THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học   Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn  Index Tác-Giả

 
 
 
 
 
c
GIẢNG KINH LĂNG NGHIÊM
Hoà Thượng Thích Duy Lực
Thích Đồng Thường Lập Thành Văn Tự
ML
01
02
03
04
05
06
07
08
09
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
KINH THỦ LĂNG NGHIÊM
Quyển 8

Chánh văn:

-A Nan! Như vậy chúng sanh trong mỗi loài đều gồm đủ 12 thứ điên đảo, cũng như dụi mắt thấy hoa đốm lăng xăng, thảy đều từ diệu tâm sáng tỏ vọng sanh điên đảo, nên có đủ thứ tư tưởng hư vọng tán loạn như thế. Nay ngươi tu chứng Tam Ma Địa, đối với bản nhân của tư tưởng tán loạn ấy, phải lập ba tiệm thứ mới có thế diệt trừ, cũng như muốn trừ mật độc trong bình để đựng cam lồ, thì phải dùng nước sôi và tro rửa sạch cái bình, rồi mới đựng cam lồ. 

-Thế nào gọi là ba tiệm thứ? Một là tu tập trừ các trợ nhân; hai là chơn tu, nạo sạch chánh tánh (tánh dâm dục); ba là tinh tấn, xoay ngược hiện nghiệp. 

l. Sao gọi là trợ nhân? 

-A Nan! 12 loại chúng sanh trong thế giới, chẳng thể tự sống, phải nhờ bốn cách ăn để nuôi dưỡng, ấy là: ăn bằng cách nhai xé như con người; ăn bằng ngửi mùi hơi như quỷ thần; ăn bằng niệm tưởng như cõi Tứ Thiền và ăn bằng ý thức như cõi Tứ không, cho nên Phật nói tất cả chúng sanh đều nhờ sự ăn mà tồn tại. 

-A Nan! Tất cả chúng sanh, ăn ngọt thì sống, ăn độc thì chết. Vậy chúng sanh cầu Tam Ma Địa, nên dứt bỏ ngũ tân của thế gian, ngũ tân này hễ ăn chín thì phát lòng dâm, ăn sống thì thêm sân hận. Những người ăn ngũ tân, dù biết giảng giải mười hai bộ kinh, nhưng mười phương thiên tiên đều chê mùi hôi thối ấy mà tránh xa; các loài ma quỷ, thừa lúc đang ăn ngũ tân, liếm môi của họ, người ấy thường ở chung với quỷ, phước đức ngày càng tiêu mòn, chẳng được lợi ích. 

-Người ăn ngũ tân mà tu Tam Ma Địa, thì Bồ Tát, Thiên Tiên, mười phương thiện thần chẳng đến hộ vệ. Đại lực ma vương có cơ hội hiện ra thân Phật, thuyết pháp cho họ, chê bai giới cấm, tán thán dâm dục và sân si. Người ấy chết thành quyến thuộc ma, khi hết phước báo của ma, liền đọa ngục A Tỳ. 

-A Nan! Người tu đạo Bồ Đề phải dứt hẳn ngũ tân, ấy gọi là tiệm thứ tu hành tinh tấn thứ nhất. 

2. Sao gọi là nạo sạch Chánh Tánh? 

-A Nan! Chúng sanh muốn vào Tam Ma Địa, trước tiên phải giữ giới trong sạch, dứt hẳn lòng dâm, chẳng dùng rượu thịt, chỉ ăn đồ nấu chín, chẳng ăn đồ sống. 

-A Nan! Người tu hành nếu chẳng dứt dâm dục và sát sanh, mà muốn ra khỏi ba cõi thì chẳng có chỗ đúng. Nên phải xem sự dâm dục như rắn độc, như kẻ thù. 

-Trước tiên phải giữ Tứ khí, Bát khí của giới Thanh Văn, trì thân chẳng động, sau hành theo luật nghi trong sạch của Bồ Tát, trì tâm chẳng khởi. Giới cấm đã thành tựu, đối với thế gian, trọn chẳng còn những nghiệp tương sanh tương sát; đã chẳng trộm cắp thì chẳng mắc nợ nhau, và khỏi phải trả nợ của thế gian. 

-Người trong sạch ấy tu Tam Ma Địa, với cái thân của cha mẹ sanh, chẳng cần thiên nhãn, tự nhiên thấy được mười phương thế giới, gặp Phật nghe pháp, vâng lãnh thánh chỉ, được đại thần thông, dạo khắp cõi mười phương, túc mạng trong sạch, chẳng còn những điều khó khăn nguy hiểm, ấy gọi là tiệm thứ tu hành tinh tấn thứ hai. 

3. Sao gọi là Xoay ngược Hiện Nghiệp? 

-A Nan! Người giữ giới trong sạch như thế, tâm chẳng tham dâm thì chẳng dong ruổi theo lục trần bên ngoài, do sự chẳng dong ruổi tự xoay về bản tánh, đã chẳng duyên theo cảnh trần thì lục căn chẳng chỗ nương tựa, ngược dòng về Nhất, lục dụng chẳng thành, mười phương quốc độ sáng suốt trong sạch, ví như lưu ly, bên trong có trăng sáng (tự chiếu vô năng sở), thân tâm an lạc, diệu viên bình đẳng, được đại yên ổn, tất cả mật viên tịnh diệu của Như Lai đều hiện trong đó, người ấy liền được vô sanh pháp nhẫn. Từ đó dần dần tùy theo cấp bậc tu chứng an lập thánh vị, ấy gọi là tiệm thứ tu hành tinh tấn thứ ba. 

-A Nan! Thiện nam tử ấy, dục ái khô cạn, căn và cảnh chẳng duyên nhau, cái báo thân hiện tiền này chẳng còn tiếp tục sanh nữa, giữ tâm rỗng sáng, thuần là trí huệ; tánh trí huệ sáng suốt chiếu mười phương cõi. Chỉ có cái huệ khô cạn ấy, gọi là Càn Huệ Địa. 

Giảng giải:

A Nan! Như vậy chúng sanh mỗi loài  đều gồm 12 thứ điên đảo.

Điên đảo là do cái tâm, mọi chúng sanh cũng do cái tâm, cái thân này cũng do tâm tạo. Nếu nói ở trong tâm thì thân là 1 vật ở trong tâm. Cái tách cũng là  1 vật ở trong tâm, cái bàn cũng là 1 vật ở trong tâm. 

Nhưng mình chấp thân là ta, còn các thứ kia ở ngoài thì thành nhị mới điên đảo. Mỗi người đều đủ 12 loài, như kinh nói: “Mỗi loài gồm 12 thứ điên đảo”. Điên đảo là do tâm, nếu nói theo thế gian thì muôn triệu tỷ cũng có, chứ không chỉ có 12 thôi. Nhưng bây giờ chúng sanh chia ra làm 12 loài, thì mỗi chúng sanh đều có 12 thứ điên đảo giống như 12 loài vậy.

Thảy đều diệu tâm sáng tỏ mà vọng sanh điên đảo. Như hư không chẳng có hoa đốm, do dụi mắt mới thấy có hoa đốm; tức là từ chỗ không có sanh ra có, thì tất cả vọng điên đảo đều là vậy. Ở trên nói: “Chấp sáng sanh sở chiếu”. Sở lập thì bị mất tánh chiếu soi tự động, nếu lập năng sở thì tánh chiếu soi không còn tự động. Cho nên, muốn làm phải dùng ý niệm mới làm được.

Nên có đủ thứ tư tưởng tán loạn hư vọng như thế! Nay ngươi tu chứng tam ma địa, đối với bản nhân của tư tưởng tán loạn ấy, phải lập 3 tiệm thứ mới có thể diệt trừ. Như muốn trừ mật độc trong bình, để đựng cam lồ thì phải dùng nước sôi và tro rửa sạch bình.

-Thế nào gọi là 3 tiệm thứ? 

1 -  Là tu tập trừ các trợ nhân. 
2 - Là chơn tu nạo sạch chánh tánh (tánh dâm dục).
3 - Là tinh tấn, phải xoay ngược hiện nghiệp.

Đoạn trên, kinh Lăng Nghiêm tiếp người thượng căn, đoạn này tiếp người trung căn và hạ căn, cho nên mới có 3 tiệm thứ, tức là có thứ lớp. 

Tổ Sư thiền tiếp người thượng căn, nên  không có thứ lớp; trung căn, hạ căn đều do tâm chấp mới có. Sự thật, vốn không có thứ lớp, nên Hòa thượng Bác Sơn là Tổ tông Tào Động nói: “Từ hạ căn có thể chuyển thành thượng căn, có thể chuyển mạt pháp thành chánh pháp”. Vì do tâm chấp, tâm chấp là hạ căn, tâm chấp nhẹ thành trung căn, tâm chấp ít hơn thì thượng căn, không chấp gì hết gọi là Phật.

1- Sao gọi là trợ nhân?

A Nan! 12 loài chúng sanh trong thế giới chẳng thể tự  sống, phải nhờ 4 cách ăn để nuôi dưỡng; ấy là: Ăn bằng cách ăn nhai xé như con người, ăn bằng ngửi mùi hơi như quỷ thần, ăn bằng niệm tưởng như cõi tứ thiền và ăn bằng ý thức như cõi tứ không. Cho nên, Phật nói “tất cả chúng sanh đều nhờ sự ăn mà tồn tại”.

Người và thú ăn bằng nhai xé, quỷ thần chỉ ngửi mùi, như các đồ cúng họ chỉ ngửi mùi, còn lại đồ ăn thì mình ăn được. Ăn bằng niệm tưởng như cõi tứ thiền. Từ dục giới sắp lên cõi sắc giới có tứ thiền: Sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền chia làm 18 lớp cõi trời. Cõi tứ thiền muốn ăn chỉ  khởi niệm tưởng thì có đồ ăn trước mặt dùng niệm tưởng để  ăn.

Không muốn ăn cũng dùng niệm tưởng để dẹp, như may quần áo không có chỗ ráp mối, vì họ dùng niệm tưởng. Bây giờ,  ông Trương Bảo Thắng cũng dùng niệm tưởng làm được, chứ không phải cõi trời mới làm được; cõi người cũng làm được, những người tu đến mức nào có thể làm được phần đó.

Ăn bằng ý thức như cõi Tứ không, niệm tưởng còn có sắc thân; Tứ không chẳng có sắc thân, tức là vô sắc giới có 4 lớp cõi trời. Tứ không ăn bằng ý thức, vì họ không có thân thể. Kỳ thật họ không có ăn. Cõi Tứ không chấp thức a lại da là ta, tất cả hiểu biết của a lại da thức gọi là ăn. Như mình coi sách là thức ăn tinh thần, tức là ăn bằng ý thức. Thiền định cũng là món ăn.

Phật cũng do tâm tạo, huống chi quỷ thần sao không phải do tâm tạo! Tâm tạo đến mức nào thành quỷ thần, tạo đến mức nào thành Phật, tạo đến mức nào thành a tu la, tạo tới mức nào đến cõi dục giới, tạo tới mức nào đến cõi sắc giới, tạo tới mức nào đến cõi vô sắc giới, tất cả đều do tâm tạo, không có cái nào ở ngoài tâm. 

Cho nên, ngoài tâm chẳng có pháp. Nếu quỷ thần không phải tâm tạo, thì tất cả không phải tâm tạo. Phật nói: “Tất cả đều do tâm tạo”. Phật do tâm tạo, bất quá là cao nhất. Vì thế, Phật nói tất cả chúng sanh đều nhờ 4 thứ ăn mà được tồn tại trong thời gian không gian.

Tổ  Huệ Trì ở Lư Sơn từ giả anh là tổ Huệ Viễn, đi vào Tứ Xuyên hành cước gặp cây có lỗ lớn, vô đó ngồi nhập định không hay biết. Lỗ cây từ từ bịt kín lại. Qua thời gian hơn 700 năm, trời đánh sét trúng cây đó, làm cây nứt ra, ông rớt ra ngoài. Lúc đó người ta thấy, lại rờ cái thân thấy vẫn còn nóng, tóc dài quấn cả thân thể, nhưng ông vẫn còn ở trong định, chưa có ra định. Người ta đi báo chánh quyền, chánh quyền không biết làm thế nào, mới chở về kinh thành tâu vua. Vua mời Thiền sư lại búng ngay tên tai, làm cho ông xuất định.

-Hỏi tổ Huệ Trì : Nhập định bao lâu rồi?
-Tổ Huệ Trì trả lời: Mới có một chút.
-Tổ lại hỏi: Anh tôi có khỏe mạnh không?
-Anh của ông là người nào?
-Anh tôi là Huệ Viễn.
-Phải Huệ Viễn ở Lư Sơn không?
-Phải.
-Huệ Viễn đã mất lâu rồi.
Người ta tính ra đã hơn 700 năm, ông nhập định thời gian lâu mà tự mình không biết; ông tưởng là một chút lát, lúc đó ông không có cảm giác thời gian.

Như ngài Hư Vân đang nấu khoai mà nhập định đến nửa tháng. Mấy người ở gần không thấy ông. Mọi người qua chúc tết, thấy ngài đang ngồi nhập định, liền làm cho xuất định.

-Hỏi: Ngài ăn chưa?

-Hư Vân nói: Chưa, bây giờ chắc khoai chín rồi! Mở nắp nồi khoai thấy móc lên rất nhiều.

Hỏi:

Có người lên cõi tiên, khi trở về thấy con cháu không còn, thấy toàn người lạ, vậy hiện tượng đó như thế nào?

Đáp:

Trong cuốn thế kỷ 21, có một bài nói Einstein chứng tỏ thời gian có thể trở lại quá khứ. Nhà khoa học nói con gái 19 tuổi trở lại gặp ông nội. Thí dụ 20 năm trước chưa sanh cô gái, thì cô gái không biết ở đâu? Nói ngược lại thời gian 100 năm thì cô gái được 120 tuổi. 

