Vào
những thập niên cuối của thế kỷ XX, UNESCO (Tổ chức Văn
hóa, Khoa học, Giáo dục Liên Hiệp Quốc) đề ra quan niệm
sự học trọn đời. Dĩ nhiên, người ta phải học để có
một nghề nghiệp, nhưng ngoài việc học chuyên môn ấy, người
ta còn phải học để nâng cao toàn diện con người mình. Việc
học để hoàn thiện con người mình là việc học trọn đời.
Đây
là điều đi gần với sự học ở Đông phương (ĐP), cụ
thể là Phật giáo và Khổng giáo. Trong Luận ngữ, chương
đầu tiên Học nhi, Khổng Tử đã nói về sự học. Và trong
Trung dung, sự học trở thành cái đạo: “Đại học chi đạo”.
Với Phật giáo, sự học là học tập và thực hành (như chữ
“học hành”) trọn đời để đưa con người mình đến
mức đầy đủ trí tuệ, tình thương và những phương tiện
khéo léo để sống ở đời và giúp đời.
Đến
đây, một câu hỏi được đặt ra: Tại sao cái học thời
hiện đại lại phải dính dáng đến cái học truyền thống?
Để trả lời câu hỏi này, thiết tưởng có thể lấy ý
kiến của chính triết học hiện đại Tây phương (TP):
“Xã
hội hậu hiện đại bao gồm định hướng vào cái mới khi
có tính đến truyền thống; sử dụng truyền thống như tiền
đề cho hiện đại hóa; tổ chức đời sống xã hội theo
lối thế tục nhưng lại coi trọng vai trò của tôn giáo và
thần thoại trong lĩnh vực tinh thần; vai trò cá nhân nổi
bật đồng thời cũng bằng lòng và sử dụng các hình thức
sinh hoạt hiện có; kết hợp giữa giá trị thế giới quan
và các giá trị công cụ; tính chất dân chủ của quyền lực
nhưng thừa nhận quyền uy trong chính trị; sản xuất có hiệu
quả nhưng hạn chế giới hạn tăng trưởng; dung hợp các
đặc trưng tâm lý của con người truyền thống và con người
hiện đại; sử dụng có hiệu quả khoa học khi thực hiện
thể chế hóa các tính chất quy định của giá trị truyền
thống trong sự lựa chọn xã hội” (Hiện đại hóa: từ
bình đẳng đến tự do, Saint Petersburg 1995, tr.227 - trích từ
Diện mạo Triết học phương Tây hiện đại, TS Đỗ Minh Hợp,
NXB Hà Nội, 2006).
Học
cái gì? Để làm gì?
Giáo
dục và việc học được diễn ra trong gia đình, trường học
và xã hội, nghĩa là sự học diễn ra ở khắp nơi chốn.
Một cái học toàn diện về mọi mặt, để làm người, hơn
nữa để nâng cấp con người, từ con người bình thường
mang nhiều tính sinh vật bản năng đến con người có học
biết “tự chế, tự giác” rồi con người với nhân cách
cao hơn, rộng hơn cho đến nhân cách lý tưởng là hiền thánh
của Khổng giáo và Phật giáo, đó là cái học của truyền
thống ĐP.
Chúng
ta có thể định nghĩa học là những nỗ lực tự giác để
gìn giữ và phát huy đến mức cao nhất những giá trị bất
biến của hiện hữu con người: chân lý (hiểu biết bản
chất con người và sự vật), công bằng, bình đẳng, cái
thiện, cái đẹp, bổn phận, trách nhiệm, lương tâm, tình
yêu thương, lòng nhân ái, sự khoan dung, tự do... Với một
sự học để đưa đến con người toàn thiện như vậy, dĩ
nhiên một môn tâm lý học, một môn vật lý học, một môn
xã hội học hay triết học v.v... không đủ để hoàn thành
nhiệm vụ. Để đạt đến những giá trị bất biến của
hiện hữu con người ở mức cao nhất, chúng ta phải huy động
toàn bộ các môn học xưa nay. Theo cái nhìn Phật giáo, hiện
hữu con người bao gồm hai chân lý: chân lý quy ước hay tương
đối (Samvrtisatya, conventional truths) và chân lý tối hậu hay
tuyệt đối (paramàrthasatya, ultimate truths), tức là tục đế
và chân đế. Những môn học nằm trong chân lý quy ước là
những môn học của đời sống thế gian, để sống như một
con người. Những môn học về chân lý tối hậu là để đạt
đến thực tại tối hậu. Chân lý quy ước tương đối chỉ
nằm ở cấp độ ý thức, chân lý tuyệt đối đòi hỏi phải
vượt qua “tâm, ý và ý thức”, nói theo kinh Lăng Già, để
đạt đến cái tuyệt đối, cái tối hậu. Những môn học
nằm trong chân lý tương đối không đủ sức chuyển hóa tâm
thức con người ở phần sâu thẳm, chưa đủ sức nhổ bật
những gốc rễ tham, sân, si, kiêu mạn, đố kỵ, hôn trầm
ở nơi con người. Chẳng hạn, một giá trị bình đẳng, ở
mức độ ý thức chỉ là một khái niệm mà chúng ta cố làm
theo, nhưng chúng ta chỉ chứng nghiệm bình đẳng thật sự
khi đã nhổ gốc tham sân si... biểu hiện nơi “cái ta và
cái của ta”. Chỉ có cái học và hành của Phật giáo mới
có thể đạt được bình đẳng thật sự, đây là cái nhìn
của trí tuệ, mà từ ngữ của Duy thức học gọi là Bình
đẳng tánh trí - trí tuệ thấy thể tánh bình đẳng của
tất cả mọi hiện hữu. Đạo Phật không chỉ giúp đạt
đến những giá trị đó ở bình diện ý thức, mà còn ở
bình diện tâm linh, chiều sâu nhất của tâm thức. Chính vì
những môn học hiện đại của TP không thể giúp đạt đến
tự do tình thương và an lạc ở chiều sâu nhất của tâm
thức mà Phật giáo đã phát triển mạnh ở các nước “hậu
công nghiệp” Âu Mỹ hiện thời.
Những
triết gia hậu hiện đại như Karl Popper (1902-1994), Thomas Kuhn
(1912-1996), Michel Foucault (1926-1984), Jacques Derrida (1930- ), Richard
Rorty... cho chúng ta thấy không chỉ những giới hạn của các
môn học khoa học tự nhiên và xã hội mà còn là sự khủng
hoảng chung của con đường duy lý, con đường lấy lý trí,
lấy ý thức làm phương tiện cũng như đích đến. Trong khi
đó, Phật giáo đưa cái học đi xa hơn, bằng những phương
tiện sâu xa hơn ý thức (như thiền định và thiền quán chẳng
hạn) để đạt đến mục tiêu của từng môn học, đồng
thời cũng là tổng hợp của các mục tiêu của mọi môn học:
thực tại tối hậu của con người, của vũ trụ.
Nhà
thiên văn vật lý Trịnh Xuân Thuận nói về khả năng của
Khoa học và Phật học:
“Những
điểm đồng quy của Khoa học và Phật giáo nói trên không
làm chúng ta ngạc nhiên, vì cả hai đều sử dụng những tiêu
chuẩn nghiêm ngặt và chân xác để vươn tới chân lý. Bởi
vì mục tiêu của cả hai là thực tại, họ phải gặp nhau
ở những mẫu số chung mà không loại trừ nhau. Trong khoa học,
những phương pháp cơ bản để khám phá sự thật là thí
nghiệm và sự lý thuyết hóa dựa vào phân tích; trong Phật
giáo, quán tưởng là phương pháp chính... Khoa học cung cấp
cho ta những dữ kiện, nhưng không mang lại tiến bộ tâm linh
và chuyển hóa. Trái lại, sự tiếp cận tâm linh hay quán tưởng
chắc chắn phải đưa ta đến một sự chuyển hóa bản thân
sâu sắc trong cách thế nhận thức thế giới để dẫn đến
hành động” (An Ninh Thế Giới, tháng 12-2005).
Cái
học, hay con đường Phật giáo là sự chuyển hóa con người
đến mức cao nhất mà con người có thể mơ tưởng được.
Con người luôn luôn cảm thấy bứt rứt, bồn chồn, không
bình an, luôn luôn bị giới hạn bởi chính tâm thức hạn
hẹp và đầy vọng động của mình, không bằng lòng, tự
xung đột và xung đột với người khác, luôn luôn mơ đến
một cái gì vĩnh cửu, không chết, dù cái ấy không có “tôi”
trong ấy đi nữa. Sự che đậy nỗi trống rỗng bất an bất
toàn dù bằng cái gì đi nữa - giàu có, thế lực, kiến thức,
khoa học, nghệ thuật... - đều vô hiệu. Đó là một vài
diễn tả về triệu chứng khổ, chân lý đầu tiên của Phật
giáo, Khổ đế. Con người phải khổ vì nó được sinh ra
từ những tính chất hữu hạn bất toàn của chính nó. Khi
nói đến giải thoát, Phật giáo muốn nói đến sự giải
thoát con người khỏi toàn bộ tính chất hữu hạn bất toàn
để đạt đến một đời sống, một thực tại cũng ở nơi
chính nó mà kinh điển đã dùng rất nhiều từ ngữ khác nhau
để nói đến. Tất yếu sự giải thoát ấy phải xảy ra
ở tâm thức con người, chính tâm thức được chuyển hóa,
và khi tâm thức được chuyển hóa thì toàn bộ thế giới
của nó phải chuyển hóa. Sinh tử là Niết bàn, một câu nói
của Phật giáo. Giải thoát không phải là thay đổi hoàn cảnh,
có thêm cái này cái nọ, không phải là lìa bỏ thế giới
này đến một thế giới khác. Tất cả vẫn y nguyên như vậy,
nhưng được nhìn với một ánh sáng chưa từng có trong đời:
ánh sáng của trí tuệ, của tình thương và an lạc thay cho
bóng tối của một tâm thức phân mảnh đầy những xung động
tối tăm tự khổ tự điên đảo với chính mình. Như thế,
Phật giáo có mặt trong mọi ngóc ngách của đời sống con
người, trong mọi khổ đau và trong mọi hạnh phúc. Nơi nào
có cô đơn, buồn phiền, trống rỗng, không toại nguyện,
bất an, khủng hoảng, hiếu chiến, thù hận... nơi đó có
đạo Phật, có tất cả cơ may cho sự chuyển hóa, chuyển
hóa sinh tử thành Niết bàn, chuyển hóa phiền não thành Bồ
đề. Sự học Phật giáo bao trùm toàn bộ mọi hình thức
của đời sống, mọi méo mó sinh ra khổ đau, cho mọi loài
chúng sinh, ở mọi cõi giới.
Nói
tóm, vì con người sống sai lầm nên đưa đến bất hạnh,
khổ đau cho mình và cho người. Một trong những cái khung để
sửa chữa là Tám chánh đạo: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh
ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm,
Chánh định. Tám chánh đạo này bao gồm thế giới quan, nhân
sinh quan, phương pháp luận v.v... nghĩa là bao trùm toàn bộ
những vấn đề căn bản của con người: sống để làm gì,
làm sao để sống đúng hơn, tốt đẹp hơn, cái chết là gì,
có thể chết mà vẫn tự chủ tỉnh thức không, cái gì là
thực tại đích thực của con người và vũ trụ, cách nào,
phương pháp nào cho chúng ta biết được, sống được những
cái đó? Cái “chánh” trong Tám chánh đạo sửa lại những
sai lầm của cuộc sống, đưa con người đến đời sống
vô hạn, an lạc (mà theo E. Conze, riêng trong Nam tông ít nhất
có 15 từ ngữ để chỉ Niết bàn: thường hằng, vững chắc,
bất biến, bất diệt, bất tử, vô tận, bất hoại, vô sinh,
không già, không chết, giải thoát...).
Để
đưa con người đến sự sống đúng hầu tiếp cận với cái
chân thật, Phật giáo có rất nhiều pháp môn, phương pháp
để chuyển hóa. Thế nên, ở đây chúng ta chỉ có thể nói
đến sự học Phật giáo một cách chung chung. Sự học và
thực hành ấy xảy ra trong mọi hoàn cảnh, mọi thời gian
cho đến khi chết. Nhưng chúng ta có thể tóm tắt con đường
Phật giáo là sự chuyển hóa tâm thức, từ tâm bất tịnh
(càng bất tịnh bao nhiêu càng khổ đau bấy nhiêu) đến tâm
thức thanh tịnh (càng thanh tịnh đến đâu càng chứng nghiệm
Niết bàn đến đó). Như vậy, khi nói “từ bỏ” là từ
bỏ cái giả (cái này sẽ đem đến khổ đau) để sống với
cái chánh, cái thật (và cái này sẽ đem lại tự do và an
lạc).
Cái
học Phật giáo ban đầu giới thiệu thế giới quan, nhân sinh
quan, những phương pháp nghiên cứu để khám phá ra sự thật
(văn), tiếp theo người ta tư duy xem đúng hay sai, có một cái
nhìn rõ về mặt lý thuyết (tư), sau đó áp dụng vào mọi
phương diện của đời sống, nghĩa là mọi phương diện của
tâm thức (tu). Giai đoạn thực hành (tu) này được tiến hành
bằng thiền định, thiền quán và sáu Ba la mật. Đến lúc
tâm thức chuyển hóa đủ, người ta sẽ thấy và sống được
cái thế giới quan, nhân sinh quan lý tưởng mà Phật giáo giới
thiệu. Đây là con đường tự hoàn thiện: trước kia thấy
sai bây giờ thấy đúng (Chánh kiến), trước kia suy nghĩ sai
bây giờ suy nghĩ đúng (Chánh tư duy), trước kia sống sai bây
giờ sống đúng (Chánh nghiệp, chánh mạng)... Đến mức hoàn
thiện, con người sẽ kinh nghiệm một đời sống của ánh
sáng trí tuệ, an lạc tự do, và tình thương bình đẳng cho
tất cả.
Việc
học của Phật giáo đi đúng theo quy luật tiến hóa mà con
người phải thực hiện để khỏi sống một cuộc đời vô
ích, có khi còn thoái hóa. Việc học của Phật giáo là sự
khám phá cái thật của chính mình, đó cũng là cái thật của
người khác và là cái thật của tất cả vũ trụ. Nhờ sự
khám phá ra cái thật ấy, con người càng lúc càng sống hài
hòa với chính mình, với người khác, với thế giới. Đây
là lý tưởng chung cho toàn nhân loại, giá trị này là phổ
quát với bất cứ nền văn hóa nào.
Nói
qua về một khái niệm Phật giáo dễ bị hiểu sai
Sự
tiến hóa về tinh thần, về tâm linh là một mệnh lệnh bắt
buộc, không phải từ ai cả, mà chính từ trong sâu thẳm của
tâm hồn chúng ta. Nếu không, chúng ta vẫn còn khổ đau vì
những yếu đuối của mình, còn làm người khác khổ đau
và còn làm hư hoại cạn kiệt trái đất này. Nhưng tiến
hóa của Phật giáo phải chăng là để đạt đến một cái
không hư vô nào đó, một cái vô ngã cạn kiệt sinh lực nào
đó, một sự tịch diệt chết chóc nào đó, những từ ngữ
chúng ta vẫn thường thấy trong kinh và các sách nói về Phật
giáo?
Dĩ
nhiên, thực tại tối hậu theo Phật giáo không chỉ là tánh
Không, Vô ngã, Tịch diệt (có vẻ như tiêu cực) mà còn rất
nhiều danh từ khác hoàn toàn tích cực như Chân như, Pháp
thân, Pháp tánh... Ở đây chúng ta chỉ nói qua về Vô ngã,
một phương diện trong nhiều phương diện của thực tại
tối hậu. Tiến hóa là đi từ ngã đến vô ngã, có thực
vậy không, có nghịch lý nghịch đời không? Chúng ta cũng
cần để ý, Khổng Tử cũng đi theo hướng này: “Tử tuyệt
tứ: vô ý, vô tất, vô cố, vô ngã” (Luận ngư, chương Tử
Hãn).
Chúng
ta nêu vài tư tưởng TP về vấn đề vô ngã.
Martin
Heidegger, triết gia lớn nhất của TP ở thế kỷ XX, đặc
biệt tán dương tranh Thiền của Đông Á. Ông cho rằng tranh
Thiền là một nghệ thuật cứu độ cho thời đại nghèo khó
này của TP (an art for our Western needy times). Dĩ nhiên ý nghĩa
của một bức tranh Thiền là cái Không (the Nothing), cái Vô
ngã: “Cái đẹp của một tác phẩm Thiền nằm trong sự kiện
cái vô tướng hiện thành một cách nào đó trong bức tranh.
Không có sự hiện diện của bản thân cái vô tướng trong
cái hình tướng được tạo hình, thì không thể là một bức
tranh Thiền”. Chúng ta cũng biết cái nhìn của Heidegger rất
“khó tính”: ông chỉ cho những nhà thơ cổ đại Hy Lạp
là “thi sĩ lớn”. Còn suốt thời trung cổ, ông không tán
thưởng ai, cho đến thời hiện đại ông chỉ chấm vài thi
sĩ và họa sĩ, gọi là “cho qua thời bĩ cực”: Holderlin
Rilke, Cézanne và Paul Klee. Với ông, nghệ thuật Thiền là “một
loại thiền định, giải thoát khỏi mọi trói buộc hình tướng”
(Heidegger’s Philosophy of art của Julian Young- Cambridge University
Press 2001, phần East Asian Art).
Francois
Jullien, Viện trưởng Viện Tư tưởng đương đại (Pháp),
mà tác phẩm được dịch ra tiếng Việt nhiều nhất hiện
nay, cũng nhấn mạnh đến cái Vô, cái Không trong sự bế tắc
của triết học TP hiện đại.
Einstein
nói: “Con người là một phần của cái toàn bộ mà chúng
ta gọi là vũ trụ, một phần tử bị giới hạn bởi thời
gian và không gian. Nó kinh nghiệm về bản thân nó, về những
tư tưởng và tình cảm như những biến cố tách lìa khỏi
mọi cái còn lại, đó là một thứ ảo ảnh thị giác của
ý thức nó. Ảo ảnh này là một loại ngục tù dành cho chúng
ta, vì nó thu hẹp chúng ta vào những tham muốn cá nhân và
nó bắt buộc chúng ta dành riêng sự thương yêu cho vài người
gần gũi với chúng ta nhất. Công việc của chúng ta phải
là giải thoát khỏi các nhà tù ấy bằng cách mở rộng phạm
vi từ bi đến mức có thể bao gồm trong ấy mọi tạo vật
sống và tất cả thiên nhiên trong sự đẹp đẽ của nó”
(L'infini dans la paume de la main, tr.105).
Con
đường Phật giáo là mở rộng và giải tan cái ngục tù,
cái bản ngã hạn hẹp này. Và để làm được việc đó,
sự thật vô ngã được tư duy và quán chiếu để giải tan
ảo tưởng về một cái ngã hư giả. Trước hết, vô ngã
không phải là một cái chết vật lý: các vị Thánh xưa nay
đạt đến vô ngã hoàn toàn hay từng phần đều tiếp tục
sống, sinh hoạt bình thường, thậm chí năng lực giúp đời
còn tăng nhiều về mọi mặt. Vậy thì vô ngã là một trạng
thái tâm thức rộng mở và bao la, có thể nói là bao trùm
toàn bộ đời sống, đồng thời không bị đời sống tác
động, nhiễm ô. Hẳn vô ngã không phải là cái gì để sợ
hãi, mà trái lại, vô ngã là hướng “tiến bộ”, mở thoát
cho một cái ngã đã xơ cứng, đã bão hòa, đã chật chội.
Vô ngã là hướng đi tất yếu cho cái ngã: như một con chim
đã đủ lớn còn nằm trong vỏ trứng, nó phải phá cái vỏ
trứng (cái ngã) để bay lên trời cao rộng. Cái vỏ ngày xưa
là cái bảo vệ cho nó, giờ đây là ngục tù gây khổ đau
cho nó. Nhìn hết một đời người, khi mới sinh ra chúng ta
là một đứa bé chưa biết mình là gì, cái trước mặt mình
là gì. Đây là một cái vô ngã sơ khai. Lớn lên, tích tập
nhiều kinh nghiệm, hiểu biết nhưng cũng đồng thời tích
tập một cái ngã càng lúc càng thô cứng, tiến hóa cho đến
lúc cái ngã bảo vệ số phận làm người trở thành vật
chướng ngại, là nỗi khổ đau. Cần tiến hóa thêm một giai
đoạn nữa, phá vỡ cái ngã để mở thoát. Lúc này là một
cái vô ngã nhưng vẫn có ý thức và đầy đủ kinh nghiệm,
chỉ có điều không chấp là ta và của ta nữa. Lúc này, cái
ngã vẫn có đó nhưng chỉ là một chân lý quy ước, tương
đối, còn vô ngã là chân lý tuyệt đối, tối hậu. Có thể
xem đây là một quá trình biện chứng: từ cái vô ngã sơ
khai vô ý thức đến cái ngã có ý thức phân biệt, rồi cái
ngã này được cái vô ngã mở thoát và tiêu dung để một
cái vừa là cái ngã quy ước vừa là cái vô ngã tuyệt đối.
Đó cũng là quá trình biện chứng đi từ cái hữu hạn khổ
đau đến cái vô hạn và an lạc. Để chấm dứt đoạn này,
chúng ta trích một thiền ngữ: “Ba mươi năm trước, khi chưa
tu, thấy sông là sông, thấy núi là núi; khi đang tu, thấy
sông không là sông, thấy núi không là núi và bây giờ tu xong,
thấy sông vẫn là sông, thấy núi vẫn là núi”.
Giáo
dục Phật giáo đưa con người đến một đời sống tốt
đẹp hơn, chân thật hơn, và cuối cùng đưa đến một đời
sống Chân Thiện Mỹ, nơi đó sự thành tựu của mọi đạo
đức học, mọi thế giới quan và nhân sinh quan, mọi loại
tâm lý học và bản thể học, khoa học và nghệ thuật. “Nơi
đó” chỉ là một cách nói; “nơi đó” chẳng là nơi nào
khác ngoài tâm thức đã được chuyển hóa của mỗi người.
Ở đây, chúng ta thấy chuyển hóa (của Phật giáo) và tiến
hóa (của quan niệm khoa học) là một.
Bốn
giai đoạn của cuộc đời
Học,
nghĩa là khám phá đời sống ngoài mình và trong mình, về
cả hai mặt vật chất và tâm linh. Cái duy nhất ngăn không
cho chúng ta khám phá, thấy được thực tại chính là những
cái do chúng ta tạo ra: chấp ngã và chấp pháp. Chính chúng
ta tự thắt gút trong tâm để làm chật hẹp và trói buộc
mình. Và bởi vì chúng ta đã tạo ra những che chướng, chúng
ta hãy tự mình gỡ bỏ chúng. Học, là gỡ bỏ để khám phá,
khám phá để gỡ bỏ. Gỡ bỏ đến đâu thì có tự do đến
đó, khám phá đến đâu thì có sự hiểu biết, thưởng thức
đến đó. Đến một lúc nào, đời sống không còn phân chia
trong ngoài, vật chất và tâm linh. Cả hai cuối cùng là một.
Chúng
ta hãy xem sự học của Khổng Tử: “Ta mười lăm tuổi đã
để chí vào việc học, ba mươi tuổi thì an lập, bốn mươi
tuổi thì không còn nghi, năm mươi tuổi thì biết thiên mệnh,
sáu mươi tuổi nghe gì cũng thông thuận, bảy mươi tuổi dẫu
lòng ham muốn điều gì cũng không trái đạo” (Luận ngữ,
chương Vi chính). Còn đây là mục tiêu của việc học: “Trong
thiên hạ chỉ có người chí thành mới hiểu tường tận
bản tánh của mình. Hiểu rõ bản tánh mình ắt hiểu rõ bản
tánh của người. Hiểu rõ bản tánh của người ắt hiểu
rõ bản tánh của vạn vật. Hiểu rõ bản tánh của vạn vật
ắt có thể giúp đỡ việc sinh hóa của trời đất. Có thể
giúp đỡ việc sinh hóa của trời đất ắt có thể sánh ngang
với trời đất vậy” (Trung dung, chương 22).
Với
truyền thống Ấn Độ, đời người được chia làm bốn giai
đoạn để học đạo. Với Trung Hoa, cuộc đời cũng như bốn
mùa Xuân Hạ Thu Đông. Sau đây chúng ta áp dụng bốn giai đoạn
đó vào một đời sống Phật giáo. Dĩ nhiên đây chỉ là
nói chung, vì đời mỗi người mỗi khác, có người xuất
gia ngang từ giai đoạn một, và mỗi giai đoạn dài ngắn khác
nhau tùy theo từng người, cũng có người ở giai đoạn một
đã đạt đến mức độ tâm linh mà người ở giai đoạn
bốn chưa chắc đã đạt được.
1-
Giai
đoạn đầu tiên, tương ứng với mùa Xuân, từ khoảng
10 tuổi đến khi lập gia đình. Học để thành một con người
xã hội, biết lễ phép, đối xử, những kỹ năng làm người,
học nghề, bổn phận, trách nhiệm, lòng nhân ái, có hiếu...
Đồng thời với cái học xã hội là học đạo: luật Nhân
quả, các giới luật căn bản, niềm tin vào Tam bảo, biết
phát khởi lòng từ bi và Bồ đề tâm, biết sống theo hạnh
lợi mình lợi người. Học để biết chính mình, cả mặt
lý thuyết và thực hành: con người mình là sắc, thọ, tưởng,
hành, thức, hay danh sắc. Năm uẩn này thì không bền vững,
vô thường; không có một chủ tể mà do duyên sanh, nên vô
ngã; và chấp chặt lấy chúng thì khổ. Đây là chân lý tương
đối, thế đế. Đồng thời cũng tin và mơ hồ cảm nhận
có cái gì vượt khỏi danh sắc, giải thoát khỏi danh sắc,
cái này là chân lý tuyệt đối. Theo kinh Lăng Nghiêm, đây
là việc biết phân biệt cái gì là sanh diệt, cái gì là không
sanh diệt.
Biết
sống theo hạnh (tức là tập tành sáu Ba la mật), với Trí
tuệ Ba la mật là chủ đạo: làm việc tốt mà không có người
làm, người nhận hành động và việc làm. Như vậy biết
phước huệ song tu là gì.
2-
Giai
đoạn thứ hai, mùa Hạ, giai đoạn xã hội, vào đời.
Trở thành một người chủ gia đình, biết hướng dẫn gia
đình mình trong vài nghi thức tôn giáo căn bản, chăm sóc giữ
gìn sự thanh tịnh và đạo đức cho gia đình. Có một lối
sống tích cực, tham gia vào thế giới vật chất nhưng không
bỏ quên thế giới tâm linh, bằng cách thực hành pháp đã
học và ứng dụng, chuyển hóa pháp vào đời. Đây là giai
đoạn phụng sự xã hội, cả mặt vật chất lẫn tinh thần.
Thực hành mạnh mẽ phước đức và trí huệ song tu. Tóm lại
là thâm nhập sâu hơn vào thế giới ở cả mặt vật chất
bề ngoài (tướng) lẫn phần thể tánh bên trong (tánh).
Nói
riêng về năm uẩn thì thấy rõ hơn cơ cấu và sự vận hành
của chúng. Thấy được cơ cấu và sự vận hành của năm
uẩn thì có thể thấy được tính duyên sanh vô tự tánh của
chúng, tức là thấy tánh Không. Do thấy được như vậy cái
ngã bớt trói buộc hơn, nên tự chủ hơn, tự do hơn. Thấy
được sự tương đối của năm uẩn thì bớt chấp chặt,
bớt cãi cọ, bớt xung khắc, tranh giành, và dễ tha thứ khoan
dung. Khi tâm trí người ta rộng rãi, ít chấp chặt, ít thành
kiến, mềm dẻo và linh động thì tự nhiên người ta thông
minh hơn, đời sống “dễ chịu”, “thông thoáng” hơn.
Đây là giai đoạn trực tiếp sống trong chân lý tương đối,
quy ước, nhưng phải thấy chân lý tương đối ấy không lìa
khỏi chân lý tuyệt đối, tất cả hành động nói năng của
chân lý tương đối đều diễn ra trong tánh Không vô ngã hay
chân lý tuyệt đối.
3-
Giai
đoạn thứ ba, mùa Thu cuộc đời, từ khoảng 60 tuổi.
Giai đoạn gần như đã xong việc đời, về hưu. Mùa Thu là
mùa của sự chín, sự thu hoạch: những kinh nghiệm và phẩm
chất của cuộc sống thế gian và tâm linh bước vào giai đoạn
thuần thục, trưởng thành, chín muồi. Sự hài hòa giữa đời
và đạo, giữa năm uẩn và tánh Không (hay một phương pháp
thực hành nào khác) càng trở nên mạnh mẽ. Sự lợi mình
lợi người càng thêm sâu sắc, hiệu quả. Về mặt tâm linh,
cái “không sanh diệt”, cái vượt khỏi danh (tâm) và sắc
(vật) lộ diện khá rõ ràng. Nói cách khác, sự thật “Sắc
tức thị Không” càng rõ ràng hơn giai đoạn trước, để
trở thành chính sự sống (huệ mạng) của mình. Chân lý tuyệt
đối hầu như bao trùm và chuyển hóa chân lý tương đối.
4-
Giai
đoạn thứ tư, mùa Đông cuộc đời. Người ta rút lui
hoàn toàn để chuẩn bị cho cái chết và đời sau. Người
ta đạt đến mức độ tâm linh đủ để đối mặt với cái
chết, đủ sức từ bỏ thân tâm thế gian (chân lý tương
đối, quy ước) và vượt qua cái chết. Ở mức độ lý tưởng,
người ta được tự do, hoặc bỏ hẳn cuộc sống trần thế
(ba cõi), hoặc đi đến một cõi Phật, hoặc chọn lựa một
hình thái sống thích hợp ở đời sau nhằm tiếp tục đem
lợi lạc cho người khác. Đây là giai đoạn chân lý tuyệt
đối có thể dứt bỏ được, không nương nhờ vào chân lý
tương đối, hoàn toàn đứng độc lập một mình. Một cách
diễn tả khác là chân lý tuyệt đối thu lại chân lý tương
đối và làm tiêu dung chân lý tương đối.
Như
vậy, qua bốn giai đoạn, người ta hoàn thành cuộc đời mình.
Nếu được sự hướng dẫn của một hay các vị thầy, sự
đồng hành của các bạn đạo thì có thể nói đó là một
cuộc đời an toàn và đầy đủ ý nghĩa. Ý nghĩa của đời
sống không do ai ban cho ta cả. Ý nghĩa của đời sống chỉ
hiện hình khi chúng ta sống theo pháp, sống đúng pháp. Ý nghĩa
của đời sống hiển lộ trong sự tự thực hiện, tự thể
hiện (to self-realize) của mỗi người chúng ta.
Kết
luận: Giáo dục Phật giáo và xã hội Việt Nam hiện
đại
Giáo
dục Phật giáo - cũng chính là Phật giáo - đã có mặt ở
Việt Nam từ ngày chúng ta chưa lập quốc. Sự dạy và học
này trong quá khứ đã tạo nên hình dáng của một dân tộc
Việt, trong đó có những thời đại vinh quang nhất. Tiếc
thay từ cuối thế kỷ XIX và thế kỷ XX, khi bị Pháp đô
hộ và sau đó là chiến tranh liên tục, nền giáo dục đó
đã rời rã khá nhiều. Những vấn nạn đủ loại trong xã
hội đã nói lên nền tảng văn hóa chúng ta (trong đó giáo
dục Phật giáo đóng vai trò lớn) đang yếu kém. Chỉ nói
một điều thôi: tai nạn giao thông. Càng ngày càng có thêm
nhiều biện pháp kỹ thuật, luật lệ, kiểm tra, trừng phạt...
nhưng tai nạn giao thông chết người vẫn không giảm. Đây
là một vấn nạn xã hội mà nguyên nhân sâu xa là văn hóa
kém: không tôn trọng kỷ luật công cộng, lấn đường, không
nhường đường, xe không bảo đảm mà vẫn chạy... đó là
sự không tôn trọng sự sống của người khác (điều thứ
nhất của giới luật Phật giáo), thiếu lòng nhân từ, tính
tham lam bất chấp nhân nghĩa, tính hiếu chiến bạo lực, không
làm chủ được những cảm xúc tiêu cực trong lòng. Tóm lại,
những tai nạn phần nhiều cho thấy một nhân cách kém cỏi,
thiếu tu dưỡng, kém văn minh.
Chính
sự giáo dục Phật giáo làm ổn định xã hội. Người ta
thôi biểu hiện những cái tiêu cực trong mình ra ngoài xã
hội, người ta thôi xả những chất độc (đạo Phật gọi
các thứ tiêu cực là “độc”, như tham sân si là “ba thứ
độc”) trong tâm thức mình ra ngoài làm ô nhiễm tinh thần
xã hội. Trái lại, người ta đưa ra những cái tích cực vào
trong đời sống để xã hội được chữa lành, để tốt
đẹp hơn. Những cái tích cực đó là từ bi hỷ xả, lòng
nhân ái khoan dung, ánh sáng trí tuệ, các việc làm phước
đức, sự tự chế, tự điều phục, sự bình an, sự tinh
tấn cho điều thiện và sự bài trừ cái xấu ác...
Nhìn
ở tầm thế giới, các nhà văn hóa lớn của thế kỷ XX đều
công nhận đang có một cuộc khủng hoảng văn hóa toàn cầu
và không ít người trong số đó rơi vào một quan kiến hư
vô chủ nghĩa (như phần nhiều các triết gia hậu hiện đại),
với những thái độ và lời lẽ khá cay đắng. Cay đắng
nhưng yêu thương, vì có ai ở mức độ cao của nhân loại
mà không yêu thương con người trên trái đất lẻ loi này.
Nhưng có lẽ hầu hết đều chia sẻ với André Malraux một
niềm hy vọng: “Thế kỷ XXI là thế kỷ tâm linh, thế kỷ
của tôn giáo”.
Cuộc
khủng hoảng ấy chúng ta thấy rõ trên bình diện vật chất:
chiến tranh, khủng bố, khí hậu trái đất nóng lên, tầng
ozone thủng mỗi năm thêm lớn, các nước GDP càng cao thì ly
dị càng nhiều, ngân sách quốc phòng các nước mỗi năm càng
lớn, hố cách biệt giàu nghèo trong một nước và giữa các
nước với nhau, tội phạm ở tù càng thêm đông, tự tử...
Tất cả nói lên một tâm thức bất định, không vững vàng
(bởi thế mà có khái niệm “phát triển bền vững”), chưa
đủ trưởng thành, chín chắn để sử dụng một hạ tầng
kỹ thuật đã phát triển cao. Những cuộc cách mạng vật
chất, những chính sách kinh tế chính trị từ thế kỷ XIX
cho đến cuối thế kỷ XX như đã bão hòa, những nhà kỹ
trị sắp xếp cách nào thì cũng không giải quyết được
điều căn bản: thế giới bất an thì tâm thức con người
bất an. Chưa bao giờ thế giới cần một cuộc cách mạng
tinh thần, một cuộc cách mạng tâm linh như vậy.
Đã
đến lúc con người cần tiếp xúc với Phật giáo, cần áp
dụng Phật giáo vào đời sống mình như một số đáng kể
người TP bắt đầu làm. Đã đến lúc thay vì chỉ áp dụng
những khảo sát nghiên cứu tinh vi cho sự vật và thế giới
bên ngoài (mà khoa học đã nhận ra là luôn luôn có sự tham
dự của phía chủ thể con người chứ không thể hoàn toàn
khách quan) thì hãy áp dụng chúng vào chính tâm thức con người.
Con người cần hiểu nhiều về tâm thức của chính nó, tâm
thức chính là cái quy định hiện hữu làm người và thế
giới của nó. Tất cả khổ đau và hạnh phúc của con người
nằm ở đó. Tất cả bế tắc khủng hoảng và con đường
mở thoát của thế giới nằm ở đó. Đã đến lúc truyền
thống TP gặp gỡ với ĐP: “Thiên đường chỉ có trong lòng
người”.
Chính
vì tâm thức con người bất định, khiếm khuyết, hỗn loạn
và thắt gút bên trong mà có ra bao nhiêu vấn nạn cho con người
hiện nay trên thế giới. Cho nên trước khi thương lấy và
lo cho thế giới và người khác, hãy thương lấy và lo cho
chính mình, tâm thức của chính mình. Làm sao có thể có giải
pháp, có hòa giải, hài hòa, hài lòng giữa mình với người
khác, giữa mình với thế giới, giữa mình với chính mình
khi tâm thức còn bất định, còn chưa biết nó là cái gì,
còn thù ghét, sân hận, kiêu mạn, đố kỵ và u ám rối loạn?
Sự
tiến chậm (do hoàn cảnh hơn là do tự ý thức) của chúng
ta về mặt kỹ thuật và vật chất so với thế giới TP là
một điều đáng buồn nhưng suy nghĩ trên một cục diện lâu
dài lại là một điều may mắn. Chúng ta chưa tiến quá xa
trong sự bế tắc văn hóa xã hội hiện đại của TP (mà suốt
thế kỷ XX họ vẫn chưa thoát ra được) với sự bất cân
xứng trong tiến bộ giữa vật chất và tinh thần. Chúng ta
bắt đầu phát triển với ý thức về sự cân bằng giữa
vật chất và tinh thần ngay từ đầu. Và chắc chắn, để
có một phát triển cân bằng và “bền vững” như vậy,
vai trò của giáo dục Phật giáo là quan trọng, vì đó là
gia tài truyền thống của chúng ta.
Nguyễn
Thế Đăng
04-05-2008
11:23:46