Chánh
văn:
THẬP
TÍN
l.
Tập khí tham dục mới cạn, chưa nối được dòng pháp của
Như Lai, tức dùng tâm này chảy vào trung đạo, tánh viên diệu
được mở mang, từ chỗ chơn diệu viên lại phát ra chơn
diệu, diệu tín thường trụ, tất cả vọng tưởng đều
dứt sạch, trung đạo thuần chơn, gọi là Tín Tâm Trụ.
Lược
giải:
Khi
tham dục mới cạn, chưa nối được dòng pháp của Như Lai,
tức dùng tâm này chảy vào trung đạo, chẳng nghiêng bên Không,
chẳng nghiêng bên Giả, cũng chẳng trụ nơi Trung đạo, từ
đây khởi quán:
Không,
Giả, Trung, tam đế viên dung, gọi là Viên Diệu; ở đây tâm
thức có thể đến. Khi giác quán đã thành, từ chơn phát
diệu, khế hợp lý viên, thì gọi là Diệu Viên, chỗ này
tâm thức chẳng thể đến. Nếu trung đạo nương theo chơn,
thì sự diệu, chưa phải chơn, từ chơn phát diệu, diệu ấy
mới là Chơn Diệu.
Diệu
chưa phải chơn, nên chẳng thể thường trụ, trung đạo thuần
chơn, nên diệu được thường trụ. Diệu đã thường trụ
thì tất cả vọng tưởng chẳng có chỗ dựa. Nói "Diệu"
là tự cảm thấy bất khả tư nghì, chẳng thể dùng ngôn
ngữ tỏ bày, lòng tin tự tâm rất chơn thật, nên gọi là
Tín Tâm Trụ. (heát).
2.
Chơn tín sáng tỏ, tất cả viên thông, ba thứ: ấm (5 ấm),
xứ (12 xứ), giới (18 giới), chẳng thể ngăn ngại, như thế
cho đến trong vô số kiếp quá khứ, vị lai, tất cả tập
khí xã thân, thọ thân, thảy đều hiện ra trước mắt và
ghi nhớ chẳng quên, gọi là Niệm Tâm Trụ.
3.
Thuần chơn diệu viên, tinh vi phát dụng, những tập khí từ
vô thỉ đều hóa thành một tâm tinh minh (tinh vi sáng tỏ),
từ tinh minh tiến lên chơn tịnh, gọi là Tinh Tấn Tâm.
4.
Tâm tinh tấn hiện tiền, thuần dùng trí huệ, gọi là Huệ
Tâm Trụ.
5.
Trí huệ sáng tỏ, tịch lặng cùng khắp, tịch diệu thường
định, gọi là Định Tâm Trụ.
6.
Từ định tâm phát ra ánh sáng, tánh sáng sâu vào, tiến tới
chẳng lui gọi là Bất Thối Tâm.
7.
Tâm an nhiên tiến tới, duy trì chẳng mất, giao tiếp với
tinh thần của mười phương Như Lai gọi là Hộ Pháp Tâm.
8.
Tánh sáng của Bổn giác được duy trì, hay dùng diệu lực
xoay Từ Quang của Phật về tự tánh, cũng như ánh sáng của
hai gương đối nhau, trong đó, các bóng nhiệm mầu trùng trùng
vô tận, gọi là Hồi Hướng Tâm.
9.
Với từ Quang của Bản Tâm miên mật, an trụ nơi vô vi, vô
thượng trong sạch, thường trụ của Phật, chẳng thể lạc
mất, gọi là Giới Tâm Trụ.
l0.
Trụ giới tự tại, hay dạo khắp mười phương, ở đi tùy
nguyện, gọi là Nguyện Tâm Trụ.
Giảng
giải:
1.
Tập khí tham dục mới cạn, chưa nối được dòng pháp của
Như Lai (đây bắt đầu tu, tham dục mới cạn), dùng tâm này
chảy vào trung đạo.
Trung
đạo không nghiêng bên không, cũng không nghiêng bên giả; tức
là không chấp bên không, cũng không chấp bên giả. Không trụ
trung đạo chơn thật, vì không có 2 bên thì không có chính
giữa, cho nên trung đạo chẳng trụ.
Tánh
viên diệu được mở mang, từ chỗ chơn diệu viên lại phát
ra chơn diệu, diệu tướng thường trụ, tất cả vọng tưởng
đều dứt sạch, trung đạo thuận chơn gọi là tín tâm trụ.
Thập
Tín ở đây, tại sao nói trụ và đều nói tâm? Bất cứ Phật
pháp, Tiểu thừa, Đại thừa, pháp nào cũng nói về tâm. Cho
đến khoa học triết học cũng nói về tâm. Ban đầu là 10
thứ tin (tin tự tâm), đã tin được rồi gọi là tín tâm
trụ.
Lược
giải:
Khi
tham dục mới cạn, chưa nối được dòng pháp của Như Lai,
tức dùng tâm này chảy vào trung đạo, từ đây khởi quán,
không, giả, trung, tam tế viên dung (chẳng trụ nơi không, giả,
trung), gọi là viên diệu; ở đây tâm thức chẳng thể đến.
Khi
giác quán thành, từ chơn phát diệu, khế hợp với lý viên
(lý viên là viên tròn không bắt đầu và cuối cùng) thì gọi
là diệu viên. Nếu trung đạo nương theo chơn (có chơn thì
có giả để tương đối) thì sự diệu chưa phải chơn, từ
chơn phát diệu, diệu ấy mới là chơn diệu (Phật pháp nói
chữ “diệu” là suy nghĩ chẳng thể đến).
Diệu
chưa phải chơn, nên chẳng thể thường trụ; trung đạo thuần
chơn, nên diệu được thường trụ. Diệu đã thường trụ
thì tất cả vọng tưởng không có chỗ dựa. Nói diệu là
tự cảm thấy bất khả tư nghì, chẳng thể dùng ngôn ngữ
tỏ bày, lòng tin tự tâm rất chơn thật, nên gọi là tín
tâm trụ. (hết).
2.
Chơn tín sáng tỏ (lòng tin tự tâm chơn thật sáng tỏ) tất
cả viên thông, ba thứ ấm, xứ, giới (ấm là ngũ ấm: Sắc,
thọ, tưởng, hành, thức; xứ: Lục căn, lục trần, lục thức
là 18 giới). Chẳng thể ngăn ngại.
Tức
là dùng lục căn tiếp xúc lục trần sanh ra lục thức, nhưng
hoàn toàn chẳng trụ thì không bị ngăn ngại.
Như
thế cho đến trong vô số kiếp quá khứ, vị lai. Tất cả
tập khí xả thân, thọ thân thảy đều hiện ra trước mắt
và ghi nhớ chẳng quên (tập từ lâu đời cùng hiện một
lượt, tu đến chỗ này mới thấy được), gọi là niệm
tâm trụ.
3.
Thuần chơn diệu viên, tinh vi phát dụng, những tập khí từ
vô thỉ đều hóa thành một tâm tinh minh (tinh minh là tinh vi
sáng tỏ). Tinh minh tiến lên chơn tịnh, gọi là tinh tấn tâm.
4.
Tâm tinh tấn hiện tiền, thuận dùng trí huệ, gọi là huệ
tâm trụ.
(Ban
đầu dùng ý thức, đến chỗ này thì dùng được trí huệ,
cho nên gọi là huệ tâm trụ).
5.
Trí huệ sáng tỏ, tịch lặng cùng khắp, tịch diệu thường
trụ, gọi là định tâm trụ.
(Trí
huệ dùng ra là động, nhưng cứ tu mãi, thì động đến định,
tới thường định gọi là định tâm trụ).
6.
Từ định tâm phát ra ánh sáng, tánh sáng sâu vào, tới chẳng
lui, gọi là bất thối tâm.
(Trước
kia tiến rồi có thể lui, đến chỗ này tiến mà không có
lui, gọi là bất thối tâm).
7.
Tâm an nhiên tiến tới, duy trì chẳng mất giao tiếp với tinh
thần của mười phương Như Lai, gọi là hộ pháp tâm.
(Ở
Phật pháp, người có tu thì có người hộ pháp, nhưng tu cũng
là tâm, hộ pháp cũng là tâm, được vui chẳng mất, tức
là có hộ pháp, gọi là hộ pháp tâm).
8.
Tánh sáng của bổn giác được duy trì, hay dùng diệu lực
xoay từ quang của Phật về tự tánh, cũng như ánh sáng của
hai gương đối nhau ở trong đó, các bóng nhiệm mầu trùng
trùng vô tận, gọi là hồi hướng tâm.
(Tu
đến chỗ này thì ánh sáng của bổn giác được duy trì không
bị mất, lúc ấy hay dùng diệu lực của tâm xoay từ
quang Phật, tức là tự tánh Phật về tự tánh. Nói thì
nói vậy như trước kia hướng ngoại, bây giờ không hướng
ngoại, thì gọi là xoay về tự tánh. Như ánh sáng hai gương
đối chiếu nhau ở trong đó, các bóng nhiệm mầu trùng trùng
vô tận. Như mình đi cắt tóc có hai gương đối nhau, thấy
hình của mình trùng trùng vô tận; gọi là hồi hướng tâm).
9.
Với từ quang của bản tâm miên mật, an trụ nơi vô vi, vô
thượng trong sạch, thường trụ của Phật, chẳng thể lạc
mất, gọi là giới tâm trụ.
(Từ
quang của bản tâm, nếu không bị mất thì miên mật. An trụ
nơi vô vi tức là không động. Vô vi là không làm mà tự làm,
vô thượng trong sạch là trong sạch không có gì hơn. Phật
tánh là thường trụ, trước kia bị vọng tưởng làm cho ngăn
ngại. Đã an trụ nơi vô vi không có gì làm chướng ngại
được, chẳng thể lạc mất, gọi là giới tâm trụ).
10.
Trụ giới tự tại hay dạo khắp mười phương, ở đi tùy
nguyện, gọi là nguyện tâm trụ.
(Lúc
đó muốn đi chỗ nào cũng được, dạo khắp mười phương,
muốn đi muốn ở là tùy nguyện của mình, gọi là nguyện
tâm trụ).
Ở
đây là Thập Tín, nhưng đều gọi là trụ.
Chánh
văn:
l.
A Nan! Thiện nam tử ấy, do chân phương tiện phát ra mười
bậc tín tâm kể trên, tâm tinh vi phát ra ánh sáng, mười thứ
dụng xen lẫn nhau, viên dung thành một tâm, gọi là Phát Tâm
Trụ.
2.
Trong tâm sáng suốt như lưu ly trong sạch, trong hiện vàng ròng
tinh túy, dùng diệu tâm trước kia sửa sang thành đất địa
để đi đứng (thực hành) gọi là Trị Địa Trụ.
3.
Tâm địa biết khắp, tất cả rõ ràng, đi khắp mười phương,
được chẳng ngăn ngại, gọi là Tu Hành Trụ.
4.
Hạnh đồng với Phật, thọ tinh thần Phật, như cái thân
trung ấm tự tìm cha mẹ, trung ấm dung thông với lòng tin,
thầm nhập vào giống Như Lai, gọi là Sanh Quý Trụ.
5.
Đã vào đạo thai, nối dòng của Phật, như thai đã thành
hình, tướng người đầy đủ, gọi là Phương Tiện Cụ Túc
Trụ.
6.
Dung mạo và tâm tướng đều đồng như Phật, gọi là Chánh
Tâm Trụ.
7.
Thân tâm dung hợp, ngày càng tăng trưởng gọi là Bất Thối
Trụ.
8.
Linh tướng của thập thân nhất thời đầy đủ gọi là Đồng
Chơn Trụ.
9.
Hình đã thành, ra khỏi thai, làm con của Phật, gọi là Pháp
Vương Tử Trụ.
10.
Khi Pháp Vương Tử đã trưởng thành, ví như Thái Tử vua Sát
Lợi đến tuổi trưởng thành, sẽ được phụ vương ủy
nhiệm việc nước, nên làm lễ quán đảnh (lễ trưởng thành),
gọi là Quán Đảnh Trụ.
Giảng
giải:
Tại
sao cũng nói Thập Tín là trụ? Đã tin tự tâm, trụ nơi tự
tâm thì trụ, nhưng đến cấp này mới trụ chân thật. Trước
là lòng tin vững chắc, có lòng tin vững chắc, mới dần dần
phát hiện thể dụng của chân tâm mình.
Từ
Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập
Địa, cho đến Đẳng Giác, Diệu Giác. Phật nói sơ lược
sự tu chứng, nhưng mình tu đến chỗ đó mới biết. Nếu
đem giải thích ra giống như y văn giải nghĩa, nói cho quý
vị nghe, quý vị cũng không thể biết.
Theo
Tổ Sư thiền không qua những giai cấp này. Thiền tông thường
thường nói có 3 quan: Sơ Quan, Trùng Quan, Mạc Hậu Lao Quan;
nhưng có người khỏi cần qua Sơ Quan, Trùng Quan, thẳng đến
Mạc Hậu Lao Quan, như Tổ Lâm Tế.
Cho
nên, nói 3 quan cũng là phương tiện, kỳ thật từ địa vị
phàm phu không qua giai cấp nào, mà chứng Đẳng Giác. Nhưng
đó là ngộ cái lý bằng như Phật. Về sự thì tập khí vẫn
còn, phải qua bảo nhậm mới dứt trừ được tập khí. Vì
vậy, Thiền tông bảo nhậm là bế quan (nhập thất), để
bảo nhậm cái ngộ của mình.
Có
người tập khí thế gian còn nguyên, nên chưa hiện được
thần thông. Tập khí bớt bao nhiêu thì hiện ra được bấy
nhiêu thần thông. Tập khí hết sạch thì sức dụng Phật
tánh hiện ra bằng như Phật Thích Ca và chư Phật.
Chánh
văn:
DIỆU
GIÁC
-A
Nan! Từ Càn Huệ Tâm đến bậc Đẳng Giác rồi giác ấy mới
được viên mãn nơi Tâm Kim Cang. Bắt đầu từ Càn Huệ Địa
từng lớp tiến lên, trải qua 12 ngôi vị đơn và phức (l)
mới đến Diệu Giác, thành Vô Thượng Đạo.
-Mỗi
mỗi địa ấy, đều lấy trí Kim Cang quan sát mười thứ ví
dụ như huyễn, dùng Xa Ma Tha (chỉ) và Tỳ Bà Xá Na (quán)
của chư Như Lai tu chứng trong sạch lần lượt sâu vào.
-A
Nan! Như thế đều dùng ba tiệm thứ tiến tu, nên khéo thành
tựu 55 quả vị trong đạo Bồ Đề chơn thật. Quán như thế
gọi là chánh quán, chẳng quán như thế gọi là tà quán.
Bấy
giờ, Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử ở trong chúng, liền
đứng dậy đảnh lễ bạch Phật:
-Thế
Tôn! Nên gọi Kinh này là Kinh gì, con và chúng sanh phải phụng
trì như thế nào?
Phật
bảo Văn Thù Sư Lợi:
-Kinh
này gọi là "Đại Phật Đảnh Thuần Trắng Chẳng Ô Nhiễm,
Vô Thượng Bảo Ấn, Mười Phương Như Lai Thanh Tịnh Hải
Nhãn", cũng gọi là "Cứu Hộ Thân Nhân, Độ Thoát A Nan, và
Tỳ Kheo Ni Tánh trong Hội này, đắc Tâm Bồ Đề, vào Biển
Biến Tri", cũng gọi là "Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa",
cũng gọi là "Đại Phương Quảng Diệu Liên Hoa Vương Mười
Phương Phật Mẫu Đà La Ni Chú", cũng gọi là "Quán Đảnh
Chương Cú, Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm", các ngươi
nên phụng trì.
Phật
nói xong, tức thời A Nan và đại chúng nhờ Như Lai khai thị
ý nghĩa "Mật Ấn Chẳng Ô Nhiễm" và được nghe những danh
hiệu liễu nghĩa của Kinh này, đốn ngộ diệu lý của Thiền
Na, tiến tu các Thánh vị, tâm niệm rỗng lặng, dứt trừ
sáu phẩm phiền não vi tế trong tam giới.
A Nan
liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, chắp
tay cung kính bạch Phật rằng:
-Thế
Tôn có oai đức lớn, từ âm vô ngại, khéo khai phá những
mê hoặc vi tế của chúng sanh khiến con hôm nay thân tâm an
lạc, được lợi ích lớn.
-Thế
Tôn! Nếu diệu tâm sáng tỏ này vốn viên mãn cùng khắp,
như thế cho đến đất đai, cỏ cây sâu bọ, hàm linh, bản
tánh chơn như, tức là chơn thể thành Phật của Như Lai; vậy
Phật thể chơn thật, tại sao lại có các đạo địa ngục,
ngạ quỷ, súc sanh, tu la, loài người và trời? Thế Tôn, lục
đạo này vốn tự có, hay là do tập khí hư vọng của chúng
sanh mà sanh khởi?
-Thế
Tôn! Như Tỳ Kheo Ni Bửu Liên Hương trì Giới Bồ Tát, lén
hành dâm dục, vọng nói hành dâm, chẳng phải sát sanh và
trộm cắp, chẳng có nghiệp báo. Nói xong, nơi nữ căn liền
sanh ngọn lửa lớn, rồi từng đốt xương lại bị bừng
cháy, đọa ngục A Tỳ.
-Như
vua Lưu Ly, và Tỳ Kheo Thiện Tinh: Lưu Ly thì giết hại hết
dòng họ Cù Đàm; Thiện Tinh thì vọng nói tất cả pháp đều
Không (đoạn diệt Không) đang sống bị đọa vào ngục A Tỳ.
-Các
địa ngục ấy, là có chỗ nhất định hay chẳng định? Mỗi
người gây nghiệp nhân, mỗi mỗi tự chịu nghiệp quả, hay
là tất cả tự nhiên?
-Xin
Phật rủ lòng Đại Từ, khai phá ngu dại, khiến tất cả
chúng sanh trì giới, nghe nghĩa quyết định, hoan hỷ phụng
hành, giữ gìn chẳng phạm.
Giảng
giải:
-A
Nan! Từ Càn Huệ tâm đến bậc Đẳng Giác, rồi giác ấy
mới được viên mãn nơi tâm kim cang.
Kim
cang là hột xoàn, tánh chất cứng phá được tất cả vật,
tất cả vật không phá được kim cang. Cho nên, dùng kim cang
để dụ cho tâm. Từ ban đầu Càn Huệ đến Đẳng Giác ấy
mới được viên mãn; tức là không bị lui sụt, không có
gì hoại được; nên gọi là tâm kim cang.
Bắt
đầu từ Càn Huệ Địa từng lớp tiến lên, trải qua 12 ngôi
vị đơn và phức, mới đến Diệu Giác, thành vô thượng
đạo.
Càn
Huệ, Tứ Gia Hạnh (Noãn Địa, Đảnh Địa, Nhẫn Địa, Thế
Đệ Nhất Địa), Đẳng Giác là 7 đơn và 5 lớp phức (Thập
Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa),
cộng chung là 57 cấp; tức trải qua 12 ngôi vị đơn và phức
thì đến Diệu Giác thành vô thượng đạo.
-Mỗi
địa ấy đều lấy trí kim cang, quan sát mười thứ ví dụ
như huyễn (chúng sanh như huyễn, chứng quả như huyễn), dùng
sa ma tha (chỉ), tỳ bà xá (quán), tức là tu chứng của giáo
môn, chứng trong sạch từ cạn vào sâu.
Tông
Thiên Thai có:
-3
thứ quán: Không, giả, trung là dùng trí huệ để quán.
-3
thứ chỉ: Là ngưng làm cho tâm định.
Ban
đầu là Hệ Duyên Chỉ, thường thường chỉ ở dưới rún
(đơn điền), tức đem tâm buộc dưới đơn điền.
Tiến
lên một bước là Tùy Duyên Chỉ, tức thấy cái này không
thật thì không trụ, thấy cái kia như huyễn cũng không trụ.
Đến
cấp thứ ba là Thể Chơn Chỉ bằng Tổ Sư thiền. Thể là
thể cứu tức tham thiền, chơn là chơn như Phật tánh; thể
cứu chơn như Phật tánh. Lúc đó tự động, quán không thì
không phải thật không, quán giả thì không phải thật giả,
quán trung thì không chỗ trung để an lập. Chẳng phải không,
chẳng phải giả, chẳng phải trung, vậy là cái gì? Là cái
gì tức nghi tình cũng là Thể Chơn Chỉ.
Hỏi:
Tu
chỉ quán là mất thời giờ phải không?
Đáp:
Phải
mất thời giờ, gần đây có Pháp sư Đế Nhàn nổi tiếng
bên tông Thiên Thai, mà không tu chỉ quán của tông phái mình,
lại tu Tịnh Độ, giảng giáo lý Thiên Thai. Vì phức tạp
khó tu, không bằng Tổ Sư thiền giản dị.
Hỏi:
Tu
chỉ được thần thông, tu quán được trí huệ, vậy như
thế nào?
Đáp:
Quán
thì phải dùng trí huệ, ở đây là Càn Huệ; còn chỉ thì
ngưng được vọng tâm, nên thần thông phát lên. Thật ra,
không phải thần thông, mà sức dụng của tự tánh hiện ra,
người thế gian thấy kỳ lạ cho là thần thông. Như Trương
Bảo Thắng hiện ra được kỳ lạ, người ta cho là thần
thông.
Chỉ
là ngưng được tâm hoạt động thì sức dụng của tự tánh
tự nhiên hiện ra. Như dùng máy để đo bộ óc, vọng tưởng
ngưng hoạt động nên đèn của máy tắt. Nếu giữ tâm ngưng
hoạt động lâu thì sức dụng tự tánh tự động hiện ra.
Nhưng do quán mới có chỉ, khi không chỉ không được, Giáo
môn dùng quán.
Quán
và chỉ đồng thời, như cái này bằng vàng, dùng trí huệ
để quán vật này như huyễn, không làm cho mình ham thích thì
tâm không trụ nơi đó, nên được chỉ. Lục căn tiếp xúc
lục trần, vì có tập khí lâu đời làm cho mình ham thích.
Như nổi tâm yêu ghét thì không chỉ được.
Quán
tất cả pháp huyễn hóa không thật thì tâm không phan duyên,
nên mới chỉ được. Như cột con khỉ, đừng cho nó nhảy
qua nhảy lại. Nên ban đầu dùng Hệ Duyên Chỉ. Môn phái nào
cũng có chỉ quán của môn phái đó, cho đến Tịnh Độ cũng
có 16 pháp thiền quán trong kinh Quán Vô Lượng Thọ.
Hỏi:
Tông
Tịnh Độ cho người tu Tịnh Độ đọc 3 quyển kinh: Vô Lượng
Thọ, Quán Vô Lượng Thọ và A Di Đà, ngoài ra không được
đọc kinh khác phải không?
Đáp:
Tổ
Ấn Quang dạy người tu Tịnh Độ chỉ cho xem 3 quyển kinh:
Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng Thọ và A Di Đà. Mục đích
của Tổ là muốn cho người tu Tịnh Độ chỉ một môn đi
sâu vào, để mau được thành tựu. Ngài Ấn Quang đã xem hết
đại tạng kinh, biết rõ hết, nên khuyên người tu Tịnh Độ
giữ một môn đi sâu vào. Tu pháp môn nào chỉ xem kinh của
pháp môn đó.
A Nan!
Như thế dùng 3 tiệm thứ tiến tu, nên khéo thành tựu 55 quả
vị trong đạo Bồ Đề chân thật (từ Càn Huệ đến Diệu
Giác là 57 quả vị, trừ Càn Huệ và Diệu Giác ra, thì còn
55 quả vị).
Quán
như thế gọi là chánh quán, chẳng quán như thế gọi là tà
quán (theo giáo môn phải quán như thế, còn Tổ Sư thiền không
phải quán, chỉ giữ nghi tình không có năng quán sở quán).
Bấy
giờ, Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử ở trong đại chúng liền
đứng dậy đảnh lễ bạch Phật:
Thế
Tôn! Nên gọi kinh này là kinh gì? Con và chúng sanh phải phụng
trì như thế nào? (Phật thuyết kinh xong mới đặt tên kinh
là do đệ tử hỏi, thường thường nói nhiều tên, như ở
chỗ này).
Phật
bảo Văn Thù Sư Lợi:
-Kinh
này gọi là “đại Phật đảnh thuần trắng chẳng ô nhiễm
(đây là nói theo chú Lăng Nghiêm, chú Lăng Nghiêm dịch nghĩa
là thuần trắng chẳng ô nhiễm). Vô thượng bảo ấn (kinh
liễu nghĩa dùng để ấn chứng người tu chứng đến bậc
nào, như đây nói chứng Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hồi Hướng,…).
Mười phương Như Lai thanh tịnh hải nhãn (con mắt của mười
phương Như Lai, cái gì cũng thấy rõ; nếu theo lời Phật dạy
mà tu tới mức thì được hải nhãn rất trong sạch).
Cũng
gọi là “cứu hộ thân nhân cứu thoát A Nan (Ma Đăng Già
mê hoặc A Nan, làm nhân duyên để Phật thuyết kinh này. Thân
nhân nghĩa là em của Phật. A Nan là đại diện đương cơ
của kinh này, độ thoát A Nan tức là độ thoát tất cả chúng
sanh).
Và
tánh Tỳ Kheo Ni trong hội này (tánh Tỳ Kheo Ni là Ma Đăng Già,
ban đầu Ma Đăng Già mê hoặc A Nan, sau nhờ Văn Thù Sư Lợi
Bồ Tát đưa hai người về chỗ Phật, Phật thuyết pháp,
hai người nghe được chứng quả. A Nan chứng quả Tư Đà
Hàm, Ma Đăng Già chứng quả A La Hán).
Đắc
tâm Bồ Đề vào biển biến tri (biến tri tức là biết của
tự tánh khắp không gian và thời gian) cũng gọi là “Như
Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa” (Phật thuyết pháp có
bất liễu nghĩa và liễu nghĩa, kinh Lăng Nghiêm là kinh liễu
nghĩa) cũng gọi là “Đại Phương Quãng Diệu Liên Hoa Vương,
Mười Phương Phật Mẫu Đà La Ni Chú” cũng gọi là “Quán
Đảnh Chương Cú, Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm”
các ngươi nên phụng trì kinh này.
Phật
nói xong, tức thời A Nan và đại chúng nhờ Như Lai khai thị
ý nghĩa “mật ấn chẳng ô nhiễm” và được nghe danh hiệu
liễu nghĩa của kinh này, đốn ngộ diệu lý của thiền na
(trung đạo), tiến tu các thánh vị, tâm niệm rỗng lặng,
dứt trừ sáu phẩm phiền não vi tế trong tam giới.
A Nan
liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, chấp
tay cung kính bạch Phật rằng:
-Thế
Tôn! Có oai đức lớn, từ âm vô ngại, khéo khai phá mê hoặc
vi tế của chúng sanh, khiến con hôm nay thân tâm an lạc lợi
ích lớn (A Nan thay mặc cho đại chúng được lợi ích lớn,
là do Phật khai thị phá trừ mê hoặc vi tế của chúng
sanh).
-Thế
Tôn! Nếu diệu tâm sáng tỏ này viên mãn cùng khắp, như thế
cho đến đất đai, cỏ cây, sâu bọ, hàm linh, bản tánh chơn
như, tức là chơn thể thành Phật của Như Lai; vậy Phật
thể chơn thật, tại sao lại có các đạo địa ngục, ngạ
quỷ, súc sanh, a tu la, loài người và trời? Thế Tôn, lục
đạo này vốn tự có, hay là do tập khí hư vọng của chúng
sanh mà sanh khởi?
Phật
giảng kinh chỉ là phá chấp, chứ không phải chân lý. Cho
nên, A Nan thay mặt đại chúng hỏi: “Nếu tất cả đều
là diệu tâm sáng tỏ vốn sẵn đầy đủ khắp không gian
thời gian. Bây giờ núi sông, đất đai, cây cỏ, sâu bọ,
hàm linh đều là bản tánh của chơn như, là có các đạo:
Trời, người, a tu la, ngạ quỷ, địa ngục, súc sanh. Tại
sao? Thế Tôn! Lục đạo này vốn tự có hay tập khí hư vọng
chúng sanh tự sanh khởi?
-Thế
Tôn! Như Tỳ Kheo Ni Bửu Liên Hương trì giới Bồ Tát, lén
hành dâm dục, vọng nói hành dâm chẳng phải sát sanh và trộm
cắp, chẳng có nghiệp báo. Nói xong, nơi nữ căn liền sanh
ngọn lữa lớn, rồi từng đốt xương lại bị bừng cháy
đọa địa ngục a tỳ.
Tỳ
Kheo Ni Bửu Liên Hương trì giới Bồ Tát, lấy ý của mình
lập ra cái lý là hành dâm không phải sát sanh và trộm cắp,
không có hại đến người khác cho là không tội, nói chẳng
có nghiệp báo.
Khi
thọ giới Bồ Tát rồi, mà nổi lên một niệm, thì khởi
tâm động niệm đều có nghiệp báo, tức khởi lên một
niệm là có nhân thì phải có quả, mặc dầu chưa đi làm.
Như
ông Uất Đầu Lam Phất chỉ khởi lên một niệm: “Tôi sẽ
làm con chồn bay, vào rừng ăn chim, vào nước ăn cá”. Niệm
ấy ông lại quên, rồi ông chứng quả Phi Phi Tưởng, qua 8
vạn đại kiếp, ông vẫn phải bị đọa con chồn bay. Sau
khi ông hết làm thân chồn bay thì trở lại làm người.
-Như
vua Lưu Ly giết hết dòng họ Cù Đàm (dòng họ Thích Ca), và
Tỳ Kheo Thiện Tinh vọng nói tất cả các pháp đều không
(đoạn diệt tức là không còn cái gì), đang sống bị đọa
vào địa ngục a tỳ.
Trong
Hư Vân Niên Phổ, ngài Hư Vân kể chuyện Lưu Ly Dân: Ngày
xưa nước của Phật Thích Ca có công chúa rất đẹp. Nước
Lưu Ly là nước lớn mạnh. Nước của Phật Thích Ca là nước
nhỏ. Thái tử của nước Lưu Ly muốn cưới công chúa của
nước Phật Thích Ca, nhưng công chúa không chịu.
Vì
sợ nước lớn mạnh, nên lấy tỳ nữ thay thế giả công
chúa để gả cho thái tử, rồi sanh ra Lưu Ly Dân. Lúc ấy
Lưu Ly Dân còn nhỏ về bên ngoại chơi. Cái ghế chỉ dành
cho Phật Thích Ca ngồi thuyết pháp, người nào cũng không
được ngồi.
Nhưng
Lưu Ly Dân còn nhỏ không biết gì mới leo lên ghế ngồi,
thì bị những người dòng họ Thích Ca la rầy, y giữ những
lời này mà giận ở trong tâm. Khi vua cha chết, y lên ngôi
thay thế cha. Rồi đem binh bao vây nước của Phật Thích Ca,
giết sạch hết người lớn nhỏ không còn một người nào
cả.
Lúc
ấy, Phật Thích Ca và Mục Kiền Liên đều thấy, Phật Thích
Ca không cứu, Mục Kiền Liên thấy vậy mới đem 500 người
bỏ vô trong bát, rồi đưa lên trên trời tránh binh lính của
Lưu Ly Dân giết. Khi quân lính giết sạch rồi rút đi, thì
Mục Kiền Liên đem cái bát xuống đất, thấy trong bát toàn
là máu.
Rồi
hỏi Phật Tại sao? Phật nói: Ấy là nhân quả, tại cứu
không được, cho nên tôi không cứu. Vì lý do: Hồi xưa, dân
này trong một cái làng, có một cái hồ lớn nhiều loại cá
ở trong đó. Dân tộc này tát cạn hết nước hồ, bắt hết
cá mà ăn; chỉ có một con nít không ăn, không bắt, nhưng
lấy một cái cây gõ đầu con cá ba cái. Con nít đó chính
là Phật Thích Ca, cho nên Phật đã thành đạo còn nhức đầu
ba ngày.
Tỳ
Kheo Thiện Tinh đại vọng ngữ cho là các pháp đều là không,
vì làm cho người gây nghiệp nhân, mỗi mỗi tự chịu nghiệp
quả hay là tất cả tự nhiên?
-Xin
Phật rũ lòng đại từ, khai phá ngu dại, khiến tất cả chúng
sanh trì giới nghe nghĩa quyết định, hoan hỷ phụng hành,
giữ gìn chẳng phạm.
Vì
có nhân quả, người ta mới chịu trì giới, nên không phạm
giới, Phật mới nói rõ cho mọi người nghe tiếp dưới đây.
Chánh
văn:
Phật
bảo A Nan:
-Lành
thay câu hỏi này, khiến các chúng sanh chẳng mắc tà kiến,
nay ngươi hãy lắng nghe, ta sẽ vì ngươi mà nói.
-A
Nan! Bản tánh của tất cả chúng sanh vốn chơn thật trong
sạch, vì vọng kiến mà vọng sanh tập khí, do đó chia thành
nội phần và ngoại phần.
-A
Nan! Nội phần tức là phần trong của chúng sanh. Do lòng ái
nhiễm phát khởi vọng tình, vọng tình tích chứa không thôi,
sanh ra ái thủy, nên chúng sanh hễ nghĩ đến thức ăn ngon
thì chảy nước miếng; nhớ đến người xưa, hoặc thương
hoặc giận, thì chảy nước mắt, tham cầu của báu, trong
tâm ham muốn, cả mình đều thấm nhuần nước tham; tâm tham
dâm dục thì hai căn nam nữ tự nhiên chảy dịch. A Nan, những
ái dục ấy dù khác, nhưng sự chảy nước là đồng, tánh
nước thấm ướt chẳng lên được, tự nhiên sa đọa, gọi
là Nội Phần.
-A
Nan! Ngoại Phần tức là phần ngoài của chúng sanh. Do lòng
khao khát phát ra vọng tưởng, vọng tưởng chứa mãi không
thôi, sanh ra thắng khí. Nên chúng sanh hễ tâm giữ giới cấm
thì cả thân nhẹ nhàng; tâm trì chú ấn thì cử chỉ hùng
dũng, tâm muốn sanh cõi trời thì chiêm bao thấy bay lên, tâm
nhớ cõi Phật, thì thắng cảnh thầm hiện, phụng sự Thiện
Tri Thức thì tự khinh thân mạng. A Nan, những vọng tưởng
dù khác, nhưng sự nhẹ nhàng bay lên là động, bay động chẳng
chìm, tự nhiên vượt lên, gọi là Ngoại Phần.
-A
Nan! Tất cả sanh tử tương tục trên thế gian, sống thì tùy
thuận theo tập khí, chết thì biến đổi theo dòng nghiệp,
đến lúc lâm chung, còn chút hơi ấm, các việc thiện ác của
một đời đồng thời hiện ra, sống thì thuận, chết thì
nghịch, hai tập khí giao xen lẫn nhau, thuần tưởng thì bay
lên, ắt sanh cõi trời, nếu cái tâm bay ấy gồm cả phước
đức, trí huệ và tịnh nguyện, thì tự nhiên tâm được
mở mang, thấy tất cả tịnh độ với mười phương chư Phật,
theo nguyện vãng sanh.
-Tình
ít tưởng nhiều, nhẹ nhàng bay xa thì làm phi tiên, đại lực
quỷ vương, phi hành Dạ Xoa, địa hành La Sát, dạo khắp cõi
trời, chẳng gì ngăn ngại. Trong đó nếu có thiện tâm thiện
nguyện, hộ trì Phật Pháp, hoặc hộ trì giới cấm và người
trì giới; hoặc hộ trì thần chú và người trì chú; hoặc
hộ trì thiền định, thành tựu pháp nhẫn, thì những hạng
ấy được ở cạnh pháp tọa của Như Lai.
-Tình
và tưởng bằng nhau, chẳng bay chẳng chìm, sanh nơi cõi người;
tưởng sáng suốt thì thông minh, tình ám muội thì ngu độn.
-Tình
nhiều tưởng ít, đọa vào súc sinh, nghiệp nặng thì làm
loài có lông, nghiệp nhẹ thì làm loài có cánh.
-Bảy
phần tình, ba phần tưởng, thì chìm dưới thủy luân, sanh
nơi hỏa luân, thân làm ngạ quỷ, thọ cái khổ của lửa
hồng, thường bị đốt cháy, dầu được uống nước cũng
hóa thành lửa, nên nói bị nước hại, trải qua trăm ngàn
kiếp, chẳng thể ăn uống.
-Chín
phần tình, một phần tưởng, thì đọa dưới hỏa luân, thân
vào giữa phong luân và hỏa luân, nghiệp nhẹ thì vào ngục
Hữu Gián, nghiệp nặng thì vào ngục Vô Gián.
-Thuần
tình thì chìm sâu vào ngục A Tỳ, nếu tâm chìm sâu ấy, có
phỉ báng Đại Thừa, phá giới cấm của Phật, cuồng vọng
thuyết pháp, hư tiêu tín thí, lạm nhận cung kính, hoặc phạm
ngũ nghịch, thập trọng cấm, thì lại phải sanh khắp ngục
A Tỳ mười phương.
-Chúng
sanh cùng tạo ác nghiệp thì phải chịu quả báo đồng phận,
nhưng trong cộng nghiệp mỗi người đều có biệt nghiệp
của mình, tùy theo ác nghiệp sở tạo, mỗi mỗi tự chuốc
lấy quả báo khác nhau.
-A
Nan! Những điều kể trên, đều do nghiệp của chúng sanh tự
chiêu cảm, tạo Thập Tập Nhân, thọ Lục Giao Báo.
Giảng
giải:
Phật
nói: “Tất cả đều do tâm tạo”, nghiệp báo của mình
do mình tạo ra, không phải ai cho mình cả! Trong này phân ra
tình và tưởng. Tưởng nhiều thì lên, tình nhiều thì xuống,
ở trong lục đạo luân hồi. Nhưng tưởng cũng là vọng tưởng,
tình chấp nặng nên đi xuống, còn tưởng theo nghiệp mà sanh.
Thấy
đồ ăn mình ham thích, tự nhiên nước miếng trong miệng chảy
ra, cho đến mình nổi tâm dâm thì căn cũng chảy nước, trong
này nói rất kỹ. Tất cả đều do tâm mình tạo, đây nói
theo tư tưởng chấp thật của người đời, tất cả là kể
chuyện chiêm bao.
Nếu
nói thực tế thì nửa quyển trước có nói rõ, còn ở đây
là độ người trung hạ căn, tùy theo tư tưởng chấp thật
mà giảng. Còn Thiền tông thì quý vị coi lại Truyền Tâm
Pháp Yếu của Hoàng Bá rất đơn guản, nhưng người ta khó
tin.
Hỏi:
Tưởng
đây có phải tưởng của sắc, thọ, tưởng, hành, thức không?
Đáp:
Tưởng
là tư tưởng suy nghĩ, tư tưởng dùng để tu là thiền quán
tưởng, tư tưởng tranh giành những việc ở xã hội cũng
gọi là tưởng, dùng tư tưởng tạo nghiệp, lập ra thủ đoạn
mánh lối đều là tưởng.
Hỏi:
Tình
thức là như thế nào?
Đáp:
Tình
là tình yêu tình ghét, yêu thì mình muốn lấy, ghét thì mình
muốn bỏ. Tưởng có thể sanh tình, mà tình có thể sanh tưởng;
cho nên mới có nặng nhẹ, nghiêng về bên tưởng nhiều thì
lên, nghiêng về bên tình nhiều thì xuống. Nhưng muốn tu thì
dùng cái tưởng, chứ không dùng cái tình. Tình không có tu,
chỉ là đọa thôi.
Bác
ái là tình thương, mà tăng cường ngã chấp. Không phải từ
bi của nhà Phật, từ bi củøa nhà Phật thì không có tình.
Vì từ bi không có ngã chấp. Tưởng là dùng để tu hay là
đọa, còn tình chỉ có đọa.
Bác
ái là tin tôi thì tôi cho lên Thiên đườøng, không tin tôi
thì tôi cho xuống địa ngục; vì bác ái có ngã chấp, tức
là yêu ghét của tình. Từ bi nhà Phật, người nào cũng bằng
nhau. Không những không có phạt xuống địa ngục, mà phải
xuống địa ngục kéo họ lên, mặc dầu họ tự tạo tự
xuống.
Cho
nên, bác ái và từ bi nghịch với nhau, chứ không phải người
đời cho là giống nhau. Sự thật từ bi không có mục đích
gì hết, không có xen lộn cái tình ở trong đó, còn bác ái
thì có tình rất mạnh. Có tình nào cũng từ ngã chấp làm
nhân. Như con cọp thương con, bắt thú khác cho con nó ăn, đó
cũng là tình thương vậy. Cũng có người cướp giựt của
cải người khác để cho con mình.
Tình
thương yêu mến của nhà Phật gọi là nhân. Nhà Phật nói:
“Đại nhân bất nhân”. Tại sao? Như mặt trời chiếu khắp,
mọi chúng sanh đều hưởng ánh sáng bằng nhau, tức là yêu
mến của lòng từ bi khắp mọi chúng sanh, thành ra không có
ai không có yêu mến! Mà tất cả lại được, vì tất cả
bằng nhau. Nên không có tình cá nhân, còn bác ái có tình cá
nhân ở trong đó.
Hỏi.:
Có
người nói: “Tôi sanh ra làm việc bác ái”, vậy như thế
nào?
Đáp:
Đó
cũng là truyền thống tôn giáo, họ quan niệm cái gì đều
do chúa ban cho. Tôi nói theo khoa học, họ hiểu và tin, nhưng
cuối cùng cũng nói là chúa ban cho mới được. Như vậy thì
khỏi nói rồi, vì từ hồi xưa đã huân tập sâu vào trong
óc.
Chánh
văn:
Sao
nói Lục Giao Báo?
-A
Nan! Tất cả chúng sanh, lục thức tạo nghiệp, chiêu cảm
ác báo, đều từ lục căn mà ra.
-Sao
nói ác báo từ lục căn mà ra?
-Một
là Kiến Báo chiêu cảm ác quả. Khi kiến nghiệp giao báo,
thì lúc lâm chung, trước hết, thấy lửa hồng cháy khắp
mười phương, thần thức người chết bay rơi theo khói, vào
ngục A-Tỳ, phát minh hai tướng: Một là thấy sáng, khắp
thấy mọi thứ hung dữ, sanh khiếp sợ vô cùng; hai là thấy
tối, mịt mù chẳng thấy gì, sanh hoảng hốt vô cùng.
-Như
vậy, thấy lửa đốt thính giác thì thành chảo dầu sôi,
nước đồng chảy; đốt khứu giác thì thành khói đen, lửa
đỏ; đốt vị giác thì thành viên sắt cháy; đốt xúc giác
thì thành tro nóng, lò than; đốt ý thức thì thành hoa lửa
rưới khắp, rung động cả hư không.
-Hai
là Văn Báo chiêu cảm ác quả. Khi văn nghiệp giao báo, thì
lúc lâm chung trước hết thấy sóng cuộn chìm ngập trời
đất, thần thức người chết theo dòng nước trôi vào ngục
A Tỳ, phát minh hai tướng: Một là nghe rõ các tiếng ồn ào,
tinh thần rối loạn; hai là điếc hẳn, lặng lẽ chẳng nghe
gì, thần thức chìm lịm.
-Như
vậy, nghe sóng chảy vào thính giác, thì thành sự trách hỏi,
chảy vào thị giác thì thành sấm sét và khí độc; chảy
vào khứu giác thì thành mưa và sương mù, rưới sâu độc
vào đầy khắp cơ thể; chảy vào vị giác thì thành mủ,
huyết và các thứ nhơ nhớp; chảy vào xúc giác thì thành
súc sinh, ma quỷ và đại tiểu tiện; chảy vào ý thức thì
thành điện chớp, mưa đá, đập nát tâm phách.
-Ba
là Khứu Báo chiêu cảm ác quả. Khi khứu nghiệp giao báo,
thì lúc lâm chung, trước hết, thấy hơi độc đầy dẫy xa
gần, thần thức người chết từ dưới đất trào lên, vào
ngục A Tỳ, phát minh hai tướng: Một là ngửi thông bị các
hơi độc xông vào, nhiễu loạn tâm thần; hai là nghẹt thở,
hơi thở chẳng thông, làm chết giấc dưới đất.
-Như
vậy, ngửi khí xông vào khứu giác thì thành thông, nghẽn;
xông vào thị giác thì thành lửa, đuốc; xông vào thính giác
thì thành chìm đắm, nước sôi; xông vào vị giác thì thành
mùi thiu, thúi; xông vào xúc giác thì thành nứt, nát, thành
núi thịt lớn có trăm ngàn mắt, hút ăn không cùng; xông vào
ý thức thì thành tro, chướng khí và cát đá bay, đập nát
thân thể.
-Bốn
là Vị Báo chiêu cảm ác quả. Khi vị nghiệp giao báo, thì
lúc lâm chung, trước hết thấy lưới sắt phát lửa bừng
cháy, che khắp thế giới; thần thức người chết sa đọa
mắc lưới, treo ngược đầu xuống, vào ngục A Tỳ, phát
minh hai tướng: Một là hít hơi vào, kết thành băng giá, làm
nứt nẻ thân thể, hai là thở hơi ra, bay thành lửa hồng
đốt cháy xương tủy.
-Như
vậy, nếm mùi qua vị giác thì thành nhận chịu; qua thị giác
thì thành kim thạch nung đỏ; qua thính giác thì thành binh khí
sắc bén; qua khứu giác thì thành lồng sắt lớn, che khắp
quốc độ; qua xúc giác thì thành cung, tên, nỏ, súng; qua ý
thức thì thành sắt nóng, bay từ trên không rưới xuống như
mưa.
-Năm
là Xúc Báo chiêu cảm ác quả. Khi xúc nghiệp giao báo, thì
lúc lâm chung, trước hết thấy núi lớn từ bốn phía hợp
lại, chẳng còn đường ra; thần thức người chết thấy
Thành Sắt lớn, rắn lửa, cọp, sói, sư tử, ngục tốt (người
gác ngục) đầu trâu, La Sát, đầu ngựa, tay cầm thương,
xóc, lùa vào cửa thành, hướng về ngục A Tỳ, phát minh hai
tướng: Một là hợp xúc, núi hợp lại ép thân, xương thịt
tuôn máu; hai là lìa xúc, dao gươm đâm chém, tim gan bị cắt
xẻ.
-Như
vậy, hợp xúc qua xúc giác thì thành con đường địa ngục,
gặp Diêm La Vương xử án; qua thị giác thì thành đốt cháy,
nung đỏ; qua thính giác thì thành đánh, đập, đâm bắn; qua
khứu giác thì thành tóm, đựng, khảo, trói; qua vị giác thì
thành cày, kìm, chém, chặt; qua ý thức thì thành rơi, bay,
nấu nướng.
-Sáu
là Tưởng Báo chiêu cảm ác quả. Khi tưởng nghiệp giao báo,
thì lúc lâm chung, trước hết thấy gió bão thổi nát quốc
độ; thần thức người chết bị thổi lên hư không, xoay
rơi theo gió, đọa ngục A Tỳ, phát minh hai tướng: Một là
chẳng giác, mê muội vô cùng, bỏ chạy không thôi; hai là
chẳng mê, hay biết các khổ, bị đốt cháy không cùng, đau
đớn khổ sở.
-Như
vậy, tà tưởng kết vào ý thức thì thành phương sở; kết
vào thị giác thì thành gương soi, bằng chứng; kết vào thính
giác thì thành đại hợp băng giá, sương mù, đất bùn; kết
vào khứu giác thì thành xe lửa, thuyền lửa, củi lửa; kết
vào vị giác thì thành tiếng la hét, than khóc; kết vào xúc
giác thì thành lớn nhỏ, nghiêng ngửa, muôn lần sống đi
chết lại trong một ngày.
-A
Nan! Thập tập nhân và lục giao báo của địa ngục kể trên,
đều do chúng sanh mê vọng tạo ra. Nếu chúng sanh lục căn
đồng tạo ác nghiệp thì vào ngục A Tỳ, trải qua vô số
kiếp, chịu khổ vô cùng; nếu lục căn mỗi mỗi tạo riêng,
với nghiệp sở tạo, gồm cả căn trần, thì người ấy vào
khu 8 ngục A Tỳ; nếu cả thân khẩu, ý, tạo nghiệp sát,
đạo, dâm, thì người ấy đọa vào khu 18 địa ngục; nếu
không gồm cả ba nghiệp, hoặc trong ấy chỉ tạo nghiệp sát
hay nghiệp đạo, thì người ấy vào khu 36 địa ngục; nếu
chỉ có một căn riêng tạo một nghiệp, thì người ấy vào
khu 108 địa ngục.
-Mỗi
chúng sanh dù riêng tạo biệt nghiệp, nhưng cùng vào chỗ đồng
phận trong thế giới, ấy đều do vọng tưởng sanh ra, chẳng
phải vốn san có.
Giảng
giải:
Ở
đây nói quả báo địa ngục. Thập tập nhân: Tập là tập
khí làm nhân, cũng như thập ác (tham, sân, si, sát, đạo, dâm,
vọng ngôn, ỷ ngữ, lưỡng thiện, ác khẩu), có nhân thì
phải chịu quả. Vậy thập tập nhân do ai tạo ra? Là lục
căn tạo ra, gọi là lục giao báo. Mặc dầu lục căn, nhưng
mỗi căn đều gồm 6 thứ, giao lộn lẫn nhau, nên gọi là
giao báo.
1.
Kiến báo chiêu cảm ác quả, khi kiến nghiệp giao báo thì
lúc lâm chung, trước hết thấy lửa hồng cháy khắp 10 phương,
thần thức bay rơi theo khói, vào ngục a tỳ, phát minh 2 tướng.
Ban
đầu thấy chiêu cảm ác quả, gọi là nhân kiến nghiệp,
lúc lâm chung thì thấy lửa hồng khắp 10 phương. Đạo Phật
không nhìn nhận linh hồn, các tôn giáo khác đều nói linh
hồn, thói quen các thầy và Phật tử cũng đều nói linh hồn.
Phật
Thích Ca không nhìn nhận linh hồn. Tại sao? Vì người ta tưởng
là linh hồn tồn tại vĩnh viễn, tức là thân xác chết, linh
hồn còn. Sự thật, kinh Lăng Nghiêm nói: “Phàm có lay động
thì có biến đổi”. Vì sao?
Vì
con nít chết là linh hồn con nít, người lớn chết là linh
hồn người lớn, người già chết là linh hồn người già;
cứ theo cơ thể này mà biến đổi, biến đổi thì phải chết
mất, làm sao tồn tại vĩnh viễn được? Mà lại nói linh
hồn đi đầu thai chỗ này chỗ kia!
Đạo
Giáo nói 3 hồn 7 vía, một người làm sao nói 3 hồn 7 vía
được? Cho nên, Phật nói là thần thức, thần thức không
theo cơ thể biến đổi; đi đầu thai là do thần thức, chứ
không phải là linh hồn, chịu khổ cũng là thần thức.
Hỏi:
Xin
thầy khai thị rõ có đi đầu thai hay không đi, vì có đi thì
có thời gian?
Đáp:
Phật
tùy theo chấp của chúng sanh, để dạy chúng sanh tu giải thoát.
Chỗ thật tế vốn không có đầu thai, như Bát Nhã Tâm Kinh
nói: “Vô vô minh, vô lão tử”, là không có vô minh, không
có già chết, làm sao có hay không có lục đạo luân hồi?
Nhưng bệnh chấp của chúng sanh lọt vào chiêm bao do ý thức
tạo ra.
Độc
đầu ý thức biến hiện gọi là nhắm mắt chiêm bao, đồng
thời ý thức biến hiện gọi là mở mắt chiêm bao. Tất cả
lục đạo luân hồi đều ở trong chiêm bao, tức là mở mắt
chiêm bao. Trong mở mắt chiêm bao có nhắm mắt chiêm bao. Nếu
lấy kinh nghiệm nhắm mắt chiêm bao, thì hiểu được mở
mắt chiêm bao.
Nhắm
mắt chiêm bao không có cái gì thật, nhưng trong lúc chiêm bao
thấy toàn là thật; cho đến ở trong chiêm bao, thức dậy
hoàn toàn không có, chỉ do ý thức biến hiện.
Một
mình thức thứ 6 biến hiện là nhắm mắt chiêm bao. Hai thức
đồng thời biến hiện là mở mắt chiêm bao. Lúc chiêm bao
phải chịu nhân quả chiêm bao, luân hồi trong chiêm bao, đầu
thai chỗ này chỗ kia, tùy theo cái nghiệp chiêm bao.
Cho
nên, mục đích của Phật muốn mình ở trong chiêm bao thức
tỉnh, gọi là kiến tánh thành Phật. Lìa tất cả chiêm bao
là bình yên vô sự. Nếu còn ở trong chiêm bao, Phật có nói
thật tế cũng không tin được.
Không
tin được tại vì chưa được tự chứng phần. Nhắm mắt
chiêm bao, ngủ thức dậy thì được tự chứng phần.
Mở
mắt chiêm bao không bao giờ tự thức, nếu không tham thiền.
Tới chừng thức tỉnh gọi là kiến tánh thì được tự chứng
phần. Duy Thức còn thêm chứng tự chứng phần. Thiền tông
gọi là truyền tâm ấn, nghĩa là tâm của thầy đã ngộ triệt
để, dùng để chứng minh trò đã ngộ rồi. Dùng tâm để
ấn chứng tâm gọi là truyền tâm ấn. Những người không
biết, tưởng là có cái tâm để cho người này người kia,
giống như vật chất vậy.
Hiện
giờ mình đang ở trong chiêm bao, chưa được tự chứng phần;
tự chứng phần phải kiến tánh mới được. Chưa kiến tánh,
Phật có giải thích trong kinh rất có lý; nhưng tin không nổi,
vì tiếp xúc cái nào cũng thấy thật. Không những lo cho thân
mình mà còn phải lo cho con cháu nữa, nếu biết không thật
thì khỏi cần lo. Nhưng không được, phải lo mới được,
khó mà buông!
Phật
đã nói mấy chục năm, nhưng người ta khó tin. Cho nên, cuối
cùng Phật mới truyền pháp môn Tổ Sư thiền, để cho người
ta được tự chứng phần; nếu chưa được tự chứng phần,
nghe người ta nói có lý cũng khó tin. Những người nói tin,
nhưng sự thật trong tiềm ý thức, vẫn cho các việc trước
mắt là thật, không chịu tin là mở mắt chiêm bao.
Nhắm
mắt chiêm bao và mở mắt chiêm bao đều là chiêm bao. Nhưng
người đời chỉ nhìn nhận nhắm mắt chiêm bao, chứ không
nhìn nhận mở mắt chiêm bao. Vì nhắm mắt chiêm bao đã thức
tỉnh, là được tự chứng phần, cho nên lòng tin vững chắc.
Còn mở mắt chiêm bao chưa được tự chứng phần, vì chưa
kiến tánh, thành ra Phật và chư Tổ nói có lý cũng không
tin.
Vì
chưa kiến tánh, do 10 thứ tập nhân lại thọ lục giao báo.
Vừa rồi nói các cảnh địa ngục, các vị nghe cũng biết
rất khổ. Cái khổ là do thần thức này cảm thấy, đối
với bản tâm không có liên quan.
Bây
giờ thần thức đang hiện hành, thì bản tâm ẩn trong thần
thức, chứ không phải là hai. Mình quen mất bản tâm, chỉ
nhìn nhận thần thức. Nên bị thần thức lôi kéo vào chỗ
khổ chỗ vui mà cảm thọ. Chỗ này,
Phật
muốn mình ngộ mới được. Nếu chưa ngộ mình vẫn còn dùng
thần thức.
Thần
thức đang hiện hành, cũng gọi là hiện hành vô minh. Phật
và chư Tổ nói: “Chúng sanh hiện hành vô minh của chúng sanh,
tức là bất động trí của chư Phật”. Ấy không phải là
hai. Cái này trong công án Thiền tông của Ngưỡng Sơn.
Có
người hỏi Ngưỡng Sơn: Thế nào vô minh hiện hành của chúng
sanh, tức là bất động trí của chư Phật?
Một
Sa Di đi ngang, Ngưỡng Sơn hỏi: Thế nào là Phật tánh? Sa
Di ngó lại rồi đi. Ngưỡng Sơn nói tiếp: Đó là hiện hành
vô minh của chúng sanh.
Mình
chưa ngộ thì khó hiểu, kể vậy chỉ hiểu phần nào thôi.
Nói
tóm lại, cuộc sống hằng ngày đều dùng lục căn, lục căn
ham thích hay chán ghét cũng ở trong 10 thứ tập nhân. Cho nên,
Thiền tông chỉ giữ nghi tình là không hiểu không biết, mới
ngưng được lục căn tạo nghiệp nhân. Nghiệp nhân không
tạo thì nghiệp quả không có. Nên rất giãn dị, như không
phải Giáo môn, phải học nhiều kinh điển.
Nghiệp
có biệt nghiệp và cộng nghiệp. Như máy bay của Nhật Bản
ở Đài Loan bị rớt chết rất nhiều, chết một lượt là
cộng nghiệp. Nhưng trong đó có 10 người không chết là biệt
nghiệp. Trong biệt nghiệp có cộng nghiệp, trong cộng nghiệp
cũng có biệt nghiệp. Nếu làm nghiệp nhân thì phải chịu
nghiệp quả, việc ấy có thể sửa lại được. Tâm tạo
nghiệp cũng dùng tâm sửa nghiệp.
Chánh
văn:
-Lại
nữa A Nan! Nếu các chúng sanh phá hủy luật nghi, phạm giới
Bồ Tát, phỉ báng Niết Bàn và các nghiệp khác, thì trải
qua nhiều kiếp bị đốt cháy, sau khi đền tội xong, thọ
các hình quỷ.
Nếu
ở nơi bản nhân, do tham vật tạo tội, người ấy khi đền
tội xong, gặp vật thành hình, gọi là Quái Quỷ do tham sắc
tạo tội, khi đền tội xong, gặp gió thành hình. gọi là
Bạt Quỷ; do tham dối trá tạo tội, khi đền tội xong, gặp
súc vật thành hình, gọi là Mî Quỷ; do tham sân hận tạo
tội, khi đền tội xong, gặp sâu bọ thành hình, gọi là Cổ
Độc Quỷ; do tham ghi khắc thù oán tạo tội, khi đền tội
xong, gặp kẻ thù vận suy thành hình, gọi là Lệ Quỷ; do
tham ngạo mạn tạo tội, khi đền tội xong, gặp khí thành
hình, gọi là Ngạ Quỷ; do tham lừa gạt tạo tội, khi đền
tội xong, gặp u ẩn thành hình, gọi là Yểm Quỷ; do tham minh
ngộ tạo tội, khi đền tội xong, gặp tinh linh thành hình,
gọi là Võng Lượng Quỷ; do tham vu vạ tạo tội, khi đền
tội xong, gặp linh hiển thành hình, gọi là Dịch Sử Quỷ;
do tham kết bè phái tạo tội khi đền tội xong, gặp con người
thành hình, gọi là Truyền Tống Quỷ.
-A
Nan! Loại này đều vì thuần tình mà sa đọa, khi nghiệp lửa
đốt cạn thì lên làm quỷ, ấy đều do vọng tưởng của
tự mình chiêu cảm nghiệp quả, nếu ngộ tánh Bồ Đề, thì
nơi diệu tâm sáng tỏ, vốn chẳng có gì cả.
-Lại
nữa A Nan! Khi hết nghiệp quỷ, tình và tưởng cả hai đều
không, mới ở nơi thế gian, với người mắc nợ cũ oán đối
gặp nhau, thân làm súc sinh để trả nợ xưa.
-Loài
quái quỷ theo vật, khi vật tiêu báo hết, sanh nơi thế gian,
phần nhiều làm loài chim kêu.
-Bạt
quỷ theo gió, khi gió tiêu báo hết, sanh nơi thế gian, phần
nhiều làm loài cửu trưng (loài dự báo điềm xấu như chim
cú, quạ...)
-Mî
quỷ theo súc, khi súc chết báo hết, sanh nơi thế gian, phần
nhiều làm loài chồn.
-Cổ
quỷ theo sâu, khi suy sâu diệt hết, sanh nơi thế gian, phần
nhiều làm loài độc hại.
-Lệ
quỷ theo vận suy, khi suy tiêu báo hết, sanh nơi thế gian, phần
nhiều làm loài giun sán.
-Ngạ
quỷ theo khí, khi khí tiêu báo hết, sanh nơi thế gian, phần
nhiều làm loài gia súc.
-Yểm
quỷ theo u-ẩn, khi u-ẩn tiêu báo hết, sanh nơi thế gian, phần
nhiều làm loài tằm, cừu, cung cấp đồ mặc.
-Võng
Lượng Quỷ theo tinh linh, khi tinh tiêu báo hết, sanh nơi thế
gian, phần nhiều làm loài chim mùa.
-Dịch
Sử Quỷ theo linh hiển, khi linh diệt báo hết, sanh nơi thế
gian, phần nhiều làm loài hưu trưng (loài dự báo điềm tốt
như phụng, lân).
-Truyền
Tống Quỷ theo người, khi người chết báo hết, sanh nơi thế
gian, phần nhiều làm loài tùng phục bên người như chó, mèo.
-A
Nan! Loại này đều vì nghiệp lửa đốt cạn, sanh vào loài
súc, đền trả nợ xưa, ấy cũng là do vọng nghiệp chiêu
cảm; nếu ngộ tánh Bồ Đề, thì các vọng duyên này, vốn
chẳng có gì cả.
Như
ngươi hỏi về những quả báo ác nghiệp của Bửu Liên Hương,
Lưu Ly Vương và Tỳ Kheo Thiện Tinh từ đâu ra? Phải biết
mỗi mỗi đều tự tạo, chẳng phải từ trên trời xuống,
từ dưới đất ra, hay người khác đưa đến. Tự tạo vọng
nghiệp, tự chiêu ác quả, mà chẳng biết nơi tâm Bồ Đề,
ấy đều do vọng tưởng giả dối kết tụ.
-Lại
nữa A Nan! Những súc sinh ấy, đền trả nợ cũ, nếu trả
quá nợ cũ, thì trở lại làm người, đòi lại phần thừa.
Nếu người kia có sức mạnh, lại có phước đức, thì khỏi
bỏ thân người mà vẫn hoàn lại phần thừa ấy được,
còn nếu chẳng phước đức thì phải làm súc sinh để trả
lại cái thiếu.
-A
Nan nên biết! Nếu mắc nợ tiền tài hoặc sức lực của
loài vật, khi đền đủ thì tự ngưng... Nếu ở trong đó
có giết hại sinh mạng hoặc ăn thịt họ, như thế cho đến
ăn nhau, giết nhau, trải qua vô số kiếp, như chuyển bánh
xe, lúc cao lúc thấp, thay phiên nhau chẳng ngừng. Trừ khi gặp
Phật ra đời, ngộ pháp Xa Ma Tha, nếu không thì nghiệp chẳng
thể ngưng.
-Nay
ngươi nên biết, loài chim kêu kia, trả hết nợ cũ, trở lại
làm người, sanh vào hạng ngoan cố.
-Loài
cữu trưng kia, trả hết nợ cũ, trở lại làm người, sanh
vào hạng quái dị.
-Loài
chồn kia, trả hết nợ cũ, trở lại làm người, sanh vào
hạng ngu dại.
-Loài
độc hại kia, trả hết nợ cũ, trở lại làm người, sanh
vào hạng nham hiểm.
-Loài
giun sán kia, trả hết nợ cũ, trở lại làm người, sanh vào
hạng hèn hạ.
-Loài
gia súc kia, trả hết nợ cũ, trở lại làm người, sanh vào
hạng nhu nhược.
-Loài
tằm, cừu kia, trả hết nợ cũ, trở lại làm người, sanh
vào hạng nghèo khổ.
-Loài
chim mùa trưng kia, trả hết nợ cũ, trở lại làm người,
sanh vào hạng văn hoa.
-Loài
hưu trưng kia, trả hết nợ cũ, trở lại làm người, sanh
vào hạng thông minh.
-Loài
tùng phục bên người kia, trả hết nợ cũ, trở lại làm
người, sanh vào hạng thông thạo.
-A
Nan! Loại này dù trả hết nợ cũ, trở lại làm người, đều
do điên đảo tạo nghiệp, sanh nhau giết nhau từ vô thỉ,
chẳng gặp Như Lai, chẳng nghe chánh pháp, ở trong trần lao
xoay vần mãi, bọn này gọi là thật đáng thương xót.
-A
Nan! Lại có chúng sanh, trong cõi người chẳng theo chánh giác
tu Tam Ma Địa, mà tu theo vọng niệm, giữ tâm củng cố hình
hài, ẩn trong rừng núi, những chỗ vắng người, thành mười
loại tiên.
l.
A Nan! Những chúng sanh ấy, kiên cố dùng đồ bổ chẳng ngừng
nghỉ, thành tựu đạo thực, gọi là Địa Hành Tiên.
2.
Kiên cố dùng cỏ cây chẳng ngừng nghỉ, thành tựu đạo
thuốc, gọi là Phi Hành Tiên.
3.
Kiên cố luyện đơn chẳng ngừng nghỉ, thành tựu đạo hóa
chất, gọi là Du Hành Tiên.
4.
Kiên cố luyện khí chẳng ngừng nghỉ, thành tựu tinh khí,
gọi là Không Hành Tiên.
5.
Kiên cố luyện tâm dịch chẳng ngừng nghỉ, thành tựu nhuận
đức, gọi là Thiên Hành Tiên.
6.
Kiên cố hấp thụ tinh hoa chẳng ngừng nghỉ, thành tựu sự
hấp thụ, gọi là Thông Hành Tiên.
7.
Kiên cố luyện theo bùa chú chẳng ngừng nghỉ, thành tựu
bùa phép, gọi là Đạo Hành Tiên.
8.
Kiên cố chuyên chú tâm niệm chẳng ngừng nghỉ, thành tựu
niệm tưởng, gọi là Chiếu Hành Tiên.
9.
Kiên cố về thủy hỏa giao cấu chẳng ngừng nghỉ, thành
tựu sự cảm ứng, gọi là Tinh Hành Tiên.
l0.
Kiên cố biến hóa chẳng ngừng nghỉ, thành tựu tà ngộ,
gọi là Tuyệt Hành Tiên.
-A
Nan! Loại này đều ở trong cõi người mà luyện tâm, chẳng
tu chánh giác, xa cách người đời, thọ muôn ngàn tuổi, ẩn
núp nơi núi sâu, hòn đảo, những chỗ vắng người; ấy cũng
là theo vọng tưởng mà luân hồi. Nếu chẳng tu tam muội,
khi phước báo hết, phải trở lại trong lục đạo.
Giảng
giải:
Trong
mười pháp giới, tội địa ngục là nặng nhất. Tội địa
ngục hết thì lên ngạ quỷ, tức là tội nhẹ hơn một chút.
Tội ngạ quỷ hết thì lên súc sanh. Súc sanh trả nợ hết
thì lên làm người. Tùy theo nghiệp nhân trước, nên mới
có người thông minh, có người ngu si,… trong này phân tích
nhiều loại.
Nếu
người nào tu theo ngoại đạo, trong này có nói 10 thứ tiên,
họ sống muôn ngàn tuổi, hết thời hạn họ cũng phải luân
hồi sanh tử trong lục đạo. Những người tu ở ẩn trong
rừng sâu, không ai tới, chỉ thích ở một mình không muốn
gặp người, thì phải dùng trái cây để sống, nhưng phải
cần muối, nên đốn củi đem ra ngoài đường và viết rằng:
“Ai lấy củi này, xin cho tôi ít muối”. Đến lúc trời
chiều tối họ ra lấy muối mang đi vào rừng sâu. Họ tu đến
thành tiên, đến già họ cũng phải chết, tức là cái nhân
họ tạo tới đâu thì cái tuổi tới đó cũng phải chết.
Lục
đạo luân hồi là: Trời, người, a tu la, súc sanh, ngạ quỷ,
địa ngục; kinh Lăng Nghiêm có thêm đạo tiên, thành ra có
7 loại (thất thú). Có chỗ nói 5 loài, vì a tu la có 4 loại:
A tu la cõi trời, A tu la cõi người, A tu la cõi súc sanh, A tu
la cõi ngạ quỷ. Cho nên, không có lập riêng một loại A tu
la. Nhưng bây giờ người ta đã quen gọi lục đạo, nên chỉ
có một A tu la.
Nói
tóm lại, mình tạo nghiệp nhân gì thì chiệu nghiệp quả
đó. Cho đến tu thành tiên, họ cũng có nghiệp nhân nghiệp
quả; vì họ không có tu đúng chánh pháp, nên không được
giải thoát nhưng được sống dai. Những người tu tiên không
ăn thịt chúng sanh, chỉ ăn trái cây; nên họ không có trả
nợ thịt.
Tôi
thường nói: “Giết một mạng thì trả lại một mạng, ăn
một cục thịt phải trả lại một cục thịt”. Tại sao?
Vì hôm nay làm thịt 10 con gà để bán, nếu họ bán không
được thì ngày mai họ không có giết nữa; nếu họ bán được
thì ngày mai họ giết thêm. Mình đi mua thịt cũng là gián
tiếp sát sanh. Nếu mình không mua thì họ không giết.
Kinh
Lăng Già nói: “Dùng tiền để bắt, người ta dùng lưới,
dùng tay chân để bắt, cũng là cùng tạo nghiệp nhân”. Thọ
giới Bồ Tát không cho nuôi mèo, chồn. Vì người nuôi mèo
muốn cho nó đi bắt chuột, cũng là gián tiếp sát sanh.
Hỏi:
Có
các chùa cho mèo ăn thịt, vậy việc ấy như thế nào?
Đáp:
Việc
ấy hiểu lầm, thời kỳ Phật Thích Ca đi bình bát, người
ta bỏ bất cứ cái gì đều phải ăn; không được chọn cái
ngon ăn, không ngon mà bỏ. Không được đi mua thức ăn. Đi
bình bát quy định đi 7 nhà. Nếu đi 7 nhà mà không có ai cúng
dường, thì mang bình bát không trở về, bữa đó nhịn đói.
Nhưng
thường thường các nước Thái Lan, Tích Lan, Cam Pu Chia, những
người cư sĩ hay phát tâm cúng dường, nếu không cúng dường
thì trong tâm thấy khó chịu. Cho nên, họ ăn cái gì thì họ
cúng cái đó, vì thế tu sĩ không có quy định phải cúng cái
gì.
Các
vị cư sĩ muốn cúng dường, họ mang đồ ăn để sẵn trước
cửa nhà vào lúc 5 giờ sáng, có sư đi ngang qua thì bỏ vô
bình bát. Nếu cúng 5 vị thì làm 5 phần, cúng 10 vị thì làm
10 phần. Các nước Thái Lan, Cam Pu Chia, con trai lớn lên đều
phải đi xuất gia, cho đến làm vua cũng phải đi xuất gia,
đi bình bát như các vị sư vậy.
Đi
bình bát về, các thức ăn chia ra làm 2 phần, một phần ăn
liền, còn lại một phần 11 giờ trưa mới ăn, buổi chiều
không ăn. Các tu sĩ ở Thái Lan, buổi chiều họ không mua đồ
ăn, nếu mua thì người ta cho là phạm giới. Các tu sĩ người
Hoa muốn ăn vào buổi chiều, phải đóng cửa lại. Vì sợ
người Thái Lan bất ngờ vô gặp.
Chánh
văn:
DỤC
GIỚI
l.
A Nan! Những người thế gian, chẳng cầu đạo thường trụ,
chưa thể rời bỏ sự ân ái vợ chồng, nhưng tâm chẳng buông
lung nơi tà dâm, do tâm đứng lặng phát ra sáng suốt. Sau khi
chết, ở gần với nhật nguyệt, loại này gọi là Tứ Thiên
Vương Thiên.
2.
Đối với vợ mình, dâm ái ít ỏi, trong lúc tịnh cư, chưa
hoàn toàn trong sạch. Sau khi chết, vượt ánh sáng nhựt nguyệt,
ở trên đảnh cõi người, loại này gọi là Đao Lợi Thiên.
3.
Gặp dục tạm giao, qua rồi thì chẳng nhớ; nơi cõi người
động ít tịnh nhiều. Sau khi chết, an trụ nơi hư không, ánh
sáng nhựt nguyệt chẳng thể soi đến, hạng người ấy tự
có ánh sáng, loại này gọi là Tu Diệm Ma Thiên.
4.
Lúc nào cũng tịnh, nhưng khi tiếp xúc bỗng đến, chưa thể
lìa bỏ. Sau khi chết, sanh lên cõi tinh vi, chẳng nối liền
với những cõi trời, người ở dưới; khi kiếp hoại tam
tai cũng chẳng thể đến, loại này gọi là Đâu Suất Đà
Thiên.
5.
Ta chẳng tâm dâm dục, chỉ đáp ứng với nhu cầu của người,
xem sự dâm dục vô vị như ăn sáp. Sau khi chết, sanh lên cõi
biến hóa, loại này gọi là Lạc Biến Hóa Thiên.
6.
Tâm chẳng trụ thế gian, mà thọ dụng cảnh dục đồng như
thế gian; đang lúc thọ dụng, rõ ràng siêu thoát. Sau khi chết,
vượt lên tất cả cảnh biến hoá và chẳng biến hóa, loại
này gọi là Tha Hóa Tự Tại Thiên.
-A
Nan! Sáu cõi trời kể trên, hình dù khỏi động mà tâm còn
dính mắc, từ đây trở xuống, gọi là Dục Giới.
Giảng
giải:
Tam
giới gồm có: “Dục giới, sắc giới, vô sắc giới”, con
người và cầm thú đều ở trong cõi dục giới. Trong này
nói có 6 lớp cõi trời dục giới. Dục này là dâm dục, dâm
dục càng bớt thì sanh đến cõi khác càng cao. Ngài Long Thọ
nói: “Cõi trời thấp nhất thì dâm dục bằng cõi người”.
Nếu lên một lớp chỉ cần 2 người ôm nhau thì thỏa mãn.
Lên lớp nữa chỉ nắm tay là cảm thấy thỏa mãn. Lên lớp
nữa chỉ 2 người cười nhau thì thỏa mãn. Đều có tánh
dâm dục của nam nữ.