THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học   Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn  Index Tác-Giả

 
 
 
 
 
c
GIẢNG KINH LĂNG NGHIÊM
Hoà Thượng Thích Duy Lực
Thích Đồng Thường Lập Thành Văn Tự
ML
01
02
03
04
05
06
07
08
09
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
Chánh văn:

-Chư Phật trong quá khứ hằng sa kiếp đều nhờ pháp môn này mà khai ngộ, thành đạo Vô Thượng. Nếu dứt được thức ấm rồi thì lục căn của các ngươi hỗ dụng lẫn nhau, do hỗ dụng này được vào cấp bậc Kim Cang Càn Huệ Bồ Tát, ở trong đó phát khởi chơn trí, trong suốt như mặt trăng ở trong ngọc lưu ly, từ đó cho đến siêu việt thập tín, thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng, tứ gia hạnh và Kim Cang thập địa, Đẳng Giác viên minh vào trong biển Diệu Trang Nghiêm của Như Lai, Bồ Đề viên mãn, quy về Vô Sở Đắc. 

-Đây là những ma vi tế trong lúc tu tập thiền định mà chư Phật đã giác ngộ từ đời quá khứ, cảnh ma hiện tiền, các ngươi nhận biết được liền tẩy trừ tâm cấu nhiễm của mình, chẳng lọt vào tà kiến, thì ấm ma tiêu diệt, thiên ma vỡ nát, đại lực quỷ thần hoảng sợ chạy trốn. Các loại yêu tinh ly mî chẳng còn sanh ra, những căn hạ liệt cũng được tinh tấn, tâm chẳng mê lầm nơi Đại Niết Bàn, thẳng đến Bồ Đề, chẳng gì thiếu sót. 

-Nếu các chúng sanh ngu độn trong đời mạt pháp chưa hiểu Thiền Na, chẳng biết Phật pháp mà ưa tu tam muội, e họ mắc phải tà kiến, nên một lòng khuyên họ trì chú Phật Đảnh Đà La Ni của ta; nếu chưa thể tụng trì, thì viết nơi thiền đường, hoặc đeo trong thân, như thế, tất cả tà ma đều chẳng động đến được. Ngươi nên kính vâng lời dạy sau cùng về đường tu rốt ráo của mười phương Như Lai. 

A Nan nghe Phật dạy bảo, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ kính vâng, ghi nhớ chẳng sót, lại bạch Phật rằng: 

-Như lời Phật dạy, trong tướng ngũ ấm, năm thứ hư vọng vốn là bản tâm, chúng con bình thường chưa được Như Lai khai thị tỷ mỷ như thế. Lại ngũ ấm này là tiêu trừ một lượt hay theo thứ lớp mà diệt trừ? Năm lớp này đến đâu là bờ bến? Xin Như Lai phát lòng đại từ, khiến tâm và mắt của đại chúng được trong sáng, và làm đạo nhãn tương lai cho tất cả chúng sanh trong đời mạt pháp. 

Phật bảo A Nan: 

-Diệu tâm sáng tỏ, bổn giác trong sạch, vốn chẳng có sanh tử và những trần cấu, tất cả chúng sanh, cho đến hư không, đều do vọng tưởng mà sanh khởi. Cái bổn giác vốn sáng tỏ trong sạch này, vọng sanh các tướng thế gian, như Diễn Nhã Đạt Đa mê đầu nhận bóng. Vọng vốn chẳng nhân, lại nơi vọng tưởng lập tánh nhân duyên, kẻ mê nhân duyên cho là tự nhiên, thật ra, tánh hư không còn là huyễn hóa, nhân duyên và tự nhiên đều do vọng tâm của chúng sanh tạo thành. 

-A Nan, biết chỗ vọng khởi, thì nói vọng duyên, nếu vọng vốn không, thì các vọng nhân duyên vốn chẳng thể có, huống là chẳng biết lại cho là tự nhiên. Vì thế, Như Lai phát minh: Bản nhân của ngũ ấm đều là vọng tưởng. 

-Thân ngươi trước tiên, do niệm tưởng của cha mẹ sanh ra, tâm ngươi nếu chẳng có niệm tưởng thì chẳng thể đến hợp với tưởng của cha mẹ mà thọ sanh. Như trước ta đã nói, tưởng tượng vị chua thì tiết ra nước miếng, tưởng tượng leo dốc thì lòng bàn chân ghê rợn, dốc cao chẳng có, vật chua chưa đến, thân ngươi nếu chẳng cùng loại với hư vọng thì làm sao nghe nói chua lại tiết ra nước miếng? Nên biết sắc thân hiện tiền của ngươi, gọi là Kiên Cố Vọng Tưởng thứ nhất. 

Như trên đã nói, tưởng tượng leo dốc thì khiến thân thật chịu ghê rợn; vì cái nhân niệm tưởng cảm thọ, lay động sắc thân, nay trước mắt ngươi ham thuận chán nghịch, hai hiện tượng này giao tranh với nhau, gọi là Hư Minh Vọng Tưởng thứ hai. 

-Bởi do niệm tưởng sai khiến sắc thân; nếu sắc thân với niệm tưởng chẳng cùng loại, thì tại sao thân ngươi lại theo niệm tưởng sai khiến? Đủ thứ hiện tượng tương ưng với niệm tưởng, hễ tâm sanh thì thân nhận, lúc thức là niệm tưởng, lúc ngủ thành chiêm bao. Vậy thì niệm tưởng của ngươi lay động vọng tình, gọi là Dung Thông Vọng Tưởng thứ ba. 

-Lý tạo hóa chẳng ngừng, âm thầm dời đổi, móng dài, tóc mọc, sức mòn, hình nhăn, ngày đêm thay đổi mà không hề hay biết. 

-A Nan, ấy nếu chẳng phải là ngươi, thì tại sao thân ngươi lại dời đổi? Nếu ắt phải là ngươi, thì sao ngươi lại chẳng hay biết? Vậy thì, hành ấm của ngươi niệm niệm chẳng ngừng, gọi là U Ẩn Vọng Tưởng thứ tư. 

-Lại, chỗ tánh thức trong lặng chẳng lay động của ngươi, cho là thường còn ấy, ở nơi thân ngươi chẳng ra ngoài Kiến, Văn, Giác, Tri, nếu cho là chơn thật, thì chẳng thể huân tập sự vọng, tại sao các ngươi đã từng xem một vật lạ từ năm xưa, trải qua nhiều năm, nhớ quên chẳng còn; về sau bỗng thấy vật lạ đó, thì nhớ lại rõ ràng, chưa từng lạc mất? 

-Vậy nơi tánh thức trong lặng chẳng lay động này, đâu có suy tính, mà niệm niệm chịu sự huân tập! A Nan nên biết, tánh trong lặng này chẳng thật, như dòng nước chảy gấp, trông như tịch lặng, ấy là vì chảy gấp mà chẳng thấy, chứ chẳng phải không chảy; nếu chẳng phải là cội gốc của niệm tưởng, thì đâu thể huân tập sự vọng? Nếu lục căn chưa được hỗ dụng tự tại, thì vọng tưởng này chẳng bao giờ diệt trừ được. 

-Vậy nên hiện nay cái Kiến, Văn, Giác, Tri của ngươi, hòa hợp với tập khí vi tế, thành mường tượng hư vô nơi tánh Trạm Liễu, gọi là tướng vi tế của Điên Đảo Vọng Tưởng thứ năm. 

-A Nan! Ngũ ấm này do năm thứ vọng tưởng kể trên mà thành. 

-Nay ngươi muốn biết bờ bến sâu cạn, thì Sắc với Không là bờ bến của Sắc Ấm; Xúc với Lìa là bờ bến của Thọ Ấm; Nhớ với Quên là bờ bến của Tưởng Ấm, Diệt với Sanh là bờ bến của Hành Ấm; Trạm nhập hợp Trạm, là bờ bến của Thức Ấm. 

Giảng giải:

Chư Phật quá khứ hằng sa kiếp đều nhờ pháp môn này mà khai ngộ, thành đạo vô thượng (pháp Tổ Sư thiền là giáo ngoại biệt truyền không có trong này). Nếu dứt được thức ấm thì lục căn các ngươi được hỗ dụng lẫn nhau.

Như Quán Thế Âm, âm là âm thanh dùng nghe mới phải, lại dùng quán (xem), tức là dùng mắt để nghe, gọi là lục căn hỗ dụng. Trương Bảo Thắng dùng ý niệm xem và một cô gái dùng tai nhìn chữ. Nếu mình tu đến mức nào thì dụng tự tánh hiện lên mức ấy, là mắt có thể nghe, tai có thể thấy. Lục căn không phải 6 thứ, mà chỉ một thứ. Vì chấp thật nên mắt thấy, tai nghe; đến chừng tu đắc đạo thì tai thấy mắt nghe, lục căn hỗ dụng lẫn nhau.

 Do hỗ dụng này được vào cấp bậc Kim Cang Càng Huệ Bồ Tát, ở trong đó phát khởi chơn khí (chơn khí này là trong tâm mình có sẵn, nhưng do tu hành khi dứt tập khí rồi thì nó tự phát khởi lên), trong suốt như mặt trăng ở trong ngọc lưu ly (đáng lẽ không hình tướng, nhưng dùng lời nói để diễn tả cho mình tin phần nào), từ đó cho đến siêu việt Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Tứ Gia Hạnh và Thập Địa.

Thập Tín có 10 cấp, Thập Trụ có 10 cấp, Thập Hạnh có 10 cấp, Thập Hồi Hướng có 10 cấp, Thập Địa có 10 cấp, Tứ Gia Hạnh có 4 cấp và Càn Huệ, Đẳng Giác, Diệu Giác, tổng cộng là 57 cấp. Như các kinh khác thông thường chỉ có 52 cấp.

Đẳng Giác viên minh, vào trong biển diệu trang nghiêm của Như Lai, viên mãn Bồ Đề quy về vô sở đắc. 

Tại sao chứng Diệu Giác mà vô sở đắc? Vì tất cả đều sẵn có. Mặc dầu, mình là chúng sanh, nhưng đã sẵn có tất cả thần thông trí huệ bằng như chư Phật, không kém một chút nào cả. Cho nên nói: “Hiện hành vô minh của chúng sanh, tức là bất động trí của chư Phật”. Người ta nói: Vậy khó hiểu quá! Bây giờ mình đang hiện hành vô minh, mà nói là bất động trí của chư Phật, làm sao chứng tỏ? Một Thiền sư nói: Dễ chứng tỏ lắm! Lúc ấy chú tiểu đang quét nhà, Thiền sư gọi chú tiểu, chú tiểu ngó lại.

Thiền sư nói: Bất động trí đó!

Rồi hỏi: Thế nào là Phật tánh?

Chú tiểu ngơ ngác, ngó qua ngó lại rồi bỏ đi.

Thiền sư nói: Hiện hành vô minh đó!

Đến chừng mình ngộ thì biết, bây giờ vô minh hiện hành, nhưng bất động trí không mất. Cho nên, chứng tới viên mãn cũng là vô sở đắc, tức là không có đắc cái gì, vì mình sẵn có. Vì thế, mình tu đến mức nào thì hiện cái dụng mức đó.

Hỏi: 

Dụng của tự tánh khác với phản xạ như thế nào?

Đáp:

Phản xạ khác dụng của tự tánh, như gió bay bụi thì tự nhiên có phản xạ làm con mắt nhắm lại rất mau, như tay mình đụng đến chỗ nóng thì tự nhiên rút lại. Ấy không phải tự tánh là dụng của tự tánh.

Tất cả phản xạ đều là dụng của tự tánh, như mình đang nói chuyện là dụng của tự tánh; tức lục căn là dụng của tự tánh. Tất cả không ngoài tự tánh, nên nói là bất nhị. Thể của tự tánh khắp không gian thời gian. Như những hạt nguyên tử của cái bàn đang xoay là dụng của tự tánh, cũng là tâm tạo thành.

Loài cây bắt động vật để ăn thịt, tưởng là hữu tình; sau biết là vô tình, như cái máy không có tình cảm. Tôi dùng thẻ đưa vào máy điện toán, nó hỏi tôi bỏ vô hay rút ra? Tôi nói rút ra, nó hỏi rút bao nhiêu? Tôi nói rút 20 thì nó đếm 20, tôi rút 100 thì nó đếm 100. Nó biết đếm biết nhớ, cho biên nhận nói tôi trước kia có 1.000, rút hết 100 còn 900. 

Không thể nói cái máy là hữu tình được! Vì làm nhiều việc hơn loài cây ăn động vật. Nhưng không có tình cảm, chỉ là cái máy. Cây ăn động vật, giống như cái máy không có tình cảm. Bây giờ máy điện toán chứng tỏ rõ ràng.

Hỏi:

Người đàn bà có tài giác quan thứ 6, việc ấy phải là tự tánh không?

Đáp:

Giác quan thứ 6 thì người nào cũng có, chỉ là không hiện ra thôi; không những là giác quan thứ 6, mà giác quan thứ 7, thứ 8 thứ 9, vô lượng vô biên, vì siêu việt số lượng. Nhà khoa học có ngũ căn và giác quan thứ 6, thứ 7 thì ở trong số lượng. 

Nhưng vô lượng vô biên mà máy điện toán chứng tỏ được, không cần Trương Bảo Thắng chứng tỏ. Nhà khoa học chỉ lấy một bộ phận của bộ óc để tạo ra cái máy điện toán.

Hỏi:

Có sự quyết định điều gì thì ấy có phải tự tánh không?

Đáp:

Bất cứ cái gì không ngoài tự tánh, nhưng qua bộ óc thì chia làm 3 tánh: Thiện, ác và vô ký (không thiện, không ác), đó là do bộ óc chủ trương. Nhưng phải có tự tánh mới chủ trương được, nguồn gốc là tự tánh, nhưng qua bộ óc thì mỗi người mỗi khác. 

Tự tánh không khác, như tự tánh ánh sáng của mỗi cây đèn không khác; bao nhiêu cây đèn đều cùng chung một ánh sáng, nhưng mỗi cây đèn đều khác. Cây đèn này với cây đèn kia thắp ra ánh sáng khác nhau, nhưng chung một ánh sáng không khác. Không thể chỉ ra ánh sáng này thuộc cây đèn này, ánh sáng kia thuộc cây đèn kia.

Hỏi: 

Linh tánh có phải tự tánh không?

Đáp: 

Linh tánh không phải tự tánh, nhưng đều do tự tánh mới có thể dùng ra mới thấy được, tức là qua bộ óc có đủ sai biệt, nếu không qua bộ óc thì bất nhị không có sai biệt.

-Phản xạ là dụng của tự tánh, nhưng dụng nhất thời phải không?

-Dụng tự tánh hiện hành không qua bộ óc, gọi là Bát Nhã. Bây giờ, dụng tự tánh không hiện hành mà phải qua nghiệp cảm của mỗi người có trí ngu khác nhau. Nhưng nguồn gốc là tự tánh, khi qua bộ óc suy tư cho là cái này đúng cái kia sai. Tự tánh không có đúng sai, không có tương đối.

Hỏi:

Những người lái xe chạy nhanh lòn lách rất hay, việc ấy có phải tự tánh không?

Đáp:

Việc ấy là hiện ra dụng của tự tánh, ở Việt Nam cũng có người làm được; lúc đang tham thiền phát khởi nghi tình không thấy xe cộ, nhưng tránh được ổ gà và cục đá lớn trên đường, nhưng họ không biết.

Hỏi:

Trường hợp nào có nghi tình và không nghi tình?

Đáp:

Biết có nghi tình tức không có nghi tình, vì nghi tình là không hiểu không biết; nếu đã biết thì không phải nghi tình, biết là có ý niệm nổi lên. Thoại đầu là chưa có ý niệm nổi lên, biết là nhờ ý niệm mới biết được; nếu không có ý niệm nổi lên, lấy cái gì để biết?

Có nghi tình là hoàn toàn không biết mới gọi là tham thiền. Nếu biết mình tiến bộ, biết có nghi tình thì không phải nghi tình. Bây giờ, nhiều người niệm thoại đầu, tức là tham thoại vỉ; tự cho không biết, nhưng sự thật là biết. Vì lấy câu thoại làm mục tiêu, chứ không phải lấy thoại đầu làm mục tiêu. Thoại đầu là chỗ chưa có niệm, còn câu thoại thì có niệm. Cho nên, ngài Hư Vân nói: Tham thoại vỉ chứ không phải tham thoại đầu.

Những người có tập khí nặng khó khởi nghi tình, nên tôi nói “phải nhìn”; tức là vừa nhìn vừa hỏi dễ giữ được nghi tình. Nếu hỏi hình như có, mới hỏi dứt thì hết, giữ nghi tình không được lâu; còn nhìn được thì giữ nghi tình kéo dài. Mình đừng biết tới, cứ dùng công phu tinh tấn cũng tham, không tinh tấn cũng tham, biết cũng tham không biết cũng tham; đừng dùng 2 chữ “cho là”, nếu dùng 2 chữ “cho là” tức có ý niệm nổi lên thì không phải thoại đầu.

Nếu mình cho là làm sao thì không đúng, thuộc về vọng tưởng, hay cho là chân lý đúng theo lời Phật nói cũng là vọng tưởng, vì có cho là.

Hỏi:

Có phải mình dùng kiến tinh để khán không?

Đáp:

Phải dùng kiến tinh để khán, chứ không phải dùng con mắt để khán; bởi vì con mắt sau này chết biến thành tro biến thành đất, còn kiến tinh không thể biến thành tro biến thành đất. Kiến tinh tồn tại vĩnh viển là dụng của tự tánh. Công phu mình đến mức nào thì hiện ra cái dụng mức ấy.

-Đây là những ma sự vi tế trong lúc tu tập thiền định mà chư Phật đã giác ngộ từ đời quá khứ, cảnh ma hiện tiền, các ngươi nhận biết được liền tẩy trừ tâm cấu nhiễm của mình, chẳng lọt vào tà kiến thì ấm ma tiêu diệt, thiên ma vở nát, đại lực quỷ thần hoảng sợ chạy trốn. Các loài yêu tinh ly mỵ chẳng còn sanh ra, những căn hạ liệt cũng được tinh tấn, tâm chẳng mê lầm nơi Đại Niết Bàn, thẳng đến Bồ Đề, chẳng gì thiếu sót.

Trong Giáo môn có nói 50 thứ ma ngũ ấm, nếu mình biết thì đừng để ý tới thì ma không có thể làm gì được, nếu chấp thật là lọt vào tà.

-Nếu các chúng sanh ngu độn trong đời mạt pháp chưa hiểu thiền na.

Thiền na thuộc về trung quán là không nghiêng bên có, cũng không nghiêng bên không, không nghiêng bên động, cũng không nghiêng bên tịnh; có người cho là có, cho là không, đều không phải là thiền na.

Chẳng biết Phật pháp là ưa tu tam muội, e họ mắc phải tà kiến nên một lòng khuyên họ trì chú Phật đảnh đà la Ni của ta ( chú Lăng Nghiêm dịch là thuần trắng chẳng ô nhiễm, mỗi sáng chùa hay tụng).

Nếu chưa thể tụng trì thì viết nơi thiền đường, hoặc đeo trong thân, như thế, tất cả tà ma đều chẳng động đến được, ngươi nên kính vâng lời dạy sau cùng về đường tu rốt ráo của mười phương Như Lai.

Trong kinh nói vậy, nhưng nhiều người chấp thật, tưởng chỉ cần đeo chú Lăng Nghiêm trong mình. Nhưng trong này nói: “Chính mình phải giữ giới trong sạch, việc ấy là điều thứ nhất thì chú mới có công hiệu”. Nếu mình phá giới làm bậy bạ thì chú đó có treo nhiều chỗ cũng không công hiệu, cho đến mình tụng cũng không công hiệu.

Hỏi:

Nếu giữ giới đàng hoàng thì khỏi cần trì chú phải không?

Đáp:

Phải rồi, trong Hư Vân Niên Phổ nói: Có một con mãng xà độc, 500 vị A La Hán dùng thần thông đuổi không đi. Một Tăng giữ giới trong sạch nói với mãng xà rằng: “Xin ngươi rời khỏi chỗ này” thì nó liền đi khỏi, vị Tăng không dùng thần thông.

Hỏi:

Việc cầu mưa xuống, vậy có thật không?

Đáp:

Có thật, việc đó ngoại đạo tà ma làm được, trong này ma ngũ ấm có nhiều thần thông rất hay. Bây giờ, có người được một chút thần thông cho là kiến tánh, so với ma thì người đó còn kém nhiều không bằng ma. Cho nên, Thiền tông không chú trọng thần thông, vì thần thông ai cũng sẵn có, chỉ cần tu đúng thì nó hiện.
 

-A Nan nghe lời Phật dạy bảo, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ kính vâng, ghi nhớ chẳng sót, lại bạch Phật rằng:

-Như lời Phật nói, trong tướng ngũ ấm, năm thứ hư vọng vốn là bản tâm, chúng con bình thường chưa được Như Lai khai thị tỷ mỷ như thế. Lại ngũ ấm này tiêu trừ một lượt hay theo thứ tự mà diệt trừ? Năm lớp này đến đâu là bờ bến? Xin Như Lai phát lòng đại từ, khiến tâm và mắt của đại chúng được trong sáng, và làm đạo nhãn tương lai cho tất cả chúng sanh trong đời mạt pháp.

Phật bảo A Nan:

-Diệu tâm sáng tỏ bổn giác trong sạch, vốn chẳng có sanh tử và những trần cấu.

Cha mẹ sanh ra là sanh, sau này già hay gặp tai nạn chết gọi là chết, nhưng Phật ở đây nói không sanh tử. Diệu tâm (Phật tánh) sáng tỏ, cũng là bổn giác trong sạch không vướng mắc sanh tử, thiện ác, có hay không, vì sanh tử là ô nhiễm. Cho nên, gọi là bổn giác trong sạch.

Tất cả chúng sanh, cho đến hư  không đều do vọng tưởng mà sanh khởi.

Vũ trụ vạn vật, đất đai, mặt trăng, mặt trời,… cho đến hư không đều do vọng tâm tạo ra, gọi là vọng tưởng sanh khởi. Thiền tông nói: “Kiến tánh là đập bể hư không”, thì khái niệm không gian bị tẩy sạch. Không gian, thời gian, số lượng đều là vọng tưởng. Đến chừng kiến tánh triệt để, tập khí sạch thì vọng tưởng không có, gọi là đập bể hư không; tức là khái niệm không gian, thời gian và số lượng đều tiêu mất, lúc ấy được tự do tự tại.

Bây giờ, mình bị 3 khái niệm này trói buộc, không rời khỏi 3 khái niệm. Như tôi ngồi đây là chiếm chỗ không gian, tôi 72 tuổi, 72 là số lượng, tuổi là thời gian; 3 khái niệm này rút ra thì tôi làm sao ngồi đây được! Sự thật chỉ là 3 khái niệm vọng tưởng, chứ không có cái gì thật tế; nhưng ai cũng chấp 3 khái niệm này, thành ra mới có đủ thứ phiền não. Vì vậy, Phật ở đây  nói trắng cho mình biết. 

Cái bổn giác vốn sáng tỏ trong sạch này, vọng sanh các tướng thế gian (các tướng thế gian đều do vọng tưởng, nhưng vọng tưởng cũng từ bổn giác sáng tỏ mà sanh khởi), như Diễn Nhã Đạt Đa mê đầu nhận bóng (Diễn Nhã Đạt Đa sáng thức dậy, soi gương thấy đầu mình đẹp quá tự mình không biết, tưởng là yêu mỵ, rồi tự phát điên bỏ chạy).

Vọng vốn chẳng nhân, lại nơi vọng lập tánh nhân duyên.

Vọng không có nhân, tại sao? Nếu có nhân thì không được gọi là vọng. Câu này Phật trả lời câu hỏi của Phú Lâu Na. Nhưng các Pháp sư Giáo môn thuyết pháp đều nói là nhân duyên, chấp nhân duyên là thật. Nhưng nhân duyên cũng là do vọng tưởng sanh ra không thật.

Kẻ mê nhân duyên cho là nhân duyên, thật ra tánh hư không còn là huyễn hóa, nhân duyên và tự nhiên của chúng sanh tạo thành cũng là huyễn hóa (cho nên nhất thiết duy tâm tạo).

A Nan, biết chỗ vọng khởi thì nói chỗ vọng duyên, nếu vọng vốn không thì các vọng nhân duyên vốn chẳng thể có, huống là chẳng biết lại cho là tự nhiên. Vì thế, Như Lai phát minh: Bản nhân của ngũ ấm đều là vọng tưởng.

Bây giờ, mình chấp thân ngũ ấm là thật, nên phải chịu đủ thứ phiền não đau khổ, cũng là tại mình, chứ không phải tại ai, không có ai cho mình.

Hỏi:

Có người Mỹ nói rằng: Chúng ta có nhà cao để ở, có xe tốt để đi, sao lại nói là không thật? 

Đáp:

Họ được hưởng những thứ đó, là kiếp trước họ đã tạo ra cái nhân. Như bây giờ họ đem hoa cúng dường Phật thì họ được sắc đẹp, bố thí cho người khác thì một được một; cúng dường Tam Bảo thì một được nhiều, như một hạt lúa làm nhân sanh ra nhiều hạt lúa. 

Theo nhân quả thì tự mình phát tâm đem tiền của đến chùa, cúng dường cho tu sĩ  đạo đức tốt có hoằng pháp sẽ được quả phước, thí dụ quả là 1 triệu độ. Còn kêu gọi mà phát tâm để người đến lấy tiền ấy, sau này người kêu gọi phát tâm cũng được quả 1 triệu độ, nhưng phải đi tìm mới có, chứ không phải tự nhiên có. Nhưng tự mình cúng dường thì phước báo tự đến, chứ không đi tìm. 

Người có nhà lầu xe hơi đều là nhân quá khứ, người ấy hưởng nhà lầu  xe hơi, rồi còn hoài không! Già bịnh rồi chết, nhà lầu xe hơi rồi đổi chủ khác. Thân này đã không còn thì không phải huyễn là gì? Nó chỉ tạm thời tồn tại một thời gian là huyễn chứ không phải vĩnh viễn. 

Phật tánh vĩnh viễn không phải huyễn. Thân này là huyễn rồi sẽ chết, nhưng đang sống mặt mũi cũng thay đổi từng sát na. Từ nhỏ biến thành lớn, lớn biến thành già, già bịnh nhiều rồi chết. Nếu thân này là huyễn thì nhà lầu xe hơi cũng là huyễn. Nếu không có thân này làm sao hưởng nhà lầu xe hơi! Vậy tất cả đều là huyễn.

Như mấy hôm trước có 2 người dùng máy bay riêng của mình bay bị rớt xuống rồi chết, rớt xuống nhằm xe đi ngang làm cho người lái xe bị chết. Việc ấy là nghiệp nhân đã gieo từ kiếp trước. Đâu có ngờ, như vậy không phải huyễn hóa là gì? Họ đang hưởng, nhưng đến lúc chết  thì phải chịu chết. Không có cái nào vĩnh viễn được, chỉ có tu tự mình làm chủ; tức là tâm mình mới thật sự vĩnh viễn, những cái huyễn hóa thì tạm thời một thời gian.

-Thân ngươi trước tiên do niệm tưởng của cha mẹ sanh ra, tâm ngươi chẳng có niệm tưởng thì chẳng thể đến hợp với tưởng của cha mẹ mà thọ sanh. Như trước ta đã nói, tưởng tượng vị chua thì tiết ra nước miếng, tưởng tượng leo dốc thì lòng chân ghê rợn; dốc cao chẳng có, vật chua chưa đến thân ngươi nếu chẳng cùng loại với  hư  vọng thì làm sao nghe nói chua lại tiết ra nước miếng? Nên biết sắc thân hiện tiền của ngươi, gọi là  Kiên Cố Vọng Tưởng thứ nhất.

-Như trên đã nói tưởng tượng leo dốc thì khiến thân chịu ghê rợn, vì cái nhân niệm tưởng cảm thọ, lay động sắc thân, nay trước mắt ngươi ham thuận chán nghịch, hai hiện tượng này giao tranh với nhau, gọi là Hư Minh Vọng Tưởng thứ hai.

-Bởi do vọng tưởng sai khiến sắc thân, sắc thân với niệm tưởng chẳng cùng loại, thì sao thân ngươi lại theo niệm tưởng sai khiến? Đủ thứ hiện tượng, tương ứng với niệm tưởng hễ tâm sanh thì thân nhận, lúc thức là niệm tưởng, lúc ngủ là chiêm bao.

Chiêm bao do niệm tưởng biến hiện, độc đầu ý thức biến hiện là nhắm mắt chiêm bao, đồng thời ý thức biến hiện là mở mắt chiêm bao. Mình đang mở mắt chiêm bao, nhưng người ta không chịu nhìn nhận, chỉ cho nhắm mắt chiêm bao mới là chiêm bao. Tại sao?

Vì nhắm mắt chiêm bao, ngủ thẳng giấc thì thức dậy; thức dậy thì được tự chứng phần, chứng tỏ vừa rồi là chiêm bao.

Mở mắt chiêm bao không bao giờ tự thức, phải tham thiền mới tự thức; tham thiền đến chỗ kiến tánh được tự chứng phần, mới tin mở mắt chiêm bao cũng là chiêm bao. Chưa thức thì không tin, dù Phật giải thích có lý cũng không tin. 

Vậy thì niệm tưởng của ngươi lay động tình, gọi là Dung Thông Vọng Tưởng thứ ba. 

-Lý tạo hóa chẳng ngừng, âm thầm dời đổi, móng dài, tóc mọc, sức mòn, hình nhăn, ngày đêm thay đổi mà không hề hay biết. A Nan, ấy nếu chẳng phải là ngươi thì sao ngươi chẳng hay biết?

Bây giờ, mặt mũi của mình thay đổi mình chẳng hay, tóc mình đang dài mình không biết, nhưng nó đang thay đổi không có phút nào ngưng.

Hỏi:

Tại sao những người chết, móng tay và râu tóc vẫn cứ dài ra?

Đáp:

Vì còn chất dinh dưỡng trong cơ thể thì nó còn dài ra. Như ngài Huệ Trì là em của sơ tổ Tịnh Độ, nhập định hơn 700 năm, tóc ra dài quấn cả thân mình. Ngài không ăn uống, máu ngưng chảy, tim ngừng đập. Theo bác sĩ cho như vậy là chết rồi, nhưng người nhập định không phải chết. Người chết thì bộ óc phải hư trước, mấy cái khác cũng hư theo. 

Nhập định thì bộ óc ngưng làm việc mà không chết, nên khỏi cần chất dưỡng khí để cung cấp. Không cần ăn thì bao tử và ruột cũng không làm việc. Vì có chất dinh dưỡng làm cho máu lưu thông đến các bộ phận, chỗ nào cũng không cần thì máu ngưng chạy. Máu chạy là nhờ trái tim đập, nếu không cần nữa thì trái tim cũng ngưng. Tất cả đều ngưng, chỉ ngưng chứ không chết. Vì không chỗ nào hư, nên khi xuất định thì cơ thể trở lại bình thường. 

Hỏi:

Người ta nói: Lâm Tế tướng quân, Tào Động long vân, Vân Môn vương giả, ấy nghĩa là sao?

Đáp:

Đó là gia phong, nếu không kiến tánh, làm sao áp dụng được! Bây giờ môn phái nào cũng tham thoại đầu. Khi nhà Tống có Cảnh Đức Truyền Đăng Lục ra đời, thì các cơ xảo của Tổ sư, người ta xem biết hết; có đánh đập chửi mắng người ta biết là cơ xảo của thầy, thì không phát được nghi tình. Cho nên, chư Tổ mới bất đắc dĩ dạy tham thoại đầu. Hồi xưa đâu có cần tham thoại đầu, tham thoại đầu tức là mình đã biết tham thiền rồi.

Chư Tổ dùng cơ xảo làm cho mình tham thiền, nhưng không biết mình tham thiền. Ngài Lai Quả gọi là “vô tham mới là chân tham”, vô tham không phải không có tham, tức là mình tham thiền mà mình không biết mình tham thiền. Bước đầu tiên đã đến chân tham, bây giờ muốn đến chân tham phải trải qua thời gian lâu dài.

Như ngài Lâm Tế đi hỏi Phật pháp 3 lần đều bị đánh 3 lần rồi đuổi ra, thì tự nhiên phát nghi: Tại sao tôi hỏi Phật pháp lại bị đánh? Vậy lỗi ở chỗ nào? Tự mình nghi mà mình không biết mình nghi.

Hỏi:

Tại sao người tu Tịnh Độ cũng gọi là Lâm Tế chánh tông? Có đúng chánh tông Lâm Tế không?

Đáp:

Phải, họ đúng, vì họ cũng truyền pháp Quyển xuống từ đời từ đời, nhưng không tu thiền Lâm Tế. Ban đầu ngộ đạo được truyền tâm ấn, tức lấy tâm truyền tâm. Đến sau này không có kiến tánh, mà cũng có tham thiền, cũng có truyền pháp. 

Rồi sau này tu Tịnh Độ không có tham thiền, cũng truyền là dòng Lâm Tế, nhưng cũng còn có tu, sau này không có tu, ăn thịt uống rượu cũng truyền Lâm Tế. 

Lâm Tế là một phái của Tổ Sư thiền, qua đời Lục Tổ chia làm 5 phái. Phái Lâm Tế là lớn nhất, như tôi thuộc dòng Lâm Tế đời 58. 

Vậy thì hành ấm của ngươi niệm niệm chẳng ngừng, gọi là U Uẩn Vọng Tưởng thứ tư (do vọng tưởng ẩn mật làm cho thay đổi, cho nên gọi là U Aån Vọng Tưởng).

-Lại chỗ tánh thức trong lặng chẳng lay động của ngươi, cho là thường còn  ấy, ở nơi thân ngươi chẳng ra ngoài kiến, văn, giác, tri. Nếu cho là chơn thật thì chẳng thể huân tập sự vọng, tại sao các ngươi đã từng xem một vật lạ từ năm xưa trải qua nhiều  năm nhớ quên chẳng còn, về sau bỗng thấy vật lạ đó thì nhớ lại rõ ràng, chưa từng lạc mất?

Đây là nói thức ấm, thức là phân biệt. Nếu nói thức không lay động là chân thật thì không biến đổi, mà không thể huân tập, tức là không thêm bớt, như trtước kia thấy một vật lạ, đã cách nhiều năm quên mất, sau này bỗng nhớ lại cảnh cũ, tức là vẫn còn huân tập ở trong óc. Huân tập là vọng tưởng, nên chẳng ra ngoài kiến, văn, giác, tri; tất cả kiến, văn, giác, tri là do thức phân biệt. Nếu phá được thức ấm thì kiến tánh là chuyển thức thành trí.

Hỏi:

Am ma la thức là gì?

Đáp:

Am ma la thức là thức thứ 9, là bạch tịnh thức (như tờ giấy trắng) là bản thức không có nhiệm vụ gì, cũng là bản thể của thức chia ra làm 8 nhiệm vu. Như nhãn thức là nhiệm vụ phân biệt sự thấy, nhĩ thức là nhiệm vụ phân biệt sự nghe,… Mỗi thức đều có nhiệm vụ riêng.

-Vậy nên hiện nay cái kiến, văn, giác, tri của ngươi hòa hợp với tập khí vi tế, thành mường tượng hư vô nơi tánh Trạm Liễu, gọi là tướng vi tế của Điên Đảo Vọng Tưởng thứ năm.

 Thức có phân biệt đều là điên đảo, không đúng với sự thật, cho nên gọi là điên đảo vọng tưởng. Nếu thức thứ 8 chuyển thành Đại Viên Cảnh Trí, thì không còn phân biệt điên đảo.

-A Nan! Ngũ ấm này do 5 thứ vọng tưởng kể trên mà thành. Nay ngươi muốn biết bờ bến sâu cạn thì Sắc với Không là bờ bến của Sắc Ấm.

Có hư không mới để vật chất được, sắc là vật chất, không là trống rỗng. Nếu không có cái không thì không hiện ra cái sắc. Nếu không có cái sắc thì không thể tả cái không. Cho nên, sắc với không mới làm bờ bến của Sắc Ấm.

Hỏi:

Trong 5 ấm, tu dễ nhất là sắc và thọ, còn tưởng, hành, thức thì tu rất khó phải không?

Đáp:

Lấy thức để tu thì rất khó, sắc là vật chất có hình tướng có số lượng mình thấy được thì dễ tu. Từ sắc đến thọ đến tưởng đến hành đến thức, thức là khó tu nhất.

Xúc với lìa là bờ bến của Thọ Ấm (có cảm nhận nên gọi là thọ, vì có xúc mới biết được lạnh hay ấm, êm hoặc không êm, gọi là cảm thọ. Xúc rồi lìa mới biết có xúc. Cho nên, xúc với lìa là bờ bến của Thọ Aám).

Nhớ với quên là bờ bến của Tưởng Ấm (tưởng là suy nghĩ, suy nghĩ thì có nhớ với quên).

Diệt với sanh là bờ bến của Hành Ấm (vì thay đổi là sanh diệt, như tế bào của mình có cái sanh cái diệt, nên mặt mũi mình thay đổi, vậy sanh diệt là bờ bến của Hành Ấm).

Trạm nhập hợp trạm là bờ bến của Thức Ấm (nước trong lặng không có làn sóng gọi là trạm).

Lược giải:

Trước kia, A Nan hỏi về ngũ ấm đến đâu là bờ bến, ở đây Phật giải thích kỹ càng, có nguyên nhân có bờ bến, từ cạn vào sâu.

Sắc chẳng tự sắc, vì không hiển sắc, nên sắc với không là bờ bến của sắc ấm. Thọ chẳng tự thọ, vì xúc mới có thọ, nên xúc với lìa là bờ bến của thọ ấm, tưởng chẳng phải tưởng, vì ghi nhớ gọi là tưởng, nên nhớ với quên là bờ bến của tưởng ấm, hành chẳng phải hành, vì sanh diệt chẳng ngừng, gọi là hành, nên sanh với diệt là bờ bến của hành ấm, thức gọi là trạm liễu (trong lặng sáng suốt) là đã diệt sanh diệt, tánh thức nhập vào chỗ cội gốc trong lặng, mà hợp với trạm nhiên, có nhập có hợp, tức là bờ bến của thức ấm.

Vì trạm nhập là thức ấm, trạm xuất là hành ấm. Chơn tánh chẳng gọi trạm nhập, là vì cùng khắp pháp giới, nên chẳng có xuất nhập (chơn tánh là Phật tánh cũng là bản tâm của mình), nay trạm nhập dần dần đi vào cho đến vô sở nhập, tức đến chỗ chẳng sanh diệt vậy.

Đây là cách tu của Giáo môn, còn Thiền môn không phải vậy; thiền môn chỉ cần giữ nghi tình thì không có xuất nhập, giáo môn thì có xuất nhập. Đại định là na già định, tức chỗ nào cũng định, cho đến cầm dao kiếm ra trận cũng định (Pháp Bảo Đàn).

Chánh văn:

-Cội gốc của ngũ ấm từng lớp sanh khởi; sanh do thức mà có, diệt theo sắc mà trừ; Lý thì Đốn Ngộ, theo ngộ cùng tiêu. Sự chẳng thể bỗng diệt, phải dần dần mới được dứt sạch. 

-Ta đã khai thị cho ngươi về thắt kết của khăn bông, tại sao còn chẳng rõ mà lại hỏi nữa! Ngươi đối với cội gốc vọng tưởng này, nơi tâm được khai ngộ, rồi mới có thể truyền dạy cho người tu hành trong đời mạt pháp, khiến họ biết sự hư vọng, tự sanh nhàm chán, biết có Niết Bàn, chẳng lưu luyến tam giới. 

-A Nan! Nếu có người đem thất bảo chất đầy mười phương hư không để cúng dường vô số Phật, tâm chẳng buông lung, ý ngươi thế nào, người ấy do nhân duyên cúng dường Phật này, có được phước nhiều chăng? 

A Nan đáp rằng: 

-Hư không vô tận, thất bảo vô biên. Xưa kia có người cúng Phật bảy xu, còn được phước báo làm Chuyển Luân Vương, huống là dùng thất bảo đầy khắp hư không để cúng dường; thất bảo ấy suốt kiếp đếm mãi còn chẳng thể hết, làm sao phước ấy lại có bờ bến! 

Phật bảo A Nan: 

-Lời nói của chư Phật chẳng có hư vọng, nếu có người gây các tội Tứ Trọng (Sát, đạo, dâm, vọng), Thập Ba La Di, phải trải qua địa ngục A-Tỳ phương này phương kia, cho đến cùng tột các ngục A Tỳ mười phương trong sát na, chẳng nơi nào không trải qua, nếu người ấy dùng một niệm đem pháp môn này khai thị cho người sơ học trong đời mạt pháp, liền được tội chướng tiêu diệt, biến cái nhân khổ địa ngục thành cõi an lạc được phước siêu việt hơn người cúng dường trước kia gấp trăm ngàn lần, ngàn vạn ức lần như thế cho đến toán số thí dụ đều chẳng thể so bằng. 

Giảng giải:

-Cội gốc của ngũ ấm từng lớp sanh khởi, sanh do thức mà có, diệt theo sắc mà trừ, lý thì đốn ngộ, theo ngộ cùng tiêu, sự chẳng thể bỗng diệt, phải dần dần mới được dứt sạch.

Phàm phu tham Tổ Sư thiền, như ngài Lâm Tế và Mã Tổ ngộ một lần tới Đẳng Giác, khỏi qua năm mươi mấy cấp bậc, nhưng ngộ đó là cái lý, sự thì phải tiệm tiêu, tức là phải qua bảo nhậm mới dứt trừ tập khí dần dần. Như Lục Tổ ngộ rồi còn vô rừng ở chung với thợ săn 15 năm để dứt tập khí.

-Ta đã khai thị với ngươi về thắt kết của khăn bông, tại sao còn chẳng rõ mà hỏi nữa! Ngươi đối với cội gốc vọng tưởng này, nơi tâm được khai ngộ, rồi mới có thể truyền dạy cho người tu hành trong đời Mạt pháp, khiến họ biết sự hư vọng, tự sanh nhàm chán, biết có Niết Bàn, chẳng lưu luyến ba cõi.

Phật giảng xong, dặn các Bồ Tát và A La Hán, sau này theo lời Phật dạy cho chúng sanh biết có Niết Bàn, mà tất cả việc thế gian đều là hư vọng, sanh nhàm chán mới cầu pháp xuất thế gian, đừng lưu luyến tam giới. Tam giới là dục giới, sắc giới, vô sắc giới.

-A Nan! Nếu có người đem thất bảo chất đầy 10 phương hư không để cúng dường vô số Phật, tâm chẳng buông lung, ý ngươi thế nào, người ấy do nhân duyên cúng dường Phật này, có được phước nhiều chăng?

A Nan đáp rằng:

-Hư không vô tận, thất bảo vô biên. Xưa kia có người cúng Phật 7 xu còn được phước báo làm Chuyển Luân Vương, huống là dùng thất bảo đầy khắp hư không để cúng dường; thất bảo ấy suốt kiếp đếm mãi còn chẳng thể hết, làm sao phước ấy lại có bờ bến!

Phật muốn so sánh công đức hỏi A Nan: Có người chất thất bảo đầy hư không cúng dường Phật, thì được phước đức nhiều không?

A Nan đáp: Dùng thất bảo đầy khắp hư không để cúng dường thì phước bảo ấy tự nhiên rất nhiều.

Phật bảo A Nan:

-Lời nói của chư Phật chẳng có hư vọng, nếu có người gây tội Tứ Trọng, Thập Ba La Di, phải trải qua địa ngục  A Tỳ phương này phương kia, cho đến cùng tột các ngục A Tỳ mười phương trong sát na, chẳng nơi nào không trải qua. 

Tứ Trọng là giới của Tỳ Kheo gồm có: Sát, đạo, dâm, vọng, còn gọi là 4 Ba La Di hay là Tứ Khí. Thập Ba La Di là 10 thứ Ba La Di dịch là cực ác. Theo Tỳ Kheo phạm Tội Ba La Di thì phải đọa 9 triệu năm địa ngục. 

Nếu người ấy dùng một niệm đem pháp môn này, khai thị cho người sơ học trong đời mạt pháp, liền được tội chướng tiêu diệt, biến cái nhân khổ địa ngục thành cõi an lạc, được phước siêu việt hơn người cúng dường trước kia gấp trăm ngàn lần, ngàn vạn ức lần, như thế toán số thí dụ cũng chẳng thể tính đếm.

Người ta dễ hiểu lầm chỗ này, cho là chỉ cần đem pháp môn này ở trong đời mạt pháp để dạy người sơ học, thì phước đức hơn người đem thất bảo chất đầy hư không cúng dường Phật. Những người trước kia phạm Ba La Di phải đọa địa ngục mà không bị đọa lại được phước an lạc. Như vậy là dễ quá! Sự thật không phải như vậy. Cho nên tôi lược giải ở dưới đây.

Lược giải:

Đoạn trên nói về có người gây các tội Tứ Trọng, Thập Ba La Di phải đọa địa ngục A Tỳ. Nếu người ấy dùng một niệm đem pháp môn này, khai thị cho người đời mạt pháp thì liền được tội chướng tiêu diệt, biến cái khổ địa ngục thành cõi an lạc, như vậy công quả đâu có công bình, nếu thật có như thế thành không có nhân quả sao!

Chứng Đạo Ca nói:

Liễu rồi nghiệp chướng vốn là kkhông,

Chưa liễu nợ xưa đành phải trả.

Liễu này là liễu ngộ, tức là ở trong chiêm bao tự tiêu diệt, vì đã rời khỏi chiêm bao mở mắt thì nghiệp chướng trong chiêm bao tự tiêu diệt; do đã rời khỏi chiêm bao, thì nghiệp chướng trong chiêm bao đâu còn nữa! Nếu chưa liễu thì còn ở trong chiêm bao, phải chịu nghiệp báo trong chiêm bao không thể tiêu liền. 

Kinh nói dùng một niệm đem pháp môn này khai thị cho người sơ học trong đời mạt pháp liền được tiêu diệt, biến nhân khổ thành cõi an lạc, ấy là ám chỉ người liễu ngộ mới có thể liền tiêu nghiệp chướng, người không kiến tánh thì không thể được.

Y văn giải nghĩa tam thế Phật oan, độc giả  phải xem xét kỹ!

Chánh văn:

-A Nan! Nếu có chúng sanh hay tụng trì kinh này và chú này như ta đã nói, thì phước báo cùng tột số kiếp cũng chẳng thể hết; nếu nương theo lời dạy của ta mà tu hành, thì thẳng đến Bồ Đề chẳng còn nghiệp ma. 

Phật thuyết kinh này xong, các vị Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, tất cả cõi trời, người, A Tu La trong thế gian, với các vị Bồ Tát, Nhị Thừa, Thần tiên, đồng tử ở cõi khác, và đại lực quỷ thần mới phát tâm, đều rất vui mừng, đảnh lễ ra về. 

Giảng giải:

A Nan! Nếu có chúng sanh hay tụng trì kinh này và chú này như ta đã nói thì phước báo cùng tột số kiếp chẳng thể hết.

Kinh này và chú này làm sao có sức lực mạnh như thế? Sức lực là tâm mình, vì tất cả thần thông trí huệ, mình có sẵn đầy đủ bằng như tất cả chư Phật. Kinh và chú này là dạy mình tu để phát hiện cái mình sẵn có.

Khi phát hiện rồi gọi là kiến tánh thành Phật, thì tất cả năng lực được hiện ra, phước báo hưởng không hết, vì có vô cùng tận. Còn phước hữu vi lớn bao nhiêu, lâu ngày cũng hưởng hết. Như đem thất bảo chất đầy hư không cúng dường Phật, thì phước báo rất lớn, nhưng lâu ngày hưởng cũng phải hết. Phước của tự tánh sẵn có, hưởng không bao giờ hết, chỉ cần tham thiền phát hiện phước của tự tánh.

Nếu nương theo lời dạy của ta mà tu hành, thì thẳng đến Bồ Đề chẳng còn nghiệp ma.

Nếu theo lời Phật dạy phá ngã chấp thì không bị nghiệp ma. Như điều thứ 1 của Đường Lối Thực Hành Tham Tổ Sư Thiền là phá ngã chấp: “Vô sở đắc, vô sở cầu, vô sở sợ”; thực hành được 9 chữ này  thì phá được ngã chấp, nên ma không thể nhập.

Phật thuyết kinh này xong, các vị Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, tất cả cõi trời, người, a tu la trong thế gian với các vị Bồ Tát nhị thừa thần tiên, đồng tử ở cõi khác, và đại lực quỷ thần mới phát tâm đều rất vui mừng đảnh lễ ra về.

Ưu Bà Tắc là nam cư sĩ, Ưu Bà Di là nữ cư sĩ, là những người đã thọ tam quy ngũ giới. Thông thường nói lục đạo, không nói thần tiên, mà kinh Lăng Nghiêm nói có thất loại, tức là thất đạo luân hồi, thần tiên là tu theo ngoại đạo. 

Cho nên, trong chúng nghe pháp có một đạo thần tiên. Đồng tử là chú tiểu người tu chưa chứng quả. Chánh pháp và ngoại đạo đều có đồng tử, bây giờ người Việt mới xuất gia gọi là chú tiểu, người Hoa mới xuất gia đều kêu bằng thầy. 

Hỏi:

Ở Việt Nam, miền Bắc gọi Sư cụ, Sư ông, Sư bác. Miền Trung gọi là Ôn, Thầy. Những danh từ Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức mới có sau này. Như vậy có đúng không? Và đối với Phật Giáo Trung Hoa như thế nào?

Đáp:

Đúng, nếu theo giới luật thì không đúng. Như ở Việt Nam nói Hòa thượng là lớn nhất, rồi đến Thượng tọa, mới Đại đức. 

Vì giới Bồ Tát không phải là tận hình thọ, tức là khi đã thọ giới rồi, cho đến thành Phật thì giới không mất. Bởi vậy, người không được truyền giới, vì làm người phải chết. Như các vị Tỳ Kheo chết rồi thì mất Tỳ Kheo. Cho nên, thọ giới Bồ Tát phải mời Phật Thích Ca làm bổn sư, Di Lặc Bồ Tát làm yết ma, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát làm giáo thọ sư.

Trong giới luật nói: “Đại đức Thích Ca Mâu Ni, Đại đức Văn Thù Sư Lợi, Đại đức Di Lặc”, đều xưng là Đại đức. Vậy chứng tỏ Đại đức đâu nhỏ! Thượng tọa gồm có: Thượng tọa, Trung tọa, Hạ tọa. 

Thọ giới từ 1 năm cho đến 9 năm gọi là Hạ tọa. Thọ giới từ 10 năm đến 19 năm gọi là Trung tọa. Từ 20 năm trở lên gọi là Thượng tọa. Thọ giới Tỳ Kheo được 10 năm thì rời bổn sư, đi làm Hòa thượng để thu đệ tử xuất gia, theo giới luật mà biết, Hòa thượng lớn hơn Thượng tọa là  không đúng.

Thói quen người Hoa gọi người xuất gia đều là Hòa thượng, gọi chú tiểu là Tiểu Hòa thượng, người lớn là Hòa thượng.

Hỏi:

Thế nào là Nạp Tăng?

Đáp:

Vào thời Phật, ở Ấn Độ có điểu táng tức là đem người chết để vào một chỗ trên núi cho chim ăn. Chim ăn hết thịt còn lại quần áo, các vị tu sĩ đi lượm về khâu vá lại nhiều miếng thành quần áo để mặc, nên người ta gọi là bá nạp y, hay chỗ đống rác lượm về, gọi là phấn tảo y. Vì vậy tự xưng là Nạp Tăng.

Người thế gian cung kính tu sĩ thì tu sĩ phải chịu cực khổ. Nhưng bây giờ tu sĩ không chịu cực khổ, cho đến người ta còn cúng dường thuốc thơm. Theo giới luật tuy không cấm hút thuốc, nhưng theo ý giới luật thì cấm. Như giới luật không cấm cờ bạc, nhưng tu sĩ cờ bạc được không? Là không được, vì người thế gian phê bình.

Phàm điều gì thế gian phê bình, Phật đều cấm, Tại sao? Phật pháp muốn hoằng dương rộng khắp thế  gian, nếu người thế gian phản đối thì Phật pháp làm sao hoằng dương! Nếu tu sĩ phạm pháp luật của nhà nước cũng là phạm giới luật của nhà Phật. Tại sao? Vì Phật pháp đi đến nước nào thì chính phủ ấy hoan nghinh, do giữ pháp luật của nước đó. Để hoằng dương Phật pháp nên Phật mới chế ra giới  luật. 

Hỏi:

Phong tục an táng người chết của Ấn Độ là dùng củi để đốt người chết. Khi qua Trung Hoa làm ma chay tán lễ tán tụng là do Đạo Giáo, chứ không phải Phật Giáo. Như vậy như thế nào?

Đáp:

Làm tuần 49 ngày là do thân trung ấm, thiện và ác bằng nhau, chưa phân biệt được sanh đường lành hay sanh đường ác thì có thân trung ấm. Thân trung ấm 7 ngày có 1 lần sanh tử để đi đầu thai. Nếu lần thứ 1 đến lần thứ 6 chưa đi đầu thai được, thì quyết định lần thứ 7 đi đầu thai. 

Cho nên, Phật Giáo làm tuần tụng kinh cầu siêu, làm phước để ảnh hưởng đến thân trung ấm, nghiêng về thiện một chút, thì đi đầu thai vào 3 đường lành. Nếu giết heo bò để cúng thì chắc chắn thân trung ấm nghiêng về ác sanh vào 3 đường ác.

Hỏi:

Tham thiền có người thân chết phải làm thế nào?

Đáp:

Cứ vẫn tham thiền. Ở Việt Nam mời tôi đến linh cửu thuyết pháp, bà con thân quyến tựu lại nghe. Vì có người chết người ta dễ nghe, như có bức thư của Diêm La Vương để cảnh cáo; các người làm việc ở nhà mai táng cũng có đến nghe. Vì họ thấy lạ, tại sao người ta tụng kinh, mà cái này lại thuyết pháp, sau khi nghe rồi lại cũng có người lại chùa tìm tôi để học đạo, và các bạn đồng tham cùng nhau tham thiền.

Khỏi cần hồi hướng mà thân trung ấm cũng được hướng. Nếu có thân trung ấm thì nó thấy rõ ràng. Thân trung ấm biết tham thiền thì liền sanh thiện đạo. Chỉ tham thiền là tốt nhất, vì tâm lực của người tham thiền mạnh hơn những người không có tham thiền; sức lực nhiều người tham thiền hợp lại dễ ảnh hưởng người chết sửa lại tâm, được một chút thiện thì sanh về thiện đạo.

Vì nghiệp thiện ác bằng nhau, nên mới có thân trung ấm. Nếu phân biệt được nghiệp thiện ác nặng nhẹ thì chết đây kia sanh, phần nhiều không có thân trung ấm.

Những người đã chứng quả thì sanh tử tự do. Có một vị kiến tánh được tỉnh trưởng mời trụ trì Tòng Lâm, nhưng nhân duyên với ông tỉnh trưởng kiếp trtước có vấn đề gì, tỉnh trưởng hay kiếm chuyện khó dễ. Sư trụ trì viết thư cho đệ tử là một quan lớn rằng: Nhân duyên của tôi còn 6 năm ở nơi này, nhưng tôi muốn đầu thai nhà ông được không? Ông quan được thư lấy làm mừng, có ý hứa cho, chưa nói cho vợ biết. 

Có một đêm vợ quan mớ la lên: Chỗ này sư không đến được! Tức là thấy sư đó vô trong phòng.

Quan ấy hỏi vợ mình: Gì vậy?

Bà vợ nói: Tôi thấy một sư vô trong phòng. 

Rồi ông đốt đèn lấy thư đưa cho vợ coi, hai vợ chồng mới cười nhau. Rồi sau này sanh ra đứa bé, tức là sư đó đến đầu thai. Đứa bé được 3 tuổi, có Thiền sư Bạch Vân Thủ Đoan đã kiến tánh triệt để đến thăm đứa bé và hỏi đứa bé: Mình chia tay được bao lâu rồi?

Đứa bé trả lời: Được 4 năm rồi.

Mới được 3 tuổi mà chia tay được 4 năm, tức là nói cái gì cũng biết hết, nói thiền ngữ thì người kiến tánh biết, người khác không biết. Đứa bé được sáu tuổi rồi chết.

Hỏi:

Kinh Lăng Nghiêm có phải tu mật tông không?

Đáp:

Không phải kinh này căn bản tu Mật tông, kinh này là hiển giáo. Đối với mật nên nói hiển, Mật tông trước kia là ngoại đạo; rồi đến ngài Long Thọ nhiếp họ vào đạo Phật, tức là sau khi Phật đã nhập diệt. Long Thọ là tổ thứ 14 của Thiền tông, ngài nhiếp 6 ngoại đạo vào chánh pháp, cho nên làm Tổ 6 tông phái, Mật tông cũng do ngài Long Thọ làm Tổ.

Kinh Lăng Nghiêm gọi là viên đốn, tức là thượng căn, trung căn, hạ căn đều độ hết; nửa quyển trước độ người thượng căn, nửa quyển sau độ người trung hạ căn. Phật không bỏ sót một chúng sanh nào. 

Trước kia nói cầu mật nghĩa, chưa ngộ gọi là mật nghĩa, ngộ rồi thì không gọi mật nghĩa. Như Lục Tổ nói: “Ngộ rồi thì cái mật ở bên ông”, vì không hiểu cho là mật, nếu ngộ rồi thì không cho là mật. Cho nên, Phật pháp chỉ cần 1 tiếng ồ (ngộ) là xong.

Hỏi:

Ngày xưa Phật Giáo ở Ấn Độ bị Hồi Giáo tiêu diệt, cho nên các kinh điển  bị chôn vùi, đến bây giờ người ta tìm ra và để trong thư viện Đôn Hoàng có phải không?

Đáp:

Không phải vậy, tất cả kinh được kiết tập sau khi Phật nhập diệt, bây giờ ở Đôn Hoàng cũng có kinh ngụy, do các nhà nghiên cứu của nước Anh phát giác được bản chép tay tưởng là nguyên bản rồi, đem đến viện bảo tàng ở Luân Đôn. 

Pháp Bảo Đàn có 8 bản khác nhau, có một bản đệ tử của Thần Tú, cho Thần Tú là Lục Tổ. Đó là đệ tử thần tú làm giả, rồi để trong Đôn Hoàng. Sau này người ta không biết tưởng là thật. Bây giờ, các nước bên Tây phương không biết cho là thật, nhưng trong đó có nhiều cái giả.

Hỏi:

Bát Nhả Tâm Kinh có câu: “Độ nhất thiết khổ ách” là do ngài Huyền Trang thêm vào, chứ bản chính không có, vậy phải không?

Đáp:

Không phải vậy, trong chữ Hán có ý mà không có lời; không phải chỉ là kinh, mà sách thuốc của Trung quốc cũng có. Như sách của Tôn Sư Trương Trọng Cảnh, nhiều chỗ có ý mà không có lời, vì tôi là đông y sĩ đã có nghiên cứu. Kinh Viên Giác, kinh Lăng Nghiêm đều có ý đó, nên tôi thêm lời vào để sáng tỏ nghĩa kinh. 

Hỏi:

Trong pháp hội Lăng Nghiêm có trên một triệu người nghe Phật phuyết pháp. Vậy thời xưa không có loa, làm sao cả đại chúng nghe hết được?

Đáp:

Kinh Pháp Hoa nói: “Phật thuyết kinh Pháp Hoa, đồng thời có thiên bá ức hóa thân cũng thuyết kinh Pháp Hoa ở nơi các quốc độ khác”. Như vậy Phật đâu có dùng loa cho đại chúng nghe! Trong lịch sử Thiền tông nói: “Kinh Hoa Nghiêm gồm có 81 quyển, Hoa Nghiêm Bồ Tát (người Trung Quốc), cho mỗi người cầm một quyển, rồi ông đọc mà mọi người cùng  nghe lời ông đọc quyển của mình đang xem”. 

Chỉ có một mình ông đọc mà có 81 thứ, mỗi người nghe khác. Người coi quyển 1 thì nghe ông đọc quyển 1, người coi quyển 2 thì nghe ông đọc quyển 2, người coi quyển 3 thì nghe ông đọc quyển 3, người coi quyển 80 thì nghe ông đọc quyển 80, nếu 80 người đều nghe một lượt, thì một triệu người cũng có thể nghe một lượt vậy!

Hỏi:

Trên một triệu người nghe pháp, vậy chỗ nào có đủ để ngồi?

Đáp:

Ông có coi kinh Duy Ma Cật không? Phòng nhỏ mà chứa 36 tòa sư tử lớn như núi Tu Di, tòa to lớn mà các vị A La Hán có thần thông không lên được trên đó ngồi.

Hỏi:

Có người thông minh siêu xuất hơn người thường, họ dùng bộ óc làm một lý thuyết lập một tôn giáo. Vậy việc ấy như thế nào?

Đáp:

Nếu chơn lý mà có thể lập ra thì không phải là chơn lý. Phật Thích Ca nói: “49 năm ta chưa từng nói một chữ”, nên Phật không có lập chân lý và không phủ định. Nhưng Phật ở trong kinh kiến lập rồi phủ định, như không có tam thừa mà nói có tam thừa, không có Phật mà nói có Phật. Đến tối thượng thừa thì phủ nhận hết.

Nếu thông minh là thông minh của thế gian, như Chứng Đạo Ca nói: “Ngoại đạo thông minh chẳng trí huệ”. Trí huệ của Phật tánh gọi là Bát Nhã, không dịch là trí huệ; vì không tác ý nổi niệm, được dùng ra là tự động; không những tự động ở một chỗ, mà tự động cùng khắp không gian thời gian, mới gọi là Bát Nhã. 

Bây giờ, mỗi chúng sanh đều có trí Bát Nhã, nhưng do vọng tưởng chấp thật che khuất tự tánh, nên không hiện ra dụng để dùng. Nếu theo lời Phật dạy tẩy sạch hết vọng tưởng thì dụng hiện lên khắp không gian thời gian, tẩy sạch được phần nào vọng tưởng thì hiện được dụng phần đó.

Hỏi:

Trong Thiền tông có khoảng 7000 Tổ kiến tánh và trước Phật Thích Ca có 7 Phật, làm sao có thứ lớp giữa các Phật và các Tổ?

Đáp:

Làm sao mà có thứ lớp! Không có thứ lớp. Các vị tu ở trong Thiền tông, từ địa vị phàm phu chứng Đẳng Giác không theo thứ lớp. Những người căn cơ thấp kém hơn mới qua Sơ Quan, Trùng Quan.

Hỏi:

Tất cả tôn giáo là sản phẩm của bộ óc lập ra có phải không?

Đáp:

Tất cả tôn giáo là sản phẩm của bộ óc, còn Phật Giáo không phải là một tôn giáo, cũng không phải là sản phẫm của bộ óc, là tẩy sạch sản phẩm của bộ óc, thì chân tâm mới hiện ra. Vì vậy, Phật Giáo khác hẳn các tôn giáo. Nhưng sản phẩm của bộ óc dùng cho bộ óc để tiếp thu dễ hơn, nên người tín đồ của họ nhiều. 

Bây giờ, tín đồ Phật Giáo cũng nhiều, nhưng dùng bộ óc để nhận biết đều là mê tín nhiều chứ không phải chánh tín. Thiền tông chỉ cần chánh tín, vì thế người ta khó tiếp thu được, mới ít có người tu theo. Phần nhiều các chùa nói tông phái nào cũng không đúng, giáo môn cũng không phải giáo môn, Tịnh Độ cũng không phải Tịnh Độ. Nếu không thể nói tu pháp môn gì! Mà nói Phật Giáo thì còn xa lắm.

Hỏøi: 

Bây giờ làm chùa nhiều, họ chỉ mê tín cầu xin cúng bái, chứ không phải vì tinh thần đạo Phật. Vậy có đúng không?

Đáp:

Đúng rồi, họ hoàn toàn nghịch với đạo Phật, cho nên Phật cho là đời mạt pháp. Việc ấy, Phật cũng không cứu được, vì nghiệp chúng sanh như vậy.

Hỏi:

Cầu siêu cho người chết là độ người sống làm phương tiện cho họ tu, vậy như thế nào?

Đáp:

Nếu làm phương tiện thì đúng, nhưng họ không làm phương tiện cho người ta tu; vì họ không dạy cho người ta tu, chỉ làm phương tiện vô chùa lạy Phật; mà phải lại Phật chùa tôi mới được phước, chứ lạy 
Phật chùa khác thì không được phước!

Hỏi:

Phật Di Lặc chừng nào ra đời?

Đáp:

Tuổi của con người cứ 100 năm thì giảm 1 tuổi, giảm cho đến lúc còn 10 tuổi; bắt đầu cứ 1 trăm năm thì lại tăng thêm 1 tuổi, khi được 20.000 tuổi thì lúc đó Phật Di lặc ra đời. Lời này căn cứ kinh Di Lặc Hạ Sanh. Đặc biệt của ngài Di Lặc là Duy Thức, ở Ấn Độ đã lập tông phái Duy Thức. 

Trần Huyền Trang qua Ấn Độ 17 năm học Duy Thức về nước Trung Quốc rồi hoằng dương Duy Thức. Khuy Cơ là người thứ nhì hoằng dương  tông Duy Thức tại chùa Từ Ân, người ta gọi là Từ Ân tông. Tiền thân của Khuy Cơ là A La Hán.

Ngày xưa bên Trung Quốc muốn xuất gia phải thi đậu mới cho xuất gia. Trần Huyền Trang lúc 13 tuổi thi đậu được xuất gia, vì kiếp trước ông cũng có tu. Trần Huyền Trang biện luận với tiền thân của Khuy Cơ, nhưng tiền thân Khuy Cơ biện luận không lại. Nên ngài Trần Huyền Trang nói với tiền thân của Khuy Cơ rằng: “Ông đi đầu thai ở nhà ngói đỏ ở kinh thành”, cung của vua là ngói đỏ. 

Hồi đó, nhà Đường có Lý Thái Vân làm vua, các tướng đều là anh em của vua. Úc Tề Cung là anh vua, ngói nhà của ông cũng màu đỏ. Khuy Cơ đầu thai lộn ở nơi đây. Đến chừng ngài Huyền Trang đi Ấn Độ về hỏi trong hoàng cung, không thấy Khuy Cơ, ngài mới tìm ra là ở nhà Úc Tề Cung. Sau này Khuy Cơ xuất gia làm đệ tử ngài Trần Huyền Trang. 
 
 

ML
01
02
03
04
05
06
07
08
09
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20

Liên Hệ:
Kinh Thủ Lăng Nghiêm Tông Thông, HT. Nhẫn Tế
Kinh Thủ Lăng Nghiêm, HT. Thích Duy Lực
Tổng Luận Kinh Lă ng Nghiêm Trưc Chỉ, HT. Thích Thiện Siêu
Pháp Tu Lăng Nghiêm Ðại Ðịnh, HT. Thích Huệ Hưng
Phép Tu Lăng Nghiêm Ðại Ðịnh

 
c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap