Chánh
văn:
I
- MA SẮC ẤM
-A
Nan nên biết, ngươi tọa đạo tràng, vọng niệm nếu hết
thì ngay cái lìa niệm ấy tất cả sáng tỏ, động tịnh chẳng
dời, nhớ quên như một, nên trụ nơi này mà nhập chánh định.
Như người mắt sáng ở chỗ đen tối, chơn tánh trong sạch,
trong tâm chưa phát ánh sáng, đây gọi là phạm vi của Sắc
Ấm. Nếu con mắt sáng tỏ, thì mười phương khai mở, chẳng
còn đen tối, gọi là Sắc Ấm hết, thì khi ấy được siêu
việt Kiếp Trược. Nhưng quán xét nguyên nhân là bởi Kiên
Cố Vọng Tưởng (l) làm gốc.
l.
A Nan, đang trong lúc tham cứu diệu minh, quên cả tứ đại,
bỗng sắc thân ra vào các vật chất đều chẳng chướng ngại,
ấy gọi là sự sáng tỏ tràn ra trước mắt. Sự việc ấy
chỉ là công dụng tạm được như thế, chẳng phải chứng
thánh; chẳng tự cho là thánh, gọi là cảnh giới tốt, nếu
cho là thánh, liền lọt vào tà ma.
2.
Trong lúc tham cứu diệu minh, thân như lưu ly, bỗng trong thân
lấy ra các loài giun sán mà thân vẫn y nguyên, chẳng bị thương
tổn, ấy gọi là sự sáng tỏ tràn ra hình thể, đây chỉ
là do tu hành tinh tấn tạm được như thế, chẳng phải chứng
thánh; chẳng tự cho là thánh, gọi là cảnh giới tốt, nếu
cho là thánh, liền lọt vào tà ma.
3.
Trong lúc tham cứu diệu minh, khi ấy, ngoài sắc thân ra, hồn
phách, ý chí, tinh thần dung hòa lẫn nhau, bỗng trong hư không
nghe tiếng thuyết pháp, hoặc nghe mười phương chư Phật cùng
diễn mật nghĩa, đây gọi là hồn phách, ý chí thay phiên
nhau làm chủ khách, ly hợp lẫn nhau, thành tựu thiện chủng,
tạm được như thế, chẳng phải chứng thánh; chẳng tự
cho là thánh, gọi là cảnh giới tốt, nếu cho là thánh, liền
lọt vào tà ma.
4.
Trong lúc tham cứu diệu minh, trong tâm sáng tỏ, phát ra ánh
sáng, chiếu khắp mười phương thành màu sắc Diêm Phù Đàn,
tất cả các loài đều hóa thành Như Lai. Bỗng thấy Phật
Tỳ Lô Giá Na ngồi trên đài Thiên Quang, ngàn Phật vây quanh,
trăm ức cõi Phật cùng hoa sen đồng thời hiện ra. Ấy gọi
là việc sở nhiễm của tâm hồn linh ngộ, ánh sáng của tâm
chiếu soi các thế giới, tạm được như vậy, chẳng phải
chứng thánh; chẳng tự cho là thánh, gọi là cảnh giới tốt,
nếu cho là thánh, liền lọt vào tà ma.
5.
Trong lúc tham cứu diệu minh, quan sát chẳng ngừng, sức đè
nén hàng phục quá mức, bỗng trong hư không thành màu sắc
bách bảo, xanh vàng đỏ trắng đồng thời cùng khắp mười
phương mà chẳng chướng ngại nhau. Ấy gọi là sự dụng
công đè nén quá mức tạm được như thế, chẳng phải chứng
thánh; chẳng tự cho là thánh, gọi là cảnh giới tốt, nếu
cho là thánh, liền lọt vào tà ma.
6.
Trong lúc tham cứu diệu minh, trong sáng chẳng loạn, bỗng lúc
nửa đêm, ở trong nhà đen tối, thấy rõ các vật chẳng khác
ban ngày, ấy gọi là tâm dụng đến chỗ vi tế, cái năng
thấy trong như lưu ly, cái sở thấy thấu qua đen tối, tạm
được như thế, chẳng phải chứng thánh; chẳng tự cho là
thánh, gọi là cảnh giới tốt, nếu cho là thánh, liền lọt
vào tà ma.
7.
Trong lúc tham cứu diệu minh, toàn tâm dung hòa với hư không,
bỗng thân thể đồng như cây cỏ, lửa đốt, dao chém chẳng
có cảm giác, thiêu chẳng thấy nóng, chém chẳng thấy đau,
ấy gọi là tâm và trần dung hợp thành một, tạm được
như thế, chẳng phải chứng thánh; chẳng tự cho là thánh,
gọi là cảnh giới tốt, nếu cho là thánh, liền lọt vào
tà ma.
8.
Trong lúc tham cứu diệu minh, dụng công đến chỗ thanh tịnh,
bỗng thấy núi sông, đất đai mười phương đều thành cõi
Phật đầy đủ thất bảo, ánh sáng chiếu khắp, lại thấy
hằng sa chư Phật, cung điện trang nghiêm, cùng khắp thế giới,
thấy khắp thiên đàng địa ngục đều chẳng ngăn ngại,
ấy gọi là tập trung tư tưởng ngày càng sâu đậm, lâu ngày
hóa thành, chẳng phải chứng thánh; chẳng tự cho là thánh,
gọi là cảnh giới tốt, nếu cho là thánh, liền lọt vào
tà ma.
9.
Trong lúc tham cứu diệu minh, đến chỗ sâu xa, bỗng ở nửa
đêm, thấy được các đường phố và bà con phương xa, nghe
được tiếng nói của họ, ấy gọi là tâm bức bách quá
mức bay ra, nên cái thấy thấu qua vật chất, chẳng phải
chứng thánh; chẳng tự cho là thánh, gọi là cảnh giới tốt,
nếu cho là thánh, liền lọt vào tà ma.
10.
Trong lúc tham cứu diệu minh, thấy hình thể của thiện tri
thức, trong giây lát hiện ra đủ thứ biến đổi, ấy gọi
là tâm tà bị yêu mị, hoặc thiên ma xâm nhập, thình lình
thuyết pháp, thông đạt diệu nghĩa, chẳng phải chứng thánh;
chẳng tự cho là thánh, gọi là cảnh giới tốt, nếu cho là
thánh, liền lọt vào tà ma.
-A
Nan! Mười thứ cảnh giới thiền định trên, đều do Sắc
Ấm và dụng tâm giao tranh lẫn nhau mà hiện ra. Chúng sanh ngu
mê chẳng tự xét kỹ, gặp nhân duyên này mà chẳng tự biết,
nói là chứng thánh thành đại vọng ngữ, đọa địa ngục
A Tỳ.
-Sau
khi Như Lai nhập diệt, trong thời mạt pháp, các ngươi phải
theo lời dạy bảo như trên khai thị người tu, hộ trì cho
họ thành Vô Thượng Đạo, chớ để cho thiên ma được dịp
quấy phá.
Giảng
giải:
A Nan
nên biết, ngươi tọa đạo tràng, vọng niệm đều hết thì
ngay cái lìa niệm ấy tất cả sáng tỏ, động tịnh chẳng
dời đổi, nhớ quên như một, nên trụ nơi này mà nhập chánh
định.
Phổ
thông người ta dùng thiền quán tưởng cầu được nhập định,
tất cả vọng tưởng không nổi lên thì được lìa niệm,
tất cả sáng tỏ rõ ràng, động tịnh chẳng dời đổi, chẳng
khác, nhớ quên như một, lúc ấy trụ nơi này nhập chánh
định.
Như
người mắt sáng ở chỗ đen tối, chơn tánh trong sạch, trong
tâm chưa phát ánh sáng, gọi là phạm vi của sắc ấm (khi
nào có thiền định mới thấy chơn tánh trong sạch).
Hỏi:
Tham
Tổ Sư thiền có gặp ma sắc ấm không?
Đáp:
Có
người cũng gặp, vì qua thiền định nên thấy nhiều cảnh
giới. Nhưng không biết có cảnh giới, còn những thiền quán
tưởng có sự ham thích. Như thiền quán của Tịnh Độ, khi
thấy được các cảnh giới như: Thấy hoa, ánh sáng, họ cảm
thấy mừng. Nếu ham thích những cảnh giới ấy thì dễ bị
nhập ma.
Trong
này Phật bảo A Nan cùng các vị Bồ Tát nói rõ cho các chúng
sanh sau này biết: “Khi thiền định gặp những cảnh giới
này đừng cho là thánh”. Bây giờ, nhiều người cũng cho
là thánh, lọt vào tà ma mà tự mình không biết.
Hỏi:
Vọng
niệm đã hết thì đến thoại đầu chưa?
Đáp:
Vọng
niệm đã hết thì chưa đến thoại đầu. Thoại đầu là
phương pháp tu của Thiền tông, còn cái này thuộc về Thiền
giáo môn, không có nghi tình. Họ dùng quán tưởng, ở trên
có nói. Thiền quán tưởng này chia ra làm 5 ấm là sắc, thọ,
tưởng, hành, thức. Mỗi ấm có 10 cảnh giới, dễ bị lọt
vào tà ma, cho nên câu cuối cùng nói “liền lọt vào tà ma”.
Nhiều cảnh giới, nhưng nói đại khái 10 cảnh gới của mỗi
ấm, để cho mình biết đừng mừng, đừng sở đắc. Nếu
có sở đắc thì lọt vào tà ma.
Nếu
con mắt sáng tỏ thì 10 phương khai mở, chẳng còn đen tối,
gọi là sắc ấm hết thì người ấy được siêu việt kiếp
trược, nhưng quán xét nguyên nhân là bởi Kiên Cố Vọng Tưởng
làm gốc.
Kiên
cố vọng tưởng nên mới sanh ra các cảnh giới, nguồn gốc
là vọng tưởng, vì vậy thấy cảnh giới đó đừng để
ý cho là chứng thánh. Tự cho mình chứng thánh thì lọt vào
tà ma. Trong này, nếu không cho là thánh thì cảnh giới tốt.
Nếu
có cảnh giới mình không chấp thì không sao, vì có tu mới
được cảnh giới này, cho nên cũng gọi là tốt. Nhưng đối
với Tổ Sư thiền, không cần thấy những cảnh giới này
thì càng tốt hơn. Bởi vì chấp những cảnh giới ấy thì
lọt vào tà ma, ấy gọi là kiên cố vọng tưởng.
Vọng
tưởng của mình suốt ngày hay suy nghĩ, như người ta tu cầu
thần thông; suốt ngày cứ luôn suy nghĩ, cũng phát ra thần
thông. Nhưng có khi không có thần thông mà bị ma nhập, giúp
cho họ làm như mình có thần thông vậy.
Hỏi:
Khi
ngồi thấy tự nhiên bừng bừng lên, vậy việc ấy như thế
nào?
Đáp:
Việc
ấy cũng là một cảnh giới, những người tu Tịnh Độ thấy
một chút cảnh giới thì họ vui thích, nhưng tham thiền thì
không màn tới. 10 điều của ma sắc ấm đều do kiến cố
vọng tưởng làm gốc. Bất cứ thấy cái gì hay có thần thông
đều do vọng tưởng.
Thần
thông do mình tập luyện thì phải bay, hay ma giúp cho mình cũng
bay được. Thần thông của tự tánh sẵn có khỏi cần bay.
Như Tổ Đạt Ma muốn đi hàng phục 6 phái ngoại đạo, chỉ
nghĩ đến tới liền, chứ khỏi cần bay. Vì tự tánh mình
khắp không gian, muốn hiện chỗ nào thì hiện.
Vọng
tưởng là tiềm ý thức, trước kia mình nổi một niệm mà
quên, nhưng ở trong tiềm ý thức đã có. Nếu không có vọng
tưởng còn tham thiền, mà không có nghi tình, chỉ là niệm
thoại đầu để đè nén vọng tưởng.
Nói
chung mình thấy cái gì cũng như không thấy, như trong này đừng
cho là thánh, đừng cho là cái gì, không có 2 chữ cho là. Nếu
có 2 chữ cho là thì không được. Cho nên, Lâm Tế nói: “Gặp
Phật giết Phật, gặp ma chém ma”. Vì cho là Phật thì phải
giết Phật, vì cho là ma thì phải chém ma, tức là chém tâm
chấp của mình.
A Nan!
10 thứ cảnh giới thiền định trên, đều do sắc ấm và
tâm giao tranh lẫn nhau mà hiện ra.
Vì
có sắc thân này sanh ra đủ thứ. Sắc thân do tứ đại hợp
thành, tứ đại gồm có: Địa, thủy, hỏa, phong, vốn không
có giác tri. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Vì có vọng tưởng thành
có giác tri”. Có giác tri hợp với vọng tưởng thì giao tranh
với nhau, sanh ra đủ thứ cảnh giới.
Chúng
sanh ngu mê chẳng chịu xét kỹ, gặp những nhân duyên này
mà chẳng tự biết, nói là chứng thánh, thành đại vọng
nggữ, đọa địa ngục a tỳ.
Nếu
đại vọng ngữ, do tu sĩ nói phải bị đọa địa ngục a
tỳ 90 triệu năm, tức là chưa có chứng cho là chứng, chưa
có đắc cho là đắc. Còn tiểu vọng ngữ như: Nói dối thì
tội nhẹ, tội nhẹ nhất cũng mấy chục ngàn năm.
Hỏi:
Các
phương sở do vọng tưởng mà có, vậy cõi Tây Phương phải
do vọng tưởng mà ra không?
Đáp:
Cõi
Tây Phương do vọng tưởng mà ra, do người tu Tịnh Độ có
cộng nghiệp mới có cõi Tây Phương. Cho nên, kinh liễu nghĩa
nói: “Tâm tịnh thì Phật độ tịnh”. Tu Tịnh Độ có 3
thứ: Trì danh niệm Phật, quán tưởng niệm Phật là thiền
của Tịnh Độ và thật tướng niệm Phật khỏi cần vãng
sanh, tâm tịnh thì Phật độ tịnh. Nhưng có số người dạy
Tịnh Độ và tu Tịnh Độ còn không biết.
Hỏi:
Có
phải thật tướng niệm Phật là liễu nghĩa không?
Đáp:
Thật
tướng niệm Phật là liễu nghĩa, nhưng người ta không làm;
cho đến có người hoằng dương Tịnh Độ cũng không biết
thật tướng niệm Phật. Thật tướng thì vô tướng, nhưng
người tu Tịnh Độ thì chấp có tướng, làm sao đến tới
thật tướng được!
-Sau
khi Như Lai nhập diệt, trong thời mạt pháp, các ngươi phải
theo lời dạy bảo như trên khai thị cho người tu (Phật bảo
các vị Bồ Tát trong pháp hội Lăng Nghiêm, sau này theo lời
của Phật mà dạy cho chúng sanh tu không bị sai lầm), hộ
trì cho họ thành vô thượng đạo, chớ để thiên ma được
dịp quậy phá (Phật muốn phòng ngừa trước, nhưng sau này
dạy người ta tu, không dạy theo kinh của Phật, lấy ý của
mình mà dạy).
Hỏi:
Thế
nào là tẩu hỏa nhập ma?
Đáp:
Tẩu
hỏa nhập ma của ngũ ấm còn dễ trị hơn ma ở ngoài. Tâm
ma khó trị, ma ở ngoài dễ trị.
Chánh
văn:
II
- MA THỌ ẤM
-A
Nan! Người tu thiền định, khi dứt được Sắc Ấm, tâm thấy
chư Phật như bóng hiện trong gương, dường như có sự chứng
đắc, nhưng chưa được thọ dụng. Cũng như người bị bóng
đè, tay chân vẫn còn, thấy nghe rõ ràng, vì tâm bị tà bên
ngoài xâm nhập, chẳng thể cử động được, ấy gọi là
phạm vi của Thọ Ấm. Nếu bóng đè hết, tâm lìa sắc thân,
được tự thấy mặt mình, ở đi tự do vô ngại, gọi là
Thọ Ấm hết, thì lúc ấy được siêu việt Kiến Trược.
Nhưng quán xét nguyên nhân, là do Hư Minh Vọng Tưởng (2) làm
gốc.
l.
A Nan! Đang lúc thiền định, thấy ánh sáng chói lọi, trong
tâm ức chế quá mức, bỗng sanh lòng buồn bã, cho đến thấy
các loài ruồi muỗi như con của mình, thương xót rơi lệ,
ấy gọi là dụng công đè nén quá mức. Ngộ biết đó là
vọng tưởng chẳng phải chứng thánh, chẳng mê chẳng chấp,
lâu tự tiêu diệt; nếu cho là thánh, thì bị Ma Bi xâm nhập,
hễ gặp người thì than khóc không xiết, lạc mất chánh định,
sẽ bị chìm đắm.
2.
Trong lúc thiền định, thấy sắc ấm dứt, thọ ấm rõ ràng,
thắng cảnh hiện tiền, kích động quá phần, bỗng trong đó
sanh lòng dũng mãnh, phấn chí sánh bằng chư Phật, cho là một
niệm có thể siêu việt ba A Tăng Kỳ kiếp, ấy gọi là dụng
công lấn tiến quá mức. Ngộ biết đó là vọng tưởng, chẳng
phải chứng thánh, chẳng mê chẳng chấp lâu tự tiêu diệt,
nếu cho là thánh thì bị Ma Cuồng xâm nhập, hễ gặp người
thì khoe khoang kiêu căng, ngã mạn tăng trưởng, cho đến trên
chẳng thấy có Phật, dưới chẳng thấy có người, lạc mất
chánh định, sẽ bị chìm đắm.
3.
Trong lúc thiền định, thấy sắc ấm dứt, thọ ấm rõ ràng,
tiến đến trước chẳng có chứng đắc mới, lui về sau lại
mất chỗ cũ, sức trí kém mòn, giữa chừng bị lạc, chẳng
có sở thấy, trong tâm bỗng sanh khô khan, luôn luôn nhớ mãi
không tan, lại cho là tinh tấn, ấy gọi là tu tâm mà chẳng
huệ. Ngộ biết đó là vọng tưởng, chẳng phải chứng thánh;
nếu cho là thánh, thì bị Ma Nhớ xâm nhập, ngày đêm trói
tâm vào một chỗ, lạc mất chánh định, sẽ bị chìm đắm.
4.
Trong lúc thiền định, thấy sắc ấm dứt, thọ ấm rõ ràng,
sức huệ mạnh hơn sức định, tâm chấp các việc thù thắng,
tự tưởng là Phật Lô Xá Na, được ít cho là đủ, ấy gọi
là dụng tâm quên mất quán chiếu, đọa vào tri kiến. Ngộ
biết đó là vọng tưởng, chẳng phải chứng thánh; nếu cho
là thánh, thì bị Ma-Hèn-Hạ-Dễ-Biết-Đủ xâm nhập, hễ
gặp người thì tự xưng là Vô Thượng Đệ Nhất Nghĩa Đế,
lạc mất chánh định, sẽ bị chìm đắm.
5.
Trong lúc thiền định, thấy sắc ấm dứt, thọ ấm rõ ràng,
chưa được chứng mới, lại mất chỗ cũ, tiến lui đều
chẳng được, cảm thấy khó khăn, bỗng sanh lòng lo âu, tâm
chẳng muốn sống, mong cầu người khác sát hại thân này
để mau được giải thoát, ấy gọi là tu hành lạc mất phương
tiện. Ngộ biết đó là vọng tưởng, chẳng phải chứng thánh;
nếu cho là thánh, thì bị Ma-Hay-Lo-Rầu xâm nhập, tự cầm
dao kiếm chém cắt thịt mình, thích bỏ thọ mạng, hoặc thường
lo rầu, trốn vào rừng núi, sợ bị người thấy, lạc mất
chánh định, sẽ bị chìm đắm.
6.
Trong lúc thiền định, thấy sắc ấm dứt, thọ ấm rõ ràng,
ở nơi thanh tịnh, tâm được an nhàn, bỗng trong lòng vui mừng
vô cùng, chẳng thể kềm chế được, ấy gọi là khinh an
mà chẳng có trí huệ tự ngăn. Ngộ biết đó là vọng tưởng,
chẳng phải chứng thánh; nếu cho là thánh, thì bị Ma-Ham-Vui
xâm nhập, hễ gặp người thì cười, múa hát ngoài đường,
tự cho mình đã được giải thoát vô ngại, lạc mất chánh
định, sẽ bị chìm đñaém.
7.
Trong lúc thiền định, thấy sắc ấm dứt, thọ ấm rõ ràng,
tự cho sự tu của mình đã đầy đủ, bỗng tâm sanh đại
ngã mạn, hoặc khinh mạn người, hoặc ngạo mạn mình hơn
người, hoặc tăng thượng mạn, hoặc tî liệt mạn (khinh
người hơn mình), đồng thời phát ra. Đã dám khinh chê mười
phương chư Phật, huống là các bậc Thanh Văn, Duyên Giác!
Ấy gọi là kiến chấp quá cao, không có trí huệ tự cứu.
Ngộ biết đó là vọng tưởng, chẳng phải chứng thánh; nếu
cho là thánh, thì bị Ma-Đại-Ngã-Mạn xâm nhập, không lễ
chùa tháp, phá hủy kinh tượng, nói với Phật tử rằng:"Tượng
Phật là loại vàng đồng, đồ gỗ, kinh sách là lá cây, giấy
lụa, cái thân này đã là chơn thường, sao chẳng cung kính
cúng dường mà đi sùng bái loại cây loại gỗ, thật là điên
đảo". Khiến những người tin theo lời họ, hủy hoại tượng
Phật, kinh sách, làm lầm chúng sanh đọa ngục A-Tỳ, lạc
mất chánh định, sẽ bị chìm đắm.
8.
Trong lúc thiền định, thấy sắc ấm dứt, thọ ấm rõ ràng,
ở nơi sáng tỏ tự ngộ chơn lý, được sự thuận lợi,
trong lòng bỗng sanh khinh an vô cùng, tự nói chứng thánh, được
đại tự tại, ấy gọi là do huệ mà được khinh an. Ngộ
biết đó là vọng tưởng, chẳng phải chứng thánh; nếu cho
là thánh, thì bị Ma-Khinh-An xâm nhập, tự cho là đủ, chẳng
cầu tiến thêm, cũng như Tỳ Kheo Vô Văn, làm lầm chúng sanh
đọa ngục A-Tỳ, lạc mất chánh định, sẽ bị chìm đắm.
9.
Trong lúc thiền định, thấy sắc ấm dứt, thọ ấm rõ ràng,
trong chỗ tỏ ngộ, được tánh hư minh, bỗng trong đó sanh
lòng đoạn diệt, bác bỏ nhân quả, luôn luôn chấp không.
Ngộ biết đó là vọng tưởng, chẳng phải chứng thánh, nếu
cho là thánh, thì bị Ma-Rỗng-Không xâm nhập, chê báng người
trì giới là Tiểu Thừa, cho bậc Bồ Tát hễ ngộ được
Tánh Không thì chẳng có trì phạm, thường ở nơi đàn việt
tín tâm, rượu thịt, dâm uế. Vì được sức ma nhiếp trì,
nên chẳng sanh nghi ngờ, tâm ma xâm nhập lâu ngày, hoặc ăn
những đồ nhơ nhớp, đại tiểu tiện, cho là chẳng khác
rượu thịt, phá hoại giới luật, khiến người tạo tội,
lạc mất chánh định, sẽ bị chìm đắm.
10.
Trong lúc thiền định, thấy sắc ấm dứt, thọ ấm rõ ràng,
ham đắm sự hư minh, bỗng sanh lòng yêu vô hạn, yêu quá phát
điên, liền thành tham dục, ấy gọi là trong định ham chấp
sự an ổn, không có trí huệ tự chế, lầm vào ái dục. Ngộ
biết đó là vọng tưởng, chẳng phải chứng thánh; nếu cho
là thánh thì bị Ma-Dục xâm nhập, vọng nói dâm dục là đạo
Bồ Đề, người hành dâm gọi là Trì Pháp Tử, dạy người
thế gian làm việc dâm dục. Nhờ sức ma nhiếp trì, những
kẻ ngu mê tin theo trong thời mạt pháp chẳng phải ít, đến
lúc ma sanh lòng chán rời khỏi thân thể, người ấy mất
hết uy đức, bị sa vào lưới pháp luật, khiến chúng sanh
bị lầm lạc, đọa địa ngục A-Tỳ, lạc mất chánh định,
sẽ bị chìm đắm.
-Mười
thứ cảnh giới thiền định trên, đều do thọ ấm và dụng
tâm giao tranh lẫn nhau mà hiện ra, chúng sanh ngu mê chẳng tự
xét kỹ, gặp nhân duyên này mà chẳng tự biết, nói là chứng
thánh, thành đại vọng ngữ, đọa ngục A-Tỳ.
-Sau
khi Như Lai nhập diệt, trong thời mạt pháp, các ngươi phải
theo lời dạy bảo như trên khai thị cho người tu, hộ trì
cho họ thành Vô Thượng Đạo, chớ để cho thiên ma được
dịp quấy phá.
Giảng
giải:
Sắc
ấm thuộc về vật chất; thọ, tưởng, hành, thức, thuộc
về tinh thần. Thọ ấm không phải vật chất, cho nên dùng
chữ “hư minh”. Minh là sáng, nhưng không phải thật nên
nói là hư, cũng do vọng tưởng sanh ra. Tất cả đều do vọng
tưởng của mình tạo ra. Trên nói sắc ấm và tâm giao tranh
lẫn nhau, còn đến chỗ này, tâm và thọ ấm giao tranh lẫn
nhau, hiện ra 10 thứ cảnh giới này.
Tức
là tâm sanh ra vọng tưởng, so đo tính toán giao tranh với thọ
ấm. Có nhiều cảnh giới, chứ không chỉ có 10 thứ cảnh
giới. Nếu chẳng tự biết, mà cho là chứng thánh đều là
đại vọng ngữ, thì phải đọa địa ngục a tỳ. Nên Phật
mới phòng ngừa trước và bảo các vị Bồ Tát theo lời Phật
dạy nói cho chúng sanh sau này biết, khỏi bị lọt vào tà
ma.
Hỏi:
Ở
Mỹ có mấy người nhập ma, vậy như thế nào?
Đáp:
Ở
Việt Nam cũng có nhập ma, chỗ nào cũng có, nhập ma mà tự
mình không biết, lại nói tu chánh pháp, giảng kinh thuyết
pháp. Giảng kinh thuyết pháp, nhưng không tu cũng bị nhập
ma. Trí Giả đại sư gọi là học Phật pháp thành ngoại đạo.
Từ
Điển Phật Học nói 3 thứ ngoại đạo:
-Ngoại
đạo thứ nhất là chính thức ngoại đạo. Họ dùng bản
hiệu ngoại đạo, tu thành tựu được sanh lên cõi trời hoặc
là làm thần tiên, họ không có tội địa ngục.
-Ngoại
đạo thứ nhì là cách tu ngoại đạo, nhưng lấy bản hiệu
Phật Giáo, cho mình là Phật Giáo, làm cho người ta hiểu lầm,
nên phải có tội địa ngục.
-Ngoại
đạo thứ 3 thì không phải ngoại đạo, những người này
học Phật pháp hay giảng kinh thuyết pháp, nhưng không hiểu
ý của Phật, cho ý của mình là ý của Phật để dạy chúng
sanh, tức là dùng chủ quan của mình cho là Phật nói vậy,
làm oan cho Phật. Như kinh nói: “Y kinh giải nghĩa tam thế
Phật oan”, thì họ thành học Phật pháp trở thành ngoại
đạo.
Trí
Giả đại sư của tông Thiên Thai đã chứng quả giải thích
rất đúng.
Hỏi:
Ngoại
đạo thứ ba và ngoại đạo thứ nhì, cái nào tội nhiều?
Đáp:
Phật
đã thọ ký cho những người học Phật pháp trở thành ngoại
đạo, tức là Phật thí dụ cho những người này là con trùng
của sư tử. Ngoại đạo không thể tiêu diệt Phật pháp.
Như
con sư tử thì bách thú đều sợ. Sư tử chết nằm đó, cọp
beo không dám lại gần ăn thịt, vì sợ nó đang ngủ. Sư tử
chết nên thịt bị thúi, con trùng sanh ra rồi ăn thịt nó;
tức là đệ tử của Phật mới tiêu diệt được Phật pháp.
Do
ngã chấp quá nặng, lấy ý của mình cho là mình hiểu Phật
pháp để dạy người, cho nên sai lầm. Nếu họ có tín đồ
nhiều chừng nào thì tội nặng nhiều chừng nấy, vì người
tin bị hại nhiều, nếu không có một người tin thì không
có tội.
Hỏi:
Có
vị bác sĩ biết Phật pháp, chỉ biết nghĩa 2 câu, chứ không
biết nghĩa 3 câu. Ông rất thành tâm giúp người ta tu, nên
nói pháp, vậy việc ấy như thế nào?
Đáp:
Những
người học Phật pháp thành ngoại đạo, thì họ cũng thành
muốn giúp người ta; nhưng giúp sai lầm, vì họ không biết
nên phải bị tội. Trong Phật pháp chẳng thà không biết thì
nói không biết, chứ đừng cho không biết nói là biết. Giảng
2 câu tức là còn nằm trong tương đối thì lọt vào biên
kiến trong 5 thứ ác kiến.
5
thứ ác kiến là: Thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ,
giới thủ kiến. Nhiều vị giảng kinh lọt vào biên kiến
mà tự mình không biết, vì chỉ giảng được 2 câu, không
thấu nghĩa 3 câu. Bá Trượng Ngữ Lục giải thích nghĩa 3
câu rất rõ. Tôi dịch kinh Kim Cang cũng thấy nhiều chỗ có
nghĩa 3 câu.
Hỏi:
Vậy
người dạy sai cũng thành tà đạo sao?
Đáp:
Phải
rồi, tâm tạo cái gì thì ra cái ấy. Chư Tổ nói trong lịch
sử Thiền tông, mặc dầu không phải của người tu, là do
lỗi của tà sư. Nhưng mình theo tà sư thì bị luôn, vì tâm
mình cũng tạo, không phải người khác tạo cho mình.
Hỏi:
Như
vậy các Pháp sư cũng có tội hết sao?
Đáp:
Nếu
kinh bất liễu nghĩa thì giảng theo kinh bất liễu nghĩa, họ
không có bị tội. Những người giảng kinh bất liễu nghĩa,
cuối cùng có con đường thông vào liễu nghĩa. Như các thời
khóa tụng kinh, sau cùng đều tụng Bát Nhã để quét sạch
những cái trước.
Tổ
Giáo môn lập sẵn ra thời khóa, nhưng người tụng không hay
biết, chỉ biết miệng tụng cho Phật nghe là có công đức.
Thậm chí, có người tụng sẵn để trong kho, người nào đến
mua đem ra bán, có giá tiền của mỗi bộ kinh. Do đó, nhiều
tiền đi vượt biên bị bắt cải tạo 13 năm.
Chánh
văn:
III
- MA TƯỞNG ẤM
-A
Nan! Người tu thiền định, khi dứt được thọ ấm, dù chưa
dứt hết tập khí, nhưng tâm đã được rời khỏi thân thể,
như chim ra khỏi lồng, đã được thành tựu từ thân phàm
trở lên, trải qua 60 cấp bậc thánh vị Bồ Tát, được Ý-Sanh-Thân,
đi ở vô ngại. Ví như có người ngủ say nói mớ, người
ấy dù không hay biết gì, nhưng lời nói của họ đã làm
cho người thức nghe biết, ấy gọi là phạm vi của Tưởng
Ấm.
Nếu
động niệm và vọng tưởng dứt trừ, trong tâm sáng tỏ như
gương sạch hết nhơ bụi, được sự chiếu soi, chẳng thấy
có tướng sanh tử, gọi là tưởng ấm hết, thì lúc ấy được
siêu việt Phiền Não Trược. Nhưng quán xét nguyên nhân là
do bởi Dung Thông Vọng tưởng (3) làm gốc.
l.
A Nan! Trong lúc thiền định, thọ ấm hư minh, chẳng lọt tà
tưởng, bỗng trong tâm ham đắm sự hư minh, tham cầu sự khéo
léo, khi ấy thiên ma được dịp nhập vào thân người khác
để thuyết pháp; người đó chẳng biết đã bị ma nhập,
tự nói đã được Vô Thượng Niết Bàn, đến nơi người
cầu khéo léo, thuyết pháp cho họ, hoặc hiện thân Tỳ Kheo,
hoặc Đế Thích, hoặc phụ nữ, hoặc Tỳ Kheo Ni, hoặc trong
phòng tối thân phát ánh sáng, người ấy ngu mê chẳng biết
cho là Bồ Tát, tin theo lời dạy của họ, tín tâm lay chuyển,
phá hoại giới luật, lén làm việc tham dục.
Ma
ưa nói những việc biến đổi của tội phước, hoặc nói
Như Lai sẽ ra đời chỗ này chỗ kia, hoặc nói những điềm
kiếp hỏa, binh loạn, hăm dọa người ta, làm cho gia tài người
ta vô cớ bị tiêu tan, ấy gọi là Quái Quỷ (quỷ tham lam)
tuổi già thành ma, nhiễu loạn người ấy, đến khi ma sanh
lòng chán, rời bỏ người ấy, lúc đó đệ tử lẫn thầy
đều bị sa lưới pháp luật. Các ngươi nên sớm giác ngộ
để khỏi bị luân hồi, nếu mê lầm chẳng biết, sẽ bị
đọa ngục A-Tỳ.
2.
Trong lúc thiền định, thọ ấm hư minh, chẳng lọt tà tưởng,
bỗng trong tâm ham thích đi chơi, tham cầu sự du lịch. Khi
ấy thiên ma được dịp nhập thân người khác để thuyết
pháp; người đó chẳng biết đã bị ma nhập, tự nói đã
được Vô Thượng Niết Bàn, đến chỗ người tham cầu du
lịch, thuyết pháp cho họ, người nghe pháp bỗng thấy thân
mình ngồi trên bửu liên hoa, toàn thân hóa thành sắc vàng,
cả chúng nghe pháp đều được như vậy, được chưa từng
có, ngu mê chẳng biết, cho là Bồ Tát, tâm ham dâm dục, phá
hoại giới luật, lén làm việc tham dục.
Ma
ưa nói việc chư Phật ra đời; hoặc nói người này người
kia, chỗ này chỗ nọ là Phật Bồ Tát hóa thân đến đây,
khiến người nghe thấy vậy, sanh lòng ham mộ, tà kiến khởi
lên, làm mất chủng trí, đây gọi là Bạt Quỷ (quỷ dâm
dục), tuổi già thành ma, nhiễu loạn người ấy, đến khi
ma sanh lòng chán, rời khỏi thân thể, lúc ấy đệ tử lẫn
thầy đều sa vào lưới pháp luật. Các ngươi nên sớm giác
ngộ mới khỏi bị luân hồi, nếu mê lầm chẳng biết, sẽ
bị đọa ngục A-Tỳ.
3.
Trong lúc thiền định, thọ ấm hư minh, chẳng lọt tà tưởng,
bỗng trong tâm tham cầu sự luôn luôn khế hợp. Khi ấy thiên
ma được dịp nhập thân người khác để thuyết pháp, người
đó chẳng biết đã bị ma nhập, tự nói đã được Vô Thượng
Niết Bàn, đến chỗ người cầu khế hợp thuyết pháp cho
họ, khiến người nghe chưa nghe pháp đã được tỏ ngộ,
niệm niệm dời đổi, hoặc được túc mạng thông, hoặc
được tha tâm thông, hoặc thấy địa ngục, hoặc biết các
việc tốt xấu của thế gian, hoặc nói kệ, hoặc tự tụng
kinh, mỗi mỗi đều vui vẻ, được chưa từng có, người
ấy ngu mê chẳng biết, cho là Bồ Tát tâm ham ái dục, phá
hoại giới luật, lén làm việc tham dục.
Ma
ưa nói Phật có lớn nhỏ trước sau, có chơn giả, có nam
Phật, nữ Phật, Bồ Tát cũng vậy; người nghe thấy vậy
lạc mất bản tâm, dễ lọt vào tà ngộ. Đây gọi là Mî
Quỷ (quỷ gian dối), tuổi già thành ma, nhiễu loạn người
ấy, đến khi ma sanh lòng chán, rời khỏi thân thể, lúc đó
đệ tử lẫn thầy đều bị sa lưới pháp luật. Các ngươi
nên sớm giác ngộ để khỏi bị luân hồi, nếu mê lầm chẳng
biết, sẽ bị đọa ngục A-Tỳ.
4.
Trong lúc thiền định, thọ ấm hư minh, chẳng lọt tà tưởng,
bỗng trong tâm ham thích suy xét căn bản, phân tích cội gốc
cùng tột của sự vật. Khi ấy thiên ma được dịp nhập
thân người khác để thuyết pháp, người đó chẳng biết
bị ma nhập, tự nói đã được Vô Thượng Niết Bàn, đến
chỗ người cầu phân tích cội gốc thuyết pháp cho họ, ma
có uy thần thuyết phục các người, khiến chưa nghe pháp,
tự nhiên tâm đã hàng phục, nói Bồ Đề Niết Bàn, pháp
thân thường trụ tức là cái sắc thân hiện hữu này, cha
con đời đời tương sanh với nhau tức là pháp thân thường
trụ chẳng dứt, cái trước mắt đã là cõi Phật, chẳng
có cõi Tịnh Độ và đức Phật nào khác. Người nghe tin nhận,
quên mất bản tâm trước, đem cả thân mạng quy y, được
chưa từng có, ngu mê chẳng biết, cho là Bồ Tát, tâm ham suy
xét, phá hoại giới luật, lén làm việc tham dục.
Ma
ưa nói nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt đều là Tịnh Độ, nam nữ nhị
căn là nơi chơn thật của Bồ Đề Niết Bàn, người mê chẳng
biết, tin lời ô uế ấy. Đây gọi là Cổ Độc Yểm Thắng
Ác Quỷ (quỷ cuồng), tuổi già thành ma, nhiễu loạn người
ấy, đến khi ma sanh lòng chán, rời khỏi thân thể, lúc đó
đệ tử lẫn thầy đều bị sa vào lưới pháp luật. Các
ngươi nên sớm giác ngộ để khỏi bị luân hồi, nếu mê
lầm chẳng biết, sẽ bị đọa ngục A-Tỳ.
5.
Trong lúc thiền định, thọ ấm hư minh, chẳng lọt tà tưởng,
bỗng trong tâm ham cầu sự tiên tri cảm ứng. Khi ấy thiên
ma được dịp nhập thân người khác để thuyết pháp, người
đó chẳng biết đã bị ma nhập, tự nói đã được Vô Thượng
Niết Bàn, đến chỗ người cầu cảm ứng, thuyết pháp cho
họ. Ma khiến người nghe tạm thấy thân họ như trăm ngàn
tuổi, lòng sanh yêu mến, chẳng muốn rời bỏ, chịu làm đầy
tớ cúng dường đủ thứ mà chẳng biết mệt mỏi, lại khiến
đồ chúng của mỗi người trong tâm đều biết họ là tiên
sư, là thiện tri thức, sanh lòng yêu mến, thiết tha như keo
sơn, được chưa từng có, người ấy ngu mê chẳng biết,
cho là Bồ Tát, tâm ưa thân cận, phá hoại giới luật, lén
làm việc tham dục.
Ma
ưa nói kiếp trước người này người kia là anh em, là vợ
của ta, nay đến để độ họ, cùng nhau đi đến cõi này
cõi kia để cúng dường Phật này Phật nọ; hoặc nói có
cõi trời Đại Quang Minh kia, chư Phật đều nghỉ tại đó,
người mê chẳng biết, tin lời cuồng vọng ấy. Đây gọi
là Lệ Quỷ (quỷ sân si), tuổi già thành ma, nhiễu loạn người
ấy, đến khi ma sanh lòng chán, rời khỏi thân thể, lúc ấy
đệ tử lẫn thầy đều bị sa vào lưới pháp luật. Các
ngươi nên sớm giác ngộ, để khỏi bị luân hồi, nếu mê
lầm chẳng biết, sẽ bị đọa ngục A-Tỳ.
6.
Trong lúc thiền định, thọ ấm hư minh, chẳng lọt tà tưởng,
bỗng trong tâm ham cầu tĩnh tịch, khắc khổ siêng tu, ưa thích
chỗ vắng lặng. Khi ấy thiên ma được dịp nhập thân người
khác để thuyết pháp, người đó chẳng biết đã bị ma nhập,
tự nói đã được Vô thượng Niết Bàn, đến chỗ người
cầu tĩnh lặng thuyết pháp cho họ. Ma khiến người nghe mỗi
mỗi đều biết nghiệp báo của mình, hoặc nói với một
người nào rằng: "Ngươi nay dù chưa chết, nhưng đã làm súc
sinh". Rồi bảo người khác đến sau lưng họ làm dạng đạp
đuôi, liền khiến người ấy đứng dậy chẳng được, làm
cho tất cả đều hết lòng khâm phục, có người móng tâm
lên, ma liền biết ý.
Ngoài
luật nghi của Phật ra, nó càng thêm khắc khổ, phỉ báng
Tỳ Kheo, chửi mắng đồ chúng, phơi bày việc người, chẳng
tránh hiềm khích, ưa nói việc tội phước của tương lai
mà mảy may không sai. Đây gọi là Đại Lực Quỷ (quỷ ngạo
mạn), tuổi già thành ma, nhiễu loạn người ấy, đến khi
ma sanh lòng chán, rời khỏi thân thể, lúc ấy đệ tử lẫn
thầy đều bị sa vào lưới pháp luật. Các ngươi nên sớm
giác ngộ, để khỏi bị luân hồi, nếu mê lầm chẳng biết,
sẽ bị đọa ngục A-Tỳ.
7.
Trong lúc thiền định, thọ ấm hư minh, chẳng lọt tà tưởng,
bỗng trong tâm ham muốn tri kiến, siêng năng nghiên cứu, tham
cầu túc mệnh. Khi ấy thiên ma được dịp nhập thân người
khác để thuyết pháp; người đó chẳng biết đã bị ma nhập,
tự nói đã được Vô Thượng Niết Bàn, đến chỗ người
cầu tri kiến, thuyết pháp cho họ. Người ấy khi không ở
nơi nghe pháp được hòn ngọc báu, có lúc ma lại hóa thành
súc sinh, miệng ngậm hạt châu và các châu báu, sách, bùa,
các vật quý lạ, trước tiên đem hiến cho người ấy, sau
nhập xác họ, hoặc bảo với họ là dưới đất nơi đó
có hạt châu chiếu sáng, khiến các người nghe, được chưa
từng có.
Do
sức ma nhiếp trì, thường ăn cây thuốc chứ chẳng ăn cơm,
hoặc hằng ngày chỉ ăn một hột mè hoặc một hột lúa mà
thân vẫn béo mạnh; phỉ báng Tỳ Kheo, chửi mắng đồ chúng,
chẳng tránh hiềm khích; ưa nói kho báu nơi tha phương hoặc
chỗ ẩn cư của bậc thánh hiền mười phương, những người
theo sau thường thấy có kẻ kỳ lạ. Đây gọi là loại quỷ
thần sơn lâm, thổ địa, thành hoàng sông núi, tuổi già thành
ma, hoặc kêu gọi làm việc dâm dục, phá hoại giới luật,
cùng với người vâng theo lén làm sự ngũ dục; hoặc chỉ
ăn cây cỏ cho là tinh tấn, những việc làm không có nhất
định, nhiễu loạn người ấy, đến khi ma sanh lòng chán,
rời khỏi thân thể, lúc ấy đệ tử lẫn thầy đều bị
sa vào lưới pháp luật. Các ngươi nên sớm giác ngộ, nếu
mê lầm chẳng biết, sẽ bị đọa ngục A-Tỳ.
8.
Trong lúc thiền định, thọ ấm hư minh, chẳng lọt tà tưởng,
bỗng trong tâm ham cầu thần thông biến hóa. Khi ấy thiên
ma được dịp nhập thân người khác để thuyết pháp, người
đó chẳng biết đã bị ma nhập, tự nói đã được Vô Thượng
Niết Bàn, đến chỗ người cầu thần thông, thuyết pháp
cho họ.
Người
ấy hoặc tay cầm ngọn lửa để trên đầu tứ chúng, lửa
cháy sáng vài thước mà chẳng thấy nóng hay bị cháy, hoặc
đi trên mặt nước như đi trên đất bằng, hoặc an tọa ở
giữa hư không, hoặc vào trong bình hay trong túi, xuyên qua bức
tường đều chẳng chướng ngại, chỉ đối với quân binh
giao trận là không được tự tại thôi. Tự nói là Phật,
thân mặc bạch y, nhận lễ lạy của bậc Tỳ Kheo, phỉ báng
thiền luật, chửi mắng đồ chúng, phơi bày việc người
mà chẳng tránh hiềm khích, ưa nói thần thông tự tại, hoặc
khiến người thấy cõi Phật ở kế bên; dùng sức quỷ mê
hoặc người, chẳng phải có thật, khen ngợi sự dâm dục,
chẳng bỏ thô hạnh, đem những việc ô uế cho là truyền
pháp.
Đây
gọi là loại Sơn tinh, Hải Tinh, Phong Tinh, Hà Tinh, Thổ Tinh,
tất cả cây cỏ trên trời đất lâu năm lụy kiếp thành
tinh, hoặc là Long (rồng) mî, hoặc loại tiên chết rồi sống
lại thành mî, hoặc loại tiên chết rồi hình thể chưa tan,
quỷ quái khác nhập vào, tuổi già thành ma, nhiễu loạn người
ấy, đến khi ma sanh lòng chán, rời khỏi thân thể, lúc ấy
đệ tử lẫn thầy đều bị sa vào lưới pháp luật. Các
ngươi nên sớm giác ngộ, để khỏi bị luân hồi, nếu mê
lầm chẳng biết, sẽ bị đọa ngục A-Tỳ.
9.
Trong lúc thiền định, thọ ấm hư minh, chẳng lọt tà tưởng,
bỗng trong tâm ham muốn nhập diệt, tham cầu đi sâu vào cái
rỗng không. Khi ấy thiên ma được dịp nhập thân người
khác để thuyết pháp, người đó chẳng biết đã bị ma nhập,
tự nói đã được Vô Thượng Niết Bàn, đến chỗ người
cầu rỗng không, thuyết pháp cho họ.
Trước
mặt đại chúng, thân ma bỗng biến mất, chúng không trông
thấy, lại từ hư không thình lình hiện ra, ở đi tự tại,
hoặc hiện thân như lưu ly, hoặc duỗi tay chân bay mùi chiên
đàn, hoặc đại tiểu tiện như đường phèn cứng chắc,
phỉ báng giới luật, khinh bỉ người xuất gia. Ưa nói không
có nhân quả, hễ chết rồi là diệt hẳn, chẳng có thân
sau và nói các phàm thánh dù đã được không tịch, nhưng
vẫn còn lén hành tham dục, và người thọ sự dâm dục ấy
cũng được Tâm-Không.
Đây
gọi là loại kim ngọc, chi thảo, hoặc con lân, phụng, rùa,
hạc, thu hút tinh khí của nhựt nguyệt, trải qua ngàn vạn
năm chẳng chết thành tinh, tuổi già thành ma, nhiễu loạn
người ấy, đến khi ma sanh lòng chán, rời khỏi thân thể,
lúc ấy đệ tử lẫn thầy đều sa vào lưới pháp luật.
Các ngươi nên sớm giác ngộ để khỏi bị luân hồi, nếu
mê lầm chẳng biết, sẽ bị đọa ngục A-Tỳ.
10.
Trong lúc thiền định, thọ ấm hư minh, chẳng lọt tà tưởng,
bỗng trong tâm ham muốn sống lâu, vất vả nghiên cứu, tham
cầu trường thọ chẳng diệt. Khi ấy thiên ma được dịp
nhập thân người khác để thuyết pháp, người đó chẳng
biết đã bị ma nhập, tự nói đã được Vô Thượng Niết
Bàn, đến chỗ người cầu trường thọ, thuyết pháp cho họ,
hay nói đi lại từ nơi này đến nơi khác chẳng có ngăn ngại;
hoặc trong chốc lát từ muôn ngàn dặm đi liền trở lại,
mang theo đồ vật của nơi đó; hoặc ở trong nhà, cho người
ấy đi vài bước từ vách tường bên đông sang bên tây, mà
người ấy đi gấp suốt năm chẳng tới, khiến họ tin đó
là Phật hiện tiền.
Ma
ưa nói tất cả mười phương chúng sanh đều là con ta, ta
sanh ra chư Phật, sanh ra thế giới, là Phật nguyên thủy, tự
nhiên ra đời, chẳng do tu được. Đây gọi là Tự Tại Thiên
Ma ở đời, sai khiến những quyến thuộc chưa phát tâm (kẻ
đã phát tâm thì hộ trì chánh pháp), lợi dụng sự hư minh
của họ, thu hút tinh khí của người.
Người
ấy hoặc không nhờ thầy mà tự mình thấy rõ, ma tự xưng
là Thần Hộ Pháp Kim Cang, cho người sống lâu; hoặc hiện
thân mỹ nữ, thịnh hành việc tham dục, khiến người ấy
chưa đầy một năm gan não đã khô kiệt, hay nói lẩm nhẩm
một mình, nghe như yêu mî mà người khác chẳng hiểu. Khi
bị sa vào lưới pháp luật, chưa kịp xử hình thì đã chết
khô, nhiễu loạn người ấy đến chết mới thôi. Các ngươi
nên sớm giác ngộ để khỏi bị luân hồi, nếu mê lầm chẳng
biết, sẽ bị đọa ngục A-Tỳ.
-A
Nan phải biết! Nơi thời mạt pháp, mười thứ ma kể trên
ở trong pháp ta xuất gia tu hành; hoặc nhập thân người khác,
hoặc tự hiện hình, đều nói đã thành chánh biến tri, khen
ngợi sự dâm dục, phá hoại giới luật. Ma và đệ tử họ
truyền nhau làm việc dâm dục, tà ma như thế, mê hoặc tâm
can người từ chín đời cho đến cả trăm đời, khiến người
tu hành đều thành quyến thuộc của họ, sau khi chết tất
cả sẽ trở thành dân ma, lạc mất chánh biến tri, đọa ngục
A-Tỳ.
-Nay
các ngươi dẫu đã được vô lậu, chưa nên sớm nhập Niết
Bàn, phải nguyện ở lại, vào trong thời mạt pháp, khởi
đại từ bi, cứu người phát chánh tâm tu hành, khiến đừng
lạc vào tà ma, được chánh biến tri. Nay ta đã độ các ngươi
ra khỏi sanh tử, các ngươi hãy theo lời Phật dạy mà hành
gọi là báo ân Phật.
-A
Nan! Mười thứ cảnh giới thiền định trên, đều do Tưởng
Ấm và dụng tâm giao tranh lẫn nhau mà hiện ra, chúng sanh ngu
mê chẳng tự xét kỹ, gặp nhân duyên này mà chẳng tự biết,
nói là chứng thánh, thành đại vọng ngữ, đọa ngục A Tỳ.
-Sau
khi Như Lai nhập diệt, trong thời mạt pháp, các ngươi phải
theo như lời dạy bảo trên khai thị cho người tu, hộ trì
cho họ thành Vô Thượng Đạo, chớ để cho thiên ma được
dịp quấy phá.
Giảng
giải:
Đoạn
này nói về tưởng ấm, ngũ ấm là ngũ uẩn. Bát Nhã Tâm
Kinh nói: “Chiếu ngũ uẩn giai không”, tức là ngũ uẩn không
thật, do nguồn gốc vọng tưởng mà có. Sắc ấm gọi là
kiên cố vọng tưởng, Thọ ấm gọi là hư minh vọng tưởng,
Tưởng ấm gọi là dung thông vọng tưởng.
Tại
sao có dung thông vọng tưởng? Vì có sắc ấm với tâm suy
nghĩ, suy nghĩ bất cứ cái gì đều là vọng. Cho là Phật
có thật cũng là vọng, cho là Phật không có thật cũng là
vọng, tức là nổi lên ý niệm gì đều là vọng. Cái vọng
này là do tưởng ấm với tâm giao tranh mới thành. Cho nên,
hai cái dung thông gọi là dung thông vọng tưởng.
Cảnh
giới 1 đến cảnh giới 10, do mình chấp thật vọng tưởng
thì ma mới thừa cơ hội nhập vào, làm cho mình đủ thứ
thần thông. Như mình ở đây về Việt Nam lấy đồ vật chỉ
có 5 phút. Đó là thần thông của ma, nhưng người ấy tưởng
mình có thần thông. Đến chừng ma nhàm chán, bỏ thân thể
thì người ấy và thầy sa vào lưới pháp luật, bị pháp
luật trừng trị, sau này phải đọa xuống địa ngục.
Cho
nên, Phật bảo các Bồ Tát, phải theo lời của Phật dạy
cho người đời sau biết, đừng chấp cho là thật thì khỏi
bị sa vào lưới pháp luật và không bị đoạ địa ngục.
Những ma tu có thần thông lớn, nhưng hưởng hết phước báo,
sau này cũng đọa địa ngục. Trong này nói: “Đệ tử lẫn
thầy đều đọa địa ngục”.
Có
người nói: “Tôi làm đệ tử, đâu có biết!” Tuy không
biết, nhưng theo thầy đó ủng hộ cho là đúng, làm cho người
khác phải bị hiểu lầm, giúp cho thầy làm việc tà, để
cho người khác theo. Nếu theo càng đông thì tội càng lớn,
nên cũng theo thầy xuống địa ngục. Không phải là không
biết mà không có tội!
Liên
Hệ:
Kinh
Thủ Lăng Nghiêm Tông Thông, HT. Nhẫn Tế
Kinh
Thủ Lăng Nghiêm, HT. Thích Duy Lực
Tổng
Luận Kinh Lă ng Nghiêm Trưc Chỉ, HT. Thích Thiện Siêu
Pháp
Tu Lăng Nghiêm Ðại Ðịnh, HT. Thích Huệ Hưng
Phép
Tu Lăng Nghiêm Ðại Ðịnh
