THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học   Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn  Index Tác-Giả

 
 
 
 
 
c
GIẢNG KINH LĂNG NGHIÊM
Hoà Thượng Thích Duy Lực
Thích Đồng Thường Lập Thành Văn Tự
ML
01
02
03
04
05
06
07
08
09
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
 
Chánh văn:

-Nhược dĩ Phong tánh quán,
(Nếu quán theo tánh Phong),  
Động tịch phi vô đối, 
(Động tịch là đối đãi),  
Đối phi vô thượng giác, 
(Chẳng phải vô thượng giác),  
Vân hà hoạch viên thông? 
(Làm sao được viên thông?) 
-Nhược dĩ Không tánh quán, 
(Nếu quán theo tánh Không),  
Hỗn độn tiên phi giác, 
(Ngoan không chẳng phải giác),  
Vô giác dị Bồ Đề, 
(Chẳng giác nghịch Bồ Đề),  
Vân hà hoạch viên thông? 
(Làm sao được viên thông?) 
-Nhược dĩ Thức tánh quán,
(Nếu quán theo tánh Thức),  
Quán thức phi thường trụ, 
(Sanh diệt chẳng thường trụ),  
Tồn tâm mãi hư vọng, 
(Trạm nhiên vẫn hư vọng),  
Vân hà hoạch viên thông? 
(Làm sao được viên thông?) 
-Chư hạnh thị vô thường, 
(Các hạnh là vô thường),  
Niệm tánh nguyên sanh diệt, 
(Tánh niệm vốn sanh diệt),  
Nhân quả kim thù cảm, 
(Nhân với quả khác nhau),  
Vân hà hoạch viên thông? 
(Làm sao được viên thông?)
- Ngã kim bạch Thế Tôn, 
(Nay con bạch Thế Tôn),  
Phật xuất Ta Bà giới, 
(Phật hiện cõi Ta Bà),  
Thử phương chơn giáo thể, 
(Giáo thể ở cõi này),  
Thanh tịnh tại âm văn, 
(Âm văn trong sạch nhất),  
Dục thủ Tam Ma Đề, 
(Muốn đắc Tam Ma địa),  
Thiệt dĩ Văn trung nhập, 
(Nên từ Văn mà vào), 
Ly khổ đắc giải thoát, 
(Lành thay Quán Thế Âm), 
Lương tai Quán Thế Âm, 
(Lìa khổ được giải thoát), 
Ư hằng sa kiếp trung, 
(Trải qua hằng sa kiếp), 
Nhập vi trần Phật quốc, 
(Vào vô số cõi Phật), 
Đắc đại tự tại lực, 
(Dùng sức đại tự tại), 
Vô úy thí chúng sanh, 
(Thí chúng sanh vô úy), 
Diệu âm Quán Thế Âm, 
(Diệu âm Quán Thế Âm), 
Phạn âm hải triều âm, 
(Phạn âm hải triều âm), 
Cứu thế tất an ninh, 
(Cứu thế đều an lành), 
Xuất thế hoạch thường trụ. 
(Xuất thế được thường trụ). 
-Ngã kim khải Như Lai, 
(Nay xin bạch Như Lai),  
Như Quán Âm sở thuyết, 
(Theo lời Quán Âm nói), 
Thí như nhân định cư, 
(Như người đang yên tịnh),  
Thập phương cụ kích cổ, 
(Mười phương đồng đánh trống),  
Thập xứ nhất thời văn, 
(Mười chỗ nghe một lượt), 
Thử tắc viên chơn thật. 
(Là viên thông chơn thật). 
-Mục phi quán chướng ngại, 
(Mắt chẳng thấu chướng ngại),  
Khẩu tỷ diệc phục nhiên, 
(Miệng mũi cũng như thế),  
Thân dĩ hiệp phương tri, 
(Thân xúc hợp mới biết), 
Tâm niệm phân vô tự. 
(Tâm niệm thì lăng xăng). 
Cách viên thính âm hưởng, 
(Cách tường nghe âm vang), 
Hà nhĩ câu khả văn, 
(Xa gần đều nghe được), 
Ngũ căn sở bất tề, 
(Ngũ căn chẳng thể bằng), 
Thị tắc thông chơn thật. 
(Là viên thông chơn thật). 

Giảng giải: 
 
Nếu quán theo tánh phong,
Động tịnh là đối đãi.
Chẳng phải vô thượng giác,
Làm sao được viên thông?

