bắt tay
vào việc phân loại những vấn đề của mình. Chúng
ta phải chế ngự tâm và rèn luyện chính mình. Nếu không
ta sẽ tiếp tục thấy cuộc đời khó sống, đổ lổi cho
người và hoàn cảnh khi có việc làm chúng ta phiền hà, bực
bội. Lúc đó ta lại phải phân loại hàng triệu người
để đối phó, không phải một. Vì thế thay vì cố gắng
thay đổi người khác, ta hãy ‘nhìn vào gương soi’, và sửa
đổi chính mình.
Diệu
Liên Ly Thu Linh
(Theo
The Mirror)
07-16-2008
10:27:49
|