Bây giờ, nói cô là 120 tuổi hay trước đó 100 năm, nếu thêm 1 triệu tuổi tức là 1 triệu năm sau, mà truy lại 1 triệu năm trước, thì cô có 1 triệu lẻ 20 tuổi. Nếu cho là 1 tỷ thì cô có 1 tỷ 20 tuổi, để ngược lại tỷ năm. Nay nói có 1 tỷ 20 năm hay không có? Nếu có 1 tỷ 20 tuổi thì không có thời gian trước thời gian sau. 

Nếu nói thời gian trước thì không có tuổi nào hết. 20 năm trước không có tuổi nào hết, huống là 1 tỷ! Dùng thời gian sau để ngược thời gian trước, thì rất là mâu thuẫn! Cho nên Phật nói: “Tất cả do tâm tạo”, nhưng đều là vọng, có lý cách mấy cũng là vọng.

Tại sao không ăn ngũ tân? Ngũ tân: Tỏi, hành, hẹ, nén, hưng cừ. Những thứ này ở trong đây có nói, ăn sống kích thích lòng dâm, ăn chín nổi lên sân hận. Cho nên, người tu hành phải chấm dứt ăn ngũ tân, tuy không sát sanh nhưng chướng ngại tu hành, còn hơn ăn thịt.

2 – Sao gọi là nạo sạch chánh tánh?

Chánh tánh là đối với tà tánh, người ta nói “Tại sao chánh tánh phải nạo sạch”? Chánh tánh ở đây là tánh dâm dục. Tánh dâm dục là tà làm sao nói chánh tánh? Vì tất cả con người đều do dâm dục mới có, là tánh chánh của con người. Nếu không có dâm dục thì không có con người, là chánh tánh con người được sanh ra, nên gọi là chánh tánh. Nếu đuổi theo mặt chữ giải thích là sai lầm. 

Năm giới (sát, đạo, dâm, vọng, tửu) của người tại gia, sát sanh là đi đầu, còn tu sĩ là dâm đứng đầu. Dâm khó trừ hơn sát, khó hơn không biết bao nhiêu lần!

Trước tiên phải giữ gìn tứ khí, bát khí của giới Thanh Văn trì thân chẳng động. 

Tứ khí của Tỳ Kheo là dâm, đạo, sát, vọng. Phạm một trong bốn tứ khí thì phải mất Tỳ Kheo. Phạm giới dâm, đạo (theo giới luật trộm hơn năm chỉ vàng), sát (giết người), vọng (đại vọng ngữ: Chưa chứng nói chứng, chưa đắc quả nói đã đắc, như chưa chứng quả, nói được truyền tâm ấn) thì mất giới Tỳ Kheo.

Bát khí là 8 giới điều của Tỳ Kheo Ni, nếu phạm 1 trong 8 giới ấy, thì không được làm Tỳ Kheo Ni.

Sau hành theo luật nghi trong sạch của Bồ Tát.

 Giới Thanh Văn (Tiểu thừa) thì cái thân làm mới phạm. Như muốn ăn cắp cái tách, chưa lấy cái tách đi khỏi thì không phạm, khi nào đụng đến và dời khỏi thì  mới phạm. Còn giới Bồ Tát khởi tâm lấy cái tách thì phạm, cho nên giới Bồ Tát là giữ tâm không cho niệm khởi lên. Giới Bồ Tát gọi là giới tâm địa. Người phạm giới Bồ Tát thì sám hối với người thọ giới Bồ Tát. Nghĩa là: “Tôi đã lỡ phạm giới Bồ Tát, xin ông chứng minh cho tôi, sau này tôi không có phạm nữa”, gọi là sám hối, nhưng đây là tội nhẹ.

Phạm tứ khí, bát khí thì Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni đều mất. Phạm giới trong vòng nửa giờ còn sám hối được, nếu qua nửa giờ không cho sám hối. Khi Tăng đoàn chấp nhận cho sám hối, nên mời 20 vị Tỳ Kheo để làm lễ yết ma (hội nghị cho sám hối). 

Theo giới luật người xin sám hối phải săn sóc phục dịch (nấu cơm, rữa chén, giặt đồ…) cho 20 vị Tỳ Kheo này trong nửa tháng, khi 20 vị Tỳ Kheo này thấy vị xin sám hối chơn thật, thì đồng ý cử hành lễ yết ma cho sám hối, thì diệt hết tội 9 triệu năm địa ngục.

 Nếu một trong 20 vị đó không đồng ý thì lễ yết ma không thành, tức là không cho sám hối. Nếu cho sám hối thì giới Tỳ Kheo mất, chỉ còn giới Sa Di suốt đời; chứ không được Tỳ Kheo nữa, muốn có Tỳ Kheo thì phải đợi kiếp sau đầu thai thành người rồi đi thọ giới lại. Nếu không sám hối thì làm người thường. Ở các nước Tiểu thừa bị lột áo cà sa, rồi giao cho chính phủ trị tội. 

Chánh tánh nạo cho sạch. Ở trên nói, Không phạm giới dâm, mà luôn cả không phạm cũng không còn. Tức là không có một ý niệm nào sanh khởi, mới là nạo sạch. Cho nên dùng chữ nạo. Không phải rửa, rửa thì còn dính thì mới tu hành tinh tấn.

3. Sao gọi là xoay ngược hiện nghiệp?

(Cuộc sống hằng ngày của mình là hiện nghiệp).

-A Nan! Người giữ giới trong sạch như thế, tâm chẳng ham dâm thì chẳng dong ruỗi, theo lục trần bên ngoài, do sự chẳng dong ruỗi tự xoay về bản tánh, đã chẳng duyên theo cảnh trần thì căn chẳng có chỗ nương tựa. Ngược lại, khen ngợi không ham, chê cũng không thích; mũi, lưỡi, thân, ý cũng vậy.

Lục căn không phải 6 người, nhất là nhất tâm. Từ nhất tâm sanh ra 6 thứ nhiệm vụ. Nếu ngược lại thì trở về nhất tâm. Trở về được thì lục dụng không thành tựu, tức là mắt thấy cũng như không thấy, tai nghe cũng như không nghe. Cho nên nói lục dụng chẳng thành. 

Mười phương quốc độ sáng suốt trong sạch, ví như lưu ly, bên trong có trăng sáng (tự chiếu không năng sở) thân tâm an lạc, diệu viên bình đẳng, được đại yên ổn (nếu có đẹp xấu thì tâm bị nhiễu loạn thì không yên ổn, có khen chê cũng vậy).

Tất cả mật viên tịnh diệu của Như Lai đều hiện ở trong đó (cái tương đối là thêm vô, nếu bỏ hết thì bản lai diện mục hiện ra), người ấy liền được vô sanh pháp nhẫn. Từ đó dần dần tùy theo cấp bậc tu chứng an lập thánh vị (đây là giáo môn, từ chỗ Thập Tín, Thập Trụ,…. từ bậc mà chứng quả, lên tới Thập Địa, Đẳng Giác) ấy gọi là tiệm thứ tu hành tinh tấn thứ ba.

Cái này là do trung hạ căn mà nói như vậy, thì tu thiền quán: Sa ma tha, tam ma bát đề, thiền na; 3 thiền quán này, không những nạo sạch chánh tánh mà những cái khác cũng hết luôn, chứ không phải đối trị một thứ. Như Chứng Đạo Ca nói: “Đừng hái lá bẻ cành, ra sức mạnh nhổ gốc, thì lá ít ngày tự rụng, đâu nhọc công hái từng lá”. Cách tu của tiểu thừa, trung thừa, đại thừa và tối thượng thừa  là theo lời Phật dạy để tu, thì các thứ chấp thật đều hết. 

Chuyện bà lão đốt am là công án của Thiền tông:

Có vị Tăng xin bà lão để nhập thất (bế quan) 3 năm. Qua 3 năm bà lão muốn biết vị Tăng này kiến tánh chưa! Bà sai con gái mỗi bữa mang cơm  cho vị Tăng, khi vị Tăng ăn cơm xong, rồi ôm chặt hỏi vị 

Tăng: Nói đi! Nói đi!

Vị Tăng trả lời: Cây khô dựa đá lạnh, mùa đông chẳng hơi ấm (tỏ ra trạng thái cô gái ôm ông, ông không có cảm giác; theo người thường khen vị Tăng ấy rất hay, có công phu tu, con gái kể lại cho bà lão nghe).

Bà lão nói: Nuôi ông đó 3 năm chẳng có ích lợi gì, đuổi đi và đốt luôn cái am.

Vị Tăng đi lang thang một thời gian, rồi trở lại xin bà lão nhập thất lần nữa, trong 3 năm sẽ cho bà thỏa mãn. Bà già đồng ý, qua thời gian 3 năm bà lão cũng sai con gái trước đó mang cơm cho vị Tăng, chờ ông ăn xong rồi ôm chặt ông và hỏi: Nói đi! Nói đi!

Vị Tăng trả lời: Trời biết, đất biết, ta biết, ngươi biết, đừng cho bà già biết. 

Cô gái kể cho bà già nghe như vậy.

Bà già nói: À! Được rồi, chẳng uổng công ta nuôi 3 năm.

Vị Tăng đã kiến tánh rồi, nhưng theo người đời làm sao được? Vì đâu có cái gì nữa, đã là bất nhị rồi không thêm bớt gì . Chứng tỏ cho bà già biết là ông đã kiến tánh. 

Nghịch với lý thì người kiến tánh mới nói được, còn người chưa kiến tánh thì phải hợp lý. Như trước kia chưa kiến tánh thì nói ra rất hợp lý, bà già biết ông chưa kiến tánh; kiến tánh rồi không lập chơn lý, nếu lập lý thì hợp lý và không hợp lý. 

Người kiến tánh không có đúng và không đúng. Nói như vậy bà già mới biết ông kiến tánh, nếu còn sợ bà già biết là còn tư tưởng của người thường, làm sao khác hơn người thường được?

Tất cả cử chỉ lời nói của chư Phật chư Tổ là mục đích để phá chấp. Cho nên, người chấp lạy Phật thì Tổ nói không lạy Phật, người nào chấp không lạy Phật, thì Tổ nói phải cung kính lạy Phật.
 

Như Sa Di chấp là khỏi lạy Phật, thì Hoàng Bá bảo phải cung kính lạy Phật 
Sa Di nói: Lạy gỗ lạy đất làm chi?

Hoàng Bá bạt tai Sa Di: Bảo lạy Phật cứ lạy Phật, sao lại nói bậy?

Sau này Sa Di làm vua, phong cho Hoàng Bá là Đoạn Tế Thiền Sư. Vua không trả thù do bị đánh bạt tai.

Viện chủ hỏi Lâm Tế: Lạy Phật trước hay lạy Tổ trước?

Lâm Tế trả lời: Phật không lạy, Tổ cũng không lạy. 

Ngài nối pháp của Hoàng Bá, Hoàng Bá thì lạy Phật, còn Lâm Tế thì không lạy Phật là phá chấp của viện chủ.

Như viện chủ chấp tượng Phật, thì Đơn Hà  đốt tượng Phật.

Hỏi:

Bát khí là gì?

Đáp:

Theo giới luật không cho biết, phải thọ giới Tỳ Kheo Ni mới cho biết; thọ giới Tỳ Kheo thì cho biết giới Tỳ Kheo, Tỳ Kheo phải thông suốt 2 bộ luật Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni. Tỳ Kheo Ni thì chỉ biết giới của Tỳ Kheo Ni, chứ không được biết giới của Tỳ Kheo, Tại sao? Vì pháp bát kỉnh của Tỳ Kheo Ni không được tử tội Tỳ Kheo, nửa tháng Tỳ Kheo Ni phải mời Tỳ Kheo vào Ni viện để dạy Tỳ Kheo Ni. Cho nên, Tỳ Kheo phải biết giới luật của Tỳ Kheo Ni  mới có thể dạy được.

Người ta nói Phật chế giới luật không  bình đẳng. Tỳ Kheo 250 giới, Tỳ Kheo Ni 348 giới; như Tỳ Kheo có tứ khí, Tỳ Kheo Ni có bát khí. Tỳ Kheo được nói tội Tỳ Kheo Ni và ngược lại. Tỳ Kheo được xuất gia 7 lần, Tỳ Kheo Ni chỉ xuất gia một lần, chế giới luật như vậy không bình đẳng mà Phật nói bình đẳng! 

Vì lòng từ bi của Phật muốn cho nam nữ được bình đẳng, mới chế luật giống như không bình  đẳng, để giúp cho người nữ được bình đẳng như người nam. Tại sao? Vì tâm lý sinh lý người nữ  khác người nam, phải có những giới luật để kiềm chế người nữ. Như người nam đi ra ngoài đường không mặc áo không ai để ý, người nữ  đi ra ngoài đường như vậy có được không?

Như ở Mỹ có cô gái ra công viên không mặc quần áo, cảnh sát cảnh cáo phạt cô ấy, rồi bắt cô ấy mặc lại quần áo, cô ấy lại kiện cảnh sát. Vì hiến pháp nhà nước Mỹ tôn trọng tự do cá nhân không mặc quần áo là tự do cá nhân, đâu có phạm tội!

Hỏi:

Có phải người tu cao không phân biệt nam nữ?

Đáp:

Không phải là không phân biệt, đến kiến tánh thì mới làm được, còn chưa kiến tánh thì còn phải phân biệt. Kiến tánh không phân biệt nam nữ, như chưa kiến tánh, Tỳ Kheo không bao giờ đảnh lễ Tỳ Kheo Ni; Tỳ Kheo Ni  đã thọ giới 100 năm, Tỳ Kheo ở giới đàn mới ra, Tỳ Kheo Ni phải đảnh lễ Tỳ Kheo. Nhưng Tỳ Kheo Ni đã kiến tánh, Tỳ Kheo phải đảnh lễ Tỳ Kheo Ni, đã kiến tánh thì không phân biệt nam nữ. 

Phật chế ra giới luật  nghiêm khắc, để giúp cho Tỳ Kheo Ni mau được kiến tánh. 

Sự thật năm 1974 tôi đi các chùa ở Mã Lai, chùa của Tăng, phần nhiều Ni nắm quyền; bây giờ ở Mỹ cũng có, ở Việt Nam cũng vậy, Phật chế ra các giới luật để giúp cho người nữ, nhưng không giúp nỗi.

Hỏi:

Lấy cái gì để biết người đó đã kiến tánh?

Đáp:

Duy Thức có 4 phần: Kiến phần, tướng phần, tự chứng phần, chứng tự chứng phần. Đến tự chứng phần là tự mình chứng chứng tỏ, chứng tự chứng phần là thầy mình ấn chứng (truyền pháp, ấn chứng). Bây giờ mình chỉ có kiến phần và tướng phần không có tự chứng phần. Cho nên, Phật nói “không có vô minh”, mình không tin được.

Độc đầu ý thức (thức thứ 6) biến hiện nhắm mắt chiêm bao. Vì lúc ngủ mê thì nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân ngưng hoạt động, chỉ thức thứ 6 hoạt động biến hiện thân chiêm bao, tiếp xúc thế giới, thân thể, cái tách, cái bàn đều thấy có thật chất; tiếp xúc nóng biết nóng, tiếp xúc lạnh biết lạnh. Thân chiêm bao cũng biết buồn biết vui, bị người ta đánh cũng biết đau. Lúc đang chiêm bao, có vị thiện tri thức giải thích cho người chiêm bao, cái tách, cái bàn, cái thân của ông đều không thật. Trong lúc ấy thân chiêm bao không tin.

Tại sao? Nói thân tôi không thật, mà người ta đánh tôi biết đau, cái nào nóng biết nóng cái nào lạnh biết lạnh, tại sao nói không thật? Ai tin cho được! Nhưng khi thức dậy, hết chiêm bao chứng tỏ những cái thật không có; chỉ còn cái thân nằm trên giường, lúc ấy không cần thiện tri thức giải thích; tự mình chứng tỏ, tức là được tự chứng phần. Khi chưa được tự chứng phần, nói có lý không tin, vì tiếp xúc đều là thật. Thức tỉnh được tự chứng phần thì chứng tỏ, không tin cũng không được, vì sự thật đã rõ ràng.

Bây giờ, tôi nói các vị nghe là mở mắt chiêm bao là đồng thời Duy Thức biến hiện. Sao gọi là mở mắt chiêm bao? Vì nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân cùng hoạt động với ý thức. Như nhĩ thức nghe được tiếng phải có thức thứ 6 đồng thời nổi lên, mới biết tiếng người, tiếng chim, tiếng chó,… phân biệt rõ ràng. 

Nếu chỉ có thức thứ 6, không có nhĩ thức; thức thứ 6 nghe được tiếng, nhưng không biết tiếng gì. Cho nên, phải 2 thức hợp tác đồng thời nổi  lên mới phân biệt rõ ràng. Các thức khác cũng vậy. Hai thức đồng thời biến hiện gọi là mở mắt chiêm bao. 

Nhưng người đời chỉ tin nhắm mắt chiêm bao là chiêm bao, còn mở mắt chiêm bao không phải chiêm bao. Bây giờ, đâu ai có tin chúng ta ngồi đây là  chiêm bao! Tại sao không tin? Vì chưa tự chứng phần. Như nhắm mắt chiêm bao, khi thức tỉnh được tự chứng phần. Nhưng nhắm mắt chiêm bao tự thức, đêm sau có thể chiêm bao lại; mở mắt chiêm bao không bao giờ tự thức, phải tham thiền mới thức tỉnh, thức tỉnh gọi là kiến tánh thành Phật.

Phật là giác ngộ tức trong mở mắt chiêm bao thức tỉnh, còn mình chưa thức tỉnh là chưa kiến tánh thì chưa tự chứng phần. Cho nên, Phật giải thích trong kinh thật có lý, như kinh Lăng Nghiêm, Tâm Kinh,… các chùa mỗi ngày đều có đọc nhiều lần: “Vô vô minh, vô lão tử”, tức là không vô minh, không già chết, vậy ai tin cho được! Không tin là chưa tự chứng phần. Tham thiền đến kiến tánh  được tự chứng phần tự mình chứng tỏ, như chiêm bao thức dậy thì biết rõ.

Do tâm người giác ngộ có thể chánh ngộ hay tà ngộ. Cho nên, phải thêm chứng tự chứng phần, tức là người kiến tánh ấn chứng để chứng tỏ người này đã giác ngộ rồi. Nếu không có người kiến tánh ấn chứng, chư Tổ nói: “Dùng kinh liễu nghĩa hay ngữ lục của Tổ sư kiến tánh triệt để ấn chứng cũng được”. Như Tổ Đạt Ma dùng kinh Lăng Già để ấn tâm, cho nên gọi là Lăng Già Tâm Aán. Đến Lục Tổ dùng kinh Kim Cang để ấn tâm.

Ngữ lục của Tổ để ấn chứng, nếu còn có lý tức là còn chấp ngôn thuyết là người chưa ngộ. Như kinh Lăng Nghiêm nói: “Phàm có ngôn thuyết đều chẳng có nghĩa thật”, kinh Kim Cang nói: “Ai nói Phật có thuyết pháp, người ấy phỉ báng Phật”. Không có pháp để thuyết mới gọi là thuyết pháp. Những cái này cũng như: “Chẳng phải gió động, chẳng phải phướn động, mà tâm của các ông động” đều cùng một nghĩa; mà nói cùng một nghĩa cũng không được, tức là không có khác; muôn ngàn sai biệt đều không khác, nếu có khác thì không phải rồi.

Hỏi:

Tại sao phàm phu như chúng con, khi đọc công án có cái hiểu, có cái không hiểu?

Đáp:

Các vị đã ngộ mới dùng ngữ lục, kinh liễu nghĩa để ấn chứng được. Bây giờ, mình cách chỗ tự chứng còn cách xa, nói đến việc ấn chứng là vọng. Các vị ấy đã lên tới đỉnh núi rồi, mình ở dưới chân núi mà đoán mò không thể được!

Hỏi:

Có người nói: Tu thì huệ sáng ra là sao?

Đáp:

Người đó không biết căn  bản Phật pháp, tại họ chấp diệu tâm sáng tỏ thành không sáng tỏ. Bát Nhã Tâm Kinh nói: “Vô trí diệc vô đắc”. Nói rõ là không trí cũng không đắc, nếu có đắc thì không phải rồi. Biểu đồ Đại Thừa Tuyệt Đối Luận nói: “Vô tu vô chứng”. Vậy làm sao có đắc? Điều thứ nhất của Đường Lối Thực Hành Tham Tổ Sư Thiền là: “Vô sở đắc, vô sở cầu, vô sở sợ”, vậy làm sao nói đắc!

Hỏi:

Chúng con phàm phu nghĩ: Phật là đấng toàn giác, khi ngài xuất hiện thì hào quang rực rỡ, các vị Tăng tu hành có Tăng tướng, việc ấy như thế nào?

Đáp:

Đó là đối với trung căn, hạ căn thì phải nói vậy, như đối với lớp mẫu giáo thì phải nói theo cách mẫu giáo. Đối với tiểu học thì lại nói khác hơn mẫu giáo môït chút. Đến trung học, đại học cũng nói khác. Đâu thể dùng bài tiểu học, chứ không được lộn với nhau. 

Theo lớp mẫu giáo nói: Con mèo lớn con mèo nhỏ, ba con mèo bốn con mèo. Như đem cái này để dạy đại học làm sao được! Nói là: Phàm phu phải vậy! Phàm phu thì phàm phu chứ! Chưa kiến tánh, người nào cũng là phàm phu.

Hỏi 

Chứng quả thấp có thể biết được quả cao không?

Đáp: 

Cấp trên biết cấp dưới, cấp dưới làm sao biết cấp trên? Chứng sơ địa Bồ Tát không biết nhị địa Bồ Tát. Huống chi chưa chứng quả gì hết, mà muốn biết quả Diệu Giác, làm sao được? Như ở dưới chân núi làm  sao biết trên đỉnh núi?

Hỏi:

Theo thời cuộc bây giờ làm cho chúng con trở ngại không tu được, vậy phải làm thế nào?

Đáp:

Trở ngại là do tâm chấp nặng hay nhẹ, tâm chấp nhẹ gọi là thượng căn, tâm chấp nặng gọi là hạ căn. Tất cả đều do tâm tạo. Thói quen phiền não đã từ vô thỉ, mình không muốn chấp cũng không được. 
Như nhà Nho nói: “Núi sông dễ dời, bản tánh khó đổi”. Cho nên, phải quyết tử tu đến mức nào mới thấy được chỗ đến, chưa tới mà hỏi cũng như không. Như chứng Sơ Địa mà hỏi Nhị Địa thì không thể biết, không những vô ích mà lại còn chướng ngại.

Khó dễ do người chứ không phải do pháp, pháp không có khó dễ. Người này cho là dễ người kia cho là khó, nhưng cùng chung một pháp đều là pháp của tâm. Vì chưa đến vô vi có muôn ngàn sai biệt, con đường đến vô vi rất nhiều. Người này đi đường này, người kia đi đường kia, không thể nói được. 

Cho nên, có năm thứ chủng tánh, trong đó có bất định chủng tánh (kinh Lăng Già). Có người không có chủng tánh nhất định và có người có chủng tánh nhất định như: Chủng tánh ngoại đạo, chủng tánh Thanh Văn, chủng tánh Bồ Tát, chủng tánh Như Lai.

Chủng tánh không nhất định là sao? Như người ta thuyết pháp Thanh Văn thì họ tu Thanh Văn gọi là chủng tánh Thanh Văn. Nếu nghe người ta thuyết pháp Duyên Giác thì họ tu Duyên Giác, gọi là chủng tánh Duyên Giác. Nếu ta thuyết pháp Bồ Tát thì họ tu Bồ Tát gọi là chủng tánh Bồ Tát. Họ tu theo Phật thừa thì gọi là chủng tánh Như Lai.

Chủng tánh bất định là tùy theo nhân duyên, nghe pháp nào tu theo pháp đó. Còn chủng tánh nhất định: Như chủng tánh tiểu thừa không nghe được pháp đại thừa. Phật giảng kinh Pháp Hoa có 5.000 người bỏ đi, vì họ có chủng tánh nhất định.

Hỏi:

Khi tu hành có những đường đi lối tẻ làm sao chúng con biết được để tránh?

Đáp:

Đường lối thực hành tham Tổ Sư thiền. Tôi nói 10 điều, nhưng chi tiết không thể nói hết được. Cho nên, nói có người lão tham để hướng dẫn người sơ tham. Nếu làm theo điều thứ nhất là “vô sở đắc, vô sở cầu, vô sở sợ” thì bảo đảm không lọt vào lối tẻ, nhưng 9 chữ này không dễ gì làm được. 

Phật giảng ma ngũ ấm chỉ là đại cương, chứ đâu chỉ có 50 thứ! Phật nói 84.000 là ước số, nếu phân tích ra rất nhiều. Kỳ thật, bản tâm không số lượng, có số lượng là do vọng tâm sanh ra.       

Chánh văn:

-Sao nói Thập Tập Nhân? 

-Một là Dâm Tập giao tiếp, phát nơi cọ xát lẫn nhau, cọ mãi không thôi, thế nên trong đó phát ra ngọn lửa hồng, như người dùng hai tay cọ xát, thì tướng ấm hiện tiền. Hai tập khí đốt nhau mới sanh những việc giường sắt, trụ đồng. Mười phương Như Lai xem sự hành dâm đồng như dục hỏa, Bồ Tát xem dục như hầm lửa phải tránh. 

-Hai là Tham Tập giao kế (so đo tham cầu) phát nơi thu hút lẫn nhau, hút mãi không thôi, thế nên chứa hơi lạnh bên trong thành băng giá, như người hít hơi gió vào miệng thì có cảm xúc lạnh. Hai tập khí lấn nhau, mới chịu những khổ của địa ngục hàn băng. Mười phương Như Lai xem việc tham cầu đồng như tham thủy, Bồ Tát xem tham như biển độc phải tránh. 

-Ba là Mạn Tập giao lăng (lấn ép nhau), phát nơi ỷ thế, lấn áp không thôi; thế nên có sự cãi vã tranh chấp, quậy nước thành sóng, như người tự liếm miệng lưỡi, chảy ra nước miếng. Hai tập khí chọi nhau, mới sanh những việc sông huyết, sông tro, cát nóng, biển độc, bắt uống nước đồng chảy v.v... Mười phương Như Lai xem sự ngã mạn như uống nước si, Bồ Tát xem ngã mạn như sự chìm đắm phải tránh. 

-Bốn là Sân Tập giao xung (xung đột nhau) phát nơi chống đối chống mãi không thôi, tâm nóng nảy phát lửa, đúc khí thành kim loại, thế nên có những việc đao sơn, kiếm thụ, rìu, búa, thương, cưa, như người bị hàm oan thì sát khí nổi lên. Hai tập khí đụng nhau, mới sanh những việc thiến, cắt, chém, chặt, dùi, đâm, đánh, đập, v.v... Mười phương Như Lai xem sự sân hận như dao gươm bén, Bồ Tát xem sân hận như chém giết phải tránh. 

-Năm là Trá Tập giao dụ (dụ dỗ nhau), phát nơi quyến rũ, lôi kéo chaúng thôi, thế nên có những việc dây, cây, thòng lọng, căng nọc, như nước thấm ruộng thì cỏ cây sanh trưởng. Hai tập khí kéo nhau mới sanh những việc gông, cùm, xiềng, xích, roi, gậy, đòn v.v... Mười phương Như Lai xem sự dối trá đồng như gian tặc, Bồ Tát xem dối trá như beo sói phải sợ. 

-Sáu là Cuồng tập giao khi (lừa gạt), phát nơi phỉnh gạt, gạt mãi không thôi, buông tâm gian dối, thế nên có đất bùn, đại tiểu tiện, các thứ ô uế, như bụi theo gió, chẳng có chỗ thấy. Hai tập khí dìm nhau, mới sanh những việc chìm đắm, nhảy, ném, bay, rơi, trôi lăn v.v... Mười phương Như Lai xem sự lừa gạt đồng như cướp giết, Bồ Tát xem sự lừa gạt, như giẫm rắn độc. 

-Bảy là Oán Tập giao hiềm (hiềm khích), phát nơi sân hận, thế nên có sự quăng đá, ném gạch, hộp nhốt, cũi nhốt, rọ nhốt, đãy bọc, như người hiểm độc ôm ấp điều dữ. Hai tập khí nuốt nhau, mới sanh những việc ném, quăng, nắm, bắt, đánh, bắn, tóm, siết v.v. Mười phương Như Lai xem sự thù oán, đồng như Quỷ Vi Hại, Bồ Tát xem thù oán như uống rượu độc. 

-Tám là Kiến Tập giao minh (kẻ thông minh ham kiến chấp), như năm thứ ác kiến và các nghiệp tà ngộ, vì kiến giải khác nhau nên chống trái lẫn nhau, ví như người lạ đi đường qua lại gặp nhau, cãi cọ thưa kiện, nên có các cấp quan lại, nắm giữ hồ sơ văn bản đối chứng. Hai tập khí giao xen, thế nên mới có Thiện Ác Đồng Tử tay cầm hồ sơ văn bản, điều tra bằng chứng cụ thể, khám hỏi, tra khảo, thẩm vấn v.v... 
Mười phương Như Lai xem những ác kiến đồng như hầm độc, Bồ Tát xem những kiến chấp hư vọng như vào hố độc. 

-Chín là Uổng Tập (vu vạ) giao xen, phát nơi vu khống phỉ báng; thế nên có hợp sơn, hợp thạch, cối nghiền, cối xay, như kẻ gièm pha vu oan người lương thiện. Hai tập khí bài xích lẫn nhau, mới sanh những việc áp giải, đè đập, ép huyết v.v. Mười phương Như Lai xem sự vu vạ đồng như cọp gièm pha, Bồ Tát xem sự vu vạ như bị sấm sét. 

-Mười là Tụng Tập giao thuyên (thưa kiện cãi vã), phát nơi che giấu tội lỗi; thế nên có gương soi, đuốc chiếu, như đứng giữa mặt trời, chẳng thể giấu bóng. Hai tập khí phô bày lẫn nhau mới sanh ra những việc ác hữu, nghiệp kính, chiếu soi, hỏa châu, phơi bày nghiệp xưa, đối nghiệm v.v... Mười phương Như Lai xem sự che giấu đồng như hiểm tặc, Bồ Tát xem sự che giấu như đội núi cao đi trên biển cả. 

Giảng giải:

Tập là tập khí, tức thói quen từ lâu đời làm nhân sanh ra nghiệp. Ở đây chia ra 10 thứ, kỳ thật có rất nhiều. Những cái kia là cá nhân thì sự hại ít hơn, kiến tập giao minh thì sự hại rất nhiều.

Kiến là kiến giải, có người chẳng thà chết, nhưng vẫn giữ kiến giải của mình cho là đúng. Chiến tranh tôn giáo thời xưa do kiến chấp mà sanh ra, làm tai hại biết bao nhiêu! Cho nên, tất cả kinh của Phật đều phá kiến chấp.

Hỏi:

Thiền sư làm tướng lãnh thì cái oán ra sao? 

Đáp:

Thiền sư không có oán hiềm, như ngài Lai Quả bị hiếp đáp, mà ngài còn lại đi xin lỗi. 

Đại úy Vệ ở Việt Nam, đang tắc chiến cho lính gặp địch không nổ súng; lúc đó mấy trăm người địch tới, nếu nổ súng thì ông và lính sẽ chết. Qua mấy năm, lính của ông không chết người nào, bạn bè của ông cùng đợt chết mất chỉ còn vài người. Cho nên, không tạo nhân thì không bị quả. 

Hỏi:

Coi ti vi thấy người bị tai nạn, làm cho mình chảy nước mắt, vậy đó là tưởng hay tình?

Đáp:

Đó là tưởng, nhưng có lộn với tình. Tưởng là suy nghĩ, lúc ấy suy nghĩ có cảm tình thương xót thì có thể nửa tưởng nửa tình. Nếu nói rốt ráo về bản tâm thì không có tình, tưởng gì hết. Tình tưởng là do sự chấp mới có. Cho nên, cuốn Truyền Tâm Pháp Yếu của ngài Hoàng Bá nói: Nếu mình không nổi lên một chút tình tưởng thì tâm mình trong sạch, vốn là Phật.

Hỏi:

Có một người tham thiền, nhưng có nhiều con cháu, lúc nào cũng lo cho con cháu, vậy tham thiền như thế nào?

Đáp:

Người ấy chưa tin tự tâm. Thập Tín bên Giáo môn thì đã tin tự tâm. Hoàng Bá nói trong Truyền Tâm Pháp Yếu: “Nếu không tin tự tâm thì tu cũng vô ích”. Bởi vậy, nghiệp cũ chưa hết mà nghiệp mới cứ tạo thêm, làm sao chấm dứt được! Phải ngưng nghiệp cũ, nghiệp mới không tạo nữa.

Chư Tổ dạy mình cứ giữ không hiểu không biết, tức là nghi tình của câu thoại đầu. Vì do tâm niệm mình mới biết, như thương con, thương chồng,... đều do tâm niệm biết. Nếu giữ được không hiểu không biết, làm sao còn biết thương chồng thương con! Vì giữ nghi tình không được tức là không có tham thiền. Nếu  có tu nhiều chỉ là niệm câu thoại mà thôi.

Hỏi:

Nếu giữ nghi tình thì làm việc hàng ngày không chạy việc, vì làm việc là dùng tâm biết. Việc ấy như thế nào?

Đáp: 

Lúc làm việc không tập tham thiền, tập tham thiền trong lúc không làm việc, công việc thuần thục thì lúc làm việc vẫn tham thiền được, vì tự động khởi lên hỏi câu thoại và khởi nghi tình. Rồi từ từ nghi tình thành khối trong ngày đêm 24 giờ.

 Nếu tham thiền một ngày nghi tình tiến thêm 20 giây, 3 ngày được 1 phút, 1 tháng được 10 phút, 6 tháng được nửa giờ, 1 năm được 1 giờ, 24 năm thì 24 giờ, tức là đến thoại đầu. Đến thoại đầu là sắp kiến tánh.

Tại mình không tích cực, lại nói không được. Lòng tin tự tâm chưa vững chắc, nên nói thì dễ, còn làm rất khó. Chư Tổ dạy: “Giữ nghi tình liên tục thì tự buông xả, nếu không giữ nghi tình, mà muốn buông xả thì buông xả không được”.

Hỏi:

Người lương thiện thì không ăn cắp, người không ăn cắp thì tự nhiên lương thiện, so sánh giữ thoại đầu như thế nào?

Đáp:

Không ăn cắp là do ăn cắp, rồi nói không ăn cắp, đó là trong đối đãi. Tự tánh không đối đãi thì không nói lấy hay buông, làm hay không làm. Vậy, xả là có lấy nên nói xả. Như kinh  Lăng Già nói: Vì có sừng trâu, nên nói sừng thỏ không  có. Vì vậy, khởi lên ý niệm gì đều là tâm trộm cắp. Nếu nói tôi giữ giới là tâm trộm cắp, tôi đi đúng lời Phật dạy là tâm trộm cắp. Vì ý niệm khởi lên khác với nghi tình, ngài Trung Phong nói tâm là tâm trộm cắp.

Hỏi:

Thọ giới Bồ Tát là cứu độ chúng sanh, việc ấy như thế nào?

Đáp:

Bồ Tát có Lục Độ và Tứ Nhiếp. Tứ nhiếp là bố thí dẫn đầu, nhưng khiến họ vào trí huệ Phật. Không độ họ được và ngược lại họ độ những người ấy ra thế tục, tức là tùy thuận theo ý kiến họ mà nhận sự cúng dường. Như họ muốn cúng sao thì mình chìu theo họ cúng sao là phá hoại nhân quả. Phật dạy mọi người đều phải tin nhân quả, nếu cúng sao được thì không còn nhân quả là phá hoại Phật pháp.

Hỏi:

Lễ cầu siêu là phát xuất từ đâu?

Đáp:

Lễ cầu siêu là xuất phát từ tôn giả Mục Kiền Liên cứu mẹ. Tự mình dùng thần thông cứu mẹ không được, rồi thưa với Phật. Phật dạy: Vào ngày rằm tháng 7 cúng dường trai Tăng, nhờ tâm lực 1.250 Tỳ Kheo 

A La Hán hợp lại ảnh hưởng tâm của bà Thanh Đề (mẹ của Mục Kiền Liên) được sửa đổi, ra khỏi cảnh ngạ quỷ.

Hỏi:

Thế nào còn thấy người thuyết pháp và thấy mình nghe pháp là chưa tin tự tâm?

Đáp:

Vì có ta, như còn có ta thuyết pháp, các vị là người nghe ta thuyết pháp. Các vị không biết, ta thì biết, đó là ngã chấp. Phật pháp trước tiên phải phá ngã chấp.

Người thuyết pháp phải hiểu nguồn gốc Phật pháp là trước tiên phải phá ngã chấp, nên chư Phật chư Tổ dạy phải phát tâm vô sở đắc (phát tâm Bồ Đề). Cuối cùng chứng quả Phật cũng là vô sở đắc. Vì Phật tánh vốn sẵn có thì đâu cần đắc gì nữa! Cho nên nói: “Không dùng Phật để đắc Phật, dùng pháp để đắc pháp”. Tức là hiện ra bản tâm của mình gọi là kiến tánh.

Tỳ Kheo ở trong thất chúng (Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Thức Xoa, Sa Di, Sa Di Ni, là 5 chúng xuất gia, còn Ưu Bà Tắc và Ưu Bà Di là 2 chúng tại gia). Thất chúng gọi là Tăng già, Tăng già là một Tăng đoàn, tức là hòa hợp chúng. Tỳ Kheo và người thuyết pháp phải biết mới dạy người ta được, nếu không biết mà lại đổ thừa: “Tại tôi không biết”. Vậy làm sao được! 

Kinh Lăng Già nói: “Vì nhân đối đãi, có con nên mới gọi cha, có cha nên mới gọi là con”. Cha phải có bổn phận của cha, con cũng có bổn phận của con. Nếu cha bỏ bổn phận thì sao làm cha được! Làm chức vụ gì trong xã hội phải có bổn phận chức vụ đó. Nếu làm Tỳ Kheo mà không có bổn phận Tỳ Kheo thì sao được!

Hỏi:

Xin thầy giải thích ý nghĩa Thức Xoa?

Đáp:

Thức Xoa ban đầu không có. Tỳ Kheo Ni ở Ấn Độ, trước kia có chồng mang thai tự mình không biết; khi xuất gia thọ giới Tỳ Kheo Ni, bụng lớn rồi sanh con; những người ở ngoài xã hội phê bình: “Tỳ kheo Ni còn sanh con”. 

Cho nên, Phật phải chế thêm một cấp nữa, là phải qua Thức Xoa 2 năm; kỳ thật đủ 12 tháng và thêm 1 ngày, có thai hay không thì biết. Nếu không có thai mới cho thọ Tỳ Kheo Ni, việc ấy đã có người như vậy. Thức Xoa nghĩa là hợp pháp của Tỳ Kheo Ni, nhưng chưa thọ giới của Tỳ Kheo Ni.

Hỏi:

Trường hợp cô họ Tô kiến tánh thì thế nào?

Đáp:

Ông nội của cô họ Tô là thừa tướng Tô Công Tụng, ở đời nhà Tống, chưa xuất gia mà đã kiến tánh. Sau này xuất gia là Thiền sư Diệu Tổng, vì kiến tánh nên tỉnh trưởng mời làm trụ trì một Tòng Lâm (Truyền Đăng Lục). 

Tỳ Kheo Ni chưa kiến tánh đảnh lễ Tỳ Kheo, Tỳ Kheo không đảnh lễ Tỳ Kheo Ni; đến chừng Tỳ Kheo Ni kiến tánh thì Tỳ Kheo đảnh lễ. Nếu mình có tu thì giống Bát Nhã vẫn còn, tăng thêm chứ không giảm bớt, tự nhiên âm thầm dần dần sửa đổi tập khí.

Hỏi:

Phật độ chúng sanh phải có nhân duyên, vậy ép họ tu để làm gì?

Đáp:

Người ta tự phát tâm tu chưa chắc thành tựu, huống là bị ép! Có ngoại đạo tà ma mới ép người tu, ép người ta thờ.
 
 
 

ML
01
02
03
04
05
06
07
08
09
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20

Liên Hệ:
Kinh Thủ Lăng Nghiêm Tông Thông, HT. Nhẫn Tế
Kinh Thủ Lăng Nghiêm, HT. Thích Duy Lực
Tổng Luận Kinh Lă ng Nghiêm Trưc Chỉ, HT. Thích Thiện Siêu
Pháp Tu Lăng Nghiêm Ðại Ðịnh, HT. Thích Huệ Hưng
Phép Tu Lăng Nghiêm Ðại Ðịnh

 
c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap