KINH
THỦ LĂNG NGHIÊM
Quyển
10
Chánh
văn:
IV
- MA HÀNH ẤM
-A
Nan! Người tu thiền định, khi dứt được Tưởng Ấm, những
mộng tưởng bình thường tiêu sạch, thức, ngủ thường như
một, chẳng còn đuổi theo cảnh trần, cái giác minh vắng
lặng như hư không, thấy các núi sông, đất đai của thế
gian như bóng hiện trong gương, tùy duyên chiếu soi, ở đi
đều chẳng dính mắc, biết hết các tập khí xưa, cái nguồn
gốc của sanh diệt từ đây được hiển lộ, thấy khắp
12 loại chúng sanh trong mười phương, dù chưa thông suốt manh
mối của từng loại, nhưng đều từ một nguồn gốc phát
sanh ra, giống như bụi trần lăng xăng, ấy là chỗ căn cứ
địa của ngũ căn, đây gọi là phạm vi của Hành Ấm.
Nhưng
tánh của Hành Ấm vốn chẳng lăng xăng, sở dĩ lưu chuyển
chẳng ngừng là do tập khí của nhiều kiếp, nếu tánh ấy
trở về vắng lặng, tập khí dứt sạch, tướng lưu chuyển
hết, như làn sóng lặng trở về nước yên, gọi là Hành
Ấm hết, thì lúc ấy được siêu việt Chúng Sanh Trược.
Nhưng quán xét nguyên nhân là do bởi U-Ẩn Vọng Tưởng (l)
làm gốc (Hành Ấm lưu chuyển vi tế, động mà chẳng động
nên gọi là U-ẩn).
l.
A Nan nên biết! Trong lúc thiền định, khi được chánh tri,
chánh tâm sáng suốt, mười loại thiên ma chẳng còn được
dịp quấy phá, mới được truy cứu cùng tột cội gốc sanh
diệt của các loài. Quán xét cái cội gốc đó mà khởi tâm
so đo, thì người ấy bị đọa vào hai loại Vô Nhân Luận:
a.
Thấy sự bắt đầu vô nhân. Tại sao vậy? Người ấy đã
dứt được tưởng sanh diệt, nhờ 800 công đức của Nhãn
căn, thấy được tất cả chúng sanh từ 8 vạn kiếp, theo
nghiệp xoay vòng, chết đây sống đó, luân chuyển không ngừng,
còn ngoài 8 vạn kiếp thì mịt mù chẳng thể thấy được,
bèn cho là từ 8 vạn kiếp đến nay, mười phương chúng sanh
trên thế giới vô nhân mà tự có. Do so đo này, tự làm mất
chánh biến tri, lạc vào ngoại đạo, mê lầm tánh Bồ Đề.
b.
Thấy sự cuối cùng vô nhân. Tại sao vậy? Người ấy đã
biết được căn bản của sự sanh, như người sanh người,
chim sanh chim, xưa nay con quạ vẫn đen, con cò vẫn trắng, trời
người vẫn đứng thẳng, thú vật vẫn đứng ngang, trắng
chẳng do tẩy mà thành, đen chẳng do nhuộm mà nên, từ 8 vạn
kiếp nay vẫn không dời đổi, nay đến tận hết hình thể
này cũng vẫn như thế. Bổn lai của ta chẳng thấy Bồ Đề
thì làm sao lại có sự tu thành Bồ Đề! Vì mê lầm cho tất
cả sự vật đều vốn vô nhân, do so đo này, tự làm mất
chánh biến tri, lạc vào ngoại đạo, mê lầm tánh Bồ Đề.
-Ấy
gọi là ngoại đạo thứ nhất lập Vô Nhân Luận.
2.
Trong lúc thiền định, chánh tâm sáng suốt, ma chẳng được
dịp quấy phá, quán xét cùng tột cội gốc của sanh diệt,
thấy luôn luôn như vậy chẳng biến đổi, ngay nơi đó khởi
tâm so đo, chấp đó là thường, thì người ấy bị đọa
vào bốn thứ Chấp Thường Luận:
a.
Người ấy xét thấy cùng tột bản tánh của tâm và cảnh,
hai nơi đều không có nhân, do tu tập biết được tất cả
sự sanh diệt của mười phương chúng sanh, từ hai vạn kiếp
đến nay vẫn lưu chuyển không hề tan mất, bèn chấp cho là
thường.
b.
Người ấy xét cùng tột cội gốc của tứ đại, bốn thứ
tánh ấy thường trụ, do tu tập biết được tất cả. Sự
sanh diệt của mười phương chúng sanh, từ bốn vạn kiếp
đến nay cái thể vẫn thường còn, không hề tan mất, bèn
chấp cho là thường.
c.
Người ấy xét cùng tột cội gốc của lục căn, theo tánh
chấp thụ của thức thứ bẩy, trong tâm-ý-thức, chỗ nguồn
gốc căn bản, tánh thường như vậy. Do tu tập biết được
tất cả chúng sanh từ tám vạn kiếp này, dù có luân hồi,
vốn là thường trụ, cuối cùng chẳng mất bản tánh, nên
chấp cho là thường.
d.
Người ấy đã dứt được tưởng ấm chẳng còn cái tưởng
sanh diệt cho là tâm sanh diệt, nay đã vĩnh diệt, tự nhiên
thành chẳng sanh diệt, vì tâm so đo nên chấp cho là thường.
-
Do so đo này, tự làm mất chánh biến tri, lạc vào ngoại đạo,
mê lầm tánh Bồ Đề, ấy gọi là ngoại đạo thứ hai lập
Viên Thường Luận.
3.
Trong lúc thiền định, chánh tâm kiên cố, ma chẳng được
dịp quấy phá, quán xét cùng tột cội gốc của sanh diệt,
khởi tâm so đo giữa ta và người, người ấy bị đọa vào
bốn thứ kiến chấp điên đảo, một phần vô thường, một
phần chấp thường luận:
a.
Người ấy quán tâm diệu minh khắp cõi mười phương cho là
thần ngã chơn thật, từ đó sanh chấp, cho ta cùng khắp mười
phương, trạm nhiên sáng suốt chẳng động, tất cả chúng
sanh ở nơi tâm ta tự sanh tự diệt, vậy thì tâm tánh ta là
thường, còn sự sanh diệt ấy là chơn vô thường.
b.
Người ấy chẳng quán tự tâm mà quán khắp mười phương
hằng sa quốc độ, thấy chỗ kiếp hoại (từ cõi tam thiền
trở xuống) thì gọi là chủng tánh chơn vô thường, còn chỗ
kiếp chẳng hoại được (từ cõi tứ thiền trở lên, kiếp
hoại chẳng đến được) thì gọi là chơn thường.
c.
Người ấy chỉ quán riêng tâm mình, thấy tinh mật vi tế
như vi trần, lưu chuyển mười phương, khiến thân này liền
sanh liền diệt mà tâm tánh chẳng dời đổi, ngã tánh chẳng
hoại, gọi ta là tánh thường, sanh tử của tất cả chúng
sanh từ ta mà ra thì gọi là tánh vô thường.
d.
Người ấy đã dứt được Tưởng Ấm, thấy hành ấm lưu
chuyển thường xuyên, gọi là tánh thường: Sắc, thọ, tưởng
ba ấm nay đã diệt hết thì gọi là vô thường.
-
Do so đo này, một phần vô thường, một phần là thường,
nên bị lạc vào ngoại đạo, mê lầm tánh Bồ Đề, ấy gọi
là ngoại đạo thứ ba lập Một Phần Thường Luận.
4.
Trong lúc thiền định, chánh tâm kiên cố, ma chẳng được
dịp quấy phá, quán xét cùng tột cội gốc của sanh diệt,
trong phân vị (2) khởi tâm so đo, người ấy bị đọa vào
bốn thứ Hữu Biên Luận:
a.
Người ấy trong tâm so đo cái gốc sanh lưu chuyển chẳng ngừng,
chấp quá khứ vị lai gọi là hữu biên, chấp tâm tương tục
gọi là vô biên.
b.
Người ấy quán từ tám vạn kiếp đến nay thì thấy có chúng
sanh, từ tám vạn kiếp trở về trước thì chẳng thấy chẳng
nghe, bèn cho chỗ chẳng thể thấy nghe ấy gọi là vô biên,
chỗ có chúng sanh gọi là hữu biên.
c.
Người ấy chấp rằng ta biết cùng khắp, được tánh vô
biên; tất cả mọi người đang trong cái hay biết của ta,
mà ta chẳng từng biết cái tánh biết của họ, ấy gọi là
họ chẳng được cái tâm vô biên, chỉ được tánh hữu biên
thôi.
d.
Người ấy quán đến cùng tột Hành Ấm rỗng không, so đo
trong tâm cái sở thấy của mình, cho là ở trong một thân
của tất cả chúng sanh đều là phân nửa sanh phân nửa diệt,
cho đến tất cả hiện hữu trong thế giới này cũng đều
phân nửa hữu biên, phân nửa vô biên.
-Do
so đo này, hữu biên vô biên, lạc vào ngoại đạo, mê lầm
tánh Bồ Đề, ấy gọi là ngoại đạo thứ tư lập Hữu Biên
Luận.
5.
Trong lúc thiền định, chánh tâm kiên cố, ma chẳng được
dịp quấy phá, quán xét cùng tột cội gốc của sanh diệt,
ở nơi tri kiến khởi tâm so đo, người ấy bị đọa vào
bốn thứ: Điên đảo, bất tử, càn loạn, biến kế hư luận:
a.
Người ấy quán xét cội gốc của sự biến hóa thấy chỗ
lưu chuyển thì gọi là biến, thấy chỗ nối nhau thì gọi
là thường, thấy chỗ thấy được thì gọi là sanh, thấy
chỗ chẳng thấy được thì gọi là diệt, cái nhân nối nhau
chẳng gián đoạn thì gọi là thêm, khi đang nối nhau, ở giữa
có chỗ gián đoạn thì gọi là bớt, chỗ sanh của mọi vật
thì gọi là hữu, chỗ diệt của mọi vật thì gọi là vô;
dùng lý quán xét thì thấy đồng, dùng tâm thì thấy khác.
Có người đến cầu pháp hỏi nghĩa thì đáp: "ta nay cũng
sanh cũng diệt, cũng có cũng không, cũng thêm cũng bớt", bất
cứ lúc nào đều nói đảo loạn như thế, khiến người nghe
rồi cũng như không nghe.
b.
Người ấy quán xét tâm họ đến chỗ Vô, vì vậy nên chẳng
có chứng đắc, hễ có người đến hỏi chỉ đáp một chữ
"Vô", ngoài ra không nói gì cả.
c.
Người ấy quán xét tâm họ đến chỗ Hữu, vì vậy mà có
sự chứng đắc, hễ có người đến hỏi thì chỉ đáp một
chữ "Hữu", ngoài ra không nói gì cả.
d.
Người ấy hữu vô cùng thấy, do cảnh rời rạc nên tâm cũng
bị rối loạn, hễ có người đến hỏi thì đáp: "Cũng có
tức là cũng không, ở trong cũng không, chẳng phải cũng có".
Tất cả càn loạn, chẳng thể hỏi ra kết quả.
-Do
so đo này, hư vô càn loạn, lạc vào ngoại đạo, mê lầm
tánh Bồ Đề, đây gọi là ngoại đạo thứ năm chấp bốn
thứ Điên Đảo, Bất Tử, Càn Loạn, Biến Kế Hư Luận.
6.
Trong lúc thiền định, chánh tâm kiên cố, ma chẳng được
dịp quấy phá, quán xét cùng tột cội gốc của sanh diệt,
trong dòng sanh diệt vô tận khởi tâm so đo, người ấy bị
đọa vào tư tưởng điên đảo, chấp sau khi chết có tướng:
Hoặc tự giữ cái sắc thân, cho sắc thân là ta; hoặc thấy
ta bao trùm khắp các cõi nước, thì cho ta có sắc; hoặc thấy
duyên cảnh xưa theo ta luân hồi thì cho sắc thuộc về ta;
hoặc thấy cái ta nương theo hành ấm mà tương tục, thì cho
ta ở nơi sắc, xoay chuyển như vậy thành mười sáu tướng,
từ đó sanh ra cái chấp "có phiền não thật", và "Bồ Đề
thật", hai tánh ấy đi song song mà chẳng đụng chạm nhau,
do so đo này, chấp sau khi chết có tướng, lạc vào ngoại
đạo, mê lầm tánh Bồ Đề, ấy gọi là ngoại đạo thứ
sáu trong ngũ ấm chấp sau khi chết có tướng, lập Tâm Điên
Đảo Luận.
7.
Trong lúc thiền định, chánh tâm kiên cố, ma chẳng được
dịp quấy phá. Quán xét cùng tột cội gốc của sanh diệt,
trong những chỗ sắc, thọ, tưởng, đã diệt từ trước,
khởi tâm so đo, người ấy bị đọa vào tư tưởng điên
đảo, chấp sau khi chết chẳng tướng. Thấy Sắc Diệt rồi
thì hình thể chẳng có nhân, thấy tưởng diệt rồi thì tâm
chẳng bó buộc, thấy thọ diệt rồi thì chẳng còn chỗ nối
liền, tánh ấm tiêu tan, dẫu có sự sanh mà chẳng có thọ,
tưởng, đồng như cây cỏ, cái thể chất hiện hữu này còn
bất khả đắc, huống chi chết rồi thì đâu còn hình tướng
nào! Theo đó suy lường, xoay chuyển thành tám thứ vô tướng,
cho rằng nhân quả, Niết Bàn, tất cả đều không, chỉ có
danh tự, cuối cùng đoạn diệt. Do so đo này, lạc vào ngoại
đạo, mê lầm tánh Bồ Đề, ấy gọi là ngoại đạo thứ
bảy trong ngũ ấm chấp sau khi chết chẳng tướng, lập Tâm
Điên Đảo Luận.
8.
Trong lúc thiền định, chánh tâm kiên cố, ma chẳng được
dịp quấy phá. Quán xét cùng tột cội gốc của sanh diệt,
trong chỗ hành ấm còn mà thọ tưởng đã diệt, cho "Có, Không"
đồng thời cùng hiện nên tự thể phá nhau, người ấy bị
đọa vào điên đảo luận, chấp sau khi chết chẳng phải
"Có" cũng chẳng phải "Không", trong sắc, thọ, tưởng, thấy
có chẳng phải là có, nơi hành ấm lưu chuyển, thấy không
chẳng phải là không, xoay chuyển như vậy cùng tận ấm giới,
thành tám thứ tướng "chẳng phải có chẳng phải không",
dù gặp một duyên nào đều nói sau khi chết cũng có tướng
cũng không tướng. Lại chấp hành ấm tánh hay thay đổi, tâm
phát thông ngộ, thấy "Có, Không" đều chẳng phải, hư và
thật đều không chỗ căn cứ, do so đo này, làm cho mịt mù
chẳng thể nói được, lạc vào ngoại đạo, mê lầm tánh
Bồ Đề, ấy gọi là ngoại đạo thứ tám trong ngũ ấm chấp
sau khi chết chẳng có cũng chẳng không, lập Tâm Điên Đảo
Luận.
9.
Trong lúc thiền định, chánh tâm kiên cố, ma chẳng được
dịp quấy phá. Quán xét cùng tột cội gốc của sanh diệt,
ở nơi Hậu-Hậu-Vô (3) khởi tâm so đo, người ấy bị đọa
vào bảy thứ Đoạn Diệt Luận: Hoặc chấp cái thân diệt,
hoặc dục tận diệt, hoặc khổ tận diệt, hoặc cực lạc
diệt, hoặc cực xả diệt, xoay chuyển như thế tận cùng
bảy nơi, cái thân hiện tiền khi tiêu diệt rồi chẳng còn
sanh nữa, do so đo này, lạc vào ngoại đạo, mê lầm tánh
Bồ Đề, ấy gọi là ngoại đạo thứ chín trong ngũ ấm chấp
sau khi chết đoạn diệt, lập Tâm Điên Đảo Luận.
10.
Trong lúc thiền định, chánh tâm kiên cố, ma chẳng được
dịp quấy phá. Quán xét cùng tột cội gốc của sanh diệt,
ở nơi Hậu Hậu Hữu (4) khởi tâm so đo, người ấy bị đọa
vào năm thứ Niết Bàn Luận: Hoặc nhận dục giới là nơi
Chánh Chuyển Y, vì thấy cảnh viên minh nên tâm sanh ái mộ,
hoặc nhận sơ thiền vì tánh không còn lo, hoặc nhận nhị
thiền, vì tâm không còn khổ, hoặc nhận tam thiền, vì rất
vui đẹp, hoặc nhận tứ thiền vì khổ vui đều mất, chẳng
bị luân hồi sanh diệt vậy. Mê lầm cõi trời hữu lậu cho
là quả vô vi, năm nơi an ổn ấy là nơi Thắng Tịnh Y, xoay
chuyển ở năm chỗ này, cho là cứu cánh, do so đo này, lạc
vào ngoại đạo, mê lầm tánh Bồ Đề, ấy gọi là ngoại
đạo thứ mười trong ngũ ấm chấp năm thứ Niết Bàn, lập
Tâm Điên Đảo Luận.
-A
Nan! Mười thứ thiền định cuồng giải trên đều do Hành
Ấm và dụng tâm giao tranh lẫn nhau mà hiện ra, chúng sanh ngu
mê chẳng tự xét kỹ, gặp nhân duyên này, mà chẳng tự biết,
nhận sự mê lầm cho là giải thoát, tự nói chứng thánh,
thành đại vọng ngữ, đọa ngục A-Tỳ.
-Sau
khi Như Lai nhập diệt, nơi thời mạt pháp, các ngươi phải
theo lời dạy bảo như trên khai thị khắp tất cả chúng sanh,
khiến đều tỏ ngộ nghĩa này, chớ cho tâm ma tự khởi nghiệp
chướng, hộ trì cho họ dứt bỏ tà kiến, khiến thân tâm
được mở mang, giác ngộ nghĩa chơn thật, thành Vô Thượng
Đạo, chẳng bị lạc đường, chẳng được ít cho là đủ,
làm bia chỉ đường giải thoát của Phật.
Giảng
giải:
Đoạn
này nói về hành ấm, 3 tướng: Sắc, thọ, tưởng đã hết.
Nhất là do tưởng ấm suy nghĩ thì ma mới nhập, 3 ấm hết
thì tâm kiên cố ma ở ngoài không thể nhập được; nhưng
tự sanh tâm ma khó trị, ma ở ngoài dễ trị.
10
thứ cảnh giới của ma hành ấm, đều nói chánh tâm kiên
cố, tức là ma ở ngoài không thể quấy phá được. Vì có
tâm chấp mới thành đủ thứ ngoại đạo, cuối cùng cũng
phải đọa địa ngục a tỳ. Trong này có hai cái đối đãi
nhau là hậu hậu hữu và hậu hậu vô. Do hành ấm thay đổi
nên mình từ nhỏ biến thành người lớn, rồi biến thành
người già, trong cuộc sống hàng ngày và cơ thể mình thay
đổi đều do hành ấm. Hành ấm rất là khó thấy, cho nên
gọi là u uẩn vọng tưởng.
Như
mặt mũi mình không thấy thay đổi, nhưng nó đang thay đổi.
Do hành ấm mà mặt mũi mình đang thay đổi, ngũ tạng lục
phủ cũng đang thay đổi, thay đổi từng sát na nhưng mình
không thấy không biết, vì không biết nên gọi là u uẩn vọng
tưởng. Do u uẩn vọng tưởng nên có chúng sanh trược (trược
như nước lụt).
Trong
đó có nói phương vị, luận về thường và vô thường. Nói
về tánh thuộc kiến phần gồm hữu biên và vô biên. Nói
về phương vị thì thuộc tướng phần, tức là 4 thứ hữu
biên luận nói về phương vị:
-Phương
vị tam tế (quá khứ, hiện tại, vị lai).
-Phương
vị kiến văn (kiến là thấy, văn là nghe).
-Phương
vị nhân ngã (ta, ngươi).
-Phương
vị sanh diệt.
Đều
bị kẹt trong phương vị hành ấm, mà sanh ra vọng tâm so đo
thành ngoại đạo, hết phước ngoại đạo cũng phải bị
đọa.
Tại
sao nói: Hậu hậu vô (sau sau không)? Vì trước kia có hành
ấm, mà chẳng có thọ, tưởng; vì thọ, tưởng đã diệt.
Sau này hành ấm cũng chẳng có. Trước kia thấy sau khi chết
chẳng có tướng là chỉ nói về một chỗ thân diệt mà thôi
(thân thể này chết không còn), nay truy cứu hết 7 chỗ tận
diệt chẳng sanh nữa.
7 chỗ
là gì? Là thân diệt thuộc về Dục Giới. Như con người
thuộc về Dục Giới, như đi thiêu biến thành tro, đi chôn
biến thành đất; gồm cõi trời cõi người, cõi trời có
6 lớp Dục Giới. Sắc Dục Diệt thuộc sơ thiền (không có
sắc thân dâm dục). Khổ Diệt thuộc về nhị thiền. Cực
Lạc Diệt thuộc về tam thiền. Cực Xả Diệt thuộc về tứ
thiền.
Dù
nói 5 chỗ diệt (tứ thiền là 4 chỗ với dục giới của
cõi trời cõi người), kỳ thật gồm 2 cõi của Vô Sắc Giới
là: Không Vô Biên Xứ và Vô Sở Hữu Xứ. Chỗ Không Vô Biên
chẳng còn gì, chỗ Vô Sở Hữu cũng không có; cho là tất
cả diệt hết, nên nói 7 chỗ diệt. Đây lọt vào chỗ cao
nhất vô tưởng thiên ngoại đạo. Giống như Tỳ Kheo Vô Văn
đồng một đoạn kiến, chết cho là hết không còn gì, nên
đọa đoạn diệt luận (hậu hậu vô).
Trước
đã nói: Hậu hậu vô, sau lại nói hậu hậu hữu (sau sau có)?
Bởi cội gốc sanh diệt lăng xăng này là chẳng thể diệt
được, vì chưa đến chỗ chơn tịch diệt; mà vọng thấy
chỗ diệt có sự chứng đắc, nên nói hậu hậu hữu. Hành
ấm được tạm ngưng sát na, tánh viên minh hơi hiện, bèn
cho là chẳng sanh diệt, tức Niết Bàn, do so đo thành có năm
chỗ Niết Bàn vậy.
10
cảnh giới trên đều là tâm điên đảo luận. Tại sao nói
điên đảo vọng tưởng? Hành ấm u uẩn nên khó thấy được,
mới lấy tâm đoán mò cho là vậy hoặc cho là không phải
vậy; cho là vậy thì điên đảo hay cho không phải vậy cũng
là điên đảo. Vì vậy, tham Tổ Sư thiền nhất định không
thể dùng 2 chữ cho là mới gọi là thoại đầu.
Thoại
đầu là không có niệm nào sanh khởi. Nhiều người lấy câu
thoại là mục tiêu thì sai lầm, vì chấp vào câu thoại. Nếu
chấp vào câu thoại thì đã có niệm biết niệm khởi rồi.
Dùng 2 chữ cho là tức là có khởi niệm cho là đúng,
cho là không đúng, cho là có, cho là không. Bất cứ cho là
cái gì đều có niệm nổi lên, không có niệm khởi lên, mới
được gọi là thoại đầu.
Ngài
Hư Vân nói: “Có niệm là thoại vỉ”. Mặc dầu, không có
niệm khởi lên, không phải đoạn diệt; chỗ đó Thiền tông
gọi là đầu sào 100 thước, Giáo môn gọi là vô thỉ vô
minh. Chỗ đó tôi thường lấy cây viết để ví dụ ở trên
là thoại đầu, dưới là thoại vỉ. Bắt đầu tham thoại
đầu là rời thoại vỉ mà chưa đến thoại đầu.
Vì
mục đích mình muốn đến thoại đầu, nên mới nói tham thoại
đầu hay khán thoại đầu. Khi đến thoại đầu thì đường
đi ý thức đã hết, tới chỗ này không có đường đi nữa;
tức là nguồn gốc của ý thức, thấy trước mắt thanh thanh
tịnh tịnh không còn cái gì. Ngoại đạo và Tiểu thừa cho
chỗ này là Niết Bàn. Nhưng chỗ này còn dính líu với ý
thức, chưa lìa ý thức.
Phải
từ đầu sào 100 thước tiến lên một bước lìa khỏi ý
thức, sát na lìa ý thức gọi là kiến tánh. Ngài Lai Quả
nói: “Cảnh giới này như mình lọt vào hư không té xuống
cho chết rồi sống lại”, Thiền tông gọi là:
“Tuyệt
hậu tái tô” (sau khi chết sống lại).
Chỗ
này có 2 cái chết: Đại tử đại hoạt, tiểu tử tiểu hoạt.
Tại
sao gọi là tiểu tử tiểu hoạt? Đây là để thí dụ cái
ngộ (tiểu tử) là phá sơ quan. Dù chết mà sống lại, nhưng
còn cái xác chưa tan; tức là ngộ rồi nhưng còn cái ngộ,
cho là mình có ngộ. Vì ngộ thì đối với mê, có mê mới
có ngộ. Nếu hết mê thì không có ngộ.
Hỏi:
Bác
sĩ tham thiền làm sao mỗ bệnh nhân được?
Đáp:
Tham
thiền đến giai đoạn tham thuần thục thì vừa mỗ vừa tham
thiền được. Như tham ở trong tịnh dễ nhập, ở trong động
khó nhập. Ví như ở trong tịnh có thể 3 tháng vào cửa, còn
ở trong động 3 năm có khi chưa vào cửa được. Nếu 3 năm
trong động vào cửa, cũng khó gấp 10 lần trong tịnh; trong
tịnh 3 tháng vào cửa, nhưng 300 năm không được kiến tánh.
Trong động 3 năm vào cửa có thể 4 năm kiến tánh.
Mục
đích tham thiền là muốn kiến tánh, vì kiến tánh mới thức
tỉnh được mở mắt chiêm bao, giải thoát tất cả khổ.
Tham thiền ở trong tịnh tuy dễ nhập, nhưng lại khó thành
tựu, trong động khó nhập nhưng dễ thành tựu. Ban đầu trong
tịnh thấy dễ mau nhập hơn trong động. Ngài Lai Quả nói:
“Nếu trong động mà không động được ông, tịnh cũng không
làm ảnh hưởng đến ông”, như vậy thực hành mới đúng
đắn.
Cơ
Bản Thực Hành có 2 yếu tố:
-Tin
tự tâm.
-Phát
nghi tình.
Đối
với tham Tổ Sư thiền thì minh tâm kiến tánh là cần nhất.
Hành giả tham thiền cũng thực hành được, nhưng chỉ tin
pháp môn chưa tin tự tâm. Chư Phật chư Tổ dạy mình cần
phải tin tự tâm. Ngài Lâm Tế nói: “Gặp Phật giết Phật,
gặt Tổ, giết Tổ, gặp cha mẹ giết cha mẹ”. Nếu không
tin tự tâm thì nghe rất khó chịu, họ cho là nói bậy, đâu
phải là Tổ sư danh tiếng!
Lâm
Tế là một phái thiền lớn trong ngũ gia tông phái, gần đây
có nhiều vị kiến tánh đều trong phái này. Nhưng người
không tin tự tâm thì chấp ở ngoài tâm có Phật, nghe nói
gặp giết Phật, tưởng là giết Phật thật. Sự thật tâm
mình khắp không gian thời gian, tất cả không ở ngoài tâm
mình; như chư Phật, chư Tổ, cha mẹ,… đều ở trong tâm
mình. Vì không tin tâm mình mà lại tin ngoài tâm, mới có tư
tưởng chấp thật. Chính tư tưởng chấp thật làm chướng
ngại cho mình kiến tánh.
Chư
Phật chư Tổ rũ lòng đại từ đại bi, phá tâm chấp của
mình; không sợ người ta hiểu lầm, mà nói thẳng: “Gặp
Phật giết Phật, gặp Tổ giết Tổ, gặp cha mẹ giết cha
mẹ,…” là giết tâm chấp thật của mình.
Nếu
tâm chấp Phật mà là thật thì phải giết tâm chấp ấy.
Chấp Tổ và chấp cha mẹ cũng vậy. Bởi vì tất cả chỉ
là giả danh, chỉ là sanh diệt ở trong tâm mình; cho nên mình
tin tự tâm đầy đủ thì việc ấy mới đúng. Còn không tin
tự tâm lại tin ngoài tâm, thì cho ngài Lâm Tế nói rất sai
lầm.
Câu
nói ấy là ngài Lâm Tế nói trước đại chúng, trong đó có
nhiều căn cơ khác nhau. Câu nói này đối với bậc thượng
thượng căn. Còn cơ xảo để tiếp người, ngài Lâm Tế có
Tứ Liệu Giản. Rồi có chia làm 3 thứ căn cơ để tiếp thượng
căn, trung căn, hạ căn, và đặc biệt xuất cách không có
theo căn khí, việc ấy tiếp người theo mọi căn cơ của chư
Tổ, trong Lâm Tế Ngữ Lục nói rất kỹ.
Hỏi:
Người
ta nghe câu nói: “Gặp Phật giết Phật, gặp Tổ giết Tổ,
gặp cha mẹ giết cha mẹ”. Phật Tổ đã chết, cha mẹ còn
sống, họ coi việc giết cha mẹ bình thường thì việc đó
như thế nào?
Đáp:
Đó
họ cho là một lý do, nhưng lúc Tổ nói không có ý này. Ngài
Lâm Tế nói: “Tôi nói đúng theo pháp, nhưng các vị
không lãnh hội được, chư Tổ chỉ biết nói đúng theo pháp”.
Phật Thích Ca trong kinh liễu nghĩa cũng nói những lời mâu
thuẫn, như kinh Lăng Già: “Chẳng có Phật vào Niết Bàn,
chẳng có Niết Bàn để Phật vào”.
Vậy
Phật Giáo đồ tin Phật là tin cái gì? Không có Phật mà tin
và học cái gì? Kinh đó phổ biến. Như kinh Kim Cang là Phật
thuyết, mà Phật nói: “Ai nói Như Lai có thuyết pháp thì
người ấy phỉ báng Phật”. Lời này ai cũng cho rất mâu
thuẫn.
Cho
nên, Phật sợ người ta đuổi theo lời nói, cứ dặn đi dặn
lại hoài. Ý của Phật không phải trong lời nói, lời nói
đều chẳng có nghĩa thật. Như kinh Lăng Nghiêm nói: “Phàm
có lời nói đều chẳng có nghĩa thật”, vì vậy người
đọc phải biết chỗ này đọc hay lướt qua không để ý.
Nhiều người đọc kinh hay chấp thật lời kinh, ít có người
không chấp thật. Chỉ có người tin tự tâm đầy đủ, thì
tự nhiên sẽ không chấp thật. Bởi tất cả đều ở ngoài
tâm, kỳ thật không phải ở ngoài tâm, vì nó không dính dáng
với chân tâm.
Hỏi:
Làm
thế nào vừa làm việc vừa tham thiền?
Đáp:
Công
phu chưa tới mức độ vừa làm vừa tham không được, vì
dùng cái biết của bộ óc; công phu đến chỗ bộ óc hoàn
toàn không biết thì làm gì cũng được, nhất là làm nghề
của mình đã làm quen thì được.
Những
người làm y học, khi mỗ lại bỏ quên dụng cụ làm rồi
may lại, vậy những người đó đâu có tham thiền! Lúc chú
ý một việc gì, làm việc khác hay sai. Như có nhà khoa học
khi muốn luộc hột vịt mà lại bỏ đồng hồ vô luộc.
Tham
thiền là lúc bộ óc hoàn toàn không biết. Biết của bộ
óc gọi là vọng tri, cái biết của Phật tánh gọi là linh
tri. Linh tri tự động thay thế vọng tri để làm việc. Vọng
tri làm việc có lộn, còn linh tri làm việc không bao giờ có
lộn. Vọng tri có khi làm việc lành có khi làm việc ác, còn
linh tri không bao giờ làm việc ác.
Tin
tự tâm tức là tin linh tri sẵn sàng. Bây giờ mình chưa thành
Phật, nhưng cái dụng của linh tri không bớt, không ngưng.
Tại sao? Nếu bớt thì sẽ biến đổi chết mất, thành pháp
sanh diệt; ngưng là gián đoạn cũng là pháp sanh diệt. Linh
tri là Phật tánh luôn luôn khắp không gian thời gian.
Nếu
Phật tánh có sanh diệt thành Phật cũng vô dụng, khỏi cần
tu thành Phật làm gì! Phật tánh không sanh diệt, không thể
bớt, không thể ngưng. Bây giờ, linh tri của mình cũng đang
dùng, không gián đoạn, không ngưng, chỉ là mình không tự
biết, mình phải tin như vậy.
Buổi
đầu tiên tôi đi dạy lớp Hán Nôm tại Huệ Quang, những
người đó chữ Hán đều giỏi. Tôi có dạy hai chữ: “Linh
tri và vọng tri”. Linh tri là cửa vi diệu, vọng tri là cửa
tai họa. Linh tri không nhờ lục căn, không nhờ ngoại cảnh,
vì không gián đoạn. Lục căn và ngoại cảnh có sanh diệt,
không sanh diệt thì không cần nhờ đến sanh diệt. Mục đích
tham thiền dùng linh tri để thay thế vọng tri.
Hỏi:
Ngồi
thiền dễ tham, đi kinh hành khó tham hơn, việc đó như thế
nào?
Đáp:
Tham
thiền trong tịnh có thể 3 tháng vào cửa, trong động phải
3 năm. Nhưng cũng có người lại khác, ở Việt Nam có nhiều
người Phật tử nói với tôi: “Ngồi tham thiền không bằng
chạy xe máy, đang chạy xe máy lại tham thiền dễ hơn”. Có
người bị một chút động cũng không tham được, nên
mỗi người mỗi khác.
Như
Uất Đầu Lam Phất ngồi thiền dưới gốc cây nghe chim kêu
chịu không nổi, gần bờ sông nghe cá lội cũng bực mình.
Cho nên, ông giận nghĩ rằng: “Sau này làm chồn bay vào nước
ăn cá, vào rừng ăn chim”. Chỉ nghĩ thoáng qua rồi quên,
ông tu chứng phi tưởng phi phi tưởng, thọ 80.000 đại kiếp.
Sau này hết tuổi thọ ông phải đầu thai làm chồn bay. Vậy
tịnh trong thời gian ngắn có ăn nhằm gì!
Nhưng
cuộc sống ở xã hội họ chán sự ồn ào, có cơ hội được
tịnh, thấy tâm hồn yên ổn thì ham thích. Ngài Đại Huệ
mắng các Thiền sư và các quan tu Mặc chiếu, vì lý do chán
động cầu tịnh. Vì nghiêng về một bên nên gọi là tà thiền,
ngài Đại Huệ thường bài xích Mặc chiếu là tà thiền.
Tào
động là chánh tông, làm sao có thực hành theo Mặc chiếu
tà thiền! Bây giờ, thiền của Nhật Bản bị biến thái là
giải công án.
Hỏi:
Thế
nào là lục thần thông?
Đáp:
Lục
thần thông gồm có: Thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, thần
túc thông, tha tâm thông, túc mạng thông và lậu tận thông.
Lậu tận thông chỉ Phật Giáo mới có, tà ma và ngoại đạo
đều không có. Tà ma và ngoại đạo chỉ có 5 thứ thần thông:
Thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, thần túc thông, tha tâm thông,
và túc mạng thông.
Chánh
văn:
V.
MA THỨC ẤM
-A
Nan! Người tu thiền định, khi dứt được Hành Ấm, các tính
sanh diệt lăng xăng chuyển động của thế gian bỗng được
tan rã, các nghiệp báo luân hồi, sự cảm ứng vi tế như
chỉ tơ gần được đoạn dứt, sắp được minh ngộ nơi
cõi Niết Bàn, như gà gáy lần chót, trời bắt đầu rạng
đông.
Lục
căn hư tịnh, chẳng còn giong ruổi cảnh trần, trong ngoài
trạm nhiên sáng suốt, cho đến nhập vô sở nhập: Thấu suốt
cội gốc thọ mạng của 12 loại chúng sanh trong mười phương,
chấp vào cái cội gốc đó, các loài chẳng đến với nhau,
mà ở nơi mười phương đều đồng một cội gốc, sự phát
hiện chỗ ẩn bí đó, như trời gần sáng mà chưa sáng, rạng
đông kéo dài, đây gọi là phạm vi của Thức Ấm.
Nếu
ở chỗ đồng ấy, nhờ sức thiền định mài giũa lục căn,
đến thấy nghe thông nhau, sự dụng của lục căn muốn hợp
hay tách ra đều được tự do thành tựu, trong ngoài sáng suốt
như lưu ly, gọi là thức ấm hết, thì lúc ấy được siêu
việt Mệnh Trược. Nhưng quán xét nguyên nhân là do bởi Võng
Tượng (mường tượng) Hư Vô, Điên Đảo Vọng Tưởng (5)
làm gốc.
l.
A Nan! Người tu thiền định, khi dứt được hành ấm, trở
về chỗ cội gốc của Thức Ấm, sanh diệt đã diệt mà nơi
tinh diệu của tịch diệt chưa được viên thông, có thể
khiến lục căn thông dụng lẫn nhau, cũng thông với cái giác
tri của các loài trong mười phương, do sự thông dụng ấy
mới được đi vào chỗ cội gốc của Thức Ấm. Nếu ở
chỗ trở về mà lập cái nhân Chơn Thường, sanh tâm thù thắng,
thì bị đọa vào cái chấp "Năng nhân, sở nhân", làm bạn
với bọn ngoại đạo tóc vàng, nhận chỗ "căn bản của vô
minh" làm nơi sở quy, mê lầm tánh Bồ Đề, lạc mất tri kiến
Phật, ấy gọi là lập cái tâm sở đắc, thành cái quả sở
quy, trái xa viên thông, ngược đạo Niết Bàn, thành giống
ngoại đạo thứ nhất.
2.
Người tu thiền định, khi dứt được Hành Ấm, sanh diệt
đã diệt, mà nơi tinh diệu của tịch diệt chưa được viên
thông, nếu ở chỗ cội gốc của thức Ấm, ôm làm tự thể
của mình, cho tất cả 12 loại chúng sanh khắp hư không đều
phát xuất từ thân ta, sanh tâm thù thắng, thì bị đọa vào
cái chấp "Năng phi năng" (6), làm bạn với bọn ma dân hay hiện
thân vô biên ở cõi Sắc giới, mê lầm tánh Bồ Đề, lạc
mất tri kiến Phật, ấy gọi là lập cái tâm năng vi, thành
cái quả năng sự, trái xa viên thông, ngược đạo Niết Bàn,
sanh Đại Mạn Thiên, thành giống chấp ngã thiên viên thứ
hai (thiên viên chưa được viên thông, chỉ có một nửa).
3.
Người tu thiền định, khi dứt được Hành Ấm, sanh diệt
đã diệt, mà nơi tinh diệu của tịch diệt chưa được viên
thông, nếu ở nơi cội gốc của thức ấm khởi tâm nương
tựa, tự nghi thân tâm mình từ đó mà ra, mười phương hư
không đều từ đó sanh khởi, bèn nhận chỗ đó là cái thể
chơn thường, là nơi chẳng sanh diệt. Ở chỗ sanh diệt chấp
là thường trụ, chẳng những chẳng thấy tánh chơn bất sanh
diệt, mà còn nhận lầm tánh sanh diệt hiện tại, an trụ
tại chỗ mê lầm này, sanh tâm thù thắng, thì bị đọa vào
cái chấp "thường phi thường", làm bạn với bọn ở cõi
trời Tự Tại Thiên, mê lầm tánh Bồ Đề lạc mất tri kiến
Phật. Ấy gọi là lập cái tâm nhân y (cái nhân nương tựa)
thành cái quả vọng kế (vọng chấp thường trụ), trái xa
viên thông, ngược đạo Niết Bàn thành giống điên đảo
viên thông thứ ba (nói viên thông mà chưa được viên thông).
4.
Người tu thiền định, khi dứt được Hành Ấm, sanh diệt
đã diệt, mà nơi tinh diệu của tịch diệt chưa được viên
thông, nếu ở nơi sở tri, kiến lập tri giải, cho các loài
cây cỏ mười phương đều gọi là hữu tình, với người
chẳng khác; cây cỏ làm người, người chết rồi lại thành
cây cỏ, cho đến loài vô tình đều có sự giác tri, hữu
tình vô tình chẳng có phân biệt, sanh tâm thù thắng, thì
bị đọa vào cái chấp "Tri vô tri", làm bạn với hai thứ
ngoại đạo Bà Tra và Tiện Ni, chấp tất cả đều có sự
giác tri, mê lầm tánh Bồ Đề, lạc mất tri kiến Phật. Ấy
gọi là lập cái tâm viên tri, thành cái quả hư vọng, trái
xa viên thông, ngược đạo Niết Bàn, thành giống Điên Đảo
Tri thứ tư.
5.
Người tu thiền định, khi dứt được Hành Ấm, sanh diệt
đã diệt, mà nơi tinh diệu của tịch diệt chưa được viên
thông, nếu ở nơi lục căn dung thông lẫn nhau đã được
tùy thuận vô ngại, rồi nương theo viên dung này, cho là tứ
đại hay biến hóa tất cả, nên từ nơi tứ đại ham cầu
tánh sáng suốt của hỏa; thích tánh trong sạch của thủy;
ưa tánh chu lưu của phong, quán tánh thành tựu của trần,
mỗi mỗi đều tôn sùng, lấy các trần ấy nhận làm bản
nhân, chấp cho là thường trụ, thì bị đọa vào cái chấp
"Sanh vô Sanh", làm bạn với bọn ngoại đạo Ca Diếp Ba và
Bà La Môn, siêng tâm ép xác, thờ lửa thờ nước để cầu
được ra khỏi sanh tử, mê lầm tánh Bồ Đề, lạc mất tri
kiến Phật. Ấy gọi là chấp trước, thờ phụng, mê tâm
theo vật, lập cái nhân vọng cầu, cầu cái quả vọng mong,
trái xa viên thông, ngược đạo Niết Bàn, thành giống của
tạo hóa điên đảo thứ năm.
6.
Người tu thiền định, khi dứt được Hành Ấm, sanh diệt
đã diệt, mà nơi tinh diệu của tịch diệt chưa được viên
thông, nếu ở trong viên minh chấp là hư vô, bác bỏ các sự
tạo hóa, lấy cái vĩnh diệt làm chỗ quy y, sanh tâm thắng
giải, thì bị đọa vào cái chấp "Quy vô quy" (cho vô quy là
Quy), làm bạn với bọn Thuấn Nhã Đa (thần hư không) ở cõi
Vô Tưởng Thiên, mê lầm tánh Bồ Đề, lạc mất tri kiến
Phật. Ấy gọi là chấp cái tâm hư vô thành quả Không Vong,
trái xa viên thông, ngược đạo Niết Bàn, thành giống đoạn
diệt thứ sáu.
7.
Người tu thiền định, khi dứt được Hành Ấm, sanh diệt
đã diệt, mà nơi tinh diệu của tịch diệt chưa được viên
thông, nếu ở nơi viên thường sanh lòng củng cố cái thân
này, cho là thường trụ đồng với tánh ấy, mãi không tiêu
diệt, sanh tâm thắng giải, thì bị đọa vào cái chấp "Tham
phi tham" (7), làm bạn với bọn A Tư Đà (chẳng ai bằng), tham
cầu trường thọ, mê lầm tánh Bồ Đề, lạc mất tri kiến
Phật. Ấy gọi là chấp trước mạng căn, lập cái nhân cố
vọng (kiên cố cái vọng thân), cầu quả thường trụ, trái
xa viên thông, ngược đạo Niết Bàn, thành giống vọng diên
thứ bảy (vọng diên: Vọng muốn kéo dài).
8.
Người tu thiền định, khi dứt được Hành Ấm, sanh diệt
đã diệt, mà nơi tinh diệu của tịch diệt chưa được viên
thông, xét thức ấm là mạng căn của các loài dung thông lẫn
nhau, bỗng sợ tiêu diệt, muốn giữ lại trần lao, bèn ở
chỗ đó ngồi cung liên hoa, hóa ra rất nhiều châu báu và
mỹ nữ, buông lung tâm mình, sanh tâm thắng giải, thì bị
đọa vào cái chấp "chơn vô chơn" (cho vô chơn là chơn), làm
bạn với cõi Tha Hóa Thiên, mê lầm tánh Bồ Đề, lạc mất
tri kiến Phật. Ấy gọi là phát cái nhân tà tưởng, lập
quả trần lao hưng thịnh, trái xa viên thông, ngược đạo
Niết Bàn, thành giống thiên ma thứ tám.
9.
Người tu thiền định, khi dứt được Hành Ấm, sanh diệt
đã diệt, mà nơi tinh diệu của tịch diệt chưa được viên
thông. Ở trong nguồn gốc của thức ấm, khởi tâm phân biệt
tinh, thô, chơn, ngụy, nhân quả trả nhau, chỉ cầu sự cảm
ứng, trái ngược đạo thanh tịnh, chấp cái khổ, tập, diệt,
đạo của Tứ Thánh Đế, cho là đến chỗ diệt rồi là xong,
chẳng cầu tiến thêm, sanh tâm thắng giải, thì bị đọa
vào định tánh Thanh Văn, làm bạn với kẻ tăng thượng mạn
như Tỳ Kheo Vô Văn, mê lầm tánh Bồ Đề, lạc mất tri kiến
Phật. Ấy gọi là lập cái tâm cảm ứng tinh vi, thành quả
tịch diệt, trái xa viên thông, ngược đạo Niết Bàn, thành
giống Triền Không thứ chín (Triền Không: Bị ràng buộc ở
chỗ Không).
10.
Người tu thiền định, khi dứt được Hành Ấm, sanh diệt
đã diệt, mà nơi tinh diệu của tịch diệt chưa được viên
thông, ở nơi tánh giác minh, viên dung thanh tịnh, truy cứu
sự thâm diệu, bèn chấp đó là Niết Bàn, chẳng cầu tiến
thêm, sanh tâm thắng giải, thì bị đọa vào định tánh Bích
Chi, làm bạn với những người Duyên Giác và Độc Giác, chẳng
biết hồi tâm hướng về Đại Thừa, mê lầm tánh Bồ Đề,
lạc mất tri kiến Phật. Ấy gọi là lập cái tâm âm thầm
hợp với viên giác (8), thành cái quả trạm minh, trái xa viên-thông,
ngược đạo Niết Bàn, sanh cái giác viên minh, thành giống
Bất Hóa Viên thứ mười (Bất Hóa Viên: Chấp vào nơi viên
mà chẳng thế hóa giải được).
-A
Nan! Mười thứ cảnh giới thiền định trên, giữa chừng
thành điên, là do nương theo mê hoặc, ở nơi chưa cứu cánh
chấp cho là đủ, ấy đều do thức ấm với dụng tâm giao
tranh lẫn nhau mà hiện ra, chúng sanh ngu mê chẳng tự xét kỹ,
gặp nhân duyên này hiện tiền, mỗi mỗi đều dùng tâm mê
chấp những tập quán ưa thích cũ của mình, cho là cứu cánh
mà ngừng nghỉ tại đó, tự nói đã đầy đủ đạo Vô Thượng
Bồ Đề, thành đại vọng ngữ, lạc vào tà ma ngoại đạo,
khi hết nghiệp báo chiêu cảm, bị đọa ngục A Tỳ, còn hàng
Thanh Văn Duyên Giác thì chẳng cầu tiến thêm. Các ngươi đã
phát tâm theo đạo Như Lai, sau khi ta nhập diệt, nơi thời
mạt pháp, phải đem pháp môn này truyền dạy cho đời sau,
khiến tất cả chúng sanh đều rõ biết nghĩa này, chớ để
cho kiến ma (tự chấp tri kiến của mình thành ma), tạo nghiệp
chìm đắm, hộ trì cho họ dứt bỏ tà duyên, khiến thân tâm
họ nhập tri kiến Phật, từ bắt đầu đến khi thành tựu
chẳng bị lạc đường.
Giảng
giải:
Thức
là phân biệt, tức mình có cho là thành phân biệt. Trí không
phân biệt, cho nên chuyển thức thành trí. Pháp Bảo Đàn nói:
“Chuyển tám thức thành tứ trí, chuyển 5 thức (nhãn, nhĩ,
tỷ, thiệt, thân) là Thành Sở Tác Trí, chuyển thức thứ
6 thành Diệu Quan Sát Trí, chuyển thức thứ 7 thành Bình Đẳng
Tánh Trí, chuyển thức thứ 8 thành Đại Viên Cảnh Trí”.
Chuyển được 8 thức thành tứ trí thì kiến tánh, tức là
tự do không có gì trói buộc.
Pháp
Bảo Đàn nói: “Thức thứ 6 và thức thứ 7 trong nhân chuyển,
5 thức trước và thức thứ 8 là quả chuyển”. Tức là chỉ
cần chuyển thức thứ 6 và thức thứ 7. Thức thứ 7 ngày
đêm không ngừng chấp ngã, nếu chuyển thức thứ 7 thành
Bình Đẳng Tánh Trí thì hết chấp ngã; tất cả đều bằng
nhau không có ta với ngươi, thì lục căn cũng chuyển, thức
thứ 8 chuyển luôn.
Thức
thứ 8 là vô ký chẳng che lấp, thức thứ 7 là vô ký có che
lấp, có che lấp vì chấp ngã. Thức thứ 8 nhận chứa chủng
tử thiện ác và vô ký. Do không phân biệt chấp trước thành
ra không che lấp, thức thứ 7 truyền cho thức thứ
6 dẫn 5 thức trước thi hành, rồi tạo nghiệp thiện ác thì
có chủng tử thiện ác. Chủng tử thiện ác được thức
thứ 7 truyền vô chứa trong thức thứ 8. Chủng tử thiện
ác chín mùi thì thức thứ 7 đem ra cho thức thứ 6 cùng 5 thức
trước để thi hành.
Nếu
8 thức được chuyển thành tứ trí là bổn lai không phân
biệt, tất cả y như cũ, không thêm cái ngã vô, tức không
có cho là, có cho là thì đem ý kiến của mình vô. Cho là có
hay là cho là không, cho là đúng hay cho là sai, đều là ý kiến
vọng tưởng của mình. Các vị thượng căn thì chỉ ở trong
thế lưu bố tưởng không sanh ra trước tưởng. Cho nên, không
dùng thức để phân biệt cho là vậy mới đúng, cho là cái
này có, cho là cái kia không. Tức không dùng 2 chữ “cho
là”.
Cho
nên, tham thoại đầu chưa có niệm khởi, tức không có 2 chữ
“cho là”. Nếu có 2 chữ “cho là” không phải thoại đầu,
như vậy rất là giản dị; tại thói quen lâu đời cứ cho
là, muốn phân biệt thành ra cho là khó. Cho là khó cũng là
cho là, cho là dễ cũng cho là. Sự thật, pháp không có khó
dễ, cho là khó mới thành khó, cho là dễ mới thành dễ.
Ông
người Mỹ trước kia chưa tham thiền, ông có học thiền ngoại
đạo nên cũng có căn bản; tuy nghe tôi giảng, ông cũng tiếp
thu được. Như Tánh Không sẵn có, không thêm tư tưởng mình
vô; cái không ngoại đạo tu sai lầm, họ cũng nói Phật Giáo
tu sai lầm.
Cái
không của ngoại đạo là do tư tưởng làm thành, như cái
không của tách, cái không của nhà, cái không của bình,…
Cái không đó là do tạo tác mà thành, như cất cái nhà thì
dùng cái không sẵn sàng; nếu đem dồ vật trong nhà bỏ (bỏ
vọng tưởng), thì căn nhà trống rỗng thành cái không.
Không
sẵn sàng khỏi cần bỏ, đồ vật trong đó vẫn là không;
tất cả núi sông đất đai ở trong không mà sanh diệt, đối
với không chẳng có ảnh hưởng. Mà tự đem đồ đạc vô
trong nhà, rồi dọn ra bỏ ngoài, được cái không của cái
nhà; cái nhà trống rỗng là do ngoại đạo tạo tác thành,
chứ không phải cái không sẵn sàng.
Có
người nói dẹp hết vọng tưởng thành cái không đó, thì
cũng giống như ngoại đạo, còn cái không sẵn sàng chẳng
có chướng ngại. Núi sông đất đai nhà cửa cây cối đều
là sanh diệt trong cái không này, tất cả nhờ cái không này
mà hiện ra cái dụng; nhưng cái không chẳng động không nổi
lên ý cho là cái này đúng, cái kia không đúng.
Tức
là không có một ý niệm gì hết, mà hiển bày cái dụng,
dùng cái gì cũng được, vì tất cả dùng đều chẳng lìa
cái không này. Bây giờ, đem cái không này tạo thành cái không
của tách, cái không của bình; rồi giải thích cái không của
tách khác cái không của bình, giải thích thấy cũng có lý,
nhưng đều không phải cái không của bản lai. Không của bản
lai chẳng có gì không thêm một cái gì vô, cũng không bớt
một cái gì ra, nó cứ y như vậy.
Nếu
đem cái này cái kia để dẹp mới được thì dẹp cách nào
cũng không được, như kinh nói: Lúc hỏa tai thì đại thiên
thế giới đều bị cháy thành tro.
Thiền
sư hỏi vị Giáo môn: Đến lúc hỏa tai thì tất cả vũ trụ
thế giới đều cháy hết phải không?
Vị
Giáo môn đáp: Phải
Thiền
sư hỏi: Cháy hết rồi còn lại tro tàn để ở đâu?
Vị
Giáo môn không trả lời được.
Vì
vậy, chấp thật thì có mâu thuẫn, như con sâu dép cỏ là
con khoảnh rất nhỏ, chỉ là đơn tế bào, từ con đầu tiên
tới đời 90, thể tích nó thành 1 thước khối, tới đời
130 thì thể tích bằng quả đất, chỉ có trải qua 130 ngày,
nếu thêm 1 ngày thì 2 quả đất, thêm 1 ngày nữa thì 4 quả
đất. Chỉ là 1 con khoảnh rất nhỏ trải qua 130 ngày thì
quả đất chứa không nổi, còn mấy cái kia như: Con người
chết, các con thú chết thì chứa ở đâu? Thành ra vị Thiền
sư hỏi vị giáo môn trả lời không được, vì chấp lời
Phật là chân thật.
Cho
nên, Phật rất sợ người ta chấp lời của Phật là chân
thật. Phật nói trong kinh Lăng Nghiêm: “Phàm có lời nói đều
chẳng có nghĩa thật”. Kinh Kim Cang nói: “Tôi thuyết pháp
49 năm chưa từng nói một chữ”, vì nói không được. Bạch
tịnh thức rất vi tế, nên Phật không muốn khai giảng, vì
sợ người ta chấp thật. Những người thông minh cứ đem
tư tưởng vô cho là của mình. Mình không dùng tư tưởng gì
được!
Địa
cầu mình đang ở trong một tiểu thế giới là Nam Thiệm Bộ
Châu, cùng 3 châu khác tổ chức thành một tiểu thế giới.
Một ngàn tiểu thế giới gọi là tiểu thiên thế giới, thì
bằng bốn ngàn địa cầu. Tiểu thiên thế giới này, nhân
thêm một ngàn nữa là trung thiên thế giới, rồi trung thiên
thế giới nhân thêm một ngàn nữa, gọi là đại thiên thế
giới, rồi đại thiên đó nhân với nhau, gọi là tam thiên
đại thế giới, tức là một cõi Phật.
Chứng
quả A La Hán thấy được tất cả tam thiên đại thế giới,
ngoài tam thiên đại thế giới thì không thấy. Bồ Tát
thấy nhiều tam thiên đại thế giới, cho đến vi trần thế
giới, nhưng vẫn còn số lượng. Đó là thiên nhãn thông.
Thiên nhĩ thông cũng vậy. Thần túc thông là bay. Ngoại đạo
tà ma đều bay được, cho đến Tiểu thừa cũng bay được,
còn Đại thừa đã hiện được thần thông của tự tánh
thì khỏi cần bay.
Như
Tổ Đạt Ma muốn đi đến chỗ nào chỉ nổi ý lên thì hiện
ngay đó, nếu muốn hiện một lượt nhiều chỗ cũng được.
Như Phật Thích Ca hiện lên một lượt thiên bá ức hóa thân
ở cả tỷ thế giới, đồng thời thuyết pháp, tên họ hiệu
Phật đều khác nhau.
Vì
bản thể của tâm cùng khắp không gian, muốn hiện chỗ nào
cũng được. Nhưng ngoại đạo chỉ có năm thần thông, không
có lậu tận thông. A La Hán thêm lậu tận thông, tức là hết
tập khí phiền não, tự nhiên có thần thông. Còn Đại thừa
thì vô lượng vô biên, làm cái gì cũng được, gọi là chánh
biến tri.
Hỏi:
Sau
khi kiến tánh, nhập thất để thanh lọc tập khí, vậy căn
nào được thanh lọc trước thì căn đó có thần thông trước
phải không?
Đáp:
Phải
rồi, dứt trừ tập khí đến mức nào thì thần thông hiện
đến đó. Như Trương Bảo Thắng 37 tuổi, cái thông của y
mà nhà khoa học có dùng máy gì cũng không biết được. Có
người được tha tâm thông không biết lái xe, người ấy
dùng cái biết lái xe của người khác thì cũng lái xe được;
người ấy không biết computer, nhưng dùng cái biết computer
của người khác thì cũng sử dụng computer được. Người
này đang làm việc ở viện khoa học Bắc Kinh.
Hỏi:
Người
có thần thông mà ngã mạn thì thế nào?
Đáp:
Họ
có tu mới được thần thông đó, làm sao có ngã mạn! Nếu
ngã mạn thì hết thần thông. Như một người có dùng thần
thông đến hoàng cung, khi đảnh lễ vua đụng chân cung nữ,
nổi niệm ưa thích thì mất thần thông, khi về phải đi bộ.
Cho nên, phải tâm trong sạch thì thần thông mới hiện.
Liên
Hệ:
Kinh
Thủ Lăng Nghiêm Tông Thông, HT. Nhẫn Tế
Kinh
Thủ Lăng Nghiêm, HT. Thích Duy Lực
Tổng
Luận Kinh Lă ng Nghiêm Trưc Chỉ, HT. Thích Thiện Siêu
Pháp
Tu Lăng Nghiêm Ðại Ðịnh, HT. Thích Huệ Hưng
Phép
Tu Lăng Nghiêm Ðại Ðịnh
