THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học   Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn  Index Tác-Giả

 
 
 
 
 
c
GIẢNG KINH LĂNG NGHIÊM
Hoà Thượng Thích Duy Lực
Thích Đồng Thường Lập Thành Văn Tự
ML
01
02
03
04
05
06
07
08
09
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
KINH THỦ LĂNG NGHIÊM
Quyển 9

Chánh văn: 
SẮC GIỚI

SƠ THIỀN

l. A Nan! Tất cả người tu tâm trong thế gian chẳng nhờ Thiền Na thì chẳng có trí huệ; nếu được giữ thân chẳng dâm dục, khi đi khi ngồi, niệm tưởng đều không, ái nhiễm chẳng sanh, chẳng lưu luyến Dục Giới, làm bạn với Phạn Thiên, hạng này gọi là Phạn Chúng Thiên. 

2. Dục lậu đã trừ, "Tâm lìa dục" hiện, ưa hành theo các luật nghi, đức hạnh trong sạch, hạng này gọi là Phạn Phụ Thiên. 

3. Thân tâm diệu viên, oai nghi đầy đủ, giới cấm trong sạch, lại có sự tỏ ngộ, được thống lãnh Phạn Chúng, làm Đại Phạn Vương, hạng này gọi là Đại Phạn Thiên. 

-A Nan! Ba bậc này tất cả khổ não chẳng thể bức bách, dù chẳng phải chánh tu chơn Tam Ma Địa, nhưng nơi tâm trong sạch, dục lậu chẳng thể lay động, gọi là Sơ Thiền. 

NHỊ THIỀN

l. A Nan! Hàng Phạn Thiên thống lãnh Phạn chúng, đầy đủ phạn hạnh, lắng tâm chẳng động; do tịch lặng sanh ra ánh sáng; hạng này gọi là Thiểu Quang Thiên. 

2. Ánh sáng chói lọi, chiếu soi vô cùng, chiếu khắp mười phương cõi đều như lưu ly; hạng này gọi là Vô Lượng Quang Thiên. 

3. Hào quang đồng như âm thanh, thành tựu giáo thể, phát ra sự giáo hóa trong sạch, ứng dụng vô cùng; hạng này gọi là Quang Âm Thiên. 

-A Nan! Ba bậc này tất cả lo buồn chẳng thể bức bách, dù chẳng phải chánh tu chơn Tam Ma Địa, nhưng nơi tâm trong sạch, những phiền não thô động đã uốn dẹp, gọi là Nhị Thiền. 

TAM THIỀN

l. A Nan! Hào quang thành âm, dùng âm thanh tỏ bày diệu lý, thành hạnh tinh tấn, thông với sự vui tịch diệt, hạng này gọi là Thiểu Tịnh Thiên. 

2. Cảnh "Tịnh Không" hiện tiền, chẳng có bờ bến, thân tâm nhẹ nhàng, thành sự vui tịch diệt, hạng này gọi là Vô Lượng Tịnh Thiên. 

3. Thế giới và thân tâm, tất cả đều trong sạch, thành tựu đức tánh trong sạch, thắng cảnh hiện tiền, qui về cái vui tịch diệt, hạng này gọi là Biến Tịnh Thiên. 

-A Nan! Ba bậc này đầy đủ công hạnh đại tùy thuận, thân tâm yên ổn, được sự vui vô lượng, dù chẳng phải thật đắc chơn Tam Ma Địa, nhưng nơi tâm yên ổn trọn đủ sự hoan hỷ, gọi là Tam Thiền. 

TỨ THIỀN

l. Lại nữa A Nan! Cõi trời này, thân tâm chẳng bị bức bách, nhân khổ đã hết, biết sự vui chẳng thường trụ, lâu ắt biến hoại, hai tâm khổ vui nhất thời cùng xả, tướng thô đã diệt, tánh phước được sanh, hạng này gọi là Phước Sanh Thiên. 

2. Tâm xả viên dung, thắng giải trong sạch, được sự tùy thuận nhiệm mầu, cùng tột vị lai, tánh phước chẳng ngăn ngại, hạng này gọi là Phước Ái Thiên. 

3. A Nan! Từ cõi trời này tẻ ra hai đường: Nếu dùng tâm sáng tỏ đầy đủ phước đức trước kia để tu chứng an trụ, hạng này gọi là Quảng Quả Thiên. 

4. Nếu nơi tâm trước kia, nhàm chán cả khổ vui, lại nghiền ngẫm cái tâm xả chẳng gián đoạn, trọn thành đạo xả, thân tâm tiêu diệt, lắng tâm bặt tưởng, trải qua năm trăm kiếp. Nhưng vì người ấy đã lấy cái sanh diệt làm nhân, thì chẳng thể phát minh tánh chẳng sanh diệt, nên nửa kiếp đầu thì diệt, nửa kiếp sau lại sanh, hạng này gọi là Vô Tưởng Thiên. 

-A Nan! Bốn bậc này tất cả cảnh khổ vui của thế gian chẳng thể lay động, dù chẳng phải là chỗ chơn bất động của đạo vô vi, nhưng nơi tâm có sở đắc, công dụng thuần thục, gọi là Tứ Thiền. 

NGŨ TỊNH CƯ THIÊN

-Ở đây, còn có năm bậc Bất Hoàn Thiên, đã dứt sạch chín phẩm tập khí của cõi dưới, khổ vui đều hết, chẳng định cư ở cõi dưới, nên an lập chỗ ở nơi tâm xả của đồng phận chúng sanh. 

l. Vậy, khổ vui đã diệt, ưa ghét chẳng sanh, hạng này gọi là Vô Phiền Thiên. 

2. Tự tại phóng xả, chẳng có năng sở, tâm chẳng đối đãi, hạng này gọi là Vô Nhiệt Thiên. 

3. Mười phương thế giới, diện kiến trong lặng, chẳng còn tất cả cấu nhiễm của cảnh trần, hạng này gọi là Thiện Kiến Thiên. 

4. Diệu kiến hiện tiền, biến tạo vô ngại, hạng này gọi là Thiện Hiện Thiên. 

5. Sắc trần từ tướng lăng xăng đến chỗ cứu cánh chẳng động, cùng tột tánh sắc chẳng có bờ bến, hạng này gọi là Sắc Cứu Cánh Thiên. 

-A Nan! Với các cõi Bất Hoàn Thiên này, chỉ riêng bốn vị Thiên Vương cõi Tứ Thiền mới được nghe biết, nhưng chẳng thể thấy biết. Như nay trong thế gian, nơi núi sâu rừng thẳm, những đạo tràng của bậc 
thánh, đều có các vị A La Hán trụ trì, mà người thế tục chẳng thể thấy. 

-A Nan! Mười tám cõi trời kể trên, dù thoát khỏi cảnh dục, nhưng chưa thoát khỏi sắc thân, gọi là Sắc Giới.

Giảng giải:

18 lớp cõi trời sắc giới chia làm tứ thiền: Nhị thiền, tam thiền và tứ thiền. Ngoại đạo tu thiền được sanh lên cõi trời.

Sơ thiền có 3 lớp: Phạm Chúng Thiên, Phạm Phụ Thiên và Đại Phạn Thiên. Nói đức Chúa trời tạo ra vũ trụ vạn vật gọi là Đại Phạn Thiên. Kỳ thật, không phải. Vì người ta hiểu lầm, vũ trụ vạn vật không có ai tạo. Phật đã nói tất cả đều bắt đầu là nghĩa vô sanh, tức không sanh khởi. Thân này do cha mẹ sanh ra, nhưng truy cứu thì không có cha mẹ đầu tiên, tức là không bắt đầu.

Phật tánh tồn tại vĩnh viễn, không chết mất mà không sự thành lập; nếu có sự thành lập thì có bắt đầu. Nhà khoa học chưa biết được cho là tự nhiên, kinh Lăng Nghiêm nói: “Không có thể tự nhiên và nhân duyên”.

 Sự thật chứng tỏ không phải tự nhiên, cũng không phải nhân duyên, nếu tự nhiên được thì chỗ không có biến thành có. Vậy con người khỏi cần cha mẹ sanh ra, trái đào không cần cây đào sanh ra, trái dừa không cần cây dừa sanh ra. Cho nên, lý tự nhiên không thể được.

Nếu nói là nhân duyên, cũng như con gà và trứng gà làm nhân duyên với nhau, con gà sanh ra trứng gà, trứng gà ấp ra con gà. Nhưng không có nhân đầu tiên, tức là con gà không có thể bắt đầu, trứng gà không có thể bắt đầu. Không thể bắt đầu, Phật nói vô thỉ; tức là nghĩa vô sanh, nên người tu chứng quả gọi là ngộ pháp vô sanh.

Nhưng bây giờ người ta không chịu tin là vô thỉ vô sanh, nhà khoa học và nhà triết học không tin nghĩa vô sanh, vì chấp thật; nếu có bắt đầu thì bắt đầu chỗ nào? Không có chỗ. Vì bản tâm cùng khắp hư không. 

Bắt đầu từ thời gian nào? Chính thời gian không có bắt đầu, mình truy sự bắt đầu thì phải xuyên qua thời gian; thời gian không bắt đầu thì vũ trụ vạn vật làm sao có sự bắt đầu? Nhưng nhà khoa học tới bây giờ tìm không ra, nhưng vẫn tìm sự bắt đầu của vũ trụ và con người. Nhưng sự thật không bắt đầu được.

Nếu nói bắt đầu thì chỉ có 2 điểm bắt đầu, bắt đầu từ chỗ có hay bắt đầu từ chỗ không có. Nếu bắt đầu từ chỗ có thì chỗ có kia đã bắt đầu rồi, nếu bắt đầu chỗ không có thì vô lý, không có biến thành có thì thế giới loạn hết. Như vừa rồi tôi nói: “Con người khỏi cần cha mẹ sanh ra, trái dừa khỏi cần cây dừa sanh ra”. 

Bây giờ, cây lý sanh ra trái lý, chứ cây lý không thể sanh ra trái đào được. Không có cây lý, không thể tự nhiên có trái lý, không có thể tự nhiên được thì không có thể bắt đầu. Cho nên, Phật nói trắng ra là không có sự bắt đầu.

Hiện tượng thế giới này mình chấp cho là thật, mới tìm sự  bắt đầu; như nhắm mắt chiêm bao, ai cũng biết không có bắt đầu. Lúc đang chiêm bao thấy cái nào cũng thật, giả sử thiện tri thức trong chiêm bao giải thích cho người trong chiêm bao, tất cả các thứ trong chiêm bao đều không thật, người chiêm bao không tin, vì tiếp xúc thấy cái nào cũng thật. Khi mình thức dậy thì tự mình chứng tỏ không có cái nào thật, luôn cả thân chiêm bao cũng không thật.

Mở mắt chiêm bao cũng vậy, tiếp xúc cái gì cũng thật, ai cũng chấp thế giới này là thật; tới chừng kiến tánh tức là ở trong mở mắt chiêm bao thức tỉnh, mới tự mình chứng tỏ, gọi là chứng ngộ, cũng gọi là chứng quả. Nếu chưa ngộ thì tiếp xúc cái gì đều cho là thật, vì chưa được chứng phần. Khi thức tỉnh nhắm  mắt chiêm bao, được tự chứng phần thì tin đó là chiêm bao. Còn mở mắt chiêm bao chưa được tự chứng phần, tuy Phật nói rất có lý, mình cũng không tin.

Tôi giảng theo kinh, các vị nghe không tin nổi, nên bây giờ huân tập từ từ mới tin. Huân tập được rồi, những cái ham thích tự động bớt dần thì lòng tin có thêm. Mình tu đúng theo chánh pháp của Phật Thích Ca thân truyền pháp Tổ Sư thiền là hơn 4 thiền của sắc giới nhiều lắm. Nếu muốn tu tứ thiền tốn không biết bao nhiêu công phu, chịu bao nhiêu cực khổ.

Qua tứ thiền còn có ngũ tịnh cư thiên, có 5 lớp. 5 lớp này khi họ biết được chánh pháp, có thể chứng quả A La Hán ra khỏi luân hồi. Nếu không biết chánh pháp, chấp thật 4 thiền này, không ra khỏi luân hồi.

Chánh văn:

VÔ SẮC GIỚI

-Lại nữa A Nan! Từ trên đảnh của Sắc Giới, lại tẽ ra hai đường: 

-Nếu nơi tâm xả, phát minh trí huệ, sáng suốt viên thông, bèn ra cõi trần, thành A La Hán, vào Bồ Tát Thừa, hạng này gọi là Hồi Tâm Đại A La Hán. 

-Nếu nơi tâm xả được thành tựu, thấy thân chướng ngại, tiêu ngại vào không, hạng này gọi là Không Xứ. 

-Chướng ngại đã tiêu, vô ngại vô diệt, trong đó chỉ còn A Lại Da Thức và nửa phần vi tế của Mạt Na Thức; hạng này gọi là Thức Xứ. 

-Sắc và Không đã tiêu, tâm thức đều diệt, mười phương tịch lặng, chẳng có chỗ đến; hạng này gọi là Vô Sở Hữu Xứ. 

-Dùng tánh thức chẳng động để diệt sự nghiền ngẫm, thành ra ở nơi vô tận lại tỏ bày tánh tận, như còn mà chẳng còn, tận mà chẳng tận, hạng này gọi là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. 

-Hạng này xét cùng cái Không, nhưng chẳng tột lý Không; nếu từ thánh đạo Bất Hoàn Thiên mà xét cùng, hạng này gọi là Bất Hồi Tâm Độn A La Hán. 

-Nếu từ Vô Tưởng Thiên của ngoại đạo mà chấp thật Không, chẳng biết quày đầu, mê muội hữu lậu, chẳng nghe chánh pháp, bèn vào luân hồi. 

-A Nan! Những cõi trời kể trên, mỗi mỗi đều là phàm phu đền trả nghiệp quả, khi nghiệp quả trả hết bèn vào luân hồi. Thiên Vương các cõi ấy, đều là Bồ Tát tu Tam Ma Địa, lần lượt tiến lên, hướng về đường tu của Bậc Thánh. 

-A Nan! Cõi Tứ Không này, thân tâm dứt sạch, tánh định hiện tiền, chẳng có sắc thân của nghiệp quả; từ đây đến cùng, gọi là Vô Sắc Giới. 

-Ấy đều do chẳng rõ diệu tâm sáng tỏ, tích chứa vọng tưởng, chấp thân trung ấm, tùy loại thọ sanh, vọng có tam giới, nên vọng theo bảy loài mà chìm đắm. 

Giảng giải:

Chỗ Ngũ Tịnh Cư Thiên là cao nhất sắc giới, tẻ ra 2 đường:

-Nếu nơi tâm xả, phát minh trí huệ, sáng suốt viên thông thì ra cõi trần, thành A La Hán (ra khỏi luân hồi) vào Bồ Tát thừa, hạng này gọi là hồi tâm đại A La Hán.

Tức là hồi tâm phàm phu thành tâm thánh nhân. 10 pháp giới là: Tứ thánh và lục phàm. Lục phàm là: Trời, người. A Tu La, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục. Tứ thánh là A La Hán (Thanh Văn), Bích Chi Phật (Duyên Giác), Bồ Tát và Phật. Nếu cõi trời cao nhất mà hồi tâm được ra khỏi cõi trần thì chứng quả A La Hán.

-Nếu nơi tâm xả được thành tựu, thấy thân chướng ngại, tiêu ngại vào không (chấp không), hạng này gọi là Không Xứ (tuổi thọ được 20.000 đại kiếp, vô sắc không có sắc thân, chấp a lại da thức là ta).

-Chướng ngại đã tiêu, vô ngại vô diệt, trong đó chỉ còn A Lại Da Thức và nửa phần vi tế của Mạt Na Thức (thức thứ 7 chấp a lại thức là ta, còn ta nên không ra khỏi luân hồi, tức chưa phá được ngã chấp), hạng này gọi là Thức Xứ (tuổi thọ 40.000 đại kiếp).

-Sắc và không đã tiêu, tâm thức đều diệt, 10 phương tịch lặng, chẳng có chỗ đến; hạng này gọi là Vô Sở Hữu Xứ.

Nếu mình muốn đến chỗ này đâu phải dễ. Bây giờ mình tiếp xúc hư không và vật chất đều chấp cho là thật. Như  trái nho, cái tách thuộc về sắc, hư không thuộc về hư không; đến chỗ này sắc và không đã tiêu, mà tâm thức cũng diệt. 

Tâm thức của mình biết trái nho, cái tách, hư không. 10 phương hư không chẳng thấy biết, nhưng có chỗ tịch lặng, chẳng có chỗ đến, chính là trụ nơi này, rồi cho là không có cái gì, gọi là vô sở hữu xứ. Chấp vào hoàn toàn không có cái gì, vì không có tâm thức để biết sắc, không; tuổi thọ quả này được 60.000 đại kiếp.

Hỏi:

Cái không này có giống vô ký không chăng?

Đáp:

Không này là vô ký không của ngoại đạo, còn của mình là ở trên đường tu, có lọt vào một chút thì cũng trở lại bình thường. Quả của ngoại đạo thì họ hưởng 60.000 đại kiếp, họ trụ nơi tịch lặng nên không tiến lên, cho nên gọi là vô sở hữu (không có cái gì).

-Dùng tánh thức chẳng động để diệt sự nghiền ngẫm, thành ra ở nơi vô tận tỏ bày tánh tận, như còn mà chẳng còn, tận mà chẳng tận, hạng này gọi là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ.

Đây là cõi trời cao nhất, tuổi thọ 80.000 đại kiếp. 1 đại kiếp có 4 trung kiếp, 1 trung kiếp có 20 tiểu kiếp, 1 tiểu kiếp có 16.000.000 năm.

16.000.000 năm x 20 x 4 x 80.000 = 102.400.000.000.000 năm, là tuổi thọ của Phi Tưởng Phi Phi Tưởng. Nhưng họ cũng ở trong chiêm bao.

Ngày xưa Phật chưa chứng quả đi theo ngoại đạo, sau cùng theo ông Uất Đầu Lam Phất, thì Phật cũng chứng đến chỗ đó, nhưng Phật biết là không được, mới bỏ đi. Khi Phật thành đạo, muốn độ ông Uất Đầu Lam Phất, thấy ông đã vào cõi Phi Tưởng Phi Phi Tưởng trước một ngày.

