Viết
về Thế Tôn, các nhà nghiên cứu Phật học thường đề cập
đến Ngài như một đấng Giáo chủ đã tìm ra con đường
giải thoát và chỉ rõ con đường ấy cho nhân loại, hoặc
đề cập đến Ngài như một nhà đại tư tưởng, một nhà
cách mạng xã hội, v.v... Nhưng có rất hiếm những luận văn,
công trình đề cập đến Ngài như một nhà giáo dục tư tưởng,
và giáo lý của Ngài như là một hệ thống tư tưởng giáo
dục toàn diện và tiên tiến.
Trong
tiết này, chúng ta tìm hiểu Thế Tôn qua lăng kính giáo dục.
Như
chúng ta đã biết, giáo dục là nền văn hóa và văn minh của
loài người. Phật giáo, qua hơn hai mươi lăm thế kỷ ảnh
hưởng, đã đóng góp nhiều vào văn hóa nhân loại, nếu không
muốn nói Phật giáo có thể làm nên cái gọi là văn hóa Phật
giáo cho nhân loại. Sự kiện đóng góp này đủ soi tỏ Phật
giáo như là một hệ thống giáo dục. Chúng ta hãy tìm hiểu
cụ thể:
Giáo
dục, hiểu theo nghĩa rộng rãi, như là con đường hai chiều
của dạy và học của con người kể từ lúc sinh ra cho đến
khi chết, và có mặt ở ba môi trường sinh hoạt: gia đình,
học đường và xã hội.
Thuyết
Nghiệp của nhà Phật xem sự hình thành của thân Ngũ uẩn
này như là kết quả của các hành động trong quá khứ. Từ
đây "Nghiệp mới" được hình thành qua các hành động cố
ý của thân, khẩu, ý. Chủ trương của Phật giáo là giải
thoát nghiệp: chuyển đổi từ nghiệp ác qua nghiệp thiện,
và từ nghiệp thiện đến giải thoát. Thế có nghĩa: Phật
giáo là con đường giáo dục con ngườ đủ hai mặt nhận
thức và hành động, từ khi sinh ra cho đến khi chết, ở khắp
các môi trường sống.
Đấy
là điểm gặp gỡ thứ nhất về ý nghĩa quãng đường giáo
dục và môi trường giáo dục giữa Phật giáo và giáo dục,
thế mà mãi cho đến hậu bán thế kỷ hai mươi giáo dục
mới bắt gặp Phật giáo.
Niềm
Tin Giáo Dục
Nói
đến giáo dục là nói đến niềm tin căn bản của nói, cái
niềm tin mở hướng phát triển muôn thuở. Giáo dục tin rằng
trong con người có một khả năng gần như vô tận, có thể
tiếp thu nhiều kiến thức, và có thể điều chỉnh mọi lệch
lạc của tâm lý, vật lý, sinh lý và tư duy của tự thân.
Đây là lý do mà học đường đã mở dạy rất nhiều môn
học cho mọi người, gồm cả những người chậm trí.
Nguồn
khả năng ấy, Phật giáo gọi là khả năng giác ngộ mà mọi
người đều có thể vận dụng qua nỗ lực của tự thân.
Đạo đế, trong Tứ đế của Phật giáo, là con đường vận
dụng khả năng ấy. Có thể nói đây là cái thấy biết và
là niềm tin vô ngã được mở ra từ lời dạy của Thế Tôn
"Nhất thiết pháp vô ngã" (Sabbe dhammà anattà - Dhp. 279).
Do
nhận thức là vô ngã, và các pháp là vô ngã nên mới có
thể thực hiện sự chuyển hóa nhận thức và chuyển hóa
các pháp, và mới có các công trình sáng tạo.
Nếu
các pháp, gồm nhận thức, là hữu ngã, thì không bao giờ
có thể có nguồn sáng tạo xuất hiện, và không bao giờ công
cuộc giáo dục có thể được thực hiện. Giáo lý vô ngã
của Phật giáo, như thế, quả đã dựng nên niềm tin căn
bản của giáo dục, hay nói cách khác, niềm tin của giáo dục
Phật giáo. Đấy là điểm gặp gỡ thứ hai.
Mục
Tiêu Giáo Dục
Một
đường hướng giáo dục tốt luôn luôn nhắm đến hai mục
tiêu: đào tạo con người xã hội và con người chính nó.
Con người xã hội đáp ứng các nhu cầu xã hội như: kinh
tế, văn hóa, giáo dục, quốc phòng, chính trị. Con người
chính nó là con người toàn diện của vật lý, tâm lý, sinh
lý, ý chí, tình cảm và trí tuệ đang trôi chảy. Một hệ
thống giáo dục thiếu một trong hai mục tiêu ấy là một
nền giáo dục không hoàn chỉnh.
Thế
Tôn đã giáo dục con người đầy đủ các mặt ấy. Về mặt
xã hội, Kinh Singalà (Trường Bộ Kinh số 31; Hán tạng: Kinh
Thiện Sinh, Trường A-hàm) nói lên việc xây dựng sáu mối
tương giao tốt của xã hội: Tương giao giữa cha mẹ và con
cái; giữa thầy và trò; vợ và chồng; cá nhân và bà con,
láng giềng, bạn bè; chủ và thợ; tu sĩ và cư sĩ.
Kinh
Tăng Chi, Chương Bảy Pháp, đề cập đến bảy điều làm
cho một quốc gia cường thịnh, Pháp Cú Sớ nói đến một
chính phủ tốt cần thực hiện tốt mười điều gọi là
"Thập vương tử pháp" (Pháp Cú Sớ và Jataka).
Kinh
Chuyển Luân Thánh Vương Sư Tử Hống, Trường Bộ Kinh III
- số 26, cho rằng nghèo đói là nguyên nhân chính của trộm
cắp, hung ác, thù hằn, bạo động và vô luân. Để cải thiện
tình trạng xã hội ấy, cần phải cải thiện kinh tế bằng
cách cung cấp hạt giống và phương tiện canh tác cho nông
dân, cung cấp vốn đầu tư cho thương gia, và trả lương thích
đáng cho công nhân. Bấy giờ, Thế Tôn dạy, các lễ tế đàn
cần được thay thế bằng các cuộc đại chẩn thí cho nhân
dân.
Về
mặt cá nhân, Thế Tôn dạy đến hạnh phúc của đời sống
gia đình. Mỗi cá nhân cần thực hiện đủ: (1)
- Giỏi
tay nghề, siêng năng, biết điều hành công việc.
-
Biết quân bình chi, thu (giữ cho số thu lớn hơn số chi).
-
Biết làm ra của cải hợp pháp bằng sức lao đông của mình.
-
Biết đầu tư.
-
Biết làm bạn với thiện (Có giới, Tín và Tuệ).
-
Biết quân bình sức khoẻ và tâm lý.
-
Biết lo cho đời sau: tu Tín, Thí, Giới và Tuệ.
-
Biết sống trong hiện tại, làm chủ suy tư, không tiếc nuối
quá khứ, không mộng tưởng tương lai....
Với
nội dung giáo dục đó, chỉ có nhà trường hiện đại của
cuối thế kỷ hai mươi, với một hệ thống giáo dục hoàn
mỹ gồm đủ giáo dục tâm lý, sinh lý và mỹ thuật, mới
bắt gặp tinh thần và nội dung giáo dục đó của Phật giáo.
Tinh
Thần Trách Nhiệm Cá Nhân
Trước
tiên là tinh thần trách nhiệm cá nhân. Thế Tôn không dạy
con người phải lệ thuộc Ngài, phải phó thác đời mình
cho bất cứ một quyền năng nào cả. Ngài dạy "Ngươi phải
làm công việc của ngươi, vì Như Lai chỉ dạy con đường"
(Dhp XX 4). "Ngươi là nơi nương tựa của chính ngươi, không
ai khác có thể là nơi nương tựa". (Dhp. X II 4). "Ý dẫn đầu
các pháp, ý là chủ, ý tạo..." (Dhp. I, 1).
Nói
về nghiệp, Tăng Chi và Trung Bộ Kinh chỉ rõ: "Người là tác
nhân, chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự của nghiệp"
(2).
Nếu
không có tinh thần trách nhiệm cá nhân thì nhân quả của
Phật giáo không có gì để bàn đến nữa, Phật giáo không
còn có lý do để có mặt ở đời. Nếu không có tinh thần
trách nhiệm cá nhân thì học đường cũng không thể thiết
lập giáo dục, và luật pháp xã hội sẽ không có chỗ thi
hành, cuộc đời sẽ đại loại.
Tinh
thần giáo dục trách nhiệm cá nhân luôn luôn phải được
thực hiện tốt trong một hệ thống giáo dục hoàn bị.
Tinh
thần giáo dục này bắt gặp tinh thần giáo dục của Phật
giáo từ hơn hai mươi lăm thế kỷ qua.
Giáo
Dục Cá Nhân
Phương
thức giáo dục hữu hiệu và hợp lý nhất của học đường
hiện đại là phương thức giáo dục cá nhân mà không phải
là giáo dục tập thể. Bởi mỗi học viên có các điều kiện
tâm, sinh, vật lý, tình cảm, trí tuệ và điều kiện sống
khác nhau, nên cần được đón nhận các điều kiện và phương
thức giáo dục khác nhau.
Tinh
thần giáo dục cá nhân này phản ảnh tinh thần giáo dục
"Khế cơ" của Phật giáo. Đức Thế Tôn đã thực sự áp
dụng nguyên tắc khế cơ từ buổi đầu giáo hóa. Hình ảnh
hồ sen có những cọng sen chưa ra khỏi bùn, có những cọng
sen vừa ra khỏi bùn, có những cọng sen ở lưng chừng nước,
cũng có những cọng sen vươn ra khỏi mặt nước, tiếp thu
được ánh sáng mặt trời và tỏa ngát hương. Cũng thế,
con người có những căn trí bất đồng, có người chóng hiểu,
có người chậm hiểu, có người nặng về tham, có người
nặng về sân, có người nặng về si, có người thích tịnh,
có người thích hiếu động v.v... Nhưng tất cả, qua quá trình
giáo dục, lần lượt sẽ như cánh sen vươn ra khỏi nước
để trực tiếp tiếp thu giáo lý giải thoát. Thế là Thế
Tôn không ngần ngại lên đường giảng dạy, giáo hóa tuỳ
theo căn cơ, khích lệ khiến cho mọi người đều được lợi
ích, an lạc và giải thoát. Thuật ngữ Phật giáo thường
nói có đến 84.000 pháp môn tu, thích ứng với 84.000 căn cơ
khác nhau của con người.
Về
sau, trong thời kỳ phát triển của Phật giáo Bắc tông, tinh
thần "Khế cơ" lại được xiển dương qua các giáo lý "Ngũ
thừa", "Tam thừa", "Nhị thừa" và "Nhất thừa" của Kinh Pháp
Hoa.
Thế
Tôn đã vận dụng rất thiện xảo tinh thần "Khế cơ" vào
cả mặt ngôn ngữ diễn đạt, cung cách diễn đạt và tâm
lý thích ứng đối với đối tượng nghe Pháp, mà chúng ta
gặp rất nhiều qua kinh điển của các bộ phái Phật giáo.
Khi
đến với nông dân, Thế Tôn dùng ngôn ngữ và hình ảnh nhà
nông; đến với chúng Sát-đế-lợi, Bà-la-môn, Thế Tôn biểu
hiện cung cách và ngôn ngữ của chính họ.
Ngoài
việc nói Pháp đúng đối tượng nghe, Thế Tôn còn nói Pháp
đúng thời và đúng chỗ, khiến cho tác dụng của thời Pháp
được tăng thêm hiệu quả. Ý nghĩa này cũng được gồm
vào tinh thần "Khế cơ" ấy.
Giới
luật cũng được Thế Tôn thiết lập trên nguyên tắc Khế
cơ: Tăng, Ni, Nam, Nữ cư sĩ có giới luật riêng.
Các
đối tượng tu tập Thiền chỉ và Thiền quán cũng được
dạy khác nhau đối với các căn cơ khác nhau (Phần dẫn chứng
sẽ được trình bày ở chương Pháp Bảo).
Để
thấy rõ tác dụng của tinh thần Khế cơ này, chúng ta có
thể trưng dẫn ví dụ đơn giản sau đây:
Cơm
là thức ăn dinh dưỡng cho mọi ngưòi (đây là ý nghĩa "Khế
lý"). Nhưng lượng cơm phải dùng khác nhau giữa người lớn
và trẻ em, giữa lúc khoẻ với lúc bệnh (đây là ý nghĩa
"Khế cơ"). Cơm đến với mình lúc no khác với lúc đói. Đây
cũng thuộc ý nghĩa "Khế cơ".