Phong là gió, gió thì có động, hết gió thì lại tịnh. Động tịnh là tương đối, nếu có tương đối thì không phải vô thượng giác. Vô thượng giác không có tương đối, tức là tuyệt đối. Nếu có tương đối, làm sao được viên thông?

Nếu quán theo tánh không,
Ngoan không chẳng phải giác.
Chẳng giác nghịch Bồ Đề,
Làm sao được viên thông?

Nếu quán hư không, hư không là ngoan không chẳng có tri giác; nếu chẳng có tri giác thì không phải Bồ Đề, tức là nghịch với Bồ Đề. Vậy làm sao được viên thông?

Nếu quán theo tánh thức,
Sanh diệt chẳng thường trụ.
Trạm nhiên vẫn hư vọng,
Làm sao được viên thông?

Thức là phân biệt, nếu quán theo tánh thức, thức là biết cái sanh diệt; nhưng sanh diệt chẳng thường trụ, có khi sanh có khi diệt thay phiên lẫn nhau. Mặc dầu, trạm nhiên không lay động, nhưng vẫn là hư vọng. Thức như nước trong lặng, nhưng không phải thường trụ.

Nước vốn trong lặng, vì bỏ đất cát vô thì thành nước đục. Nếu để cho đất chìm xuống thì nước trong lặng, nhưng ở dưới đáy vẫn còn đất cát. Khi lay động nó trở thành nước đục, nên nói chẳng thường trụ. Phải bỏ đất cát, chỉ còn lại nước trong, tức là phải luyện thức thành trí mới được. Nếu chỉ quán theo tánh thức thì sanh diệt chẳng thường trụ. Dù đến trạm nhiên cũng là hư vọng. Nên nói không được viên thông.

Các hạnh là vô thường,
Tánh niệm vốn sanh diệt.
Nhân với quả khác nhau,
Làm sao được viên thông?

Ngũ uẩn: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Hành là thay đổi biến hóa, như mặt mũi đang thay đổi từng sát na, do mình không biết; nhưng cách thời gian dung mạo mặt mũi thay đổi khác, nó hay biến đổi gọi là vô thường.

Tánh niệm vốn trong sạch: Tâm niệm của mình cũng là cái hạnh. Niệm giây thứ nhất diệt thì niệm giây thứ hai nổi lên, niệm giây thứ hai diệt thì niệm giây thứ ba nổi lên. Mỗi niệm đều sanh diệt, tại mình không biết, tưởng có một cái niệm. Nhưng sự thật tâm niệm mình sanh diệt rất mau. Trong kinh thí dụ: “Tâm niệm sanh diệt nhanh như dòng suối chảy gấp, nhìn thấy như không chảy”.
Nhân với quả đồng nhau, vì mình cho là một niệm; nhưng sự thật muôn ngàn niệm sanh diệt hoài, tối ngày sáng đêm niệm khởi niệm diệt mình không biết. Như các tế bào thay đổi mà mình không biết, tức là đang hành gọi là hành uẩn. Nhân với quả khác nhau, liên tiếp chứ không phải một. Cho nên, không được viên thông.

Nay con bạch Thế Tôn,
Phật hiện cõi Ta Bà.
Giáo thể ở cõi này,
Âm văn trong sạch nhất.

Cõi Ta Bà thì dùng âm thanh, tức là lựa phản văn (âm thanh) để tu dễ nhất. Cho nên, dùng âm văn trong sạch nhất, dễ đạt đến viên thông.
 
Muốn đắc tam ma địa,
Nên từ văn mà vào.

Tức là học Quán Thế Âm, trên nói ban đầu nghe động, sau này bỏ động nghe tịnh, kế đến động tịnh đều bỏ. Cứ từ từ mà vào thì cuối cùng mới được viên thông. Cho nên, Văn Thù tán thán.
 
Lành thay Quán Thế Âm,
Trải qua hằng sa kiếp,
Vào vô số cõi Phật.
Dùng sức đại tự tại,
Thí chúng sanh vô úy.

Đại tự tại thì không dùng sức là tự động, nếu dùng sức thì không tự động. Để hình dung sức đại tự tại tức là không có sức gì cả, gọi là vô tác diệu lực, để bố thí cho chúng sanh được vô úy (không sợ hải).
 
Diệu âm Quán Thế Âm
Phạn âm hải triều âm.
Cứu thế đều an lành,
Xuất thế được thường trụ.

Do diệu lực tự tại của Quán Thế Âm độ chúng sanh, như hải triều âm là tiếng của biển ngày đêm kêu ồ ồ liên tục không dứt, ấy gọi là hải triều âm; để thí dụ cái âm của tâm mình như hải triều âm. Mặc dầu, nó không có âm, nên mới dùng hải triều âm để ví dụ không bao giờ ngừng. Dùng để cứu chúng sanh nhưng không có dùng, cứu chúng sanh được an lành, xuất thế được thường trụ. Nếu được giác ngộ thì được thường trụ.

Nay xin bạch Như Lai,
Theo lời Quan Âm nói.
Như người đang yên tịnh,
Mười phương đồng đánh trống.
Mười chỗ nghe một lượt,
Là viên thông chân thật.

Mình dùng tánh văn để tu, trong này có thí dụ mười phương đồng đánh trống, mình đồng thời nghe đủ mười phương, nghe cùng một lượt, không có trước có sau, không thiếu phương nào cả; tức là khắp hư không, cũng là viên thông chân thật. 

Cho nên, Văn Thù nói cách tu của Quán Thế Âm là thích hợp cho người cõi Ta Bà để tu, ngài Hư Vân nói: “Phản văn văn tự tánh của Quán Thế Âm là tham Tổ Sư thiền”. Chiếu cố thoại đầu tức phản văn văn tự tánh là viên thông chơn thật.

Mắt chẳng thấu chướng ngại,
Miệng mũi cũng như thế.
Thân xúc hợp mới biết, 
Tâm niệm thì lăng xăng. 
Cách tường nghe âm vang,
Xa gần đều nghe được.
Ngũ căn chẳng thể bằng,
Là viên thông chơn thật.

Con mắt cách vách tường không thể thấy được, gọi là mắt chẳng thấu chướng ngại. Miệng mũi cũng như thế. Miệng ăn, lưỡi tiếp xúc đồ ăn mới biết vị ngọt vị đắng. Thân xúc hợp mới biết, ly thì không biết. Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân không bằng cái nghe. 

Cái nghe cách tường vẫn nghe, con mắt không thấu được; ở ngoài người ta lớn tiếng, mình ở trong này vẫn nghe được, không bị vách tường làm chướng ngại, xa gần đều nghe được. Ngũ căn (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân) không thể bằng nhĩ căn (tánh nghe), cho nên, chọn nhĩ căn để tu là viên thông nhất.

Hỏi:

Ăn chay có thể ăn nhung được không?

Đáp:

Đến mùa người ta ăn nhung, các thầy thuốc khác thu tiền vô, hơn làm cả một năm. Tôi ở Cà Mau làm thầy thuốc, những người tôi trị hết bệnh, hỏi tôi có cần ăn nhung không? Tôi nói: Không. Vì có liên quan sát sanh, uống sâm thì được. Tôi làm như vậy, các ông chủ tiệm thuốc bắc không vui lòng. Nhưng lập trường của tôi là vậy. Chứ bảo người ta sát sanh mà mình được tiền, nhưng có nhân quả thì tôi không làm.

Tôi thường nói: Uống sữa bò, uống mật ong và ăn trứng gà. Có người không ăn trứng gà, mà uống mật và uống sữa bò. Theo thực tế ăn trứng gà không có trống (không sanh mạng), mình ăn có nhân quả ít hơn uống sữa bò và uống mật ong. 

Tại sao? Vì uống mật ong là dành lương thực của con ong. Uống sữa bò là dành lương thực của bò con. Còn trứng gà không có trống giống như phân của con gà, mình ăn không có nhân quả gì hết. 
Phật có dùng mật ong và sữa bò, người ta cho là được. Ở Trung Quốc, nhà nào cũng nuôi gà thả ăn tự do, khó biết được trứng có trống hay không trống; lý do này, người ta tránh sát sanh nên không ăn trứng gà. Nhưng tôi có cách biết được, là lấy trứng gà đưa trước ánh đèn, nếu nhìn thấy trứng gà có lằn chỉ đen là trứng gà có trống, còn không thấy gì hết thì trứng gà không trống.

Chánh văn:

-Âm thanh tánh động tịnh, 
(Âm thanh có động tịnh),  
Văn trung vi hữu vô, 
(Nơi nghe thành có không),  
Vô thanh hiệu vô văn, 
(Tiếng dứt gọi chẳng nghe),  
Phi thật văn vô tánh. 
(Đâu phải dứt tánh nghe).  
Thanh vô ký vô diệt, 
(Chẳng tiếng, nghe chẳng diệt),  
Thanh hữu diệc phi sanh. 
(Có tiếng, nghe chẳng sanh).  
Sanh diệt nhị vieãn ly, 
(Sanh diệt thảy đều lìa),  
Thị tắc thường chơn thật, 
(Ấy là thường chơn thật),  
Túng linh tại mộng tưởng, 
(Dẫu lúc đang nằm mơ),  
Bất vi bất tư vô, 
(Không tưởng nghe vẫn còn),  
Giác quán xuất tư duy, 
(Giác quán vượt suy tư),  
Thân tâm bất năng cập. 
(Thân tâm chẳng thể đến). 
Kim thử Ta Bà Quốc, 
(Nay cõi Ta Bà này), 
Thanh luận đắc tuyên minh. 
(Thanh giáo được giảng rõ).  
Chúng sanh mê bổn văn, 
(Chúng sanh mê Bản Văn),  
Tuần thanh cố lưu chuyển, 
(Đuổi theo tiếng lưu chuyển),  
A Nan túng cường ký, 
(A Nan dù nhớ hay),  
Bất miễn lạc tà tư. 
(Chẳng khỏi kẹt tà tưởng). 
Khởi phi tùy sở luân, 
(Theo vật bị chìm đắm), 
Triền lưu hoạch vô vọng, 
(Phản văn được lìa vọng), 
A Nan ngữ đế thính, 
(A Nan hãy lắng nghe), 
Ngã thừa Phật oai lực, 
(Ta thừa oai thần Phật), 
Tuyên thuyết Kim Cang Vương, 
(Khai giảng pháp Kim Cang), 
Như huyễn bất tư nghì, 
(Chánh định sanh chư Phật), 
Phật mẫu chơn tam muội. 
(Như huyễn bất tư nghì).  
-Ngữ văn vi trần Phật, 
(Ngươi nghe vô số Phật),  
Nhất thiết bí mật môn. 
(Tất cả pháp bí mật). 
Dục lậu bất tiên trừ, 
(Nếu chẳng trừ dục lậu), 
Súc văn thành quá ngộ, 
(Chấp nghe thành lỗi lầm), 
Tương văn trì Phật Phật, 
(Dùng nghe, chấp lời Phật), 
Hà bất tự văn văn? 
(Đâu bằng nghe bản văn?) 
-Văn phi tự nhiên sanh, 
(Nghe chẳng tự nhiên sanh),  
Nhân thanh hữu danh tự, 
(Do tiếng có tên "nghe"),  
Triền văn dữ thanh thoát, 
(Xoay nghe thoát khỏi tiếng),  
Năng thoát dục thùy danh? 
(Đặt tên "nghe" cho ai?) 
-Nhất căn ký phản nguyên, 
(Nhất căn trở về cội),  
Lục căn thành giải thoát, 
(Lục căn thành giải thoát),  
Kiến văn như huyễn ế, 
(Kiến văn như bệnh nhặm),  
Tam giới nhược không hoa. 
(Tam giới như hoa đốm).  
Văn phục ế căn trừ, 
(Phản văn bệnh nhặm trừ),  
Trần tiêu giác viên tịnh, 
(Trần tiêu, giác trong sạch),  
Tịnh cực quang thông đạt, 
(Cực trong sáng thông suốt),  
Tịch chiếu hàm hư không. 
(Chiếu soi khắp hư không).  
Khước lai quán thế gian, 
(Trở lại xem thế gian),  
Do như mộng trung sự. 
(Đều như việc trong mộng).  
Ma Đăng Già tại mộng, 
(Ma Đăng Già trong mộng),  
Thùy năng lưu nhữ hình! 
(Sao nhiếp được thân ngươi!) 
-Như thế xảo huyễn sư, 
(Như người khéo huyễn thuật),  
Huyễn tác chư nam nữ, 
(Làm ra hình nam nữ),  
Tuy kiến chư căn động, 
(Dù thấy lục căn động),  
Yếu dĩ nhất cơ trừu. 
(Do sợi dây điều khiển)  
Tức cơ quy tịch nhiên, 
(Vì huyễn vốn chẳng tánh),  
Chư huyễn thành vô tánh. 
(Dây ngưng thành vắng lặng).  
Lục căn diệc như thị, 
(Lục căn cũng như vậy),  
Nguyên y nhất tinh minh, 
(Dựa nhất tâm sáng tỏ),  
Phân thành lục hòa hiệp, 
(Chia thành lục hòa hợp),  
Nhất xứ thành hưu phục. 
(Nhất căn đã về cội).  
Lục dụng giai bất thành. 
(Lục dụng đều chẳng thành).  
Trần cấu ứng niệm tiêu, 
(Trần cấu ngay đó tiêu),  
Thành viên minh tịnh diệu. 
(Thành sáng tỏ trong sạch).  
Dư trần thượng chư học, 
(Ngôi học còn dính bụi), (7) 
Minh cực tức Như Lai. 
(Cực sáng tức Như Lai). 
-Đại chúng cập A Nan, 
(Đại chúng và A Nan),  
Triền nhữ đảo văn cơ. 
(Xoay cái văn điên đảo). 
Phản văn văn tự tánh, 
(Phản văn bản tánh văn), (8) 
Tánh thành vô thượng đạo, 
(Mới thành vô thượng đạo), 
Viên thông thật như thị. 
(Viên thông thật như thế). 
-Thử thị vi trần Phật, 
(Đây là vô số Phật),  
Nhất lộ Niết Bàn môn. 
(Một cửa vào Niết Bàn).  
Quá khứ chư Như Lai, 
(Quá khứ chư Như Lai),  
Tư môn dĩ thành tựu, 
(Do cửa này thành tựu),  
Hiện tại chư Bồ Tát. 
(Hiện tại chư Bồ Tát). 
Kim các nhập viên minh, 
(Mỗi mỗi vào diệu minh), 
Vị lai tu học nhân, 
(Người tu học vị lai), 
Đương y như thị pháp. 
(Nên y theo pháp này). 
Ngã diệc tùng trung chứng, 
(Chẳng những Quán Thế Âm), 
Phi duy Quán Thế Âm, 
(Ta chứng cũng cửa này), 
-Thành như Phật Thế Tôn, 
(Đúng như lời Thế Tôn),  
Tuân ngã chư phương tiện, 
(Hỏi về các phương tiện),  
Dĩ cứu chư mạt kiếp, 
(Để cứu độ mạt kiếp),  
Cầu xuất thế gian nhân, 
(Người cầu pháp xuất thế),  
Thành tựu Niết Bàn tâm, 
(Thành tựu tâm Niết Bàn), 
Quán Thế Âm vi tối. 
(Quán Thế Âm hơn cả). 
-Tự dư chư phương tiện, 
(Ngoài ra phương tiện khác), 
Giai thị Phật oai thần, 
(Đều là oai thần Phật),  
Tức sự xả trần lao, 
(Sâu cạn tùy cơ thuyết),  
Phi thị thường tu học, 
(Khiến xả bỏ trần lao). 
Thiển thâm đồng thuyết pháp. 
(Chẳng phải lối tu chánh). 
-Đảnh lễ Như Lai tạng. 
(Đảnh lễ Như Lai tạng), 
Vô lậu bất tư nghì, 
(Vô lậu bất tư nghì),  
Nguyện gia bị vị lai, 
(Nguyện giúp đỡ đời sau),  
Ư thử môn vô hoặc, 
(Chẳng lầm nơi cửa này),  
Phương tiện dị thành tựu, 
(Phương tiện dễ thành tựu),  
Khâm dĩ giáo A Nan, 
(Để dạy cho A Nan),  
Cặp mạt kiếp trầm luân, 
(Và chúng sanh mạt kiếp),  
Đản dĩ thử căn tu, 
(Cứ theo căn này tu),  
Viên thông siêu dư giả, 
(Viên thông hơn pháp khác),  
Chơn thật tâm như thị. 
(Thế là tâm chơn thật). 

Giảng giải:

Âm thanh có động tịnh,
Nơi nghe thành có không.
Tiếng dứt gọi chẳng nghe,
Đâu phải dứt tánh nghe.

Tiếng và nghe khác nhau; tiếng dứt nói chẳng nghe, chẳng nghe thì không có tánh. Tánh nghe không sanh diệt, tiếng (âm thanh) có sanh diệt; tức có âm thanh là động, không có âm là tịnh. Nếu không có tánh nghe để nghe tịnh, làm sao biết lúc đó là tịnh? 

Cho nên, tiếng dứt là tịnh, không phải không nghe, vì vẫn còn nghe nên mới biết tịnh, đâu phải dứt tánh nghe! Nếu tánh nghe dứt làm sao biết tịnh? Tánh nghe không dứt, nếu thân này chết, tánh nghe vẫn còn; nó tồn tại vĩnh viễn, cũng như tánh thấy vậy.

Chẳng tiếng nghe chẳng diệt,
Có tiếng nghe chẳng sanh.

Không tiếng nghe vẫn còn, không phải diệt; mà có tiếng, cái nghe không phải mới sanh! Tánh nghe thì vô thỉ vô chung, vĩnh viễn tồn tại. Không phải có tiếng, tánh nghe mới sanh, không tiếng mà tánh nghe lại diệt!

Sanh diệt thảy đều lìa,

Ấy là thường chơn thật.

Tánh nghe tánh thấy lìa sanh diệt, thường chơn thật thì không có sanh diệt, tồn tại vĩnh viễn, nhưng người ta không tin. Thân có lay động, nên biến đổi thì chết mất, không được chơn thật. 

Dẫu lúc đang nằm mơ,
Không tưởng, nghe vẫn còn.

Mình đang nằm mơ không suy nghĩ, nhưng tánh nghe vẫn còn.

Giác quán vượt suy tư.
Thân tâm chẳng thể đến.

Dùng bộ óc để suy nghĩ, chính suy nghĩ này làm chướng ngại tự tánh của mình. Nhà khoa bắt chước bộ ghi nhớ tinh vi của bộ óc, tạo ra cái máy điện toán. Cái ghi nhớ đó rất hay, không nhớ lộn không quên. Chính người làm ra cái máy đó hay nhớ lộn hay quên. 

Mình giao cho nó nhớ cái gì thì nhớ mãi, không quên không lộn. Đến chừng mình hỏi thì nó trả lời liền. Như mình đem chín con số nhân với chín con số, ra đáp án rất lâu. Giao đáp án cho nó ghi nhớ, khi nào cần thì nó chỉ ra đáp án liền. Bây giờ 300 triệu dân Mỹ, nó không nhớ lộn.

Người tạo ra tại sao nhớ lộn? Vì có bộ phận suy nghĩ làm ảnh hưởng, gọi là giác quán vượt suy tư. Cái này mình phải có tu mới làm được. Nhưng cái máy thì làm được, vì không có bộ phận suy tư, chỉ có bộ phận ghi nhớ.

 Nếu đã vượt ra ngoài suy tư, thì chỗ đó thân tâm chẳng thể đến. Chỗ đó là bản tâm bản tánh của mình, vì không hình tướng số lượng; nên thân tâm không thể đến, phải có số lượng mới suy tư. Giác quán vượt ra ngoài suy tư, chỉ có người tu tự ngộ tự chứng làm được.

Hỏi:

Nói tánh thấy tánh nghe: “Thường nghe như chưa nghe, thường thấy khi chưa thấy”. Câu này người ta khó hiểu, xin thầy giải thích?

Đáp:

Có tiếng cho là động, không tiếng cho là tịnh, đó là sanh diệt của âm thanh; động là âm thanh sanh, tịnh là âm thanh diệt. Còn tánh nghe: Khi chưa nghe vẫn có tánh nghe, động cũng đang nghe, tịnh vẫn đang nghe. Dẫu cho không động tịnh, nó vẫn đang nghe, luôn luôn nghe, không bắt đầu và cuối cùng, vì khắp thời gian. Cho nên, Thiền tông nói tánh nghe: Thường nghe khi chưa nghe.

Chưa nghe là tác dụng của bộ óc, thuộc về suy tư, còn cái kia không phải suy tư. Nếu vượt ra ngoài suy tư thì suy tư không có, nên không dính dáng với suy tư. Chỗ đó là bản tâm của mình, muốn hiện bản tâm thì phải tu đến kiến tánh mới hiện lên được.

Thường thấy khi chưa thấy, thường nghe khi chưa nghe, là hiển bày tánh thấy tánh nghe luôn luôn sẵn có, không bao giờ có gián đoạn và không có sự bắt đầu.

Sự thật lý tuần hoàn không bắt đầu và cuối cùng. Dùng kính hiển vi để xem cái bàn cái tách thì thấy mỗi hạt nguyên tử đang xoay. Sự xoay không bắt đầu và cuối cùng, bất cứ giờ nào nó cũng đang xoay. Nếu dùng kính hiển vi ai cũng thấy được.

Mặt trăng đang xoay xung quanh quả đất, quả đất đang xoay xung quanh mặt trời không bao giờ ngưng. Theo nhà khoa học nói: “Cứ 1 giờ thì quả đất xoay 180.000 cây số”. Hiện giờ chúng ta ngồi đây, như ngồi trên chiếc phi thuyền đang bay, mà mình không hay biết. 

Dù mình không hay biết, nhưng nó cũng đang bay; nếu nói theo quả đất để diễn tả là: “Quả đất thường bay khi chưa bay”. Như vậy, tánh nghe thì: “Thường nghe khi chưa nghe”. Tánh thấy thì: “Thường thấy khi chưa thấy”.

Bắt đầu và cuối cùng là do bộ óc nhận thức sai lầm, cho là có bắt đầu cuối cùng. Phật đã nói trắng ra, không bắt đầu và cuối cùng. Cho nên, người chứng quả là ngộ pháp vô sanh. Nếu có sanh thì phải có bắt đầu, nhưng sự thật vốn không bắt đầu. Vũ trụ vạn vật không cái nào có bắt đầu, tại không có lý do bắt đầu. 

Nhưng tánh chấp con người, phải tìm ra sự bắt đầu mới được. Như nhà khoa học, triết học muốn tìm bắt đầu của con người và vũ trụ. Nếu theo lập trường của Phật gọi là si mê. Không bắt đầu mà tìm bắt đầu 
làm sao được? Cho nên nói: Thân tâm chẳng thể đến.

Nay cõi Ta Bà này,
Thanh giáo được giảng rõ.
Chúng sanh mê bản văn,
Đuổi theo tiếng lưu chuyển.

Vì mình có tư tưởng chấp thật, đuổi theo tiếng và âm thanh ở cõi Ta Bà. Bản văn là tánh nghe, mình bị mê hoặc, không chịu nhìn nhận tánh nghe của mình là không sanh diệt. Cứ đuổi theo tiếng và âm thanh, có tiếng nói là nghe, không tiếng nói không nghe. Đó không đúng với thật tế. Không tiếng tánh văn vẫn nghe, chứ không phải không nghe. Vì mê bản văn mới đuổi theo tiếng, nên bị âm thanh lừa gạt. 

Phật đã nói rõ chỗ này.
A Nan dù nhớ hay,
Chẳng khỏi kẹt tà tưởng.
Theo vật bị chìm đắm,
Phản văn được lìa vọng.

Vì đuổi theo cảnh thì cảnh làm chướng ngại, nên bị kẹt nơi suy nghĩ (tưởng). Như ông nói nghiệp chướng nặng, do ông suy nghĩ cái sở suy nghĩ. Sự thật tâm không suy nghĩ thì không có nghiệp chướng (sở suy nghĩ). Cho nên, ở đây nói chẳng khỏi kẹt tà tưởng, theo vật bị chìm đắm; tại đuổi theo vật, nên phải chìm đắm trong lục đạo luân hồi.

A Nan hãy lắng nghe,
Ta thừa oai thần Phật.
Khai giảng pháp kim cang,
Chánh định sanh chư Phật.

Văn Thù Bồ Tát nói A Nan phải chú ý nghe: Ta thừa oai thần của Phật, khai giảng pháp kim cang tức là pháp không hư hoại. Nên lấy kim cang để ví dụ cái pháp. Người nào giác ngộ thành Phật thì sẵn có chánh định. Nên nói chánh định sanh chư Phật, vì tới chánh định mới đến địa vị Phật.

Như huyễn bất tư nghì.

Lục căn tiếp xúc lục trần đều là huyễn, nhưng là trong chiêm bao; nên như huyễn không phải huyễn, vì mình chấp thật mới thành huyễn. Chỗ này trong kinh Lăng Già giải thích rất rõ ràng.

Ngươi nghe vô số Phật,
Tất cả pháp bí mật.
Nếu chẳng trừ  dục lậu,
Chấp nghe thành lỗi lầm.

Vô số Phật thuyết pháp là không có pháp để thuyết. Vì vốn là không có pháp, tại có tâm chấp của chúng sanh đã có bệnh giả, thì Phật mới dùng thuốc giả để đối trị bệnh giả của chúng sanh. Cho nên, vô số Phật thuyết pháp bất khả tư nghì, nhưng cũng như huyễn; không phải thật, gọi là như huyễn bất tư nghì. Pháp bí mật mà tai mắt tiếp xúc không được cho là bí mật, sự thật không có bí mật.

Lậu là tập khí phiền não, dục là sự ham thích; mắt thích sắc đẹp, tai ham nghe khen ngợi, mũi muốn ngửi mùi thơm, lưỡi ưa ăn đồ ngon. Do chấp các cảnh vật cho là thật, nếu không trừ dục lậu, chấp nghe thành lỗi lầm. Chấp nghe thì không nghe động phải nghe tịnh. Cho nên, phản văn không phải nghe động tịnh.

Dùng nghe giữ lời Phật.
Đâu bằng nghe bản văn? 
(Nghe bằng tánh nghe).
Nghe chẳng tự nhiên sanh,
Do tiếng có tên “nghe”.
Xoay nghe thoát khỏi tiếng.
Đặt tên nghe cho ai?

Những người giảng kinh Lăng Nghiêm và nghiên cứu kinh Lăng Nghiêm cho phản văn là trở về nghe tịnh, không nghe động là nghe tự tánh, ấy là sai lầm. Tại sao? Trong này nói: “Nghe chẳng tự nhiên sanh, do tiếng có tên nghe”. Phản văn là xoay cái nghe lìa khỏi tiếng, đã lìa khỏi tiếng thì đặt tên nghe cho ai? Cho nên, phản văn không cần nghe. 

Tánh thấy tánh nghe nghe không lay động, mà không nói là thấy là nghe là cái gì! Vì đã lìa âm thanh là không động tịnh thì đâu cần nghe nữa! Nên nói: “Thường nghe khi chưa nghe”. Nếu nghe thì phải nghe động, nghe tịnh. Vậy, lìa khỏi tiếng không cần chữ “nghe”, còn đặt tên nghe cho ai? Đó là chánh văn của kinh Lăng Nghiêm.

Nhất căn trở về côïi,
Lục căn thành giải thoát.
Kiến văn như bệnh nhặm,
Tam giới như hoa đốm.
Phản văn bệnh nhặm trừ,
Trần tiêu giác trong sạch.

Phản văn tức là nhĩ căn trở về cội, cội là bản tâm, Phật tánh, tự tánh. Tự tánh vốn là một, còn lục căn đâu phải 6 thứ? Tánh thấy, tánh nghe, tánh ngửi, tánh xúc, tánh nếm đều trở về cội. Một căn trở về cội thì lục căn thành giải thoát. Vì về cội chỉ có một, như kiến là thấy, văn là nghe; có thấy nghe là bệnh nhặm, tức con mắt bệnh. 

Trở về cội không phải là không thấy nghe, nhưng thấy nghe ấy tự động không qua tác ý, giống cái dụng của hư không. Như cái dụng của tấm gương sáng, hình nam hình nữ đến trước gương, đều chiếu soi rõ ràng, nhưng nó không nói tôi đang chiếu soi.

Hỏi:

Tiểu thừa dứt lục căn, sao không được giải thoát?

Đáp:

Tiểu thừa dứt lục căn, nhưng có pháp dứt lục căn, rồi cho là không có lục căn. Đại thừa thì lục căn vẫn y như cũ, mắt vẫn dùng để thấy tai vẫn dùng để nghe, chỉ là không chấp thật. Cái tách vẫn là cái tách, cái lư vẫn là cái lư. Nhưng không chấp cái tách là thật, cái lư là thật. Tức là không lấy ý tưởng xen vào trong đó. 

Như công án: “Thấy núi sông vẫn là núi sông”, có thế lưu bố tưởng không trước tưởng, chứ không phải dẹp thế lưu bố tưởng. Tiểu thừa đem thế lưu bố tưởng dẹp đi là phá hoại pháp thế gian, không đúng với thực tế.

Cái gì cũng y như cũ thôi, nói có là thêm, nói không là bớt; không có thêm bớt, nên không bị thêm bớt dính mắc. Nhưng không phải hoàn toàn không có, chỉ là không dính mắc tức là nghĩa vô sở trụ.
 
 

ML
01
02
03
04
05
06
07
08
09
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20

Liên Hệ:
Kinh Thủ Lăng Nghiêm Tông Thông, HT. Nhẫn Tế
Kinh Thủ Lăng Nghiêm, HT. Thích Duy Lực
Tổng Luận Kinh Lă ng Nghiêm Trưc Chỉ, HT. Thích Thiện Siêu
Pháp Tu Lăng Nghiêm Ðại Ðịnh, HT. Thích Huệ Hưng
Phép Tu Lăng Nghiêm Ðại Ðịnh

 
c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap