THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học   Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn  Index Tác-Giả

 
 
 
 
 
c
GIẢNG KINH LĂNG NGHIÊM
Hoà Thượng Thích Duy Lực
Thích Đồng Thường Lập Thành Văn Tự
ML
01
02
03
04
05
06
07
08
09
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
Chánh văn:

THẬP TÍN

l. Tập khí tham dục mới cạn, chưa nối được dòng pháp của Như Lai, tức dùng tâm này chảy vào trung đạo, tánh viên diệu được mở mang, từ chỗ chơn diệu viên lại phát ra chơn diệu, diệu tín thường trụ, tất cả vọng tưởng đều dứt sạch, trung đạo thuần chơn, gọi là Tín Tâm Trụ. 

Lược giải:

Khi tham dục mới cạn, chưa nối được dòng pháp của Như Lai, tức dùng tâm này chảy vào trung đạo, chẳng nghiêng bên Không, chẳng nghiêng bên Giả, cũng chẳng trụ nơi Trung đạo, từ đây khởi quán: 

Không, Giả, Trung, tam đế viên dung, gọi là Viên Diệu; ở đây tâm thức có thể đến. Khi giác quán đã thành, từ chơn phát diệu, khế hợp lý viên, thì gọi là Diệu Viên, chỗ này tâm thức chẳng thể đến. Nếu trung đạo nương theo chơn, thì sự diệu, chưa phải chơn, từ chơn phát diệu, diệu ấy mới là Chơn Diệu. 

Diệu chưa phải chơn, nên chẳng thể thường trụ, trung đạo thuần chơn, nên diệu được thường trụ. Diệu đã thường trụ thì tất cả vọng tưởng chẳng có chỗ dựa. Nói "Diệu" là tự cảm thấy bất khả tư nghì, chẳng thể dùng ngôn ngữ tỏ bày, lòng tin tự tâm rất chơn thật, nên gọi là Tín Tâm Trụ. (heát).

2. Chơn tín sáng tỏ, tất cả viên thông, ba thứ: ấm (5 ấm), xứ (12 xứ), giới (18 giới), chẳng thể ngăn ngại, như thế cho đến trong vô số kiếp quá khứ, vị lai, tất cả tập khí xã thân, thọ thân, thảy đều hiện ra trước mắt và ghi nhớ chẳng quên, gọi là Niệm Tâm Trụ. 

3. Thuần chơn diệu viên, tinh vi phát dụng, những tập khí từ vô thỉ đều hóa thành một tâm tinh minh (tinh vi sáng tỏ), từ tinh minh tiến lên chơn tịnh, gọi là Tinh Tấn Tâm. 

4. Tâm tinh tấn hiện tiền, thuần dùng trí huệ, gọi là Huệ Tâm Trụ. 

5. Trí huệ sáng tỏ, tịch lặng cùng khắp, tịch diệu thường định, gọi là Định Tâm Trụ. 

6. Từ định tâm phát ra ánh sáng, tánh sáng sâu vào, tiến tới chẳng lui gọi là Bất Thối Tâm. 

7. Tâm an nhiên tiến tới, duy trì chẳng mất, giao tiếp với tinh thần của mười phương Như Lai gọi là Hộ Pháp Tâm. 

8. Tánh sáng của Bổn giác được duy trì, hay dùng diệu lực xoay Từ Quang của Phật về tự tánh, cũng như ánh sáng của hai gương đối nhau, trong đó, các bóng nhiệm mầu trùng trùng vô tận, gọi là Hồi Hướng Tâm. 

9. Với từ Quang của Bản Tâm miên mật, an trụ nơi vô vi, vô thượng trong sạch, thường trụ của Phật, chẳng thể lạc mất, gọi là Giới Tâm Trụ. 

l0. Trụ giới tự tại, hay dạo khắp mười phương, ở đi tùy nguyện, gọi là Nguyện Tâm Trụ. 

Giảng giải:

1. Tập khí tham dục mới cạn, chưa nối được dòng pháp của Như Lai (đây bắt đầu tu, tham dục mới cạn), dùng tâm này chảy vào trung đạo.

Trung đạo không nghiêng bên không, cũng không nghiêng bên giả; tức là không chấp bên không, cũng không chấp bên giả. Không trụ trung đạo chơn thật, vì không có 2 bên thì không có chính giữa, cho nên trung đạo chẳng trụ.

Tánh viên diệu được mở mang, từ chỗ chơn diệu viên lại phát ra chơn diệu, diệu tướng thường trụ, tất cả vọng tưởng đều dứt sạch, trung đạo thuận chơn gọi là tín tâm trụ.

Thập Tín ở đây, tại sao nói trụ và đều nói tâm? Bất cứ Phật pháp, Tiểu thừa, Đại thừa, pháp nào cũng nói về tâm. Cho đến khoa học triết học cũng nói về tâm. Ban đầu là 10 thứ tin (tin tự tâm), đã tin được rồi gọi là tín tâm trụ. 

Lược giải:

Khi tham dục mới cạn, chưa nối được dòng pháp của Như Lai, tức dùng tâm này chảy vào trung đạo, từ đây khởi quán, không, giả, trung, tam tế viên dung (chẳng trụ nơi không, giả, trung), gọi là viên diệu; ở đây tâm thức chẳng thể đến. 

Khi giác quán thành, từ chơn phát diệu, khế hợp với lý viên (lý viên là viên tròn không bắt đầu và cuối cùng) thì gọi là diệu viên. Nếu trung đạo nương theo chơn (có chơn thì có giả để tương đối) thì sự diệu chưa phải chơn, từ chơn phát diệu, diệu ấy mới là chơn diệu (Phật pháp nói chữ “diệu” là suy nghĩ chẳng thể đến).

Diệu chưa phải chơn, nên chẳng thể thường trụ; trung đạo thuần chơn, nên diệu được thường trụ. Diệu đã thường trụ thì tất cả vọng tưởng không có chỗ dựa. Nói diệu là tự cảm thấy bất khả tư nghì, chẳng thể dùng ngôn ngữ tỏ bày, lòng tin tự tâm rất chơn thật, nên gọi là tín tâm trụ. (hết).

2. Chơn tín sáng tỏ (lòng tin tự tâm chơn thật sáng tỏ) tất cả viên thông, ba thứ ấm, xứ, giới (ấm là ngũ ấm: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức; xứ: Lục căn, lục trần, lục thức là 18 giới). Chẳng thể ngăn ngại.

Tức là dùng lục căn tiếp xúc lục trần sanh ra lục thức, nhưng hoàn toàn chẳng trụ thì không bị ngăn ngại.

 Như thế cho đến trong vô số kiếp quá khứ, vị lai. Tất cả tập khí xả thân, thọ thân thảy đều hiện ra trước mắt và ghi nhớ chẳng quên (tập từ lâu đời cùng hiện một lượt, tu đến chỗ này mới thấy được), gọi là niệm tâm  trụ.

3. Thuần chơn diệu viên, tinh vi phát dụng, những tập khí từ vô thỉ đều hóa thành một tâm tinh minh (tinh minh là tinh vi sáng tỏ). Tinh minh tiến lên chơn tịnh, gọi là tinh tấn tâm.

4. Tâm tinh tấn hiện tiền, thuận dùng trí huệ, gọi là huệ tâm trụ.
 (Ban đầu dùng ý thức, đến chỗ này thì dùng được trí huệ, cho nên gọi là huệ tâm trụ).

5. Trí huệ sáng tỏ, tịch lặng cùng khắp, tịch diệu thường trụ, gọi là định tâm trụ.
 (Trí huệ dùng ra là động, nhưng cứ tu mãi, thì động đến định, tới thường định gọi là định tâm trụ).

6. Từ định tâm phát ra ánh sáng, tánh sáng sâu vào, tới chẳng lui, gọi là bất thối tâm.
 (Trước kia tiến rồi có thể lui, đến chỗ này tiến mà không có lui, gọi là bất thối tâm).

7. Tâm an nhiên tiến tới, duy trì chẳng mất giao tiếp với tinh thần của mười phương Như Lai, gọi là hộ pháp tâm.
 (Ở Phật pháp, người có tu thì có người hộ pháp, nhưng tu cũng là tâm, hộ pháp cũng là tâm, được vui chẳng mất, tức là có hộ pháp, gọi là hộ pháp tâm).

8. Tánh sáng của bổn giác được duy trì, hay dùng diệu lực xoay từ quang của Phật về tự tánh, cũng như ánh sáng của hai gương đối nhau ở trong đó, các bóng nhiệm mầu trùng trùng vô tận, gọi là hồi hướng tâm.

 (Tu đến chỗ này thì ánh sáng của bổn giác được duy trì không bị  mất, lúc ấy hay dùng diệu lực của tâm xoay từ quang Phật, tức là tự  tánh Phật về tự tánh. Nói thì nói vậy như trước kia hướng ngoại, bây giờ không hướng ngoại, thì gọi là xoay về tự tánh. Như ánh sáng hai gương đối chiếu nhau ở trong đó, các bóng nhiệm mầu trùng trùng vô tận. Như mình đi cắt tóc có hai gương đối nhau, thấy hình của mình trùng trùng vô tận; gọi là hồi hướng tâm).

9. Với từ quang của bản tâm miên mật, an trụ nơi vô vi, vô thượng trong sạch, thường trụ của Phật, chẳng thể lạc mất, gọi là giới tâm trụ.

 (Từ quang của bản tâm, nếu không bị mất thì miên mật. An trụ nơi vô vi tức là không động. Vô vi là không làm mà tự làm, vô thượng trong sạch là trong sạch không có gì hơn. Phật tánh là thường trụ, trước kia bị vọng tưởng làm cho ngăn ngại. Đã an trụ nơi vô vi không có gì làm chướng ngại được, chẳng thể lạc mất, gọi là giới tâm trụ).

10. Trụ giới tự tại hay dạo khắp mười phương, ở đi tùy nguyện, gọi là nguyện tâm trụ.

 (Lúc đó muốn đi chỗ nào cũng được, dạo khắp mười phương, muốn đi muốn ở là tùy nguyện của mình, gọi là nguyện tâm trụ).
Ở đây là Thập Tín, nhưng đều gọi là trụ.

Chánh văn:

l. A Nan! Thiện nam tử ấy, do chân phương tiện phát ra mười bậc tín tâm kể trên, tâm tinh vi phát ra ánh sáng, mười thứ dụng xen lẫn nhau, viên dung thành một tâm, gọi là Phát Tâm Trụ. 

2. Trong tâm sáng suốt như lưu ly trong sạch, trong hiện vàng ròng tinh túy, dùng diệu tâm trước kia sửa sang thành đất địa để đi đứng (thực hành) gọi là Trị Địa Trụ. 

3. Tâm địa biết khắp, tất cả rõ ràng, đi khắp mười phương, được chẳng ngăn ngại, gọi là Tu Hành Trụ. 

4. Hạnh đồng với Phật, thọ tinh thần Phật, như cái thân trung ấm tự tìm cha mẹ, trung ấm dung thông với lòng tin, thầm nhập vào giống Như Lai, gọi là Sanh Quý Trụ. 

5. Đã vào đạo thai, nối dòng của Phật, như thai đã thành hình, tướng người đầy đủ, gọi là Phương Tiện Cụ Túc Trụ. 

6. Dung mạo và tâm tướng đều đồng như Phật, gọi là Chánh Tâm Trụ. 

7. Thân tâm dung hợp, ngày càng tăng trưởng gọi là Bất Thối Trụ. 

8. Linh tướng của thập thân nhất thời đầy đủ gọi là Đồng Chơn Trụ. 

9. Hình đã thành, ra khỏi thai, làm con của Phật, gọi là Pháp Vương Tử Trụ. 

10. Khi Pháp Vương Tử đã trưởng thành, ví như Thái Tử vua Sát Lợi đến tuổi trưởng thành, sẽ được phụ vương ủy nhiệm việc nước, nên làm lễ quán đảnh (lễ trưởng thành), gọi là Quán Đảnh Trụ. 

Giảng giải:

Tại sao cũng nói Thập Tín là trụ? Đã tin tự tâm, trụ nơi tự tâm thì trụ, nhưng đến cấp này mới trụ chân thật. Trước là lòng tin vững chắc, có lòng tin vững chắc, mới dần dần phát hiện thể dụng của chân tâm mình. 

Từ Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, cho đến Đẳng Giác, Diệu Giác. Phật nói sơ lược sự tu chứng, nhưng mình tu đến chỗ đó mới biết. Nếu đem giải thích ra giống như y văn giải nghĩa, nói cho quý vị nghe, quý vị cũng không thể biết.

Theo Tổ Sư thiền không qua những giai cấp này. Thiền tông thường thường nói có 3 quan: Sơ Quan, Trùng Quan, Mạc Hậu Lao Quan; nhưng có người khỏi cần qua Sơ Quan, Trùng Quan, thẳng đến Mạc Hậu Lao Quan, như Tổ Lâm Tế.

Cho nên, nói 3 quan cũng là phương tiện, kỳ thật từ địa vị phàm phu không qua giai cấp nào, mà chứng Đẳng Giác. Nhưng đó là ngộ cái lý bằng như Phật. Về sự thì tập khí vẫn còn, phải qua bảo nhậm mới dứt trừ được tập khí. Vì vậy, Thiền tông bảo nhậm là bế quan (nhập thất), để bảo nhậm cái ngộ của mình.

Có người tập khí thế gian còn nguyên, nên chưa hiện được thần thông. Tập khí bớt bao nhiêu thì hiện ra được bấy nhiêu thần thông. Tập khí hết sạch thì sức dụng Phật tánh hiện ra bằng như Phật Thích Ca và chư Phật.

Chánh văn:

DIỆU GIÁC

-A Nan! Từ Càn Huệ Tâm đến bậc Đẳng Giác rồi giác ấy mới được viên mãn nơi Tâm Kim Cang. Bắt đầu từ Càn Huệ Địa từng lớp tiến lên, trải qua 12 ngôi vị đơn và phức (l) mới đến Diệu Giác, thành Vô Thượng Đạo. 

-Mỗi mỗi địa ấy, đều lấy trí Kim Cang quan sát mười thứ ví dụ như huyễn, dùng Xa Ma Tha (chỉ) và Tỳ Bà Xá Na (quán) của chư Như Lai tu chứng trong sạch lần lượt sâu vào. 

-A Nan! Như thế đều dùng ba tiệm thứ tiến tu, nên khéo thành tựu 55 quả vị trong đạo Bồ Đề chơn thật. Quán như thế gọi là chánh quán, chẳng quán như thế gọi là tà quán. 

Bấy giờ, Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử ở trong chúng, liền đứng dậy đảnh lễ bạch Phật: 

-Thế Tôn! Nên gọi Kinh này là Kinh gì, con và chúng sanh phải phụng trì như thế nào? 

Phật bảo Văn Thù Sư Lợi: 

-Kinh này gọi là "Đại Phật Đảnh Thuần Trắng Chẳng Ô Nhiễm, Vô Thượng Bảo Ấn, Mười Phương Như Lai Thanh Tịnh Hải Nhãn", cũng gọi là "Cứu Hộ Thân Nhân, Độ Thoát A Nan, và Tỳ Kheo Ni Tánh trong Hội này, đắc Tâm Bồ Đề, vào Biển Biến Tri", cũng gọi là "Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa", cũng gọi là "Đại Phương Quảng Diệu Liên Hoa Vương Mười Phương Phật Mẫu Đà La Ni Chú", cũng gọi là "Quán Đảnh Chương Cú, Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm", các ngươi nên phụng trì.  

Phật nói xong, tức thời A Nan và đại chúng nhờ Như Lai khai thị ý nghĩa "Mật Ấn Chẳng Ô Nhiễm" và được nghe những danh hiệu liễu nghĩa của Kinh này, đốn ngộ diệu lý của Thiền Na, tiến tu các Thánh vị, tâm niệm rỗng lặng, dứt trừ sáu phẩm phiền não vi tế trong tam giới.  

A Nan liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, chắp tay cung kính bạch Phật rằng: 

-Thế Tôn có oai đức lớn, từ âm vô ngại, khéo khai phá những mê hoặc vi tế của chúng sanh khiến con hôm nay thân tâm an lạc, được lợi ích lớn. 

-Thế Tôn! Nếu diệu tâm sáng tỏ này vốn viên mãn cùng khắp, như thế cho đến đất đai, cỏ cây sâu bọ, hàm linh, bản tánh chơn như, tức là chơn thể thành Phật của Như Lai; vậy Phật thể chơn thật, tại sao lại có các đạo địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, tu la, loài người và trời? Thế Tôn, lục đạo này vốn tự có, hay là do tập khí hư vọng của chúng sanh mà sanh khởi? 

-Thế Tôn! Như Tỳ Kheo Ni Bửu Liên Hương trì Giới Bồ Tát, lén hành dâm dục, vọng nói hành dâm, chẳng phải sát sanh và trộm cắp, chẳng có nghiệp báo. Nói xong, nơi nữ căn liền sanh ngọn lửa lớn, rồi từng đốt xương lại bị bừng cháy, đọa ngục A Tỳ. 

-Như vua Lưu Ly, và Tỳ Kheo Thiện Tinh: Lưu Ly thì giết hại hết dòng họ Cù Đàm; Thiện Tinh thì vọng nói tất cả pháp đều Không (đoạn diệt Không) đang sống bị đọa vào ngục A Tỳ. 

-Các địa ngục ấy, là có chỗ nhất định hay chẳng định? Mỗi người gây nghiệp nhân, mỗi mỗi tự chịu nghiệp quả, hay là tất cả tự nhiên? 

-Xin Phật rủ lòng Đại Từ, khai phá ngu dại, khiến tất cả chúng sanh trì giới, nghe nghĩa quyết định, hoan hỷ phụng hành, giữ gìn chẳng phạm. 

Giảng giải:

-A Nan! Từ Càn Huệ tâm đến bậc Đẳng Giác, rồi giác ấy mới được viên mãn nơi tâm kim cang.

Kim cang là hột xoàn, tánh chất cứng phá được tất cả vật, tất cả vật không phá được kim cang. Cho nên, dùng kim cang để dụ cho tâm. Từ ban đầu Càn Huệ đến Đẳng Giác ấy mới được viên mãn; tức là không bị lui sụt, không có gì hoại được; nên gọi là tâm kim cang.

Bắt đầu từ Càn Huệ Địa từng lớp tiến lên, trải qua 12 ngôi vị đơn và phức, mới đến Diệu Giác, thành vô thượng đạo.

Càn Huệ, Tứ Gia Hạnh (Noãn Địa, Đảnh Địa, Nhẫn Địa, Thế Đệ Nhất Địa), Đẳng Giác là 7 đơn và 5 lớp phức (Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa), cộng chung là 57 cấp; tức trải qua 12 ngôi vị đơn và phức thì đến Diệu Giác thành vô thượng đạo.

-Mỗi địa ấy đều lấy trí kim cang, quan sát mười thứ ví dụ như huyễn (chúng sanh như huyễn, chứng quả như huyễn), dùng sa ma tha (chỉ), tỳ bà xá (quán), tức là tu chứng của giáo môn, chứng trong sạch từ cạn vào sâu.

Tông Thiên Thai có:

-3 thứ quán: Không, giả, trung là dùng trí huệ để quán.

-3 thứ chỉ: Là ngưng làm cho tâm định.

Ban đầu là Hệ Duyên Chỉ, thường thường chỉ ở dưới rún (đơn điền), tức đem tâm buộc dưới đơn điền.

Tiến lên một bước là Tùy Duyên Chỉ, tức thấy cái này không thật thì không trụ, thấy cái kia như huyễn cũng không trụ.

Đến cấp thứ ba là Thể Chơn Chỉ bằng Tổ Sư thiền. Thể là thể cứu tức tham thiền, chơn là chơn như Phật tánh; thể cứu chơn như Phật tánh. Lúc đó tự động, quán không thì không phải thật không, quán giả thì không phải thật giả, quán trung thì không chỗ trung để an lập. Chẳng phải không, chẳng phải giả, chẳng phải trung, vậy là cái gì? Là cái gì tức nghi tình cũng là Thể Chơn Chỉ.

Hỏi:

Tu chỉ quán là mất thời giờ phải không?

Đáp:

Phải mất thời giờ, gần đây có Pháp sư Đế Nhàn nổi tiếng bên tông Thiên Thai, mà không tu chỉ quán của tông phái mình, lại tu Tịnh Độ, giảng giáo lý Thiên Thai. Vì phức tạp khó tu, không bằng Tổ Sư thiền giản dị.

Hỏi:

Tu chỉ được thần thông, tu quán được trí huệ, vậy như thế nào?

Đáp:

Quán thì phải dùng trí huệ, ở đây là Càn Huệ; còn chỉ thì ngưng được vọng tâm, nên thần thông phát lên. Thật ra, không phải thần thông, mà sức dụng của tự tánh hiện ra, người thế gian thấy kỳ lạ cho là thần thông. Như Trương Bảo Thắng hiện ra được kỳ lạ, người ta cho là thần thông.

 Chỉ là ngưng được tâm hoạt động thì sức dụng của tự tánh tự nhiên hiện ra. Như dùng máy để đo bộ óc, vọng tưởng ngưng hoạt động nên đèn của máy tắt. Nếu giữ tâm ngưng hoạt động lâu thì sức dụng tự tánh tự động hiện ra. Nhưng do quán mới có chỉ, khi không chỉ không được, Giáo môn dùng quán.

Quán và chỉ đồng thời, như cái này bằng vàng, dùng trí huệ để quán vật này như huyễn, không làm cho mình ham thích thì tâm không trụ nơi đó, nên được chỉ. Lục căn tiếp xúc lục trần, vì có tập khí lâu đời làm cho mình ham thích. Như nổi tâm yêu ghét thì không chỉ được. 

Quán tất cả pháp huyễn hóa không thật thì tâm không phan duyên, nên mới chỉ được. Như cột con khỉ, đừng cho nó nhảy qua nhảy lại. Nên ban đầu dùng Hệ Duyên Chỉ. Môn phái nào cũng có chỉ quán của môn phái đó, cho đến Tịnh Độ cũng có 16 pháp thiền quán trong kinh Quán Vô Lượng Thọ.

Hỏi:

 Tông Tịnh Độ cho người tu Tịnh Độ đọc 3 quyển kinh: Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng Thọ và A Di Đà, ngoài ra không được đọc kinh khác phải không?

Đáp:

Tổ Ấn Quang dạy người tu Tịnh Độ chỉ cho xem 3 quyển kinh: Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng Thọ và A Di Đà. Mục đích của Tổ là muốn cho người tu Tịnh Độ chỉ một môn đi sâu vào, để mau được thành tựu. Ngài Ấn Quang đã xem hết đại tạng kinh, biết rõ hết, nên khuyên người tu Tịnh Độ giữ một môn đi sâu vào. Tu pháp môn nào chỉ xem kinh của pháp môn đó.

A Nan! Như thế dùng 3 tiệm thứ tiến tu, nên khéo thành tựu 55 quả vị trong đạo Bồ Đề chân thật (từ Càn Huệ đến Diệu Giác là 57 quả vị, trừ Càn Huệ và Diệu Giác ra, thì còn 55 quả vị).

Quán như thế gọi là chánh quán, chẳng quán như thế gọi là tà quán (theo giáo môn phải quán như thế, còn Tổ Sư thiền không phải quán, chỉ giữ nghi tình không có năng quán sở quán).

Bấy giờ, Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử ở trong đại chúng liền đứng dậy đảnh lễ bạch Phật:

Thế Tôn! Nên gọi kinh này là kinh gì? Con và chúng sanh phải phụng trì như thế nào? (Phật thuyết kinh xong mới đặt tên kinh là do đệ tử hỏi, thường thường nói nhiều tên, như ở chỗ này).

Phật bảo Văn Thù Sư Lợi:

-Kinh này gọi là “đại Phật đảnh thuần trắng chẳng ô nhiễm (đây là nói theo chú Lăng Nghiêm, chú Lăng Nghiêm dịch nghĩa là thuần trắng chẳng ô nhiễm). Vô thượng bảo ấn (kinh liễu nghĩa dùng để ấn chứng người tu chứng đến bậc nào, như đây nói chứng Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hồi Hướng,…). Mười phương Như Lai thanh tịnh hải nhãn (con mắt của mười phương Như Lai, cái gì cũng thấy rõ; nếu theo lời Phật dạy mà tu tới mức thì được hải nhãn rất trong sạch).

 Cũng gọi là “cứu hộ thân nhân cứu thoát A Nan (Ma Đăng Già mê hoặc A Nan, làm nhân duyên để Phật thuyết kinh này. Thân nhân nghĩa là em của Phật. A Nan là đại diện đương cơ của kinh này, độ thoát A Nan tức là độ thoát tất cả chúng sanh).

 Và tánh Tỳ Kheo Ni trong hội này (tánh Tỳ Kheo Ni là Ma Đăng Già, ban đầu Ma Đăng Già mê hoặc A Nan, sau nhờ Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát đưa hai người về chỗ Phật, Phật thuyết pháp, hai người nghe được chứng quả. A Nan chứng quả Tư Đà Hàm, Ma Đăng Già chứng quả A La Hán).

Đắc tâm Bồ Đề vào biển biến tri (biến tri tức là biết của tự tánh khắp không gian và thời gian) cũng gọi là “Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa” (Phật thuyết pháp có bất liễu nghĩa và liễu nghĩa, kinh Lăng Nghiêm là kinh liễu nghĩa) cũng gọi là “Đại Phương Quãng Diệu Liên Hoa Vương, Mười Phương Phật Mẫu Đà La Ni Chú” cũng gọi là “Quán Đảnh Chương Cú, Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm” các ngươi nên phụng trì kinh này.

Phật nói xong, tức thời A Nan và đại chúng nhờ Như Lai khai thị ý nghĩa “mật ấn chẳng ô nhiễm” và được nghe danh hiệu liễu nghĩa của kinh này, đốn ngộ diệu lý của thiền na (trung đạo), tiến tu các thánh vị, tâm niệm rỗng lặng, dứt trừ sáu phẩm phiền não vi tế trong tam giới.

A Nan liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, chấp tay cung kính bạch Phật rằng:

-Thế Tôn! Có oai đức lớn, từ âm vô ngại, khéo khai phá mê hoặc vi tế của chúng sanh, khiến con hôm nay thân tâm an lạc lợi ích lớn (A Nan thay mặc cho đại chúng được lợi ích lớn, là do Phật khai thị phá trừ mê hoặc vi  tế của chúng sanh).

-Thế Tôn! Nếu diệu tâm sáng tỏ này viên mãn cùng khắp, như thế cho đến đất đai, cỏ cây, sâu bọ, hàm linh, bản tánh chơn như, tức là chơn thể thành Phật của Như Lai; vậy Phật thể chơn thật, tại sao lại có các đạo địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, a tu la, loài người và trời? Thế Tôn, lục đạo này vốn tự có, hay là do tập khí hư vọng của chúng sanh mà sanh khởi? 

Phật giảng kinh chỉ là phá chấp, chứ không phải chân lý. Cho nên, A Nan thay mặt đại chúng hỏi: “Nếu tất cả đều là diệu tâm sáng tỏ vốn sẵn đầy đủ khắp không gian thời gian. Bây giờ núi sông, đất đai, cây cỏ, sâu bọ, hàm linh đều là bản tánh của chơn như, là có các đạo: Trời, người, a tu la, ngạ quỷ, địa ngục, súc sanh. Tại sao? Thế Tôn! Lục đạo này vốn tự có hay tập khí hư vọng chúng sanh tự sanh khởi?

-Thế Tôn! Như Tỳ Kheo Ni Bửu Liên Hương trì giới Bồ Tát, lén hành dâm dục, vọng nói hành dâm chẳng phải sát sanh và trộm cắp, chẳng có nghiệp báo. Nói xong, nơi nữ căn liền sanh ngọn lữa lớn, rồi từng đốt xương lại bị bừng cháy đọa địa ngục a tỳ.

Tỳ Kheo Ni Bửu Liên Hương trì giới Bồ Tát, lấy ý của mình lập ra cái lý là hành dâm không phải sát sanh và trộm cắp, không có hại đến người khác cho là không tội, nói chẳng có nghiệp báo.

Khi thọ giới Bồ Tát rồi, mà nổi lên một niệm, thì khởi tâm động niệm đều có nghiệp báo, tức  khởi lên một niệm là có nhân thì phải có quả, mặc dầu chưa đi làm. 

Như ông Uất Đầu Lam Phất chỉ khởi lên một niệm: “Tôi sẽ làm con chồn bay, vào rừng ăn chim, vào nước ăn cá”. Niệm ấy ông lại quên, rồi ông chứng quả Phi Phi Tưởng, qua 8 vạn đại kiếp, ông vẫn phải bị đọa con chồn bay. Sau khi ông hết làm thân chồn bay thì trở lại làm người.

-Như vua Lưu Ly giết hết dòng họ Cù Đàm (dòng họ Thích Ca), và Tỳ Kheo Thiện Tinh vọng nói tất cả các pháp đều không (đoạn diệt tức là không còn cái gì), đang sống bị đọa vào địa ngục a tỳ.

Trong Hư Vân Niên Phổ, ngài Hư Vân kể chuyện Lưu Ly Dân: Ngày xưa nước của Phật Thích Ca có công chúa rất đẹp. Nước Lưu Ly là nước lớn mạnh. Nước của Phật Thích Ca là nước nhỏ. Thái tử của nước Lưu Ly muốn cưới công chúa của nước Phật Thích Ca, nhưng công chúa không chịu. 

Vì sợ nước lớn mạnh, nên lấy tỳ nữ thay thế giả công chúa để gả cho thái tử, rồi sanh ra Lưu Ly Dân. Lúc ấy Lưu Ly Dân còn nhỏ về bên ngoại chơi. Cái ghế chỉ dành cho Phật Thích Ca ngồi thuyết pháp, người nào cũng không được ngồi.

 Nhưng Lưu Ly Dân còn nhỏ không biết gì mới leo lên ghế ngồi, thì bị những người dòng họ Thích Ca la rầy, y giữ những lời này mà giận ở trong tâm. Khi vua cha chết, y lên ngôi thay thế cha. Rồi đem binh bao vây nước của Phật Thích Ca, giết sạch hết người lớn nhỏ không còn một người nào cả. 

Lúc ấy, Phật Thích Ca và Mục Kiền Liên đều thấy, Phật Thích Ca không cứu, Mục Kiền Liên thấy vậy mới đem 500 người bỏ vô trong bát, rồi đưa lên trên trời tránh binh lính của Lưu Ly Dân giết. Khi quân lính giết sạch rồi rút đi, thì Mục Kiền Liên đem cái bát xuống đất, thấy trong bát toàn là máu. 

Rồi hỏi Phật Tại sao? Phật nói: Ấy là nhân quả, tại cứu không được, cho nên tôi không cứu. Vì lý do: Hồi xưa, dân này trong một cái làng, có một cái hồ lớn nhiều loại cá ở trong đó. Dân tộc này tát cạn hết nước hồ, bắt hết cá mà ăn; chỉ có một con nít không ăn, không bắt, nhưng lấy một cái cây gõ đầu con cá ba cái. Con nít đó chính là Phật Thích Ca, cho nên Phật đã thành đạo còn nhức đầu ba ngày.

Tỳ Kheo Thiện Tinh đại vọng ngữ cho là các pháp đều là không, vì làm cho người gây nghiệp nhân, mỗi mỗi tự chịu nghiệp quả hay là tất cả tự nhiên?

-Xin Phật rũ lòng đại từ, khai phá ngu dại, khiến tất cả chúng sanh trì giới nghe nghĩa quyết định, hoan hỷ phụng hành, giữ gìn chẳng phạm.

Vì có nhân quả, người ta mới chịu trì giới, nên không phạm giới, Phật mới nói rõ cho mọi người nghe tiếp dưới đây.

Chánh văn:

Phật bảo A Nan: 

-Lành thay câu hỏi này, khiến các chúng sanh chẳng mắc tà kiến, nay ngươi hãy lắng nghe, ta sẽ vì ngươi mà nói. 

-A Nan! Bản tánh của tất cả chúng sanh vốn chơn thật trong sạch, vì vọng kiến mà vọng sanh tập khí, do đó chia thành nội phần và ngoại phần. 

-A Nan! Nội phần tức là phần trong của chúng sanh. Do lòng ái nhiễm phát khởi vọng tình, vọng tình tích chứa không thôi, sanh ra ái thủy, nên chúng sanh hễ nghĩ đến thức ăn ngon thì chảy nước miếng; nhớ đến người xưa, hoặc thương hoặc giận, thì chảy nước mắt, tham cầu của báu, trong tâm ham muốn, cả mình đều thấm nhuần nước tham; tâm tham dâm dục thì hai căn nam nữ tự nhiên chảy dịch. A Nan, những ái dục ấy dù khác, nhưng sự chảy nước là đồng, tánh nước thấm ướt chẳng lên được, tự nhiên sa đọa, gọi là Nội Phần. 

-A Nan! Ngoại Phần tức là phần ngoài của chúng sanh. Do lòng khao khát phát ra vọng tưởng, vọng tưởng chứa mãi không thôi, sanh ra thắng khí. Nên chúng sanh hễ tâm giữ giới cấm thì cả thân nhẹ nhàng; tâm trì chú ấn thì cử chỉ hùng dũng, tâm muốn sanh cõi trời thì chiêm bao thấy bay lên, tâm nhớ cõi Phật, thì thắng cảnh thầm hiện, phụng sự Thiện Tri Thức thì tự khinh thân mạng. A Nan, những vọng tưởng dù khác, nhưng sự nhẹ nhàng bay lên là động, bay động chẳng chìm, tự nhiên vượt lên, gọi là Ngoại Phần. 

-A Nan! Tất cả sanh tử tương tục trên thế gian, sống thì tùy thuận theo tập khí, chết thì biến đổi theo dòng nghiệp, đến lúc lâm chung, còn chút hơi ấm, các việc thiện ác của một đời đồng thời hiện ra, sống thì thuận, chết thì nghịch, hai tập khí giao xen lẫn nhau, thuần tưởng thì bay lên, ắt sanh cõi trời, nếu cái tâm bay ấy gồm cả phước đức, trí huệ và tịnh nguyện, thì tự nhiên tâm được mở mang, thấy tất cả tịnh độ với mười phương chư Phật, theo nguyện vãng sanh. 

-Tình ít tưởng nhiều, nhẹ nhàng bay xa thì làm phi tiên, đại lực quỷ vương, phi hành Dạ Xoa, địa hành La Sát, dạo khắp cõi trời, chẳng gì ngăn ngại. Trong đó nếu có thiện tâm thiện nguyện, hộ trì Phật Pháp, hoặc hộ trì giới cấm và người trì giới; hoặc hộ trì thần chú và người trì chú; hoặc hộ trì thiền định, thành tựu pháp nhẫn, thì những hạng ấy được ở cạnh pháp tọa của Như Lai. 

-Tình và tưởng bằng nhau, chẳng bay chẳng chìm, sanh nơi cõi người; tưởng sáng suốt thì thông minh, tình ám muội thì ngu độn. 

-Tình nhiều tưởng ít, đọa vào súc sinh, nghiệp nặng thì làm loài có lông, nghiệp nhẹ thì làm loài có cánh. 

-Bảy phần tình, ba phần tưởng, thì chìm dưới thủy luân, sanh nơi hỏa luân, thân làm ngạ quỷ, thọ cái khổ của lửa hồng, thường bị đốt cháy, dầu được uống nước cũng hóa thành lửa, nên nói bị nước hại, trải qua trăm ngàn kiếp, chẳng thể ăn uống. 

-Chín phần tình, một phần tưởng, thì đọa dưới hỏa luân, thân vào giữa phong luân và hỏa luân, nghiệp nhẹ thì vào ngục Hữu Gián, nghiệp nặng thì vào ngục Vô Gián. 

-Thuần tình thì chìm sâu vào ngục A Tỳ, nếu tâm chìm sâu ấy, có phỉ báng Đại Thừa, phá giới cấm của Phật, cuồng vọng thuyết pháp, hư tiêu tín thí, lạm nhận cung kính, hoặc phạm ngũ nghịch, thập trọng cấm, thì lại phải sanh khắp ngục A Tỳ mười phương. 

-Chúng sanh cùng tạo ác nghiệp thì phải chịu quả báo đồng phận, nhưng trong cộng nghiệp mỗi người đều có biệt nghiệp của mình, tùy theo ác nghiệp sở tạo, mỗi mỗi tự chuốc lấy quả báo khác nhau. 

-A Nan! Những điều kể trên, đều do nghiệp của chúng sanh tự chiêu cảm, tạo Thập Tập Nhân, thọ Lục Giao Báo. 

Giảng giải:

Phật nói: “Tất cả đều do tâm tạo”, nghiệp báo của mình do mình tạo ra, không phải ai cho mình cả! Trong này phân ra tình và tưởng. Tưởng nhiều thì lên, tình nhiều thì xuống, ở trong lục đạo luân hồi. Nhưng tưởng cũng là vọng tưởng, tình chấp nặng nên đi xuống, còn tưởng theo nghiệp mà sanh.

Thấy đồ ăn mình ham thích, tự nhiên nước miếng trong miệng chảy ra, cho đến mình nổi tâm dâm thì căn cũng chảy nước, trong này nói rất kỹ. Tất cả đều do tâm mình tạo, đây nói theo tư tưởng chấp thật của người đời, tất cả là kể chuyện chiêm bao. 

Nếu nói thực tế thì nửa quyển trước có nói rõ, còn ở đây là độ người trung hạ căn, tùy theo tư tưởng chấp thật mà giảng. Còn Thiền tông thì quý vị coi lại Truyền Tâm Pháp Yếu của Hoàng Bá rất đơn guản, nhưng người ta khó tin. 

Hỏi:

Tưởng đây có phải tưởng của sắc, thọ, tưởng, hành, thức không?

Đáp:

Tưởng là tư tưởng suy nghĩ, tư tưởng dùng để tu là thiền quán tưởng, tư tưởng tranh giành những việc ở xã hội cũng gọi là tưởng, dùng tư tưởng tạo nghiệp, lập ra thủ đoạn mánh lối đều là tưởng.

Hỏi:

Tình thức là như thế nào?

Đáp:

Tình là tình yêu tình ghét, yêu thì mình muốn lấy, ghét thì mình muốn bỏ. Tưởng có thể sanh tình, mà tình có thể sanh tưởng; cho nên mới có nặng nhẹ, nghiêng về bên tưởng nhiều thì lên, nghiêng về bên tình nhiều thì xuống. Nhưng muốn tu thì dùng cái tưởng, chứ không dùng cái tình. Tình không có tu, chỉ là đọa thôi.

Bác ái là tình thương, mà tăng cường ngã chấp. Không phải từ bi của nhà Phật, từ bi củøa nhà Phật thì không có tình. Vì từ bi không có ngã chấp. Tưởng là dùng để tu hay là đọa, còn tình chỉ có đọa. 

Bác ái là tin tôi thì tôi cho lên Thiên đườøng, không tin tôi thì tôi cho xuống địa ngục; vì bác ái có ngã chấp, tức là yêu ghét của tình. Từ bi nhà Phật, người nào cũng bằng nhau. Không những không có phạt xuống địa ngục, mà phải xuống địa ngục kéo họ lên, mặc dầu họ tự tạo tự xuống.

Cho nên, bác ái và từ bi nghịch với nhau, chứ không phải người đời cho là giống nhau. Sự thật từ bi không có mục đích gì hết, không có xen lộn cái tình ở trong đó, còn bác ái thì có tình rất mạnh. Có tình nào cũng từ ngã chấp làm nhân. Như con cọp thương con, bắt thú khác cho con nó ăn, đó cũng là tình thương vậy. Cũng có người cướp giựt của cải người khác để cho con mình.

Tình thương yêu mến của nhà Phật gọi là nhân. Nhà Phật nói: “Đại nhân bất nhân”. Tại sao? Như mặt trời chiếu khắp, mọi chúng sanh đều hưởng ánh sáng bằng nhau, tức là yêu mến của lòng từ bi khắp mọi chúng sanh, thành ra không có ai không có yêu mến! Mà tất cả lại được, vì tất cả bằng nhau. Nên không có tình cá nhân, còn bác ái có tình cá nhân ở trong đó.

Hỏi.:

Có người nói: “Tôi sanh ra làm việc bác ái”, vậy như thế nào?

Đáp:

Đó cũng là truyền thống tôn giáo, họ quan niệm cái gì đều do chúa ban cho. Tôi nói theo khoa học, họ hiểu và tin, nhưng cuối cùng cũng nói là chúa ban cho mới được. Như vậy thì khỏi nói rồi, vì từ hồi xưa đã huân tập sâu vào trong óc.

Chánh văn:

Sao nói Lục Giao Báo? 

-A Nan! Tất cả chúng sanh, lục thức tạo nghiệp, chiêu cảm ác báo, đều từ lục căn mà ra. 

-Sao nói ác báo từ lục căn mà ra? 

-Một là Kiến Báo chiêu cảm ác quả. Khi kiến nghiệp giao báo, thì lúc lâm chung, trước hết, thấy lửa hồng cháy khắp mười phương, thần thức người chết bay rơi theo khói, vào ngục A-Tỳ, phát minh hai tướng: Một là thấy sáng, khắp thấy mọi thứ hung dữ, sanh khiếp sợ vô cùng; hai là thấy tối, mịt mù chẳng thấy gì, sanh hoảng hốt vô cùng. 

-Như vậy, thấy lửa đốt thính giác thì thành chảo dầu sôi, nước đồng chảy; đốt khứu giác thì thành khói đen, lửa đỏ; đốt vị giác thì thành viên sắt cháy; đốt xúc giác thì thành tro nóng, lò than; đốt ý thức thì thành hoa lửa rưới khắp, rung động cả hư không. 

-Hai là Văn Báo chiêu cảm ác quả. Khi văn nghiệp giao báo, thì lúc lâm chung trước hết thấy sóng cuộn chìm ngập trời đất, thần thức người chết theo dòng nước trôi vào ngục A Tỳ, phát minh hai tướng: Một là nghe rõ các tiếng ồn ào, tinh thần rối loạn; hai là điếc hẳn, lặng lẽ chẳng nghe gì, thần thức chìm lịm. 

-Như vậy, nghe sóng chảy vào thính giác, thì thành sự trách hỏi, chảy vào thị giác thì thành sấm sét và khí độc; chảy vào khứu giác thì thành mưa và sương mù, rưới sâu độc vào đầy khắp cơ thể; chảy vào vị giác thì thành mủ, huyết và các thứ nhơ nhớp; chảy vào xúc giác thì thành súc sinh, ma quỷ và đại tiểu tiện; chảy vào ý thức thì thành điện chớp, mưa đá, đập nát tâm phách. 

-Ba là Khứu Báo chiêu cảm ác quả. Khi khứu nghiệp giao báo, thì lúc lâm chung, trước hết, thấy hơi độc đầy dẫy xa gần, thần thức người chết từ dưới đất trào lên, vào ngục A Tỳ, phát minh hai tướng: Một là ngửi thông bị các hơi độc xông vào, nhiễu loạn tâm thần; hai là nghẹt thở, hơi thở chẳng thông, làm chết giấc dưới đất. 

-Như vậy, ngửi khí xông vào khứu giác thì thành thông, nghẽn; xông vào thị giác thì thành lửa, đuốc; xông vào thính giác thì thành chìm đắm, nước sôi; xông vào vị giác thì thành mùi thiu, thúi; xông vào xúc giác thì thành nứt, nát, thành núi thịt lớn có trăm ngàn mắt, hút ăn không cùng; xông vào ý thức thì thành tro, chướng khí và cát đá bay, đập nát thân thể. 

-Bốn là Vị Báo chiêu cảm ác quả. Khi vị nghiệp giao báo, thì lúc lâm chung, trước hết thấy lưới sắt phát lửa bừng cháy, che khắp thế giới; thần thức người chết sa đọa mắc lưới, treo ngược đầu xuống, vào ngục A Tỳ, phát minh hai tướng: Một là hít hơi vào, kết thành băng giá, làm nứt nẻ thân thể, hai là thở hơi ra, bay thành lửa hồng đốt cháy xương tủy. 

-Như vậy, nếm mùi qua vị giác thì thành nhận chịu; qua thị giác thì thành kim thạch nung đỏ; qua thính giác thì thành binh khí sắc bén; qua khứu giác thì thành lồng sắt lớn, che khắp quốc độ; qua xúc giác thì thành cung, tên, nỏ, súng; qua ý thức thì thành sắt nóng, bay từ trên không rưới xuống như mưa. 

-Năm là Xúc Báo chiêu cảm ác quả. Khi xúc nghiệp giao báo, thì lúc lâm chung, trước hết thấy núi lớn từ bốn phía hợp lại, chẳng còn đường ra; thần thức người chết thấy Thành Sắt lớn, rắn lửa, cọp, sói, sư tử, ngục tốt (người gác ngục) đầu trâu, La Sát, đầu ngựa, tay cầm thương, xóc, lùa vào cửa thành, hướng về ngục A Tỳ, phát minh hai tướng: Một là hợp xúc, núi hợp lại ép thân, xương thịt tuôn máu; hai là lìa xúc, dao gươm đâm chém, tim gan bị cắt xẻ. 

-Như vậy, hợp xúc qua xúc giác thì thành con đường địa ngục, gặp Diêm La Vương xử án; qua thị giác thì thành đốt cháy, nung đỏ; qua thính giác thì thành đánh, đập, đâm bắn; qua khứu giác thì thành tóm, đựng, khảo, trói; qua vị giác thì thành cày, kìm, chém, chặt; qua ý thức thì thành rơi, bay, nấu nướng. 

-Sáu là Tưởng Báo chiêu cảm ác quả. Khi tưởng nghiệp giao báo, thì lúc lâm chung, trước hết thấy gió bão thổi nát quốc độ; thần thức người chết bị thổi lên hư không, xoay rơi theo gió, đọa ngục A Tỳ, phát minh hai tướng: Một là chẳng giác, mê muội vô cùng, bỏ chạy không thôi; hai là chẳng mê, hay biết các khổ, bị đốt cháy không cùng, đau đớn khổ sở. 

-Như vậy, tà tưởng kết vào ý thức thì thành phương sở; kết vào thị giác thì thành gương soi, bằng chứng; kết vào thính giác thì thành đại hợp băng giá, sương mù, đất bùn; kết vào khứu giác thì thành xe lửa, thuyền lửa, củi lửa; kết vào vị giác thì thành tiếng la hét, than khóc; kết vào xúc giác thì thành lớn nhỏ, nghiêng ngửa, muôn lần sống đi chết lại trong một ngày. 

-A Nan! Thập tập nhân và lục giao báo của địa ngục kể trên, đều do chúng sanh mê vọng tạo ra. Nếu chúng sanh lục căn đồng tạo ác nghiệp thì vào ngục A Tỳ, trải qua vô số kiếp, chịu khổ vô cùng; nếu lục căn mỗi mỗi tạo riêng, với nghiệp sở tạo, gồm cả căn trần, thì người ấy vào khu 8 ngục A Tỳ; nếu cả thân khẩu, ý, tạo nghiệp sát, đạo, dâm, thì người ấy đọa vào khu 18 địa ngục; nếu không gồm cả ba nghiệp, hoặc trong ấy chỉ tạo nghiệp sát hay nghiệp đạo, thì người ấy vào khu 36 địa ngục; nếu chỉ có một căn riêng tạo một nghiệp, thì người ấy vào khu 108 địa ngục. 

-Mỗi chúng sanh dù riêng tạo biệt nghiệp, nhưng cùng vào chỗ đồng phận trong thế giới, ấy đều do vọng tưởng sanh ra, chẳng phải vốn san có. 

Giảng giải:

Ở đây nói quả báo địa ngục. Thập tập nhân: Tập là tập khí làm nhân, cũng như thập ác (tham, sân, si, sát, đạo, dâm, vọng ngôn, ỷ ngữ, lưỡng thiện, ác khẩu), có nhân thì phải chịu quả. Vậy thập tập nhân do ai tạo ra? Là lục căn tạo ra, gọi là lục giao báo. Mặc dầu lục căn, nhưng mỗi căn đều gồm 6 thứ, giao lộn lẫn nhau, nên gọi là giao báo.

1. Kiến báo chiêu cảm ác quả, khi kiến nghiệp giao báo thì lúc lâm chung, trước hết thấy lửa hồng cháy khắp 10 phương, thần thức bay rơi theo khói, vào ngục a tỳ, phát minh 2 tướng.

Ban đầu thấy chiêu cảm ác quả, gọi là nhân kiến nghiệp, lúc lâm chung thì thấy lửa hồng khắp 10 phương. Đạo Phật không nhìn nhận linh hồn, các tôn giáo khác đều nói linh hồn, thói quen các thầy và Phật tử cũng đều nói linh hồn.

Phật Thích Ca không nhìn nhận linh hồn. Tại sao? Vì người ta tưởng là linh hồn tồn tại vĩnh viễn, tức là thân xác chết, linh hồn còn. Sự thật, kinh Lăng Nghiêm nói: “Phàm có lay động thì có biến đổi”. Vì sao? 

Vì con nít chết là linh hồn con nít, người lớn chết là linh hồn người lớn, người già chết là linh hồn người già; cứ theo cơ thể này mà biến đổi, biến đổi thì phải chết mất, làm sao tồn tại vĩnh viễn được? Mà lại nói linh hồn đi đầu thai chỗ này chỗ kia!

Đạo Giáo nói 3 hồn 7 vía, một người làm sao nói 3 hồn 7 vía được? Cho nên, Phật nói là thần thức, thần thức không theo cơ thể biến đổi; đi đầu thai là do thần thức, chứ không phải là linh hồn, chịu khổ cũng là thần thức.

Hỏi:

Xin thầy khai thị rõ có đi đầu thai hay không đi, vì có đi thì có thời gian?

Đáp:

Phật tùy theo chấp của chúng sanh, để dạy chúng sanh tu giải thoát. Chỗ thật tế vốn không có đầu thai, như Bát Nhã Tâm Kinh nói: “Vô vô minh, vô lão tử”, là không có vô minh, không có già chết, làm sao có hay không có lục đạo luân hồi? Nhưng bệnh chấp của chúng sanh lọt vào chiêm bao do ý thức tạo ra.

Độc đầu ý thức biến hiện gọi là nhắm mắt chiêm bao, đồng thời ý thức biến hiện gọi là mở mắt chiêm bao. Tất cả lục đạo luân hồi đều ở trong chiêm bao, tức là mở mắt chiêm bao. Trong mở mắt chiêm bao có nhắm mắt chiêm bao. Nếu lấy kinh nghiệm nhắm mắt chiêm bao, thì hiểu được mở mắt chiêm bao.

Nhắm mắt chiêm bao không có cái gì thật, nhưng trong lúc chiêm bao thấy toàn là thật; cho đến ở trong chiêm bao, thức dậy hoàn toàn không có, chỉ do ý thức biến hiện.
Một mình thức thứ 6 biến hiện là nhắm mắt chiêm bao. Hai thức đồng thời biến hiện là mở mắt chiêm bao. Lúc chiêm bao phải chịu nhân quả chiêm bao, luân hồi trong chiêm bao, đầu thai chỗ này chỗ kia, tùy theo cái nghiệp chiêm bao.

Cho nên, mục đích của Phật muốn mình ở trong chiêm bao thức tỉnh, gọi là kiến tánh thành Phật. Lìa tất cả chiêm bao là bình yên vô sự. Nếu còn ở trong chiêm bao, Phật có nói thật tế cũng không tin được. 

Không tin được tại vì chưa được tự chứng phần. Nhắm mắt chiêm bao, ngủ thức dậy thì được tự chứng phần.

Mở mắt chiêm bao không bao giờ tự thức, nếu không tham thiền. Tới chừng thức tỉnh gọi là kiến tánh thì được tự chứng phần. Duy Thức còn thêm chứng tự chứng phần. Thiền tông gọi là truyền tâm ấn, nghĩa là tâm của thầy đã ngộ triệt để, dùng để chứng minh trò đã ngộ rồi. Dùng tâm để ấn chứng tâm gọi là truyền tâm ấn. Những người không biết, tưởng là có cái tâm để cho người này người kia, giống như vật chất vậy.

Hiện giờ mình đang ở trong chiêm bao, chưa được tự chứng phần; tự chứng phần phải kiến tánh mới được. Chưa kiến tánh, Phật có giải thích trong kinh rất có lý; nhưng tin không nổi, vì tiếp xúc cái nào cũng thấy thật. Không những lo cho thân mình mà còn phải lo cho con cháu nữa, nếu biết không thật thì khỏi cần lo. Nhưng không được, phải lo mới được, khó mà buông!

Phật đã nói mấy chục năm, nhưng người ta khó tin. Cho nên, cuối cùng Phật mới truyền pháp môn Tổ Sư thiền, để cho người ta được tự chứng phần; nếu chưa được tự chứng phần, nghe người ta nói có lý cũng khó tin. Những người nói tin, nhưng sự thật trong tiềm ý thức, vẫn cho các việc trước mắt là thật, không chịu tin là mở mắt chiêm bao.

Nhắm mắt chiêm bao và mở mắt chiêm bao đều là chiêm bao. Nhưng người đời chỉ nhìn nhận nhắm mắt chiêm bao, chứ không nhìn nhận mở mắt chiêm bao. Vì nhắm mắt chiêm bao đã thức tỉnh, là được tự chứng phần, cho nên lòng tin vững chắc. Còn mở mắt chiêm bao chưa được tự chứng phần, vì chưa kiến tánh, thành ra Phật và chư Tổ nói có lý cũng không tin.

Vì chưa kiến tánh, do 10 thứ tập nhân lại thọ lục giao báo. Vừa rồi nói các cảnh địa ngục, các vị nghe cũng biết rất khổ. Cái khổ là do thần thức này cảm thấy, đối với bản tâm không có liên quan.

Bây giờ thần thức đang hiện hành, thì bản tâm ẩn trong thần thức, chứ không phải là hai. Mình quen mất bản tâm, chỉ nhìn nhận thần thức. Nên bị thần thức lôi kéo vào chỗ khổ chỗ vui mà cảm thọ. Chỗ này, 
Phật muốn mình ngộ mới được. Nếu chưa ngộ mình vẫn còn dùng thần thức.

Thần thức đang hiện hành, cũng gọi là hiện hành vô minh. Phật và chư Tổ nói: “Chúng sanh hiện hành vô minh của chúng sanh, tức là bất động trí của chư Phật”. Ấy không phải là hai. Cái này trong công án Thiền tông của Ngưỡng Sơn.

Có người hỏi Ngưỡng Sơn: Thế nào vô minh hiện hành của chúng sanh, tức là bất động trí của chư Phật?

Một Sa Di đi ngang, Ngưỡng Sơn hỏi: Thế nào là Phật tánh? Sa Di ngó lại rồi đi. Ngưỡng Sơn nói tiếp: Đó là hiện hành vô minh của chúng sanh.

Mình chưa ngộ thì khó hiểu, kể vậy chỉ hiểu phần nào thôi.

Nói tóm lại, cuộc sống hằng ngày đều dùng lục căn, lục căn ham thích hay chán ghét cũng ở trong 10 thứ tập nhân. Cho nên, Thiền tông chỉ giữ nghi tình là không hiểu không biết, mới ngưng được lục căn tạo nghiệp nhân. Nghiệp nhân không tạo thì nghiệp quả không có. Nên rất giãn dị, như không phải Giáo môn, phải học nhiều kinh điển.

Nghiệp có biệt nghiệp và cộng nghiệp. Như máy bay của Nhật Bản ở Đài Loan bị rớt chết rất nhiều, chết một lượt là cộng nghiệp. Nhưng trong đó có 10 người không chết là biệt nghiệp. Trong biệt nghiệp có cộng nghiệp, trong cộng nghiệp cũng có biệt nghiệp. Nếu làm nghiệp nhân thì phải chịu nghiệp quả, việc ấy có thể sửa lại được. Tâm tạo nghiệp cũng dùng tâm sửa nghiệp.

Chánh văn:

-Lại nữa A Nan! Nếu các chúng sanh phá hủy luật nghi, phạm giới Bồ Tát, phỉ báng Niết Bàn và các nghiệp khác, thì trải qua nhiều kiếp bị đốt cháy, sau khi đền tội xong, thọ các hình quỷ. 

Nếu ở nơi bản nhân, do tham vật tạo tội, người ấy khi đền tội xong, gặp vật thành hình, gọi là Quái Quỷ do tham sắc tạo tội, khi đền tội xong, gặp gió thành hình. gọi là Bạt Quỷ; do tham dối trá tạo tội, khi đền tội xong, gặp súc vật thành hình, gọi là Mî Quỷ; do tham sân hận tạo tội, khi đền tội xong, gặp sâu bọ thành hình, gọi là Cổ Độc Quỷ; do tham ghi khắc thù oán tạo tội, khi đền tội xong, gặp kẻ thù vận suy thành hình, gọi là Lệ Quỷ; do tham ngạo mạn tạo tội, khi đền tội xong, gặp khí thành hình, gọi là Ngạ Quỷ; do tham lừa gạt tạo tội, khi đền tội xong, gặp u ẩn thành hình, gọi là Yểm Quỷ; do tham minh ngộ tạo tội, khi đền tội xong, gặp tinh linh thành hình, gọi là Võng Lượng Quỷ; do tham vu vạ tạo tội, khi đền tội xong, gặp linh hiển thành hình, gọi là Dịch Sử Quỷ; do tham kết bè phái tạo tội khi đền tội xong, gặp con người thành hình, gọi là Truyền Tống Quỷ. 

-A Nan! Loại này đều vì thuần tình mà sa đọa, khi nghiệp lửa đốt cạn thì lên làm quỷ, ấy đều do vọng tưởng của tự mình chiêu cảm nghiệp quả, nếu ngộ tánh Bồ Đề, thì nơi diệu tâm sáng tỏ, vốn chẳng có gì cả. 

-Lại nữa A Nan! Khi hết nghiệp quỷ, tình và tưởng cả hai đều không, mới ở nơi thế gian, với người mắc nợ cũ oán đối gặp nhau, thân làm súc sinh để trả nợ xưa. 

-Loài quái quỷ theo vật, khi vật tiêu báo hết, sanh nơi thế gian, phần nhiều làm loài chim kêu. 

-Bạt quỷ theo gió, khi gió tiêu báo hết, sanh nơi thế gian, phần nhiều làm loài cửu trưng (loài dự báo điềm xấu như chim cú, quạ...) 

-Mî quỷ theo súc, khi súc chết báo hết, sanh nơi thế gian, phần nhiều làm loài chồn. 

-Cổ quỷ theo sâu, khi suy sâu diệt hết, sanh nơi thế gian, phần nhiều làm loài độc hại. 

-Lệ quỷ theo vận suy, khi suy tiêu báo hết, sanh nơi thế gian, phần nhiều làm loài giun sán. 

-Ngạ quỷ theo khí, khi khí tiêu báo hết, sanh nơi thế gian, phần nhiều làm loài gia súc. 

-Yểm quỷ theo u-ẩn, khi u-ẩn tiêu báo hết, sanh nơi thế gian, phần nhiều làm loài tằm, cừu, cung cấp đồ mặc. 

-Võng Lượng Quỷ theo tinh linh, khi tinh tiêu báo hết, sanh nơi thế gian, phần nhiều làm loài chim mùa. 

-Dịch Sử Quỷ theo linh hiển, khi linh diệt báo hết, sanh nơi thế gian, phần nhiều làm loài hưu trưng (loài dự báo điềm tốt như phụng, lân). 

-Truyền Tống Quỷ theo người, khi người chết báo hết, sanh nơi thế gian, phần nhiều làm loài tùng phục bên người như chó, mèo. 

-A Nan! Loại này đều vì nghiệp lửa đốt cạn, sanh vào loài súc, đền trả nợ xưa, ấy cũng là do vọng nghiệp chiêu cảm; nếu ngộ tánh Bồ Đề, thì các vọng duyên này, vốn chẳng có gì cả. 

Như ngươi hỏi về những quả báo ác nghiệp của Bửu Liên Hương, Lưu Ly Vương và Tỳ Kheo Thiện Tinh từ đâu ra? Phải biết mỗi mỗi đều tự tạo, chẳng phải từ trên trời xuống, từ dưới đất ra, hay người khác đưa đến. Tự tạo vọng nghiệp, tự chiêu ác quả, mà chẳng biết nơi tâm Bồ Đề, ấy đều do vọng tưởng giả dối kết tụ. 

-Lại nữa A Nan! Những súc sinh ấy, đền trả nợ cũ, nếu trả quá nợ cũ, thì trở lại làm người, đòi lại phần thừa. Nếu người kia có sức mạnh, lại có phước đức, thì khỏi bỏ thân người mà vẫn hoàn lại phần thừa ấy được, còn nếu chẳng phước đức thì phải làm súc sinh để trả lại cái thiếu. 

-A Nan nên biết! Nếu mắc nợ tiền tài hoặc sức lực của loài vật, khi đền đủ thì tự ngưng... Nếu ở trong đó có giết hại sinh mạng hoặc ăn thịt họ, như thế cho đến ăn nhau, giết nhau, trải qua vô số kiếp, như chuyển bánh xe, lúc cao lúc thấp, thay phiên nhau chẳng ngừng. Trừ khi gặp Phật ra đời, ngộ pháp Xa Ma Tha, nếu không thì nghiệp chẳng thể ngưng. 

-Nay ngươi nên biết, loài chim kêu kia, trả hết nợ cũ, trở lại làm người, sanh vào hạng ngoan cố. 

-Loài cữu trưng kia, trả hết nợ cũ, trở lại làm người, sanh vào hạng quái dị. 

-Loài chồn kia, trả hết nợ cũ, trở lại làm người, sanh vào hạng ngu dại. 

-Loài độc hại kia, trả hết nợ cũ, trở lại làm người, sanh vào hạng nham hiểm. 

-Loài giun sán kia, trả hết nợ cũ, trở lại làm người, sanh vào hạng hèn hạ. 

-Loài gia súc kia, trả hết nợ cũ, trở lại làm người, sanh vào hạng nhu nhược. 

-Loài tằm, cừu kia, trả hết nợ cũ, trở lại làm người, sanh vào hạng nghèo khổ. 

-Loài chim mùa trưng kia, trả hết nợ cũ, trở lại làm người, sanh vào hạng văn hoa. 

-Loài hưu trưng kia, trả hết nợ cũ, trở lại làm người, sanh vào hạng thông minh. 

-Loài tùng phục bên người kia, trả hết nợ cũ, trở lại làm người, sanh vào hạng thông thạo. 

-A Nan! Loại này dù trả hết nợ cũ, trở lại làm người, đều do điên đảo tạo nghiệp, sanh nhau giết nhau từ vô thỉ, chẳng gặp Như Lai, chẳng nghe chánh pháp, ở trong trần lao xoay vần mãi, bọn này gọi là thật đáng thương xót. 

-A Nan! Lại có chúng sanh, trong cõi người chẳng theo chánh giác tu Tam Ma Địa, mà tu theo vọng niệm, giữ tâm củng cố hình hài, ẩn trong rừng núi, những chỗ vắng người, thành mười loại tiên. 

l. A Nan! Những chúng sanh ấy, kiên cố dùng đồ bổ chẳng ngừng nghỉ, thành tựu đạo thực, gọi là Địa Hành Tiên. 

2. Kiên cố dùng cỏ cây chẳng ngừng nghỉ, thành tựu đạo thuốc, gọi là Phi Hành Tiên. 

3. Kiên cố luyện đơn chẳng ngừng nghỉ, thành tựu đạo hóa chất, gọi là Du Hành Tiên. 

4. Kiên cố luyện khí chẳng ngừng nghỉ, thành tựu tinh khí, gọi là Không Hành Tiên. 

5. Kiên cố luyện tâm dịch chẳng ngừng nghỉ, thành tựu nhuận đức, gọi là Thiên Hành Tiên. 

6. Kiên cố hấp thụ tinh hoa chẳng ngừng nghỉ, thành tựu sự hấp thụ, gọi là Thông Hành Tiên. 

7. Kiên cố luyện theo bùa chú chẳng ngừng nghỉ, thành tựu bùa phép, gọi là Đạo Hành Tiên. 

8. Kiên cố chuyên chú tâm niệm chẳng ngừng nghỉ, thành tựu niệm tưởng, gọi là Chiếu Hành Tiên. 

9. Kiên cố về thủy hỏa giao cấu chẳng ngừng nghỉ, thành tựu sự cảm ứng, gọi là Tinh Hành Tiên. 

l0. Kiên cố biến hóa chẳng ngừng nghỉ, thành tựu tà ngộ, gọi là Tuyệt Hành Tiên. 

-A Nan! Loại này đều ở trong cõi người mà luyện tâm, chẳng tu chánh giác, xa cách người đời, thọ muôn ngàn tuổi, ẩn núp nơi núi sâu, hòn đảo, những chỗ vắng người; ấy cũng là theo vọng tưởng mà luân hồi. Nếu chẳng tu tam muội, khi phước báo hết, phải trở lại trong lục đạo. 

Giảng giải:

Trong mười pháp giới, tội địa ngục là nặng nhất. Tội địa ngục hết thì lên ngạ quỷ, tức là tội nhẹ hơn một chút. Tội ngạ quỷ hết thì lên súc sanh. Súc sanh trả nợ hết thì lên làm người. Tùy theo nghiệp nhân trước, nên mới có người thông minh, có người ngu si,… trong này phân tích nhiều loại.

Nếu người nào tu theo ngoại đạo, trong này có nói 10 thứ tiên, họ sống muôn ngàn tuổi, hết thời hạn họ cũng phải luân hồi sanh tử trong lục đạo. Những người tu ở ẩn trong rừng sâu, không ai tới, chỉ thích ở một mình không muốn gặp người, thì phải dùng trái cây để sống, nhưng phải cần muối, nên đốn củi đem ra ngoài đường và viết rằng: “Ai lấy củi này, xin cho tôi ít muối”. Đến lúc trời chiều tối họ ra lấy muối mang đi vào rừng sâu. Họ tu đến thành tiên, đến già họ cũng phải chết, tức là cái nhân họ tạo tới đâu thì cái tuổi tới đó cũng phải chết.

Lục đạo luân hồi là: Trời, người, a tu la, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục; kinh Lăng Nghiêm có thêm đạo tiên, thành ra có 7 loại (thất thú). Có chỗ nói 5 loài, vì a tu la có 4 loại: A tu la cõi trời, A tu la cõi người, A tu la cõi súc sanh, A tu la cõi ngạ quỷ. Cho nên, không có lập riêng một loại A tu la. Nhưng bây giờ người ta đã quen gọi lục đạo, nên chỉ có một A tu la.

Nói tóm lại, mình tạo nghiệp nhân gì thì chiệu nghiệp quả đó. Cho đến tu thành tiên, họ cũng có nghiệp nhân nghiệp quả; vì họ không có tu đúng chánh pháp, nên không được giải thoát nhưng được sống dai. Những người tu tiên không ăn thịt chúng sanh, chỉ ăn trái cây; nên họ không có trả nợ thịt.

Tôi thường nói: “Giết một mạng thì trả lại một mạng, ăn một cục thịt phải trả lại một cục thịt”. Tại sao? Vì hôm nay làm thịt 10 con gà để bán, nếu họ bán không được thì ngày mai họ không có giết nữa; nếu họ bán được thì ngày mai họ giết thêm. Mình đi mua thịt cũng là gián tiếp sát sanh. Nếu mình không mua thì họ không giết.

Kinh Lăng Già nói: “Dùng tiền để bắt, người ta dùng lưới, dùng tay chân để bắt, cũng là cùng tạo nghiệp nhân”. Thọ giới Bồ Tát không cho nuôi mèo, chồn. Vì người nuôi mèo muốn cho nó đi bắt chuột, cũng là gián tiếp sát sanh.

Hỏi:

Có các chùa cho mèo ăn thịt, vậy việc ấy như thế nào?

Đáp: 

Việc ấy hiểu lầm, thời kỳ Phật Thích Ca đi bình bát, người ta bỏ bất cứ cái gì đều phải ăn; không được chọn cái ngon ăn, không ngon mà bỏ. Không được đi mua thức ăn. Đi bình bát quy định đi 7 nhà. Nếu đi 7 nhà mà không có ai cúng dường, thì mang bình bát không trở về, bữa đó nhịn đói. 

Nhưng thường thường các nước Thái Lan, Tích Lan, Cam Pu Chia, những người cư sĩ hay phát tâm cúng dường, nếu không cúng dường thì trong tâm thấy khó chịu. Cho nên, họ ăn cái gì thì họ cúng cái đó, vì thế tu sĩ không có quy định phải cúng cái gì.

Các vị cư sĩ muốn cúng dường, họ mang đồ ăn để sẵn trước cửa nhà vào lúc 5 giờ sáng, có sư đi ngang qua thì bỏ vô bình bát. Nếu cúng 5 vị thì làm 5 phần, cúng 10 vị thì làm 10 phần. Các nước Thái Lan, Cam Pu Chia, con trai lớn lên đều phải đi xuất gia, cho đến làm vua cũng phải đi xuất gia, đi bình bát như các vị sư vậy.

Đi bình bát về, các thức ăn chia ra làm 2 phần, một phần ăn liền, còn lại một phần 11 giờ trưa mới ăn, buổi chiều không ăn. Các tu sĩ ở Thái Lan, buổi chiều họ không mua đồ ăn, nếu mua thì người ta cho là phạm giới. Các tu sĩ người Hoa muốn ăn vào buổi chiều, phải đóng cửa lại. Vì sợ người Thái Lan bất ngờ vô gặp.

Chánh văn:

DỤC GIỚI

l. A Nan! Những người thế gian, chẳng cầu đạo thường trụ, chưa thể rời bỏ sự ân ái vợ chồng, nhưng tâm chẳng buông lung nơi tà dâm, do tâm đứng lặng phát ra sáng suốt. Sau khi chết, ở gần với nhật nguyệt, loại này gọi là Tứ Thiên Vương Thiên. 

2. Đối với vợ mình, dâm ái ít ỏi, trong lúc tịnh cư, chưa hoàn toàn trong sạch. Sau khi chết, vượt ánh sáng nhựt nguyệt, ở trên đảnh cõi người, loại này gọi là Đao Lợi Thiên. 

3. Gặp dục tạm giao, qua rồi thì chẳng nhớ; nơi cõi người động ít tịnh nhiều. Sau khi chết, an trụ nơi hư không, ánh sáng nhựt nguyệt chẳng thể soi đến, hạng người ấy tự có ánh sáng, loại này gọi là Tu Diệm Ma Thiên. 

4. Lúc nào cũng tịnh, nhưng khi tiếp xúc bỗng đến, chưa thể lìa bỏ. Sau khi chết, sanh lên cõi tinh vi, chẳng nối liền với những cõi trời, người ở dưới; khi kiếp hoại tam tai cũng chẳng thể đến, loại này gọi là Đâu Suất Đà Thiên. 

5. Ta chẳng tâm dâm dục, chỉ đáp ứng với nhu cầu của người, xem sự dâm dục vô vị như ăn sáp. Sau khi chết, sanh lên cõi biến hóa, loại này gọi là Lạc Biến Hóa Thiên. 

6. Tâm chẳng trụ thế gian, mà thọ dụng cảnh dục đồng như thế gian; đang lúc thọ dụng, rõ ràng siêu thoát. Sau khi chết, vượt lên tất cả cảnh biến hoá và chẳng biến hóa, loại này gọi là Tha Hóa Tự Tại Thiên. 

-A Nan! Sáu cõi trời kể trên, hình dù khỏi động mà tâm còn dính mắc, từ đây trở xuống, gọi là Dục Giới. 

Giảng giải:

Tam giới gồm có: “Dục giới, sắc giới, vô sắc giới”, con người và cầm thú đều ở trong cõi dục giới. Trong này nói có 6 lớp cõi trời dục giới. Dục này là dâm dục, dâm dục càng bớt thì sanh đến cõi khác càng cao. Ngài Long Thọ nói: “Cõi trời thấp nhất thì dâm dục bằng cõi người”. Nếu lên một lớp chỉ cần 2 người ôm nhau thì thỏa mãn. Lên lớp nữa chỉ nắm tay là cảm thấy thỏa mãn. Lên lớp nữa chỉ 2 người cười nhau thì thỏa mãn. Đều có tánh dâm dục của nam nữ.
 
 

ML
01
02
03
04
05
06
07
08
09
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
</