Giáo
dục hiện đại đã vận dụng nguyên tắc "Khế cơ" vào việc
dạy học, vào việc chọn môn học, ngành học, nghề nghiệp
cho học viên với một kỹ thuật tốt gọi là kỹ thuật giáo
dục. Kỹ thuật giáo dục đi kèm theo với tâm lý giáo dục
là điểm nổi bật tân kỳ, tiến bộ của giáo dục hiện
đại. Điểm giáo dục Khế Cơ này của Phật giáo phải chờ
đến hậu bán thế kỷ hai mươi, con người mới vận dụng
vào học đường, mới bắt gặp nó.
Tinh
Thần Thực Tiễn, Thực Tại
Một
tinh thần giáo dục đặc sắc khác mà Thế Tôn truyền dạy
là tinh thần "Thiết thực hiện tại", hay tinh thần thực tiễn,
thực tại.
Phẩm
"Cây Lau" dạy: (3)
"Không
than việc đã qua,
Không
mong việc sắp tới,
Sống
ngay với hiện tại,
Do
vậy, sắc thù diệu,
Do
mong việc sắp tới,
Do
than việc đã qua.
Nên
kẻ ngu héo mòn,
Như
lau xanh lìa cành".
Kinh
"A-nan Nhất Dạ Hiền" ghi : (4)
"Quá
khứ không truy tìm,
Tương
lai không ước vọng,
Quá
khứ đã đoạn tận,
Tương
lai lại chưa đến,
Chỉ
có pháp hiện tại,
Tuệ
quán chính là đây...".
Với
kiếp sống của con người thì chỉ hiện tại là có thực
(tương đối). Sống có nghĩa là sống với hiện tại, sống
vào hiện tại; hay nói cách khác, chỉ có hiện tại là sống.
Sống ngay với hiện tại là tinh thần thiết thực. Than thở
tiếc nuối quá khứ, hay mơ ước tương lai chẳng những để
mình rơi vào chỗ phi thực, còn để mình vướng mắc vào
rối loạn tâm lý, khổ đau và đánh mất hiện tại đang là,
cái hiện tại sống động, mới mẻ, đầy sáng tạo, đầy
nghĩa sống, và có thể hiện tại là vĩnh cửu nếu mình biết
nhiếp phục (xóa tan ý niệm về thời gian).
Nếu
không biết chấp nhận hiện tại như nó đang là, để vận
dụng hiệu quả khả năng và trí tuệ của mình đi đến an
lạc, hạnh phúc và giải thoát, thì, như Thế Tôn đã dạy,
dung sắc cuả mình sẽ khô héo nhanh chóng như lau xanh lìa cành.
Hạnh phúc và đời mình cũng khô héo như thế.
Nếu
đi vào tâm lý giáo dục hiện đại, nhất là ngành tâm lý
trị liệu (Psychotherapy), chúng ta sẽ bắt gặp liền kết quả
này, phần lớn các rối loạn, sầu muộn của tuổi trẻ (hay
của con người, nói chung) đều do tư duy của con người gây
ra, nhất là những tư duy về những quá khứ không thiết thực,
về những tương lai hảo huyền. Có những kết quả thống
kê của giáo dục kết luận rằng: Có thể 90% cuộc sống
mình bị đánh mất bởi các tư duy và mộng tưởng sai lầm
ấy.
Thật
là dễ hiểu! Những sự kiện bất như ý xảy đến với mình,
gây phiền muộn cho mình thì ít, mà tư duy của mình về các
sự kiện ấy quấy rầy, phiền hà mình thì nhiều. Vả lại,
nghĩ nhiều về quá khứ và tương lai không thiết thực chỉ
đánh mất thời gian và năng lượng, cái thời gian và năng
lượng đáng lẽ được dùng vào các việc đem lại an vui
cho mình và người.
Như
thế, hiện tại và tại đây như là hòn đảo an toàn mà Thế
Tôn đã chỉ cho con người nương tựa để khỏi bị rơi chìm
vào trong đại dương phiền muộn của vọng tưởng, và để
từ đó có thể đi vào nghĩa sống, hạnh phúc mà nghìn năm
con người đi tìm kiếm.
Sau
khi trở về với hiện tại, con người phải biết làm chủ
tư duy và dục vọng (Tôn giả Ca-chiên-diên cắt nghĩa kinh
Nhất Dạ Hiền Giả): Muốn hay không muốn những gì, tư duy
hay không tư duy những gì để được lợi ích thiết thực.
Trong
kinh Cùla-Màlunkyaputta (5), Màlunkyaputta đặt ra mười câu hỏi
siêu hình để hỏi Thế Tôn (Thế giới thường hay vô thường?
Như Lai có tồn tại sau khi chết? v.v...) Thế Tôn đã im lặng
không trả lời. Ngài nói cho Màlunkyaputta nghe câu chuyện một
người bị mũi tên độc. Vấn đề cấp thiết là giải phẩu
giải độc ngay, chứ không phải là vấn đề tìm cho ra ngọn
ngành mũi tên và người bắn mũi tên trước khi chịu giải
phẩu. Cũng thế, vấn đề cấp thiết của con người là nhổ
mũi tên "khổ đau" chứ không phải đi tìm những câu trả
lời cho các vấn đề siêu hình không thiết thực.
Một
lần ở Kosambi (Tương Ưng Bộ Kinh V), Thế Tôn dạy các Tỷ-kheo:
"Những gì Như Lai biết ví như rừng lá Simsàpa, còn những
gì mà Như Lai giảng dạy thì ít như nắm lá trong tay, nhưng
đây là những phương thức trừ khổ". Đấy là tính chất
thực tiễn, thực tế, rất thiết thực hiện tại của những
lời giảng dạy của Thế Tôn.
Ở
các kinh khác, ý nghĩa thiết thực hiện tại còn được Thế
Tôn cắt nghĩa: Quán sát tự thân, tự tâm để thấy rõ tham,
sân, si để đoạn trừ là thiết thực hiện tại.
Giảng
dạy về hạnh phúc đời sống gia đình, như đã trình bày
ở phần trước, là tính chất rất thực tế của tinh thần
giáo dục của Thế Tôn, Thế Tôn đã không hề chỉ cho hàng
đệ tử đi vào cầu nguyện hay tế lễ trên đường tìm kiếm
hạnh phúc. Ngài dạy: Tế đàn có ý nghĩa là tế đàn bố
thí, giúp đỡ tha nhân và tế đàn có ý nghĩa nhất là sự
tu tập giải thoát của chính tự thân. (6)
Tinh
thần thực tiễn, thực tế là một tinh thần giáo dục nổi
bật của tâm lý giáo dục hiện đại. Qua tinh thần thực
tiễn ấy, Phật giáo nổi bật lên sắc thái rất là "giáo
dục".
Tinh
Thần Phê Phán
Một
tinh thần nổi bật khác rất "đại học", rất "khoa học",
đã làm kinh ngạc các nhà nghiên cứu tôn giáo, là tinh thần
phê phán căn cứ vào thể nghiệm của chính tự thân giữa
cuộc sống trôi chảy này. Khi khuyên bảo những người Kàlama
đang hoang mang nghi ngờ trước lời tuyên bố của ngoại đạo
chỉ cho giáo lý của mình là đúng, là số một, Thế Tôn
dạy: "Này các Kàlama, đừng để bị dẫn dắt bởi những
báo cáo, hay bởi truyền thống hay bởi tin đồn. Đừng để
bị dẫn dắt bởi thẩm quyền kinh điển, hay bởi lý luận
suông, hay bởi suy lý, hay bởi sự xét đoán bề ngoài, hay
bởi vì thích thú trong những lý luận, hay bởi những điều
'tuồng như' có thể xảy ra, hay bởi ý nghĩ 'Đây là bậc
Đạo sư của chúng ta'. Nhưng này các Kàlama, khi nào các Ông
tự mình biết chắc chắn rằng những việc ấy là thiện
là tốt, hãy chấp nhận và theo chúng". (7)
Thế
Tôn dạy các đệ tử xem xét ngay cả Thế Tôn đã thấy rõ
chân giá trị của Ngài.
Tinh
thần phê phán đó luôn luôn gắn liền với thực tế, thực
tại, rất khách quan, rất hiểu biết không để cho nhận thức
của con người chịu nô lệ dưới bất cứ một sức mạnh,
quyền năng nào. Hiện nay, tinh thần phê phán làm chuẩn cho
các tinh thần đại học.
Tinh
Thần Hướng Dẫn
Như
đã trưng dẫn, Thế Tôn xác nhận Thế Tôn chỉ là người
chỉ đường, còn mình phải làm lấy công việc của chính
mình. Kinh Venaka Moggallàna (Trung Bộ III) Kinh Đại Niết-bàn
(Trường bộ II; Hán tạng: Bát Niết bàn) chép: Vào thời điểm
sắp từ giã cuộc đời, Thế Tôn từ chối vai trò lãnh đạo
Tăng chúng khi Tôn giả A-nan xin Thế Tôn cho lời di giáo của
bậc lãnh đạo, và Tôn giả băn khoăn rằng sau khi Thế Tôn
nhập diệt, Tăng chúng sẽ không có ai lãnh đạo. Thế Tôn
dạy: "Nương tựa Pháp, Pháp lãnh đạo". Pháp ở đây phải
được hiểu là con đường đưa đến an lạc, hạnh phúc,
giải thoát. Trọn bốn mươi lăm năm giáo hóa, Thế Tôn luôn
luôn là người chỉ đường mà không bao giờ ra lệnh hoặc
bắt ép ai tuân phục Ngài.
Tinh
thần hướng dẫn của Tâm lý giáo dục hiện đại, ngành
giáo dục chỉ đạo, là tinh thần căn bản của giáo dục
mới, nhân bản. Theo đó, một nhà giáo tốt phải là một
hướng dẫn viên tâm lý.
Như
thế, chính Thế Tôn đã mở đường cho một nền giáo dục
tiên tiến từ hơn hai mươi năm thế kỷ trước, qua tinh thần
giáo dục hướng dẫn rất người, rất nhân bản trong thái
độ hiểu biết.
Bắc
tạng nhìn Thế Tôn như một vị vua thầy thuốc, xem bệnh
chúng sanh và cho thuốc. Đấy cũng chỉ là tinh thần chỉ đường.
Ở Nikàya và A-hàm, Thế Tôn đề cao phương pháp giáo hóa
thần thông, qua thân giáo và khẩu giáo, bằng quan sát và phân
tích thực tế. Mục đích việc giảng dạy của Ngài là giúp
người nghe tự mình nhận ra con đường và tự mình thực
hiện con đường.
Tinh
Thần Khích Lệ
Tinh
thần giáo dục "hướng dẫn" vốn đã là một tinh thần giáo
dục đặc sắc lại được Thế Tôn vận dụng khéo léo song
song với sự khích lệ tâm lý, sự khích lệ mà con người
cần như là dưỡng khí.
Nikàya
và A-hàm thường ghi lại: "Thế Tôn đã thuyết pháp và đã
khích lệ, làm cho mọi người đều được lợi ích. Cho đến
các bậc Thánh hữu học vẫn còn cần được Thế Tôn khích
lệ".
Các
phẩm "Dược Thảo Dụ", "Thọ Ký", "Phổ Hiền" của Pháp Hoa
cũng làm sống lại tinh thần khích lệ ấy của Thế Tôn.
Đến
giờ phút cuối cùng của cuộc sống này, Thế Tôn còn không
quên khích lệ chư Tăng: "Các pháp hữu vi là vô thường, hãy
tinh tấn lên, chớ có phóng dật", và khích lệ vị thị giả
thân quý của Ngài: "Này A-nan, chớ có sầu muộn, không bao
lâu nữa Ông sẽ chứng đắc những gì chưa chứng đắc".
(Kinh Đại Bát Niết Bàn, Trường Bộ I, 1991).
Từ
chuyên môn của ngành Tâm lý giáo dục hiện đại gọi sự
khích lệ ấy là "Encouragement" và nhắc nhở các nhà giáo,
các nhà tâm lý trị liệu, đừng bao giờ quên rằng: Học
trò của mình và thân chủ của mình đang cần sự khích lệ.
Thật
là lạ lùng, cách đây hơn hai mươi lăm thế kỷ Thế Tôn
đã vận dụng thiện xảo sự khích lệ tâm lý trên đường
giáo hóa của Ngài.
Tinh
Thần Tự Tín, Tự Chủ
Khích
lệ là chuẩn bị để xây dựng tinh thần tự tín và tự
chủ của hàng đệ tử.
Bên
cạnh sự trình bày giáo lý thật minh bạch về khổ, khổ
tập, khổ tập diệt, và khổ tập diệt đạo, Thế Tôn xác
nhận rằng bằng nỗ lực riêng của mình, con người có thể
thực hiện được giải thoát ngay trong đời này. Chỉ cho
con người trở về nương tựa chính mình là dạy con người
trở về với tự tín.
Lòng
tự tín không thể thiếu được đối với người tu tập
giải thoát. Nó cũng không thể thiếu đối với ngưòi đời.
Không tin người khác thì mình có thể sống được, nhưng
không tin ở mình thì thật là khó sống, hoặc giả nếu có
thể sống thì cũng đã đánh mất nghĩa sống.
Trong
lộ trình tu tập chuyển đổi tâm lý, Thế Tôn dạy tín là
khởi đầu cho hỷ, lạc, khinh an... Thánh Tu-đà-hoàn được
định nghĩa như là có lòng tin bất thối ở con đường tu
tập giải thoát của mình.
Sự
kiện Thế Tôn đã ra đời và tu tập cho đến lúc thành đạo
là sự kiện thiết lập tự tín của con người đang ở giữa
vùng sinh tử mờ mịt, bao la.
Ngoài
những lời dạy khích lệ trực tiếp các đệ tử, Thế Tôn
còn vận dụng các hình thức gián tiếp như các trường hợp
Ngài tuyên bố chứng đắc trí của một số đệ tử nhỏ
tuổi (Sa-di). Điển hình là trường hợp đệ tử của Tôn
giả Xá-lợi-phất và đệ tử của Tôn giả A-nậu-lâu-đà
(Trưởng lão Tăng kệ), qua một số đệ tử nhập đạo khi
tuổi đã già, một số các ngoại đạo đầu Phật, một số
trường hợp các Ni như Tôn ni Patàcàra, người đã chịu khổ
đau ê chề trong cuộc sống đến độ tuyệt vọng (Trưởng
Lão Ni Kệ) v.v...
Việc
chọn Tôn giả Xá-lợi-phất làm "Tướng Quân Chánh Pháp",
Tôn giả Mục Kiền Liên làm vị "Đệ tử thứ hai" của Thế
Tôn (hai Tôn giả này tu sau một ngàn đệ tử khác và tuổi
đời nhỏ hơn nhiều vị khác) và Tôn giả Upàli (người thợ
hớt tóc) chủ trì về Luật, cũng nói lên một ý nghĩa khích
lệ nào đó nữa, ngoài thực chất giá trị của các Tôn giả
này. Đây là niềm tin và sự khích lệ mà Thế Tôn dành cho
Tăng chúng rằng: Giác ngộ không hẳn liên hệ đến thời
gian tu hành, tuổi đời hay giai cấp xã hội. Ai cũng có thể
đắc Tuệ giác tối thượng, tùy theo nỗ lực tu tập của
mình.
Trường
hợp Thế Tôn độ Tôn giả Nan-đà (Nanda) là một trường
hợp điển hình khác nói lên tác dụng tâm lý khích lệ của
Thế Tôn.
Tôn
giả Nan-đà vốn mê nhan sắc của người vợ mới cưới (chưa
hợp cẩn) nên không tu hành được. Thế Tôn phương tiện
vận dụng thần thông đưa Nan-đà xuống hỏa ngục. Tại đó
quỷ ngục chỉ Nan-đà thấy chảo dầu sôi và bảo rằng:
"Chảo dầu này đang chờ Tôn giả Nan-đà, người đang lười
biếng tu tập". Đoạn, Thế Tôn đưa Nan-đà lên viếng "Tam
thập tam thiên". Tại đây, các Tiên nữ diễm lệ hứa chờ
Tôn giả Nan-đà cùng chung sống, nếu Tôn giả siêng năng tu
hành. Trở về trái đất Tôn giả Nan-đà không còn nhớ vợ
nữa, chỉ nghĩ đến các tiên nữ và nỗ lực tu tập, sau
đó, đắc luôn Thánh quả.
Tùy
theo tâm lý mà Thế Tôn đã khích lệ, Trưởng lão Tăng Kệ
ghi một trường hợp nổi bật màu sắc khích lệ khác, trường
hợp bà mẹ của Tôn giả Xá-lợi-phất.
Sinh
thời, khi Tôn giả đã là trưởng tử của Như Lai, bà vẫn
thường rầy la Tôn giả là dại, bỏ giàu sang mà đi xin ăn
vất vả. Dù biết mẹ theo ngoại đạo, thờ Phạm thiên nhưng
Tôn giả không độ được mẹ bằng thân giáo và khẩu giáo,
và không tìm thấy có phương cách nào hơn là chịu đựng
sự la rầy của mẹ, mỗi lúc Tôn giả gặp bà. Cho đến ngày
sắp nhập Niết Bàn, Tôn giả trở về nhà thăm mẹ và thị
hiện đi chảy. Các vua Trời Dục giới lần lượt đến xin
làm thị giả hầu Tôn giả trong giờ phút cuối cùng. Cả
đến vua Trời Phạm Thiên cũng đến xin hầu hạ, Tôn giả
từ chối tất cả. Sau khi các vua Trời ra đi, bà mẹ mới
hỏi Tôn giả về các vua Trời ấy. Tôn giả nói: "Ông vua
Trời đến sau cùng là vua Trời Phạm Thiên, vị mà mẹ tôn
thờ". Bà mẹ mừng rỡ trong kinh ngạc, nhận ra rằng con mình
chắc được đạo lớn. Lòng bà chi xiết hân hoan... Biết
là thời điểm độ mẹ đã đến, Tôn giả thu nhiếp thân
tâm thanh tịnh và nói Pháp cho mẹ nghe. Bà liền đắc ngay
quả Tu-đà-hoàn, nhờ được phần khích lệ trước đó, Tôn
giả liền nhập Niết Bàn ngay tại chỗ ấy.
Trong
điều kiện tâm lý hân hoan, hỷ, lạc, giáo lý giải thoát
rất dễ được người nghe thể nhập.
Do
vậy, các kinh Bắc tạng, theo truyền thống ấy thường hết
sức ca ngợi, tán thán, khích lệ người thọ trì, đọc tụng,
biên chép và giải nói kinh điển. Đây là hình thức xây dựng
tự tín cho hành giả trong bước đầu vào giải thoát.
Kinh
Kim Cương và Kinh Pháp Hoa có thể điển hình cho tinh thần
khích lệ tự tín ấy. Một Kinh Kim Cương ngắn mà có đến
mười bốn lần Thế Tôn tán thán công đức của người thọ
trì, đọc tụng, giải nói...
Qua
lãnh vực giáo dục ở học đường, tự tín là một đức
tánh mà giáo dục có trách nhiệm xây dựng cho con người.
Bởi thiếu tự tín thì sẽ thiếu tự chủ, sinh ỷ lại, không
vận dụng hiệu quả khả năng của tự thân để giải quyết
và xây dựng cá nhân.
Thiếu
tự tín thì tâm lý giáo dục không thể vận dụng các kỹ
thuật giáo dục để giúp cho tuổi trẻ giải quyết các vấn
đề của họ, và cũng không vận dụng được khả năng sáng
tạo. Khi mà các vấn đề tâm lý của cá nhân tuổi trẻ không
được giải quyết hữu hiệu, thì việc dạy và học cũng
không mất nhiều hiệu quả.
Đi
vào vấn đề quốc gia xã hội, một dân tộc hùng cường
không thể là kết quả xây dựng của những thế hệ trẻ
thiếu tự tín và nhiều sầu muộn.
Chỉ
nhìn đơn giản như thế, ta cũng nhận ra được tính cách
quan trọng của tinh thần giáo dục khích lệ và tự tín. Các
tinh thần đó đã được Thế Tôn giáo dục các hàng đệ
tử của Ngài cách đây hai mươi lăm thế kỷ.
Tinh
Thần Độc Lập, Trừ Nô Lệ
Phật
giáo dạy con người đi vào giải thoát, có nghĩa là đi ra
khỏi mọi trói buộc, mọi ách nô lệ. Nô lệ lớn nhất của
hiện tượng giới là nô lệ chính dục vọng cuả mình. Gốc
của dục vọng chính là vô minh. Đó là con đường Bát chánh
dẫn đến vô tham, vô sân, vô si, thoát ly khỏi mọi khổ ách.
Thực hiện con đường này là thực hiện từng bước tự
tri, tự chủ, hay làm chủ. Một nền giáo dục như thế hẳn
sẽ đào tạo nên những mẫu người làm chủ; sống lợi ích
cho bản thân và xã hội, vì hạnh phúc của cá nhân và xã
hội, đập vỡ mọi ách trói buộc bên trong và bên ngoài.
Giáo
dục tinh thần độc lập, tự chủ cho tuổi trẻ là một mục
tiêu xã hội mà học đường cần thực hiện nghiêm túc. Tinh
thần giáo dục đó của Phật giáo, do đó, phù hợp với các
nền giáo dục và văn hóa của các quốc gia.
Khai
triển tinh thần giáo dục vô tham, vô sân si, và vô si rộng
thêm nữa, chúng ta lại bắt gặp một tinh thần tích cực
khác của Phật giáo đóng góp ý nghĩa vào công cuộc xây dựng
xã hội tốt đẹp.
Tiếp
thu tinh thần vô tham, thì tuổi trẻ sẽ tự mình dập dắt
hiện tượng tham nhũng của xã hội, hay ít nhất không tạo
điều kiện thuận lợi cho tham nhũng phát sinh. Nhân danh đời
sống tâm linh, tham nhũng dễ bị loại trừ hơn là những nhân
danh giáo dục khác.
Vô
sân thì sẽ dập tắt được một số hiện tượng nổi loạn,
tranh chấp, gây lộn trong xã hội.
Vô
si sẽ giúp mở rộng đường vào trí tuệ và sáng tạo những
nhân tố của văn hoa tốt, và của văn minh nhân loại.
Thật
là đáng tiếc nếu một đường hướng giáo dục cuả Phật
giáo tốt đẹp và tích cực như thế không được vận dụng
hữu hiệu vào học đường mới hiện nay.
Trên
đây không phải chỉ là một số tinh thần giáo dục Phật
giáo được rút tỉa một cách rời rạc, mà là nằm trong
một cái nhìn nhất quán, có tính toàn diện và toàn vẹn.
Giáo
Dục Con Người Toàn Diện
Một
nền giáo dục chỉ dạy những kiến thức chuyên môn để
một chiều đáp ứng các mục tiêu xã hội thì không phải
là giáo dục toàn diện.
Một
nền giáo dục chỉ cung cấp kiến thức, rèn luyện sức khoẻ
và một số vấn đề luân lý, đạo đức, đầy ước lệ
cũng không phải là toàn diện.
Một
nền giáo dục trao truyền kiến thức, thể dục, đức dục,
mỹ dục, sinh lý và lao động cũng chưa nói lên được ý
nghĩa toàn diện. Vấn đề đường hướng giáo dục này trở
nên toàn diện hay không là do đó có cái nhìn nhất quán và
toàn diện về con người hay không.
Đặt
vấn đề như thế là đặt vấn đề về mẫu người giáo
dục. Con người là gì cần được xác định trước khi quyết
định nội dung phải dạy con người những gì và dạy như
thế nào.
Các
đường hướng giáo dục tiên tiến vẫn thường bất ổn
trong việc xây dựng mẫu người này.
Phật
giáo đặc biệt nổi bật ở trí tuệ, nhìn thấy con người
và sự vật như thật, nên hy vọng sẽ đề bạt được một
mẫu người khả dĩ lý tưởng.
Thế
giới này do Duyên sinh. Con người cũng do Duyên sinh. Thế giới
và con người có cùng chung tánh Duyên sinh ấy nên cùng có
mặt trong một tương quan bất nhị. Cá nhân, gia đình và xã
hội đều ở trong sự tương quan bất nhị đó.
Thế
Tôn định nghĩa cái gọi là con người chỉ là tập hợp của
Năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành và thức). Năm uẩn ấy
cũng chính là thế giới, theo lời dạy của Thế Tôn (Tương
Ưng Bộ Kinh IV, phẩm Migajàla và nhiều Kinh khác). Giáo dục
con người là giáo dục toàn diện Năm uẩn ấy.
Về
sắc uẩn, chỉ rõ về con người và thế giới vật lý, sự
sinh thành, tồn tại và hoại diệt của nó. Tương tự đối
với bốn uẩn còn lại. Năm uẩn ấy trống không, không có
tự ngã, chúng là hiện hữu của tương duyên nên vô thường
và khổ đau. Tuy nhiên, theo trí tuệ Phật giáo, Năm uẩn không
phải là gốc khổ đau. Trọng điểm của giáo dục là chỉ
rõ lòng tham ái, chấp thủ, là gốc của khổ đau mà không
phải là thế giới vật lý thường xuyên trôi chảy, và đồng
thời chỉ rõ gốc của an lạc, hạnh phúc thực sự là trí
tuệ hay trí tuệ giải thoát. Từ đây, nhà giáo dục Phật
giáo cần xác định một số nội dung của giáo dục: Trí
tuệ (wisdom) chứ không phải là kiến thức (knowledge). Kiến
thức chỉ là sản phẩm của tư duy ngã tính, một phần tố
của con người, mà không phải là con người toàn diện. Nó
không nói lên thực tại vô ngã và hạnh phúc chân thật vô
ngã. Chỉ có khi trí tuệ (chánh kiến và chánh tư duy) có mặt
thì con người toàn diện mới có mặt. Giáo dục toàn diện
là giáo dục vừa cung cấp kiến thức vừa tạo điều kiện
cho trí tuệ ấy sinh khởi.
Tiêu
chuẩn giá trị là hạnh phúc chứ không phải luân lý
Nếu
chúng ta không thể phủ nhận mục tiêu của cuộc sống là
hạnh phúc, thì tiêu chuẩn giá trị của cuộc sống phải
là hạnh phúc, chứ không phải là các nguyên tắc đạo đức
hay kỷ luật đầy ước lệ của học đường cũ. Trong học
đường mới, con người toàn diện chỉ chấp nhận và giữ
lại những điểm đạo lý, kỷ luật nào phù hợp với hướng
đi về hạnh phúc ấy.
Ví
dụ nói dối là xấu, theo nguyên tắc luân lý. Nhưng nói dối
để cứu khổ thì khác. Học đường trong trường hợp này,
phải chọn lựa lợi ích và hạnh phúc của xứ sở và con
người hơn là nói thật gây tai hại.
Vấn
đề giáo dục mỹ thuật, tình cảm và sinh lý
Các
môn học về nhạc, họa, mỹ thuật v.v... tình cảm và sinh
lý cần được đưa vào học đường để dạy cho học sinh
theo từng lứa tuổi thích hợp. Các môn ấy phải được đánh
giá cần thiết như là các môn khoa học xã hội khác.
Một
hệ thống giáo dục mà không nhận ra tầm quan trọng của
giáo dục thẩm mỹ, tình cảm và sinh lý thì còn lệch lạc,
không toàn diện. Vấn đề chủ yếu của giáo dục là giúp
tuổi trẻ biết nhìn và biết sống như thế nào để đem
lại hạnh phúc cho mình và cho xã hội.
Vấn
đề con người với văn hóa truyền thống
Văn
hóa, truyền thống là sản phẩm của con người. Vì vậy,
cần đặt con người và hạnh phúc của con người trước
văn hóa và truyền thống. Đặt con người sau văn hóa, truyền
thống là đặt cái cày trước con trâu. Thế Tôn đã dạy:
"Đừng để bị dẫn dắt bởi truyền thống...". Giáo dục
mới và toàn diện chỉ duy trì những truyền thống tốt đẹp,
những gì văn hóa cũ thích hợp với đường hướng giáo dục
này. Chính vai trò của nền giáo dục toàn diện là xây dựng
một nền văn hoa mới toàn diện.
Giáo
Dục Đánh Thức
Thế
Tôn chỉ là người chỉ đường, con người có thể thực
hiện giải thoát bằng nỗ lực riêng của mình. Như thế,
giáo dục Phật giáo là đường hướng giáo dục đánh thức.
Đạo đế là con đường giúp con người đánh thức Tuệ giải
thoát vốn có sẵn trong mình. Dạy Đạo có nghĩa là trao truyền
phương pháp, soi sáng tư duy để khơi dậy nguồn sáng trong
mỗi con người, chỉ đường để vạch mở những gì đang
che mờ tâm thức.
Một
nền giáo dục như thế hoàn toàn không đặt nặng ký ức,
tín điều, cũng không đặt nặng kiến thức, bởi mục đích
nhằm đến là giúp người học đi ra khỏi sầu, bi, khổ,
ưu não đang đè nặng tâm tư họ, mặt khác giúp họ thích
ứng với hướng phát triển của xã hội.
Học
đường tiên tiến ngày nay đào tạo con người đáp ứng hai
mục tiêu: con người chính nó và con người xã hội. Nhưng
chiều hướng phát triển có thể nhấn mạnh con người chính
nó để có thể tận gốc giải quyết các khủng hoảng tâm
lý và xã hội.
Chúng
ta có thể chủ quan cho rằng: Giáo dục Phật giáo có thể
ổn định hướng phát triển cho một nền giáo dục nhân bản
và toàn diện. Với tinh thần khoa học và kỹ thuật giáo dục
tiên tiến, và với tinh thần chỉ đạo giáo dục của Phật
giáo, học đường có thể hiện tốt hai mục tiêu chính của
giáo dục ấy.
Giáo
Dục Thiền Định
Giáo
dục Thiền định là sắc thái giáo dục đặc biệt của Phật
giáo, chưa được thực sự vận dụng vào trong bất cứ một
hệ thống giáo dục hiện đại nào.
Phương
pháp giáo dục Thiền định rất giản dị, rất người, nhưng
đưa đến những kết quả lớn, kết quả tốt về mặt giáo
dục tâm lý, tình cảm, hoàn bị tinh thần giáo dục tự trị
tự chủ, tự tín, trách nhiệm cá nhân; đồng thời mở rộng
hướng sáng tạo, nhân tố của văn hóa và văn minh.
Về
tình cảm, Thiền định đưa con người vào phấn khởi, hân
hoan, hỷ lạc, an tịnh, buông xả và tình thương v.v..
Về
tâm lý, Thiền định là quá trình chuyển đổi tâm lý, từ
tâm lý thụ động sang tích cực; từ tham, sân, si qua vô tham,
vô sân, vô si; từ thất niệm qua tỉnh giác v.v...
Về
cảm thọ, Thiền định đưa vào các cảm thọ lạc, hạnh
phúc và khắc phục các cảm thọ khổ của thân và tâm. Trong
cảm thọ này của Thiền định, hành giả hầu như bắt gặp
cái đối tượng gọi là "hạnh phúc" mà con người đang mãi
tìm kiếm (sẽ nói thêm ở Chương Pháp Bảo).
Thiền
định còn giáo dục tốt ký ức, khả năng tập trung. Kết
quả này sẽ giúp tuổi trẻ tiếp thu kiến thức tốt.
Các
điểm tâm lý tự chủ, độc lập, cảnh tỉnh và khả năng
tập trung là các điều kiện tốt chuẩn bị cho các nguồn
sáng tạo bung vỡ. Tự thân các cảnh giới Thiền đã là kết
quả sáng tạo của Tâm. Trạng thái tâm lý ổn định, an toàn
của Thiền, không bị vướng mắc nặng vào tư duy, đúng là
trạng thái tâm lý của người sáng tạo ở thời điểm sáng
tạo, như các nhà giáo dục khảo sát về sáng tạo đã tìm
thấy.
Mặt
khác, Thiền định giúp tuổi trẻ loại bỏ các tâm lý mệt
mỏi, thụ động, chán nản, sầu muộn, dao động.
Đây
là đối tượng giáo dục mà ngành tâm lý giáo dục cần thực
hiện để hổ trở cho việc dạy và học có kết quả tốt.
Ngày
nay, Nhật Bản đã vận dụng Thiền vào họa, nhạc, thi ca,
trà đạo và nhu đạo (Judo), Thiền như là sắc thái cuả văn
hóa Nhật trong cận đại và hiện đại.
Ở
Việt Nam, Thiền đã ảnh hưởng sâu đậm vào văn hóa trong
suốt bốn trăm năm dưới triều đại nhà Lý và nhà Trần,
đã tạo nên một giai đoạn lịch sử vàng son: mạnh về quốc
phòng, sáng về văn hóa và đoàn kết chặt chẽ lực lượng
dân tộc, Triều Lý thì Bắc đánh Tống, Nam bình Chiêm; triều
Trần thì ba lần đánh tan quân Nguyên, đạo quân đã đánh
bại cả châu Âu. Lịch sử Việt Nam đã ghi lại thành công
lịch sử của giai đoạn này như là kết quả chịu ảnh hưởng
của Thiền định Phật giáo.
Trong
tập bia ký của vua A-dục (Asoka), "Les Inscriptions d'Asoka" (Jules
Bloch, Paris, Société d'édition "Les Belles Letters", 1950), vua A-dục
đã để lại cho thế hệ ta một sự ngạc nhiên kỳ thú:
Vua là một nhà chinh phục lừng danh lại gác kiếm và dùng
Chánh pháp (Phật giáo) để giáo dục nhân dân. Giáo lý mà
nhà vua giảng dạy cho dân Ấn bấy giờ là Thiền Định. Nguyên
văn bia ký ghi: "Tiến bộ của luật pháp trong loài người
chỉ có hai phần, do các luật lệ và do Thiền định. Nhưng
các luật lệ thì có ích lợi ít, Thiền định thì có lợi
ích nhiều hơn". (Ce progès de la loi parmi les hommes a été obtenu
de deux facons seulement, par les règles de la loi et par la méditation.
Mais sur ce point, les règles sont peu de chose, la méditation compte
d' avantage) (p. 171).
Nhà
vua cho rằng Thiền định còn hữu hiệu hơn là giới luật
và luật pháp.
Đạo
đế mà Thế Tôn dạy, nội dung là con đường thực hiện
Thiền định để đi vào Tâm và Tuệ giải thoát.
Lời
di huấn sau cùng của Thế Tôn là: "Đây là gốc cây, đây
là căn nhà trống, hãy nỗ lực Thiền định, chớ để hối
tiếc về sau".
Giáo
dục Thiền định như thế có dấu hiệu sẽ là nhân tố tốt
cho một nền giáo dục nhân bản và toàn diện.
Tinh
Thần Giáo Dục Trung Đạo
Ý
nghĩa Trung đạo của hành động là lánh xa hai cực đoan: hưởng
thụ lục dục lạc và khổ hạnh ép xác, lười biếng và
nỗ lực quá mức.
Khi
dạy về tinh tấn, Thế Tôn cho rằng tinh tấn như là một
đức tính chủ yếu để hoàn thành các đức tính khác. Tuy
nhiên, phải hành động đúng nghĩa Trung đạo.
Tinh
tấn quá mức, tâm lý sẽ rơi vào trạo cử; tinh tấn không
đúng mức (yếu) thì tâm lý sẽ rơi vào hôn trầm thụ động.
Thế Tôn đã để lại bài học lịch sử của kinh nghiệm
tự thân của Ngài về tinh thần giáo dục Trung đạo ấy:
sau khi từ bỏ sáu năm ép xác khổ hạnh, Thế Tôn đi vào
con đường trầm tư của Thiền định và đã đi vào giải
thoát toàn triệt.
Giáo
lý chỉ đạo sống thể hiện Trung đạo là Bát Thánh đạo:
thấy đúng, suy nghĩ đúng, lời nói đúng, sinh hoạt đúng,
hành động đúng, nhớ nghĩ đúng, nỗ lực đúng, và năng
lực tập trung đúng. Đấy là giáo lý chỉ đường vào mục
tiêu sau cùng của giáo dục, hạnh phúc và giải thoát ngay
tại đây và bây giờ.
Giáo
dục Thiền định xuất hiện như là chỉ dẫn con đường
sống thể hiện hòa điệu giữa tim và óc, giữa cá nhân và
tập thể, giữa con người và thiên nhiên v.v...
Hạnh
phúc của lứa đôi, theo kết quả khảo sát của ngành tâm
lý giáo dục, chỉ đến trong sự hòa điệu của hai người
về các mặt vật lý, tâm lý, sinh lý, tình cảm và tư duy.
Kinh
nghiệm sống cho thấy một bản đại hòa tấu tuyệt diệu
là kết quả của một thể hiện hòa điệu của các âm thanh
khác nhau của nhiều nhạc cụ khác nhau. Cuộc sống hòa điệu
cũng thế, sẽ tiết ra ý nghĩa phong phú của sự sống đầy
tính người và tình người.
Tại
đây chúng ta chưa đi vào ý nghĩa Trung đạo như là giải thoát
mọi phạm trù ý niệm, Trung đạo như là thực tại như thực.
Tinh
Thần Không Chấp Thủ
Tinh
thần "Vô chấp thủ" rất quen thuộc với hầu hết mọi Phật
tử Nam tông và Bắc tông. Ai cũng hiểu rằng do chấp thủ
mà tham ái sinh, sân hận sinh, khổ sinh. Ngay cả sự chấp thủ
giáo lý giải thoát cũng chỉ đem lại ràng buộc khổ đau.
Thế
Tôn đã dạy "Giáo lý Ta như là chiếc bè để qua sông chứ
không phải để ôm giữ" (Nikàya và A-hàm). Kinh Kim Cương cũng
dạy cùng ý nghĩa ấy: "Giáo lý như phiệt dụ giả. Chánh
pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp".
Các
nơi khác của Giáo lý Bắc tạng thường nói: "Nhất thiết
Tu-đa-la giáo như tiêu nguyện chỉ" (Hết thảy kinh điển như
ngón tay chỉ mặt trăng).
Thành
kiến, cố chấp là biểu hiện của chấp thủ. Chúng ngăn
cản cảm thông, tiến bộ và giải thoát.
Hạnh
phúc tuyệt đối hay Niết-bàn, theo lời dạy của Thế Tôn,
là loại bỏ hoàn toàn chấp thủ. Hạnh phúc tương đối của
con người trong hiện tại và tương lai là tuỳ thuộc vào
mức độ loại bỏ chấp thủ ấy, như những gì chứa đựng
trong pháp bố thí. Tinh thần vô chấp ấy chẳng những đem
lại an lạc cho cá nhân mà còn đem lại an lạc cho tha nhân,
tập thể.
Nhờ
ảnh hưởng tinh thần giáo dục vô chấp này mà đời Lý Trần
đã thực hiện được sự đoàn kết keo sơn của dân tộc,
thống nhất Tam giáo. Nhờ vô chấp mà Trần Quang Khải đã
sánh vai với Trần Hưng Đạo, bỏ mối thù nhà hẹp hòi, để
lo việc nước. Ở đâu có vô chấp, ở đó có cảm thông,
đoàn kết và thương yêu.
Đấy
cũng là một tinh thần giáo dục nhân bản được vận dụng
vào mục tiêu đoàn kết dân tộc.
Tinh
Thần Tùy Duyên Bất Biến
Đây
là tinh thần xử sự, hành động uyển chuyển thích nghi với
hoàn cảnh sống tùy thời, tùy chỗ, tùy người (tùy duyên),
miễn là sự uyển chuyển linh động ấy mang lại điều tốt
đẹp cho cả mình và người (bất biến). Nói khác đi, hình
thức và phương tiện hành động có thể uyển chuyển, nhưng
dụng ý và kết quả của hành động phải là thiện, đúng
pháp. Thái độ sống này luôn luôn không rời khỏi lòng từ,
lòng nhân và luôn luôn được soi sáng bởi trí tuệ hay chánh
kiến... Nắm được tinh thần hành động này là nắm được
cái trục quay của sự sống. Chiếc áo không quan trọng mà
quan trọng là ở tấm lòng. Cái tâm của con người giữ lòng
mình hợp Đạo là ý nghĩa của bất biến, linh động hòa
mình vào cuộc sống là ý nghĩa của tuỳ duyên.
Đi
vào lãnh vực giáo dục và xã hội, cái gọi là Việt Nam hay
Việt tính là tinh thần, thái độ sống, thái độ nhận thức
mà không phải kiểu áo, màu áo, kiểu tóc v.v... Tinh thần
độc lập bất khuất là thuộc Việt tính, tinh thần uyển
chuyển sống để tồn tại và phát triển là thuộc Việt
tính (có thể gọi là tinh thần dung hóa).
Người
Việt Nam có thể tiếp thu các nền văn minh phương Tây, nhưng
nội dung cần được Việt hóa (chuyển thành cái của Việt
Nam), nhưng không để đánh mất Việt tính. Đây là ý nghĩa
của tuỳ duyên bất biến.
Ở
hành động, tinh thần tùy duyên phá vỡ tính câu nệ cố chấp,
và tinh thần này được đảm bảo giá trị nhờ động cơ
của tâm lý hành động và nhờ chủ đích mà hành động nhằm
đến.
Tinh
thần giáo dục hành động tuỳ duyên bất biến là tinh thần
rất tích cực, giúp con nguời của thời đại có nhiều biến
đổi nhanh chóng, có điều kiện rộng rãi để hành động
thích nghi với những nhân duyên mới, khai thông nhiều bế
tắc do chủ nghĩa đem lại.
Thuật
ngữ Phật giáo có nghĩa tương đương với tinh thần tùy duyên
là "Phương tiện thiện xảo" mà Thế Tôn đã vận dụng để
dẫn dắt các đệ tử đi dần vào giải thoát. Tinh thần phương
tiện lại được làm sống lại ở Kinh Pháp Hoa qua phẩm "Phương
Tiện".
Tinh
thần giáo dục tuỳ duyên sẽ giúp học đường soi sáng, chỉ
lối hành động tốt cho tuổi trẻ.
Tinh
Thần Lục Hòa và Tứ Nhiếp
Chỉ
đạo đời sống tập thể, Thế Tôn giảng dạy nguyên tắc
Lục Hòa, Kinh Xá Di Thôn chỉ rõ nguyên tắc sống chung của
chư Tăng gồm có sáu điểm: (8)
1.
Thân hòa đồng tru麠có sự hòa hợp, hợp lý về chỗ ăn,
chỗ ở, khéo an trú thân nghiệp.
2.
Khẩu hòa vô tránh: lời nói hòa hợp, không tranh cãi, khéo
an trú khẩu nghiệp.
3.
Giới hòa đồng tu: cùng nhau giữ gìn một giới luật chung,
an trú giới, giữ thanh tịnh giới.
4.
Lợi hòa đồng quân: cùng san sẻ các lợi dưỡng.
5.
Ý hòa đồng duyệt: an trú ý nghiệp, hòa hợp thống nhất.
6.
Kiến hòa đồng giải: cùng với các vị đồng tu nuôi dưỡng
những tri kiến thánh thiện đưa đến xuất ly khổ.
Thế
Tôn dạy giả A-nan: sáu pháp hòa này sẽ đưa đến đoàn tụ,
không tranh luận, hòa hợp, đồng nhất và đưa đến cho con
người an lạc và hạnh phúc lâu dài.
Nếu
ứng dụng nguyên tắc: "Lục hòa" vào sinh hoạt nhóm hay tập
thể, chúng ta thấy rất thích ứng với các nguyên tắc tâm
lý mà các nhà giáo dục tâm lý hiện đại giáo dục cho các
sinh hoạt tập thể.
Bài
học thứ nhất là, nếu học đường áp dụng nghĩa "hòa"
của "Thân hòa" vào đồng phục cho học sinh thì sẽ giúp cho
tuổi trẻ đoàn kết, thân mật nhau, đến gần nhau hơn, không
phân rẽ thành nhiều nhóm do ăn mặc xấu, đẹp, sang, hèn
khác nhau. Tuổi trẻ cần được giáo dục tinh thần hòa hợp,
đoàn kết ngay từ bây giờ.
Bài
học thứ hai, trong sinh hoạt tập thể, trong giờ bàn bạc,
thảo luận, tuổi trẻ cần được giáo dục nguyên tắc "Khẩu
hòa", biết cách phát biểu ý kiến của mình nhưng đồng thời
cũng phải biết tôn trọng ý kiến của các bạn khác, không
được nặng lời chỉ trích, đả kích v.v...
Thái
độ chỉ trích, đả kích chỉ đem lại không khí nặng nề,
bất hòa cho sinh hoạt tập thể, và làm trở ngai nội dung
của đề tài thảo luận. Trái lại, trong không khí hòa hợp,
tương kính của thảo luận, mọi người sẽ đón nhận được
cảm giác an ổn, hạnh phúc của sinh hoạt tập thể.
Bài
học thứ ba, học đường cần dạy tinh thần "Kiến hòa".
Sự khác biệt về màu áo cũng đủ khiến tuổi trẻ tách
rời thành nhiều nhóm nhỏ, huống chi là sự khác biệt về
tư tưởng hay tín ngưỡng. Tư tưởng hay tín ngưỡng là màu
áo của tâm hồn tuổi trẻ. Học đường cần nhận rõ vai
trò giáo dục của mình là gieo thêm ý thức đoàn kết dân
tộc cho tuổi trẻ, cần phải tế nhị tạo ra một nhận thức
xem như là một loại triết lý giáo dục, làm thế nào để
các em, trong điều kiện khác biệt về tư biệt về tư tưởng,
tín ngưỡng có thể đến gần nhau, thân mật, hòa hợp, đoàn
kết. Đây là ý nghĩa "kiến hòa đồng giải".
Bài
học thứ tư là bài học về nguyên tắc "Lợi hòa". Các em
học sinh cần được hưởng ứng đồng đều các quyền lợi
vật chất, học hành, thi cử nếu có ở học đường. Sự
khác biệt về quyền lợi chỉ là việc đi ngược với tinh
thần giáo dục hòa hợp và đoàn kết.
Bài
học thứ năm về "Giới hòa". Các em học sinh đều đặt mình
trong một kỷ luật chung của học đường, cùng nỗ lực tôn
trọng kỷ luật, bảo vệ kỷ luật học đường để việc
học và dạy có hiệu quả tốt. Trong điều kiện sống giống
nhau đó, các em dễ gần nhau, dễ hòa hợp và đoàn kết.
Bài
học thứ sáu là về "Ý hòa". Học đường cần dạy tuổi
trẻ thành thật với nhau, chấp nhận nhau, kính trọng nhau,
cùng nhau xây dựng tinh thần hòa hợp, đoàn kết. Có thành
ý xây dựng, học tập như thế thì mục tiêu giáo dục của
học đường mới thực sự thành tựu.
Có
một bài học quan trọng hơn nữa của "Lục hòa" là khi nói
đến Hòa là xác nhận sự bất đồng. Học đường vừa tôn
trọng cá nhân, cá tính của từng người, nhưng vừa giáo
dục thế nào để cá tính phát triển tốt trong không khí
hòa hợp ấy. Hòa mà không Đồng thì đánh mất hết mọi
ý nghĩa giáo dục. Do đó, học đường một mặt giáo dục
tuổi trẻ biết kính trọng suy tư, tình cảm, tư tưởng v.v...
của kẻ khác, một mặt biết hòa hợp trong tập thể những
cá tính khác biệt ấy.
Về
mặt lãnh đạo tập thể, Thế Tôn dạy nguyên tắc "Tứ nhiếp"
(Trong Tăng Chi IV, phẩm Gia Chủ Hatthaka) là nguyên tắc mà cư
sĩ Hatthaka đã ứng dụng thành công tốt đẹp trong việc lãnh
đạo một chúng cư sĩ năm trăm người.
Tùy
theo trình độ, cá tính và nhu cầu cuả mỗi cá nhân mà biện
pháp tâm lý để nhiếp hòa, thu phục được thể hiện khác
nhau.
--
Đối với những ai cần sự giúp đỡ về vật chất, kiến
thức, an ủi, kinh nghiệm sống, kinh nghiệm tu học, thì Hatthaka
áp dụng nguyên tắc "Bố Thí". Do có sự giúp đỡ mà sự
cảm thông, cảm mến có mặt. Do có sự hiểu biết, cảm mến,
Hatthaka thu phục được những cá nhân này và giảng dạy cho
họ có kết quả.
--
Đối với những ai tâm lý thích "Ái ngư妱uot;, thích nghe những
lời nó dịu dàng, hòa ái dễ nghe, thành thực, khôn khéo...
thì Hatthaka dùng "Ái ngữ" để cảm hóa, nhiếp phục họ.
Thông thường, mọi người đều thích ái ngữ và khó chịu
với những lời lẽ nặng nề, thiếu tế nhị v.v... Người
lãnh đạo muốn thành công phải biết vận dụng "Ái ngữ".
--
Với những ai cần "Lợi hành", cần khích lệ, cần giúp đỡ
trong công việc, thì Hatthaka đáp ứng họ. Do lợi hành đưa
đến cảm mến và chịu sự lãnh đạo.
--
Với những tâm lý nào cần phải cùng làm việc, cùng ăn,
cùng ở v.v.. cần có thời gian gần gũi, thì Hatthaka áp dụng
nguyên tắc "Đồng sư鈴uot;. Có giống với người, có cùng
làm, cùng lo chung công việc mới có điều kiện để chia xẻ,
cảm thông. Từ đây, tình cảm tốt, tương giao tốt nảy sinh.
Có đồng sự thì dễ nghe nhau nói và dễ nói cho nhau nghe.
Do đó, người lãnh đạo mới gây được lãnh đạo của mình.
- Với
những ai cần phối hợp các nguyên tắc trên để nhiếp hóa,
thì người lãnh đạo tùy duyên mà vận dụng.
Nhà
tâm lý giáo dục hiện đại trong nghệ thuật vận dụng tâm
lý để đạt mục tiêu giáo dục cũng không làm gì khác hơn
bốn nguyên tắc ấy.
Tinh
Thần Giáo Dục, Giảng Dạy Nêu Thí Dụ Cụ Thể
Nhà
giáo giỏi là nhà giáo khéo giảng, khéo làm cho học trò chóng
hiểu được những gì mình dạy. Một nội dung giảng dạy
tốt nếu không được truyền đạt bằng một kỹ thuật truyền
đạt tốt thì chưa thật tốt.
Lối
truyền đạt tư tưởng tốt là lối truyền đạt sáng sủa,
rõ ràng và cụ thể cho dù nội dung truyền đạt trừu tượng.
Thế
Tôn, trong phương pháp giảng dạy của Ngài, vừa ứng dụng
nguyên tắc "Khế cơ", "Khế lý", "Khế thời", vừa "Khích lệ"...
lại vừa vận dụng các thí dụ với các hình ảnh cụ thể,
quen thuộc với người nghe, để soi sáng cho người nghe để
hiểu điều Ngài muốn nói.
Thật
là phong phú với rất nhiều hình ảnh ví dụ trong kinh điển
Nam tạng và Bắc tạng Phật giáo.
Hình
ảnh ví dụ thời danh, hầu như quen thuộc với hầu hết các
người học Phật, là hình ảnh Thế Tôn ví dụ giáo lý Phật
giáo như chiếc bè (Kim Cương, A-hàm và Nikàya) để qua sông
mà không phải để mang trên vai. Hoặc là ví dụ giáo lý như
ngón tay chỉ mặt trăng, hay giáo lý như bản đồ chỉ đường.
Nói
đến hương vị, sắc thái đặc biệt của nội dung giáo lý
Phật giáo, Thế Tôn dạy: "Như biển chỉ có một vị: Vị
mặn của muối; cũng thế, giáo lý của Ta chỉ có một vị:
vị giải thoát".
Các
tên Kinh của Nam và Bắc tạng cũng nổi bật lên hình ảnh
ví dụ. Như Kinh Phạm Võng (ví dụ như cái lưới), Kinh Bánh
Mật (chiếc bánh mật), Kinh Xà Dụ (ví dụ như con rắn), Kinh
Gò Mối (ví dụ gò mối), Kinh Khúc Gỗ (ví dụ như khúc gỗ
trôi sông về biển)... Kinh Kim Cương (ví dụ so sánh với kim
cương), Kinh Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Địa Tạng v.v...
Thế
Tôn đã sử dụng phương pháp giảng dạy rất sống động,
cụ thể, dễ hiểu, hấp dẫn, thu hút sự chú ý của người
khác và có tác dụng đánh mạnh vào tâm thức của người
nghe. Kèm theo với phương pháp này, Thế Tôn còn giảng những
đề tài có duyên sự và bối cảnh sống động của nó (tương
tự như lối giảng dạy ngày nay theo sự sắp xếp của chương
trình, thời khóa biểu, nên người ta thường hay dựng lên
bối cảnh tác dụng giảng dạy càng hữu hiệu hơn nữa).
Ta
hãy lấy một ví dụ điển hình:
Ở
Kosambi, bên bờ sông Gangà (Hằng Hà), khi thấy một khúc gỗ
lềnh bềnh trên mặt nước, Thế Tôn liền gọi các Tỷ-kheo
lại, chỉ khúc gỗ và giảng dạy về con đường giải thoát.
Ngài dạy: "Nếu khúc gỗ không hư nát trong ruột, không tấp
vào hai bên bờ, không bị vướng vào nước xoáy, không bị
loài người hay các loài khác nhặt, thì nhất định khúc gỗ
ấy trôi thẳng về biển. Cũng thế, người tu sĩ nếu không
như khúc gỗ hư ruột (chỉ tà kiến của người tu, hay chỉ
các ngoại đạo), nếu không tấp vào hai bờ (có nghĩa là
không vướng mắc vào các căn, các trần), nếu không mắc
vào nước xoáy (nếu không ngã mạn), nếu không bị người
ta nhặt (nếu không bị ràng buộc nhiều với người đời,
cư sĩ), nếu không bị phi nhơn, chư Thiên nhặt (chỉ người
tu cầu sanh Thiên để hưởng các phước lạc), thì nhất định
người tu sĩ ấy sẽ như khúc gỗ, trôi thẳng về biển, sẽ
vào biển Thánh, thành tựu Phạm hạnh, chứng ngộ giải thoát
Niết-bàn". Trong khi Thế Tôn giảng như thế, một người chăn
bò tên là Nanda đứng cạnh đấy nghe lén. Nanda hiểu rõ ngay
con đường tu tập, liền xin Thế Tôn xuất gia và bạch: "Con
nguyện sẽ là người tu hành như khúc gỗ không mục nát trôi
xuôi về biển. Xin Thế Tôn cho con thọ Đại giới". Thế Tôn
hoan hỷ nhận lời. Quả thực, chỉ sau có một thời gian ngắn,
Nanda liền chứng đắc A-la-hán (Kinh Tương Ứng Bộ IV, Phẩm
Rắn Độc, ví dụ về khúc gỗ).
Trong
các Kinh, những đoạn mở đầu bằng chữ "Ví dụ" và bắt
đầu phần kết thúc cuả đoạn bằng chữ "Cũng thế" là
những đoạn Thế Tôn so sánh, ví dụ.
Ở
đây, chỉ trưng dẫn một số ví dụ trong Kinh Pháp Cú và
Kinh Pháp Hoa làm điển hình:
Như
mái nhà vụng lợp,
Mưa
có thể thấm vào;
Cũng
vậy, tâm không tu,
Tham
dục dễ xâm nhập -- (Pháp Cú câu 13).
Như
mái nhà khéo lợp,
Mưa
không thể thấm vào;
Cũng
vậy, tâm khéo tu,
Tham
dục không xâm nhập. -- (Pháp Cú câu 14)
Có
khi hình ảnh ví dụ vừa cụ thể lại vừa thi vị, không
đơn điệu, không gây cảm giác chán nản ở người nghe.
Ai
sống ở đời này,
Ái
dục được hàng phục,
Sầu
rơi khỏi người ấy,
Như
nước rơi lá sen. -- (Pháp Cú câu 336).
Những
lời dạy của Thế Tôn có khi rất cụ thể, rất ngắn gọn,
rất giản dị, nhưng vẫn nói lên ý nghĩa thâm sâu và chứa
đựng cả nội dung giáo lý Phật giáo:
Cỏ
làm hại ruộng vườn,
Tham
làm hại người đời,
Bố
thí, người lìa tham,
Do
vậy được quả lớn -- (Pháp Cú câu 356).
Có
những khi Thế Tôn dạy vừa cụ thể, rõ ràng, thi vị, lại
vừa rất triết lý. Biển của người đời là một trong vùng
nước rộng, còn biển trong giáo lý của Ngài thì:
"Này
các Tỷ-kheo, mắt là biển của người... Tai, mũi, lưỡi,
thân và ý là biển của người... Ai vượt qua được các
biển ấy với nước xoáy, với sóng lớn, với cá mập, La-sát...
thì đến bờ biển (Niết-bàn)" (Tương Ưng Bộ Kinh IV, phẩm
Biển).
Khi
muốn làm nổi bật cái nguy hiểm của sinh tử, Thế Tôn dạy:
"Tất cả, này các Tỷ-kheo, đều bị bốc cháy. Mắt bị bốc
cháy; mũi, tai, lưỡi, thân và ý đều bị bốc cháy. Bị bốc
cháy bởi cái gì? Bởi lửa tham, lửa sân, lửa si, lửa sanh,
già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não". (Tương Ưng Bộ
Kinh IV, phẩm Bốc cháy).
Giữa
khi các đệ tử bị ràng buộc bởi cái "có" của mình vào
cuộc đời thì lời dạy của Thế Tôn xuất hiện như một
tiếng sấm khiến tâm thức vùng dậy trong cơn bàng hoàng của
chấp thủ:
"Này
A-nan, tất cả các thế giới này là trống không. Sắc, thọ,
tưởng, hành, thức là trống không (vì chúng vô ngã)" (Tương
Ưng IV, phẩm Channa, mục Trống Không, và các Kinh khác).
Kinh
Pháp Hoa thì nêu lên những hình ảnh đầy biểu tượng, đầy
ý vị những rất cụ thể và nói lên được diệu pháp của
Thế Tôn:
- Phẩm
Thí Dụ, tam giới như ngôi nhà lửa đang bốc cháy nói lên
lối giảng dạy phương tiện, quyền biến của Thế Tôn, đồng
thời giới thiệu giáo lý Nhất thừa.
- Hình
ảnh "Cùng tử" thật là sống động, làm nổi bật thân phận
của người nghe, người tu, khiến họ nhận ra căn cơ thấp
kém của mình và thức tỉnh để đi vào Diệu Pháp.
- Phẩm
Dược Thảo Dụ, ví đức Thế Tôn nói pháp như cơn mưa, cây
lớn thấm nước nhiều, cây nhỏ hút nước ít, nhưng tất
cả đều thấm nhuần nước.
Các
hình ảnh sống động trên đây tuy khác nhau, nhưng tất cả
đều phục vụ nội dung nói lên diệu lý của Kinh.
Phương
pháp giảng dạy bằng nhiều thí dụ của Thế Tôn là một
phương pháp rất khoa học và rất tâm lý, khiến cho việc
giảng dạy đem lại nhiều kết quả tốt, có thể là phương
pháp mẫu mực, chỉ đạo cho học đường mới. Thế Tôn đã
xuất hiện như một nhà giáo dục rất nhân bản và lý tưởng
qua các tinh thần và phương thức giáo dục được trình bày
ở trên.
Còn
nhiều bài học về giáo dục khác nữa của Thế Tôn mà chúng
ta sẽ đề cập thêm ở phần tiếp theo: Liên hệ giữa Thế
Tôn và các hàng đệ tử, ngoại đạo, ác ma và chư Thiên.
Liên
Hệ Giữa Thế Tôn và Các Hàng Đệ Tử Của Ngài
Hình
ảnh tổng quát của Thế Tôn từ khi Thành đạo
Ngay
sau khi Thành đạo, Thế Tôn có đủ mười Như Lai lực và
bốn Vô sở uý (Trung Bộ I Tr. 71-B), tuy nhiên, Thế Tôn đã
suy nghĩ một cách đầy khiêm tốn rằng: "Thật là khó khăn
sống không cung kính, không vâng lời. Vậy ta hãy cung kính,
đảnh lễ và sống y chỉ vào một Sa-môn hay một Bà-la-môn...
Nhưng Ta không thấy một nơi nào trong thế giới chư Thiên
và loài Người có một Sa-môn hay Bà-la-môn nào có giới, định,
tuệ, giải thoát và tri kiến giải thoát đầy đủ hơn Ta
mà Ta có thể cung kính, đảnh lễ, và sống y chỉ... rồi
Ta suy nghĩ, với Pháp mà Ta y chỉ vào Pháp ấy" (9).
Trên
đường Thế Tôn đi đến Lộc Uyển để chuyển bánh xe pháp,
du sĩ ngoại đạo Upaka đã hỏi về bậc Đạo sư của Ngài
và Ngài đã trả lời:
"Ta
không có Đạo sư!
Bậc
như Ta không có.
Giữa
thế giới Nhân, Thiên
Không
có ai bằng Ta..." (10)
Upaka
nghi ngờ về cao mạn của lời nói Thế Tôn nên bỏ đi. Đây
không phải là lời tự đề cao hay tự hãnh diện về mình
(Vì Thế Tôn đã đoạn tận mười kiết sử) mà là lời tuyên
bố sự thật về địa vị tối thượng của Thế Tôn.
Suốt
bốn mươi lăm năm giáo hóa, Thế Tôn đi chân không với một
bình bát và ba y như các Tỷ-kheo đệ tử của Ngài. Hằng
ngày Thế Tôn đi khất thực, ngồi Thiền và thuyết pháp;
buổi sáng sớm thường thuyết pháp cho các vị Thiên, buổi
chiều tối thường thuyết pháp cho các hàng đệ tử. Ngài
thường đi hoằng hóa một mình, hoặc có chúng Tỷ-kheo đi
theo. Khi nghỉ ngơi tại một gốc cây, Thế Tôn tự đi nhặt
lá khô lót thảo tọa (một tấm cỏ đan) để ngồi, hoặc
có một đệ tử nhặt hộ; cho đến khi trọng tuổi Ngài mới
có thị giả.
Thế
Tôn thọ trai với chúng Tỷ-kheo bất cứ nơi nào có thí chủ
thỉnh mời. Sau mỗi lần thọ trai, Thế Tôn nói lên một bài
pháp ngắn để tuỳ hỷ hay chúc lành.
Trong
các mùa an cư, Thế Tôn cùng chúng Tỷ-kheo (có giới hạn)
nghỉ ở các Tịnh xá do cư sĩ Cấp Cô Độc, nữ cư sĩ Visàkà
hay vua Tần-bà-sa-la xây cất cúng dường. Tại đây, đã có
các Phật tử cúng dường suốt mùa kiết hạ (mùa mưa ở
Ấn Độ)
Thế
Tôn hằng ngày ngồi Thiền và giảng dạy Phật pháp. Thế
Tôn nói pháp cho những ai muốn nghe và muốn đặt vấn đề.
Có lần, một du sĩ ngoại đạo đã đi theo Ngài trên đường
vào làng khất thực và cầu mong Ngài trả lời một số câu
hỏi. Sau ba lần thỉnh cầu, Thế Tôn đã dừng lại thuyết
giảng cho du sĩ ngoại đạo ấy. Ngài thuyết pháp không phân
biệt giai cấp, giới tính, tuổi tác... Ngài đã từng nhận
lời thọ trai cùng chúng Tỷ-kheo ở tư thất của một kỹ
nữ.
Một
lần khác, Ngài đã dạy các Tỷ-kheo hãy để cho nàng Patacarà,
một người loạn trí vì đau khổ, không có một mảnh vải
che thân, đến gặp Ngài. Bấy giờ các Tỷ-kheo ngăn nàng lại.
Khi vừa thấy Thế Tôn, nàng liền tỉnh táo và lấy một mảnh
y do các Tỷ-kheo ném đến để che thân và sụp lạy, khóc
dưới chân Thế Tôn, cho đến khi nhận được những lời
dạy vàng ngọc (11).
Ngài
tiếp chuyện và giảng dạy cho các vua chúa, đại thần và
nhận lời thỉnh mời thọ trai của họ.
Ngài
mặc nhiên vấn đáp với các ác ma và ngoại đạo. Có nhiều
trường hợp vì lợi ích độ sanh, Thế Tôn kín đáo sử dụng
thần thông xuất hiện trước các hội chúng Sát-đế-lợi,
Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên v.v... trong hình ảnh, cung cách
và ngôn ngữ giống họ; nói chuyện và khích lệ họ, khiến
họ được an lạc, lợi ích. Khi Ngài rời họ ra đi (biến
mất) thì các hội chúng ấy không biết Ngài là ai, từ đâu
lại. (Tiểu Bộ Kinh: "Phật thuyết Như Vậy").
Có
lần Ngài lâm bệnh nặng như một số đệ tử của Ngài.
Lúc trọng tuổi, Ngài thỉnh thoảng bị rêm mình, đau lưng,
đôi khi phải ngưng ngay giữa thời thuyết pháp và nhờ Tôn
giả Xá-lợi-phất nói tiếp. Lúc già, Ngài như mọi người,
lưng hơi còng, da nhăn, các căn đều bị biến đổi. Trước
khi thị tịch, trong bữa cơm cuối cùng do người thợ sắt
Thuần-đà dâng cúng, Ngài dùng phải một loại nấm rừng
kịch độc, bị đi chảy. Ngài phải dùng định lực của
Như Lai để nhiếp phục cơn bịnh. Đang cơn khát, Thế Tôn
dạy Tôn giả A-nan lấy nước lã từ dòng sông bên cạnh cho
Thế Tôn dùng (Kinh Niết-bàn).
Thế
Tôn vì lợi ích của chư Thiên và loài Người, dạy đủ các
căn cơ, trình độ; với một số đối tượng, Ngài dạy tu
phước đức để sanh Thiên; với một số, Ngài dạy hạnh
phúc thiết thực ở đời: như hạnh phúc của đời sống
gia đình, với vợ con và trang điểm, như những điều cần
thiết của một số cô dâu về nhà chồng, như thế nào là
người vợ tốt, người chồng tốt, như thế nào là một
nhà lãnh đạo tốt, người thợ tốt, người học trò tốt,
người láng giềng tốt, v.v...
Ngài
dạy con người tự mình tu tập mà không phải cầu nguyện
hay tế lễ.
Thế
Tôn là ai mà Ngài có kinh nghiệm thiết thực để giáo hóa
đủ các hội chú鮧: Chư Thiên, Càn-thát-bà, loài Người v.v...
? Tăng Chi Bộ Kinh IIA, tr. 51 (Bản dịch của HT. Thích Minh Châu,
1980) ghi lại lời xác nhận của Thế Tôn về Ngài rằng: "Đối
với những người chưa đoạn tận lậu hoặc, Ta có thể là
chư Thiên với các lậu hoặc đã đoạn tận..., Ta có thể
là Càn-thát-bà với các lậu hoặc đã đoạn tận..., Ta có
thể là Dạ-xoa với các lậu hoặc đã đoạn tận..., Ta có
thể là người với các lậu hoặc đã đoạn tận... Ví như
bông sen xanh, bông sen hồng hay bông sen trắng sanh ra trong nước,
lớn lên trong nước, vươn ra khỏi nước, đứng thẳng, không
bị nước thấm ướt. Cũng vậy, sanh ra trong đời, lớn lên
trong đời, Ta sống chinh phục đời, không bị đời thấm
ướt, này Bà-la-môn, Ta là Phật, hãy ghi nhớ như vậy".
Có
một điểm biểu hiện bên ngoài nữa của Thế Tôn khác biệt
với người đời là: Ngài được sanh khi bà mẹ đứng, được
sanh ra dưới gốc cây, tu tập dưới gốc cây, thành đạo
dưới gốc cây, chuyển bánh xe pháp dưới gốc cây, và nhập
Niết-bàn cũng dưới gốc cây. Thiên nhiên như gắn liền với
Ngài qua các mốc điểm lịch sử của đời Ngài.
Đã
có cái nhìn rõ hơn về Ngài qua những sinh hoạt trong cuộc
sống, giờ đây chúng ta đi vào tìm hiểu mối tương hệ giữa
Thế Tôn với các đệ tử của Ngài và các đối tượng nghe
Pháp.
Thế
Tôn và Tôn Giả Xá-Lợi-Phất
Sau
khi được Thế Tôn độ, Tôn giả Xá-lợi-phất đắc A-la-hán
quả bốn tuần lễ sau, khi cùng trú với Thế Tôn ở độg
Sukarakhata ở Vương Xá (Ràjagaha) (Trưởng Lão Tăng Kệ).
Tôn
giả Xá-lợi-phất đã được Thế Tôn xác nhận trước Tăng
chúng là vị đệ tử trí tuệ đệ nhất của Ngài (12).
Một
lần Thế Tôn dạy: "Tỷ kheo nếu hy cầu một cách chơn chánh,
sẽ hy cầu như sau: 'Mong rằng ta sẽ như Xá-lợi-phất và
Mục-kiền-liên'. Đây là cán cân, này các Tỷ kheo, đây là
đồ đo lường đối với các đệ tử Tỷ-kheo của Ta, tức
là Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên" (Tăng Chi I, tr. 102).
Tôn
giả Xá-lợi-phất thường có mặt bên cạnh Thế Tôn trong
nhiều thời pháp của Thế Tôn, Tôn giả thường cùng với
Tôn giả Mục-kiền-liên giảng dạy, hướng dẫn trực tiếp
chúng Tỷ-kheo, tân Tỷ-kheo, thay mặt Thế Tôn.
Đây
là một lời khen điển hình của Thế Tôn dành cho Tôn giả:
"Ai là người không ngu si, không ác tâm, không si ám, không
loạn tâm lại có thể không hoan hỷ đối với Xá-lợi-phất?
Này A-nan, Xá-lợi-phất là bậc hiền triết, là bậc đại
tuệ, là bậc quảng tuệ, là bậc hỷ tuệ, là bậc tiệp
tuệ, là bậc lợi tuệ, là bậc quyết trạch tuệ. Này A-nan,
Xá-lợi-phất là bậc tri túc, là bậc thiểu dục, là bậc
viễn ly, là bậc bất cộng trí. Này A-nan, Xá-lợi-phất là
bậc hiện tại, nghe lời trung ngôn, cáo tội trung thực, chỉ
trích ác pháp" (13).
Một
hôm Tôn giả Xá-lợi-phất đến hầu Thế Tôn và hỏi Thế
Tôn về ý nghĩa Đại nhân. Thế Tôn dạy: "Với tâm giải
thoát, này Xá-lợi-phất, Ta gọi là Đại nhân. Không có tâm
giải thoát, Ta không gọi là Đại nhân". Có những lúc tương
tự, Tôn giả có vấn đề trong việc giáo hóa, thường đến
xin lời dạy của Thế Tôn; có khi có vấn đề cần giảng
dạy, Thế Tôn lại gọi Tôn giả đến. Trước Thế Tôn, Tôn
giả luôn luôn là một đệ tử rất khiêm tốn. Một lần
ở Nàlanda, Tôn giả đã tán thán Thế Tôn với tất cả trí
tuệ và lòng tôn kính: "Như vậy là lòng tịnh tín của con
đối với Thế Tôn. Không thể đã có, không thể sẽ có,
không thể hiện có một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác có thể
vĩ đại hơn, thắng trí hơn Thế Tôn về Chánh giác" (Tương
Ưng V, phẩm Nàlanda Thứ Hai). Sau khi Tôn giả nhập Niết bàn
không lâu, Thế Tôn nhìn chung quanh chúng Tỷ-kheo im lặng và
nói
lên lời cảm thán này: "Này các Tỷ-kheo, chúng này của Ta
được xem như trống không. Nay Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên
đã mệnh chung, này các Tỷ-kheo, chúng của Ta thành trống
không. Phương hướng nào Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên
trú, phương hướng đó không còn ước vọng gì."(Tương Ưng
V, phẩm Nàlanda Thứ Hai).
Thế
Tôn và Tôn Giả Mục-Kiền-Liên
Bảy
ngày sau khi xuất gia, tại Magakka, sau khi nhờ Thế Tôn khích
lệ, Tôn giả Mục-kiền-liên nhiếp phục được hôn trầm
thụy miên. Liền đó, khi nghe Thế Tôn dạy về Giới, Tôn
giả đắc A-la-hán, Tôn giả được Thế Tôn tuyên bố là
bậc có thần thông đệ nhất và được chọn làm đệ tử
lớn thứ hai của Thế Tôn.
Tại
thành Vương Xá, khi Tôn giả lâm bệnh nặng, đau đớn kịch
liệt, Thế Tôn đến thăm, nói pháp Thất giác chi. Nghe xong,
Tôn giả thoát khỏi bệwnh. Ảnh hưởng của Tôn giả Mục-kiền-liên
trong Giáo hội tương tự như ảnh hưởng của Tôn giả Xá-lợi-phất,
thường được Thế Tôn ca ngợi. Sự mệnh chung của Tôn giả
đã để lại một chỗ trống lớn trong Giáo hội, theo ghi
nhận của Thế Tôn.
Thế
Tôn và Tôn Giả Đại Ca-Diếp (Maha-Kassapa)
Tôn
giả Ca-diếp là người được Thế Tôn nhiếp hóa trước
Tôn giả Xá-lợi-phất và Tôn giả Mục-kiền-liên, được
Thế Tôn tuyên bố trước Thánh chúng là "Đầu-đà đệ nhất".
Sau khi xuất gia, Tôn giả hành đầu-đà, chỉ tám ngày sau
liền đắc quả A-la-hán (14).
Lúc
Tôn giả bị đau nặng kịch liệt ở hang động Pipphali, Thế
Tôn, vào một buổi chiều, sau khi xuất Thiền, đến thăm Tôn
giả và đã nói về Thất giác chi. Nghe xong, Tôn giả liền
khỏi bệnh (15).
Lúc
Tôn giả về già, một hôm đến hầu Thế Tôn, Thế Tôn dạy:
"Này Kassapa, Ông nay đã già rồi, y phấn tảo, vải thô của
Ông đã cũ nát, đáng được quăng bỏ. Vậy này Kassapa, hãy
mang những áo do các gia chủ cúng, thọ dụng các món ăn được
mời và hãy ở gần bên ta" (16).
Tôn
giã đã bạch: Đấy là hạnh sống ở rừng, hạnh mang ba y,
hạnh thiều dục tri túc, hạnh tinh tấn, viễn ly của Tôn
giả, vì lợi ích của tự thân và vì lòng từ mẫn làm gương
cho chúng sanh sắp đến. Thế Tôn tùy hỷ.
Tôn
giả Ca-diếp là vị ít khi thuyết pháp, giáo giới cho chư
Tỷ-kheo. Các vị Tỷ kheo, Tăng và Ni trẻ không nhận ra chân
giá trị của Tôn giả nên một lần Thế Tôn đã tán thán
Tôn giả giữa đại chúng Tỷ-kheo rằng: "Tùy theo ý muốn,
Thế Tôn ra vào các cảnh Thiền, chứng các thần thông và
các minh. Cũng thế, tùy theo ý muốn, Tôn giả Ca-diếp vào
ra các cảnh Thiền, chứng các thần thông và các minh" (Tương
Ưng II, phẩm Kassapa).
Một
hôm, Tôn giả thuật cho Tôn giả A-nan nghe về liên hệ thầy
trò mật thiết giữa Thế Tôn và Tôn giả: Khi Thế Tôn ngồi
nghỉ ở một gốc cây, Tôn giả dâng cúng Thế Tôn một y
Tăng già-lê do tự tay Tôn giả cắt may (bấy giờ là ngày
xuất gia thứ tám) liền sau khi Tôn giả được hạnh phúc
và an lạc lâu dài, Thế Tôn đã từ mẫn đón nhận và trao
tấm y cũ bằng vải thô phấn tảo đáng được quăng bỏ
của Thế Tôn cho Tôn giả. Tôn giả tiếp: "Nếu có ai nói
về Ta một cách chơn chánh, thì ta là con ruột Thế Tôn, sanh
ra từ miệng, do Pháp sanh, do Pháp hóa sanh, thừa tự Chánh
pháp, và đã nhận được tấm y phấn tảo làm bằng vải
gai thô đáng được quăng bỏ từ Thế Tôn" (Tương Ưng II,
phẩm Kassapa).
Thế
Tôn và Tôn Giả Upàli
(Trưởng
Lão Tăng Kệ và Tăng Chi IIIB, phẩm Upàli).
Tôn
giả Upàli (Ưu-bà-ly) vốn là người thợ hớt tóc cho các
hoàng thân của dòng họ Thích Ca. Noi gương xuất giả của
các Tôn giả A-nậu-lâu-đà... Tôn giả xuất gia và xin Thế
Tôn được tu ở rừng. Thế Tôn dạy: "Nếu Ông sống trong
rừng, ông chỉ phát triển được một vấn đề. Nhưng nếu
ông sống với chúng ta, Ông sẽ trở thành thuần thục cả
kinh học và Thiền quán". Ngài vâng theo lời dạy của Thế
Tôn, tu Thiền quán, và sau một thời gian ngắn chứng quả
A-la-hán.
Thế
Tôn giảng dạy cho Tôn giả về Luật. Về sau, Tôn giả được
Thế Tôn tuyên bố là vị đệ nhất trì luật của Giáo hội.
Tôn giả được Thế Tôn giao việc xử lý và tuyên luật.
Thế
Tôn và Tôn Giả A-Nan (Ananda)
Tôn
giả A-nan là người hoàng tộc, xuất gia khi Thế Tôn về thăm
vua Tịnh Phạn và hoàng tộc.
Tôn
giả là một trong mười vị đại đệ tử của Thế Tôn.
Trong hai mươi năm đầu, Thế Tôn không có thị giả riêng.
Năm năm mươi sáu tuổi, Thế Tôn ngỏ ý cần thị giả, Thánh
chúng đề cử Tôn giả A-nan. Tôn giả hoan hỷ làm thị giả
Thế Tôn với điều kiện Thế Tôn từ chối bốn việc và
chấp nhận bốn việc:
- Từ
chối, không cho Tôn giả y, đồ ăn, phòng ở riêng và mời
ăn
- Nếu
Tôn giả được mời thọ trai, Thế Tôn cho phép đi; nếu có
người từ xa đến xin yết kiến Thế Tôn, Thế Tôn bằng
lòng cho gặp khi A-nan giới thiệu; Thế Tôn cho A-nan yết kiến
khi A-nan gặp điều khó xử; Thế Tôn giảng lại những giáo
lý Ngài dạy những khi A-nan vắng mặt.
Thế
Tôn chấp nhận lời yêu cầu của Tôn giả (Trưởng Lão Tăng
Kệ).
Công
việc thị giả của Tôn giả A-nan gồm: đem nước, đem tăm
xỉa răng, rửa chân, quét phòng, đi theo Thế Tôn; ban ngày
ở cạnh Thế Tôn để bạch Thế Tôn những điều cần làm;
ban đêm, cầm đèn và gậy đi quanh phòng Thế Tôn; sẵn sàng
khi Thế Tôn gọi. Tại Jetavana, Thế Tôn xác nhận Tôn giả
là vị Tỷ-kheo đệ nhất về năm phương diện: đa văn, cảnh
giác, sức khoẻ đi bộ, kiên trì và hầu hạ chu đáo. Tôn
giả chỉ đắc A-la-hán sau khi Thế Tôn nhập diệt vào đêm
trước ngày kiết tập đầu tiên (Trưởng Lão Tăng Kệ).
Tôn
giả A-nan được đề cập đến trong rất nhiều kinh Nikàya
và A-hàm, là bậc khéo nói, có cử chỉ rất tốt đẹp trong
xã giao, là thị giả rất trung thành, rất tận tụy, học
rộng bậc nhất và có trí nhớ bậc nhất. Kinh Đại-Bát-Niết-Bàn
đã ghi lại rằng Tôn giả rất đau xót mỗi lần Thế Tôn
bị mệt hay bị bệnh. Tôn giả đã khóc vật vã khi Thế Tôn
nhập diệt.
Trước
khi thị tịch, Thế Tôn đã hết lời ca ngợi, tán thán và
khích lệ Tôn giả. Thế Tôn nhấn mạnh, Tôn giả A-nan thắng
hơn thị giả của chư Phật quá khứ ở một điểm là: A-nan
biết ý Thế Tôn muốn gì để đáp ứng trước khi Thế Tôn
dạy, còn thị giả của chư Phật quá khứ thì chỉ biết
ý khi chư Phật đã dạy mà thôi.
Thế
Tôn và Các Tôn Giả A-Nậu-Lâu-Đà, Ca-Chiên-Diên, Phú-Lâu-Na
v.v...
Các
Tôn giả đại đệ tử này đều được đề cập đến trong
nhiều kinh và đều được Thế Tôn tán thán về hạnh tối
thắng và đại tuệ. Các Tôn giả đều hết lòng tôn kính
và hầu hạ Thế Tôn trong các Phật sự của Giáo hội: truyền
bá Chánh pháp và hướng dẫn các vị tân Tỷ-kheo.
Thỉnh
thoảng Thế Tôn một mình ghé lại chỗ tu hành của các Tôn
giả để hỏi thăm sức khoẻ. Một lần đến thăm Tôn giả
A-nậu-lâu-đà (Anuruddha), Tôn giả Nan-đề (Nandida), Tôn giả
Kim-tỳ-la (Kimpila), Ngài dung dị đến độ người giữ vườn
không biết Ngài là Thế Tôn, ngăn cản Ngài đi vào vườn,
cho đến khi các Tôn giả biết, ra cung thỉnh Thế Tôn. Lời
thăm hỏi của Thế Tôn mở đầu là: "Này các Tỷ-kheo, các
Ông có được an lành không? Sống được yên vui không? Đi
khất thực có mệt không?" (17)
Khi
biết tin các Tôn giả đau ốm, Thế Tôn đến viếng thăm khích
lệ và thuyết pháp để các Tôn giả sinh khởi hỷ lạc mà
thoát cơn bệnh nặng (18).
Tôn
giả A-nậu-lâu-đà là vị chủ trì lo việc hỏa táng, thiêu
Xá lợi lúc Thế Tôn nhập diệt.
Thế
Tôn và Các Tân Tỷ Kheo
Một
số các tân Tỷ-kheo do Thế Tôn thu nhận, một số do các vị
đại đệ tử thu nhận. Hầu hết các tân Tỷ-kheo về sau
đều do hai Tôn giả Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên trực
tiếp hướng dẫn. Bên cạnh các đại đệ tử, các tân Ty-
kheo vẫn thường được nghe Thế Tôn thuyết pháp và khích
lệ. Thế Tôn rất quan tâm đến việc giảng dạy và khích
lệ các tân Tỷ-kheo, dù đã có các đại đệ tử của Ngài
hướng dẫn.
Kinh
Tương Ưng IV, phẩm Bệnh ghi rằng: Khi Thế Tôn nghe bạch có
Tỷ-kheo mới tu bị bệnh nặng, Thế Tôn liền đi đến thăm.
Khi thấy Thế Tôn đến, Tỷ-kheo bị bệnh nặng gượng dậy
trên giường nhưng Thế Tôn liền nói: "Thôi chớ có gượng
dậy, Thế Tôn đã có chỗ ngồi ở đây rồi". Rồi Thế Tôn
thăm hỏi bệnh tình, an ủi và nói pháp khích lệ. Vị tân
Tỷ-kheo này liền đắc Tu-đà-hoàn ngay trên giường bệnh.
Thế
Tôn đến thăm nhiều tân Tỷ-kheo bị bệnh như thế.
Thế
Tôn đối với Nữ Tôn Giả Ma-Ha Ba-Xà-Ba-Đề.
Nữ
Tôn giả Ma-ha Ba-xà-ba-đề vốn là mẹ nuôi của Thế Tôn,
về sau, nữ Tôn giả cùng với năm trăm Thích-ca nữ xin xuất
gia. Thế Tôn xét theo sự khẩn cầu của Tôn giả A-nan, chấp
thuận cho xuất gia với điều kiện chấp nhận Bát Kỉnh Pháp.
Đức
Phật thuyết pháp cho nữ Tôn giả nghe. Sau một thời gian tinh
cần tu tập, nữ Tôn giả đắc A-la-hán. Năm trăm Tỷ-kheo-ni
thì đắc sáu Thánh trí, sau khi nghe Tôn giả Nandaka giáo giới
(do Thế Tôn cử). Thế Tôn đã tuyên bố Tôn giả là người
có kinh nghiệm đệ nhất của Ni chúng, sống được hạnh
phúc giải thoát, Niết-bàn.
Trong
lời tuyên bố chứng ngộ của tự thân, nữ Tôn giả đã
hết lòng cung kính và tán thán hạnh đức của Thế Tôn (Trưởng
Lão Ni Kệ).
Thế
Tôn đối với Các Nữ Tôn Giả Khác
Thế
Tôn đã tuyên bố và tán dương hạnh bậc nhất của một
số nữ Tôn giả (như đã trình bày ở phần trước). Một
số nữ xuất gia, Thế Tôn thu nhận, hoặc các đại đệ tử
của Thế Tôn giới thiệu và chuyển qua Ni chúng, dưới sự
hướng dẫn của Tôn giả Ma-ha Ba-xà-ba-đề. Một số lớn
do chính các nữ Tôn giả tế độ.
Các
nữ Tôn giả có hạnh bậc nhất đều là các vị có đại
tuệ, đã đắc quả A-la-hán.
- Trường
hợp Vimalà và Ambapàli là hai kỹ nữ về sau đắc A-la-hán
(Trưởng Lão Ni Kệ).
- Trường
hợp Kisàgotamì là một cô gái nhà nghèo, có gia đình và bị
khinh thường, sức khỏe kém. Khi nàng có con thì được gia
đình chồng kính trọng. Đứa con vừa biết chạy thì chết.
Nàng đau khổ ôm xác con đến tịnh xá Thế Tôn xin thuốc
cải tử hoàn sinh. Thế Tôn thấy căn cơ nàng đã đến thời
điểm nhập đạo liền dạy: "Hãy đi đến nhà nào không có
người chết (chưa từng có người chết) xin về đây một
hột cải, Thế Tôn sẽ giúp cho nàng". Sau đó, nàng tỉnh ngộ,
biết là Thế Tôn dạy khéo nàng, nên nàng đem con vào nghĩa
địa, rồi xin Thế Tôn xuất gia. Thế Tôn dạy:
Tâm
ai bị đắm say,
Con
cái và súc vật,
Tử
thần bắt người ấy,
Như
lụt trôi làng ngủ. -- (Dhp 287).
Nàng
liền đắc Pháp nhãn ngay tại chỗ (Trưởng Lão Ni Kệ).
- Nữ
Tôn giả Khemà, thuộc hoàng tộc ở Ma-kiệt-đà, có nhan sắc
tuyệt trần, là hoàng hậu của vua Tần-bà-sa-la. Khi Thế Tôn
ở tại Trúc Lâm, nàng cùng các người hầu cận đến hầu
Thế Tôn. Thế Tôn hóa hiện một tiên nữ đẹp hơn cả nàng,
đứng hầu quạt Thế Tôn. Trước mắt nàng, tiên nữ bỗng
trở nên già sụm rồi ngã xuống đất, khiến nàng thức tỉnh,
tiêu tan tất cả kiêu mạn về nhan sắc của mình. Bấy giờ
Thế Tôn dạy:
"Người
đắm say các dục,
Như
nhện sa lưới dệt,
Bỏ
mọi khổ không màng,
Tự
lao mình xuống dòng,
Người
trí cắt trừ nó". -- (Dhp. 347).
Nàng
chứng đắc A-la-hán ngay tại chỗ rồi mới xuất gia.
- Nữ
Tôn giả Dhammadinnà là vợ của một người có địa vị trong
xã hội, ông Visàkhà. Khi Visàkhà nghe Thế Tôn dạy, liền
đắc A-na-hàm và xuất gia. Nàng cũng xin xuất gia nhập thất,
không bao lâu liền đắc A-la-hán, quả vị cao hơn cả Visàkhà
(người chồng cũ). Nữ Tôn giả là vị Ni thuyết pháp giỏi
nhất (Trưởng Lão Ni Kệ, và Trung Bộ I).
- Nữ
Tôn giả Patàcàrà vốn con nhà giàu, về sau lập gia đình
với chàng trai giúp việc và trốn nhà ra đi. Đến lúc sinh
được hai con (trong một điều kiện rất khổ) thì chồng
bị rắn cắn chết, một đứa con bị diều tha, một đứa
con bị nước cuốn trôi, cha mẹ và các em bị chết trong cùng
một đêm bão tố. Quá đau khổ, nàng bị điên. Trên đường
điên loạn, nàng gặp Thế Tôn và hồi tỉnh. Thế Tôn thuyết
pháp tế độ nàng. Về sau nàng đắc A-la-hán quả và thuyết
pháp độ được năm trăm vị Ni khác cũng đắc quả (Trưởng
Lão Ni Kệ).
Trên
đây chỉ là một số trường hợp điển hình. Thế Tôn cho
phép thành lập đoàn thể nữ giới đầu tiên trong lịch sử
nhân loại. Xác nhận nữ giới đồng đẳng với nam giới
về mặt chứng đắc giải thoát, có khả năng đắc A-la-hán
quả, đoạn tận vô minh. Đây là tiếng nói của nhân bản,
dân chủ, bình đẳng nhất và sớm nhất trần gian, giải phóng
nữ giới ra khỏi vòng ràng buộc và tối tăm của cuộc sống,
bị đè nặng bởi các văn hóa chậm tiến.
Thế
Tôn đối với Các Nữ Cư Sĩ và Nam Cư Sĩ