Phật nói, khi ông hết tuổi thọ, phải đọa làm chồn bay, vì lúc tu, bên bờ sông nghe cá lội làm cho ông bực mình, trên cây nghe chim kêu làm cho ông khó chịu. Tâm ông nghĩ: “Sau này tôi làm chồn bay vào rừng ăn  chim, vào nước ăn cá”. Có tâm niệm lại quên, nhưng đã gieo nhân rồi, khi hưởng hết tuổi thọ cõi trời phải đọa làm chồn bay. Nếu ăn chim ăn cá thì phải đọa thêm nữa, để trả nợ mạng nợ thịt.

Nếu không tu đúng chánh pháp rất nguy hiểm. Đã phí bao nhiêu công cực khổ, mà lại bị luân hồi sanh tử.

Hỏi:

Loài người do loài khỉ mà thành, vậy thuyết ấy như thế nào?

Đáp:

Tôi hỏi: Con người do con khỉ tiến hóa, vậy con khỉ do con gì tiến hoá? Nói là con chó. Con chó do con gì tiến hoá? Con mèo. Con mèo do con gì tiến hoá? Con chuột. Cứ hỏi tới hoài, cuối cùng tới con sau chót thì không trả lời được. Lý luận tiến hóa đó không thành lập được, các nhà khoa học vì họ chấp thật. Kỳ thật do nghiệp thức mình biến ra, làm sao mà tiến hóa được!

Hỏi:

Bây giờ chinh phục thiên nhiên để phục vụ cho loài người, việc ấy như thế nào?

Đáp:

Vì chú trọng hưởng thụ vật chất nên có việc ấy. Nhưng cảm thấy hạnh phúc là vật chất hay tinh thần? Nếu đem so sánh hưởng thụ vật chất ở Mỹ là cao hơn hết, nhưng tinh thần hạnh phúc ít lo lắng không bằng ở Việt Nam. Những người triệu phú muốn hưởng cái gì cũng được, nhưng phiền não nhiều hơn người thường. So sánh với người xưa mấy ngàn năm trước, họ còn hạnh phúc hơn mình, vì họ không có lo gì cả. Mặt trời lên, họ đi làm, mặt trời xuống họ đi về.

Hỏi:

Làm thế nào có điểm đầu tiên để tiến lên?

Đáp:

Đâu có căn bản nào để tiến lên, vì họ không hiểu được căn bản. Căn bản là tâm. Theo vật lý là tuần hoàn không có bắt đầu, vũ trụ lớn, vũ trụ nhỏ cũng như vòng tròn vậy. Nếu dùng kính hiển vi mấy ngàn lần xem cái bàn, cái tách, thấy những hạt nguyên tử, giữa có một trung tử, chu vi có nhiều điện tử đang xoay tròn. 

Mặt trăng thì xoay xung quanh địa cầu, địa cầu xoay xung quanh mặt trời, mỗi giờ xoay 180.000 cây số. Mình đi xe 100 cây số giờ thấy đã nhanh. Hiện nay mình ngồi đây như ở trên một chiếc phi thuyền đang bay 180.000 cây số giờ, nhưng mình không thấy có bay.

Vũ trụ lớn xoay thì nói là do hấp dẫn lực của vạn hữu. Chiếc xe hơi chạy phải có xăng, để làm động lực mới chạy. Nhưng hạt nguyên tử đang xoay, vậy lấy gì để xoay? Không biết nó bắt đầu xoay từ hồi nào? 

Và không biết chừng nào nó chấm dứt xoay? Ví dụ trái đất nổ thành nhiều hạt bụi, mỗi hạt bụi vẫn còn xoay, không bao giờ ngưng. Vậy động lực do đâu mà xoay hoài? Nhà khoa học cũng không biết.

Hỏi:

Có người đặt ra câu hỏi: Tại sao tôi có hai lông mày? Việc ấy như thế nào?

Đáp:

Nếu hỏi thì cái nào cũng có tại sao? Tất cả đều không biết nguồn gốc tại sao. Phật đã nói rõ là “tất cả đều do tâm tạo”. Nhưng tâm không hình tướng, không số lượng; nhà khoa học nhận biết số lượng, còn thực tế không biết. Nhà khoa học muốn truy cứu sự bắt đầu, phải phân tích rất nhỏ để tìm sự bắt đầu. Nhưng toán học phân tích càng nhỏ thì không tới chỗ bắt đầu được, chỉ có con số nhỏ thêm thôi.

Như con sâu dép cỏ là một tế bào rất nhỏ phải dùng kính hiển vi mới thấy được. Nếu một ngày nó thành 2 con thì trải qua 130 ngày thể tích thành 1 quả đất, thêm 1 ngày nó thành 2 quả đất. Nếu đem quả đất xẻ hai, cứ mỗi phần xẻ hai đến 130 ngày thì khôi phục lại con sâu dép cỏ. Theo thứ tự đó, dùng toán học xẻ con sâu thêm; nó chỉ có con số biểu thị, nhưng thịt của con sâu, nhà khoa học không thể biết được.

Truy cứu sự bắt đầu của không gian và thời gian cũng vậy. Nhà khoa học dùng tư tưởng chấp thật, để truy cứu rất mâu thuẫn. Chuyện trước mắt đã không truy cứu được, huống là hồi xưa mấy triệu năm trước làm sao biết được! Hiện tại một ngày 24 tiếng, 1 tiếng có 60 phút, 1 phút có 60 giây, 1 giây nhà Phật có 60 sát na; nếu chia thêm 3 lần nữa, con số vẫn còn rõ ràng, mà nhà khoa học không thể biết nếu đem chia 3.000 lần cũng còn con số, nhưng thời gian đâu! Hiện tại làm sao thành lập được?

Tờ báo nói: Có cô gái 19 tuổi đi ngược lại thời gian để gặp ông ngoại, đem thí dụ đó không được. Vì cô gái 19 tuổi tức là sanh ra 19 năm, nếu tính ngược 20 năm thì cô chưa sanh, cũng không biết ở đâu! Nếu cô ấy muốn gặp ông ngoại 100 năm trước thì cô ấy phải 119 tuổi. Vậy nói quá khứ 100 năm trước hay vị lai 100 năm sau, nếu vị lai 100 năm sau thì cô 119 tuổi. Vậy làm sao truy cứu ngược thời gian trước được? Những chuyện vô lý, nhà khoa học lại đi truy cứu, thật là vô ích.

Chánh văn:

A TU LA

-Lại nữa A Nan! Trong tam giới còn có 4 loại A Tu La: 

l. Nếu từ loài quỷ, dùng sức hộ pháp, nhờ thần thông vào trong hư không; loại A Tu La này là noãn sanh, thuộc về loài quỷ. 

2. Nếu từ cõi trời, thất đức bị đọa, chỗ ở gần với nhựt nguyệt; loại A Tu La này là thai sanh, thuộc về loài người. 

3. Có vua Tu La, thống lãnh tất cả A Tu La trên thế giới, sức mạnh vô úy, có thể tranh quyền với Phạn Vương Đế Thích và Tứ Thiên Vương, loại A Tu La này là hóa sanh, thuộc về loài trời. 

4. A Nan, riêng có một số A Tu La thấp kém sanh ở đáy biển, lặn dưới hang nước, ban ngày dạo trên hư không, ban đêm về ngủ dưới nước; loại A Tu La này là thấp sanh, thuộc về loài súc. 

-A Nan! Bảy loài địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, cõi người, thần tiên, cõi trời và A Tu La kể trên, đều là những tướng hữu vi hôn trầm, vọng tưởng tùy nghiệp thọ sanh. Thật ra thảy đều như hoa đốm trên không, vọng hiện nơi bản tâm vô tác sáng tỏ, vốn vô sở đắc, chỉ một hư vọng, chẳng có cội gốc. 

-A Nan! Những chúng sanh này, chẳng nhận được bản tâm, bị luân hồi trải qua vô số kiếp, chẳng được chơn tánh trong sạch, ấy đều do tùy thuận ba nghiệp sát, đạo, dâm; hoặc ngược lại ba thứ đó, thành không sát, đạo, dâm; vọng thấy "Có" thì là loài quỷ, vọng thấy "Không" thì là loài trời; Có và Không thay phiên nhau, phát khởi tánh luân hồi. 

-Nếu ngộ pháp Tam Ma Địa, thì diệu Tâm thường tịch, hữu vô bất nhị, bất nhị cũng diệt, những việc không sát, đạo, dâm còn chẳng có, huống là thuận theo sát, đạo, dâm. 

-A Nan, chẳng dứt ba nghiệp thì chúng sanh mỗi mỗi đều có nghiệp riêng, do nghiệp riêng ấy, trong đồng phận của chúng sanh, chẳng phải là không có chỗ nhất định. Đó là do tự tạo vọng nghiệp, vọng vốn chẳng nhân, chẳng thể truy cứu cội gốc. 

-Ngươi khuyên người tu hành, muốn đắc đạo Bồ Đề, phải trừ dứt ba nghiệp. Nếu ba nghiệp chẳng dứt, dẫu được thần thông, cũng đều là những công dụng hữu vi của thế gian, tập khí chẳng diệt thì lạc vào ma đạo, dù muốn trừ vọng, càng thêm giả dối. Như Lai nói là kẻ đáng thương xót. 

-Vậy, vọng do người tự tạo, chẳng phải lỗi của Bồ Đề, thuyết như thế gọi là chánh thuyết, chẳng thuyết như thế tức là tà thuyết. Khi đó, Như Lai sắp xuống pháp tòa, nơi tòa sư tử, dựa ghế thất bửu mà bảo khắp đại chúng và A Nan rằng: 

Giảng giải:

A tu la ở trong các loại: Cõi người, cõi súc sanh, cõi ngạ quỷ. Người ta đã quen nói lục đạo luân hồi là trời, người, a tu la, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục. A tu la có 4 loại, có người nói ngũ đạo luân hồi, chứ không nói lục đạo. Nhưng đã có thói quen, người ta gọi là lục đạo. Đến chỗ ngũ đạo, tôi cũng dịch là lục đạo. Vì nói ngũ đạo thì mắc công giải thích thêm. Kinh Lăng Nghiêm có thêm đạo thần tiên, thành ra có 7 đạo. Đó tùy theo chúng sanh mà thuyết.

Luân hồi là nhân quả, lục dạo có tam thiện đạo  có tam ác đạo. Người làm thiện nhiều thì sanh lên tam thiện  đạo. Người làm ác nhiều thì sanh đến chỗ ác đạo, tức là ác nhiều nhất thì sanh đến chỗ địa ngục, làm ác ít hơn thì sanh ngạ quỷ, làm ác nhẹ nữa thì làm súc sanh. Còn thiện cao nhất là cõi trời, kế đến là cõi người và thấp hơn là cõi a tu la.

Nếu cho lục đạo là thật, như vậy ban đầu chúng sanh bình đẳng, chưa ai làm thiện, chưa ai làm ác, mà ai sanh thiện đạo? Ai sanh ác đạo? Nếu không làm ác mà xuống địa ngục, không làm thiện mà lên thiên đường thì không nhân quả. Như vậy làm sao lục đạo có bắt đầu được! 

Theo hiểu biết của mình để truy cứu thì không thành lập lục đạo luân hồi. Nhưng người ta nói lục đạo luân hồi, luân hồi cũng tùy theo tâm chấp chúng sanh mới nói. Vì chúng sanh đã chấp thật, tức là đem cảnh giới chiêm bao cho là thật, thì ở trong chiêm bao mới có, thức dậy không có.

Lục đạo luân hồi không thể bắt đầu, chưa làm thiện làm sao sanh trong tam thiện đạo? Chưa làm ác làm sao sanh trong ác đạo? Nếu vậy không có nhân quả. Đạo Phật phải nói nhân quả, đâu phải như các đạo khác, không làm ác, nếu không tin tôi thì phạt xuống địa ngục, đó là độc tài. Việc này là nhân quả tự tạo, như Phật không phạt người xuống địa ngục, mà Phật muốn cứu họ lên.

Phật đã nói tất cả các pháp đều không bắt đầu, lý bắt đầu không thể thành lập; ấy cũng là nghĩa vô sanh, tức không có sự sanh khởi. Tại sao? Nếu có sanh khởi thì phải có bắt đầu. Bây giờ mình thấy có sanh tử, sanh là bắt đầu, tử là cuối cùng. 

Ngài Long Thọ là Tổ 14 của Thiền tông, nói trong Trung Quán Luận phá chấp sanh tử rằng: Nếu tử có trước thì ai cũng không tin, mọi người đều cho sanh có trước. Nếu sanh có trước khỏi cần tử có sanh thì sanh độc lập lìa tử, tức sanh không có tử. Nhưng sanh đều phải tử, không thể lìa tử, tất cả cái gì sanh đều phải có tử, không những động vật, thực vật cũng vậy. Vì vậy, chứng tỏ sanh có trước là không đúng.

Như con gà và trứng gà vậy, con gà không lìa trứng gà mà độc lập. Sanh tử cũng vậy, sanh không lìa tử mà độc lập, tử không lìa sanh mà độc lập. Cho nên, nói sanh có trước là không đúng, vì không đủ lý do. Nhưng nhà khoa học, triết học đều tin sanh tử là thật. Nhưng Phật nói sanh tử không thật, vì không có lý thành lập được; người chứng quả ngộ pháp vô sanh, gọi là vô sanh pháp nhẫn; tức là chứng tỏ không có sự sanh khởi, nói sanh khởi là do bộ óc hiểu lầm.

Nhận thức sai lầm, mình có thể chứng tỏ; nhìn thấy bức tranh, như có cao thấp xa gần. Nhưng thực tế mình lấy tay sờ lên bức tranh thì thấy không có cao thấp xa gần. Nếu không có cao thấp xa gần thì bức tranh không đẹp; như mình coi phim, có cao thấp xa gần có hoạt động. Sự thật thì không có việc ấy, chỉ là ảo tưởng mà thực tế không phải vậy.

Lục đạo luân hồi là do bệnh chấp của chúng mà nói. Ngoại đạo không biết, cho đến nhiều Phật tử cũng không biết, những giảng sư thuyết pháp cũng cho lục đạo luân hồi là thật, vì có tư tưởng chấp thật. Nếu có tư tưởng chấp thật thì lọt vào biên kiến. Nguồn gốc của biên kiến là có và không. Cho thật có là biên kiến, cho thật không cũng là biên kiến. Biên kiến trong đạo Phật là 1 thứ trong 5 thứ ác kiến.
Người tu và người không tu nhận thức sai lầm, nên nói có ma ngũ ấm.

Chánh văn:

MA NGŨ ẤM

-Nay ta đã thuyết pháp chơn tu, các ngươi còn chưa hiểu những ma sự vi tế, cảnh ma hiện tiền, các ngươi cũng chẳng biết, vì tâm chẳng chánh, lọt vào tà kiến, nên bị ma ngũ ấm, hoặc thiên ma, hoặc quỷ thần, hoặc yêu mî xâm nhập, trong tâm chẳng biết, nhận giặc làm con. Những người nhị thừa, được ít lại cho là đủ, như Tỳ Kheo Vô Văn, tu đến tứ thiền mà vọng nói đã chứng thánh quả, đến khi hết phước báo cõi trời, đọa địa ngục A Tỳ. Nay các ngươi hãy chú ý nghe: 

-Các ngươi phải biết, cái tâm thể bản giác của mười phương chúng sanh vốn viên mãn diệu minh, cùng với mười phương chư Phật chẳng hai chẳng khác, vì do vọng tưởng của các ngươi mê chấp đạo lý mới thành lỗi lầm, từ đó sanh ra si ái, si ái sanh trưởng khắp nơi, nên có tánh hư không, sự mê chấp tiến hóa không ngừng, nên sanh ra thế giới, vậy thì mười phương vô số quốc độ đều do vọng tưởng kiến lập. 

Phải biết: Hư không sanh khởi trong tâm các ngươi như đám mây ở giữa hư không, huống là các thế giới đều ở trong hư không. Trong các ngươi có một người kiến tánh, thì mười phương hư không đều tiêu diệt ngay, làm sao những quốc độ trong hư không chẳng bị tan nát. Các ngươi tu thiền đến nơi chánh định, cũng như mười phương Bồ Tát và Đại A La Hán, chơn tâm dung thông, ngay đó trạm nhiên. 

Khi ấy, tất cả ma vương và quỷ thần, thấy cung điện của mình khi không sụp đổ, đều cảm thấy kinh khủng, họ đều được năm thứ thần thông (chỉ trừ ra Lậu Tận Thông), ham thích trần lao, đâu thể để cho người tu Chánh pháp làm sụp đổ xứ sở của họ, cho nên đang lúc người tu được chánh định, những thiên ma, yêu tinh, quỷ thần đều tụ lại để quấy phá, nhưng họ ở trong trần lao, người tu ở trong diệu giác, dù họ hung dữ cách mấy cũng hại chẳng được; ví như gió thổi ánh sáng, hoặc dùng dao cắt nước, chẳng ăn nhằm gì. 

Họ như băng đá, người tu như nước nóng, nước nóng làm tan rã băng đá. Họ ỷ lại sức thần thông, nhưng chỉ là khách, người tu là chủ, nếu chủ mê thì khách được thành tựu sự quấy phá của họ, nếu người tu ngay đó giác ngộ chẳng mê, thì ma sự của họ chẳng làm gì được mình.

Giảng giải:

Ngũ ấm: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Bất cứ mình chấp vào sắc, thọ, tưởng, hành, thức, muốn thỏa mãn dục vọng của mình. Như mắt muốn sắc đẹp, tai muốn nghe khen ngợi, mũi muốn ngửi mùi thơm, lưỡi muốn nếm vị ngon,… Lục căn đều có sự ham muốn phải có sở đắc, sở cầu. Cái nào thích thì mình yêu, cái nào không thích thì mình ghét. Vì tâm chấp thật nên có khen chê, yêu ghét; cái tốt muốn đắc muốn cầu, cái xấu thì sợ. Cho nên, các thứ ma mới có cơ hội nhập vào.

-Các ngươi phải biết, cái bản giác của 10 phương chúng sanh vốn viên mãn diệu minh.

 Bây giờ, mình cũng là chúng sanh, tâm mình viên mãn đầy đủ. Chữ “diệu” là bất khả tư nghì, không thể suy nghĩ đến được. Chữ “minh” là sáng, nhưng sáng này gọi là diệu, không phải sáng của đèn, sáng của mặt trời, sáng của mặt trăng. Sáng của mặt trăng, mặt trời, đèn thì năng chiếu sở chiếu; còn sáng của tâm không có năng sở, cho nên gọi là diệu. Có năng sở đối đãi thì suy nghĩ có thể đến, không được gọi là diệu. Tất cả chúng sanh sẵn có diệu minh này.

Cùng với 10 phương chư Phật chẳng hai chẳng khác, vì do vọng tưởng các ngươi mê chấp đạo lý mới thành lỗi lầm.

 Đáng lẽ, không có cái gì đạo lý, nhưng mình đã lập ra đạo lý thì phải có đối đãi, đúng lý với không đúng lý; như vậy thành lỗi lầm.

Từ đó sanh ra si ái sanh trưởng khắp nơi, nên có tánh hư không (vì cái nào đúng lý hợp lý thì ưa, tâm của mình khắp nơi, khởi lên si ái cũng khắp nơi, nên có tánh hư không), sự mê chấp tiến hóa không ngừng nên sanh ra thế giới (có hư không rồi mới có thế giới, vì thế giới kiến lập trong hư không).

Vậy thì 10 phương vô số quốc độ đều do vọng tưởng kiến lập (vô số quốc độ phải kiến lập trong thế giới, như mình ở trong thế giới Ta Bà này, tất cả quốc độ: Nước Việt Nam, nước Mỹ,… đều ở trong thế giới này. Nhưng đều do vọng tưởng kiến lập, chứ không phải thật có).

Phải biết: Hư không sanh khởi trong tâm các ngươi, như đám mây ở giữa hư không (hư không cũng là do tâm mình tạo, hư không sanh ở nơi tâm mình, như đám mây ở giữa hư không chẳng  biết từ đâu đến đang đi chỗ nào?)

Huống là các thế giới đều ở trong hư không! (Hư không còn không thể kiến lập, huống là thế giới còn ở trong hư không). 

Trong các ngươi có một người kiến tánh thì 10 phương hư không đều tiêu diệt ngay, làm sao những quốc độ trong hư không chẳng bị tan nát!

Ví dụ tâm mình là biển giác, hư không là hòn bọt trong biển, thế giới kiến lập trong hư không, tức trong hòn bọt; các quốc độ trong thế giới, nếu bọt bể là hư không tiêu thì thế giới và các quốc độ cũng phải mất.

-Các ngươi tu thiền đến nơi chánh định, cũng như 10 phương Bồ Tát và đại A La Hán, chơn tâm dung thông, ngay đó trạm nhiên. 

Có thiền định thì tâm mới trạm nhiên, tâm trạm nhiên như thấy rõ các vật hiện ở dưới nước trong. Như tấm gương, người già lại thì hiện người già, người trẻ lại thì hiện người trẻ, hình nam hình nữ cũng vậy. Nhưng nó chỉ là cái bóng không phải thật.

Khi ấy tất cả ma vương và quỷ thần, thấy cung điện của mình khi không sụp đổ, đều cảm thấy kinh khủng, họ đều được 5 thứ thần thông (chỉ trừ ra lậu tận thông).

5 thứ thần thông: Thiên nhãn thông là thấy núi đá không bị chướng ngại, Thiên nhĩ thông là xa cách mấy cũng nghe được, Thần túc thông là bay được, Tha tâm thông là biết được tâm niệm của người khác, Túc mạng thông là biết được nhiều kiếp trước và nhiều kiếp sau. 

Như A La Hán thì biết được tám muôn kiếp trước và biết được tám muôn kiếp sau. Không những tự biết mình, mà khi khởi quán biết được người khác trong 8 muôn kiếp trước và 8 muôn kiếp sau, nếu qua 8 muôn kiếp thì không biết được.

Hỏi: 

8 muôn kiếp trước thì biết được, còn 8 muôn kiếp sau nghiệp mình chưa tạo thì làm sao biết được?

Đáp: 

Trong tự tánh không có thời gian, do tâm chấp nên mới có trước sau. 8 muôn kiếp trước mình tạo nghiệp là cái nhân thì 8 muôn kiếp sau hiện cái quả. Nếu 8 muôn kiếp sau mình tạo khác thì cái quả được sửa lại, như bây giờ tham thiền cũng sửa được cái quả. Kiếp trước mình tạo nhân thì kiếp này chịu quả. Nhưng biết tham thiền thì tâm lực của mình mạnh. 

Thí dụ: Những người vượt biên bị chết đói đều có tiền, có tiền không bao giờ bị chết đói, vì họ tạo nghịêp chết đói, có tiền cũng phải bị chết đói.

 Có cơ hội vượt biên, dùng tiền đi mua khỏi cái chết; nhưng nhân quả không trừ với nhau, nếu tạo thiện được phước, tạo ác bị khổ. Họ tạo thiện thì có tài quả, nhưng họ tạo ác làm cho người chết đói thì phải chịu quả chết đói. Lúc họ không tu, mà tạo cho người chết đói, ví như tâm lực 1 độ, nếu không tu thì tâm lực vẫn 1 độ, cái quả chết đói thế nào cũng phải đến. Cho nên, vượt biên hết lương thực họ bị chết đói.

Biết tu thì tâm lực từ 1 độ lên 2 độ, 3 độ, 4 độ đến 10 độ,… Mặc dầu, mới làm thiện không có làm ác, nhưng cái nhân mạnh thì quả đến liền; còn 1 độ là nhân yếu thì cái quả phải đến sau. Như mình thiếu nợ người này người kia, chủ nợ có thế lực mạnh phải trả trước, chủ nợ thế lực yếu thì trả sau. Nhân quả cũng giống như vậy.

Trong kinh nói: Có hai vợ chồng chỉ có một tấm vải choàng, ngoài ra không có quần áo gì nữa. Chồng đi xin ăn thì vợ phải ở nhà, vợ đi xin ăn thì chồng phải ở nhà, hai người thay phiên nhau  dùng tấm vải để mặc đi xin ăn. Một hôm có vị Tăng đi ngang nhà, hai vợ chồng nói với nhau: Kiếp này chúng ta thiếu phước nên nghèo, bây giờ cúng dường tấm vải này cho đức Phật, rồi chúng ta ở trong nhà mà chịu chết. 

Phật đem chuyện này nói với vua, vua nghe thấy cảm kích ban cho hai vợ chồng nghèo tiền bạc của cải.

Tâm lực hai vợ chồng này rất mạnh, kể cả mạng sống của mình còn không tiếc, khi họ cúng dường ấy thì nhân quả đến liền. Vì vậy nhân nào mạnh thì quả đến trước, còn nhân nào yếu thì quả đến sau.
Thí dụ: Trước kia mình có gieo nhân chết đói ở 1 độ. Bây giờ, tham thiền tâm lực lên đến 10 độ rồi không tu nữa, thì cái quả 10 độ đến hết tới 9 độ, 9 độ hết thì tới 8 độ, cứ như thế đến 1 độ cũng phải trả quả chết đói. Nếu mình không ngưng tu, từ 10 độ lên tới 20 độ, 30 độ, 40 độ, cứ như thế lên đến 1 triệu độ thành Phật. 

Nhưng cái nhân chết đói không mất, thành Phật trở lại độ chúng sanh, những người có nhân duyên được ưu tiên phải độ trước. Mình sửa lại cái nghiệp của mình là như vậy, chứ không có xóa bỏ nhân quả.

Hỏi:

Có người nói: Đạo Phật là đạo yếm thế nên các nước theo đạo Phật thì nghèo. Việc ấy như thế nào?

Đáp:

Ấy là nhân quả, chứ không phải là đạo. Đạo nào cũng dạy người ta làm lành. Làm lành thì được phước, làm ác thì bị khổ. Đó là nhân quả của mọi người khác nhau. Như đạo Phật ở nước Ấn Độ tiêu diệt gần hết, chỉ còn Bà La Môn Giáo và Ấn Độ Giáo. Nước Trung Quốc nghèo, nhưng tại Hàng Châu có Phật Giáo nhiều, họ tạo nhân tốt  nhiều nên đời sống khá hơn mấy chỗ khác.

Pháp sư Đàm Hư có hồi ký, các nhà triệu phú ở Thượng Hải biết Phật pháp, mỗi lần đi cứu tế ở Tây An đều mời pháp sư Đàm Hư đi cùng, thuyết pháp dạy người ta làm lành, sửa lại cái nghiệp nghèo khổ. Như dân miền nam Việt Nam có bố thí nhiều, nên cuộc sống đỡ hơn dân miền trung, miền bắc.

Hỏi:

Tại sao ở bên Tây Tạng là nước Phật Giáo lại nghèo khổ?

Đáp:

Tại họ tạo nghiệp nghèo khổ, nên sanh chỗ đất không có canh tác được. Không có gạo để ăn, phải nhờ chăn nuôi trâu, bò, dê làm lương thực để sống. Cho nên, cứ tạo nghiệp sát sanh mãi, vì thế cái khổ không tránh khỏi được. Như có gia đình cá đang vui chơi, bị người chài lưới bắt ăn thì đời đời họ chịu nghèo. Vì họ tạo nghiệp nhân phải bị nghiệp quả.

Hỏi:

Nghiệp nhân quả có sửa lại được, vậy xem bói có đúng không?

Đáp:

Làm sao đúng! Phật đã không cho môn đồ bói toán, tiên tri. Có ông Linh mục người Mỹ vẫn biết điều đó không đúng, mà bây giờ đệ tử Phật đi bói toán, đi cầu phước!

Hỏi:

Có người làm thức ăn chay, giả làm con này con kia, như vậy việc ấy như thế nào?

Đáp:

Ở Thượng Hải có một quán cơm chay, mời một ông bộ trưởng đã về hưu đến ăn để quảng cáo, ông này đã ăn chay trường. Khi ông nhìn thấy thực đơn toàn là tên đồ mặn, ông đỗ cả bàn ăn rồi đi ra và nói: “Mời tôi lại ăn chay mà toàn là đồ mặn”. Quán cơm chay biết, không để tên đồ mặn nữa.

Ngài Hư Vân nói: Nếu đem bột mì làm con cá, như ăn mặn chứ không phải ăn chay. Vì tâm mình còn ham ăn mặn, nên mới làm ra hình thức như vậy. Hay làm những hình đó là tùy thuận của khách hàng để dễ buôn bán.

Nếu dùng thức ăn chay mà làm hình con này con kia, để dụ cho con cháu ăn chay thì Phật cũng không cho. Vì sao? Vì họ không sửa tâm được, nếu mình dụ thì phải làm đồ ăn cho ngon. Như ông chủ ngân hàng ở Thượng Hải, cả gia đình đều ăn chay, chỉ có bà mẹ không chịu ăn chay, mà ông rất có hiếu. Mỗi lần ông đề nghị mẹ ăn chay thì bị la rầy. 

Bà nói: “Không ăn chay mà cứ nói ăn chay hoài!” Không có cách nào khuyên mẹ ăn chay, ông không khuyên nữa. Ông bảo nhà bếp làm chay thật ngon, không nói là đồ chay, bà mẹ vẫn ăn bình thường không biết đồ chay. Qua thời gian 2 năm, ông nói với mẹ rằng: Ngày sanh nhật của mẹ, đãi tiệc tất cả là đồ chay. 

Bà mẹ nói: Tôi không ăn chay, mà cứ nói ăn chay. 

Ông ấy nói: Mẹ đã ăn chay 2 năm rồi. 
 
 

ML
01
02
03
04
05
06
07
08
09
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20

Liên Hệ:
Kinh Thủ Lăng Nghiêm Tông Thông, HT. Nhẫn Tế
Kinh Thủ Lăng Nghiêm, HT. Thích Duy Lực
Tổng Luận Kinh Lă ng Nghiêm Trưc Chỉ, HT. Thích Thiện Siêu
Pháp Tu Lăng Nghiêm Ðại Ðịnh, HT. Thích Huệ Hưng
Phép Tu Lăng Nghiêm Ðại Ðịnh

 
c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap