THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học   Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn  Index Tác-Giả

 
 
 
 
 
c
GIẢNG KINH LĂNG NGHIÊM
Hoà Thượng Thích Duy Lực
Thích Đồng Thường Lập Thành Văn Tự
ML
01
02
03
04
05
06
07
08
09
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
KINH THỦ LĂNG NGHIÊM     
Quyển 6

Chánh văn: 

Lúc bấy giờ, Quán Thế Âm Bồ Tát liền đứng dậy, đảnh lễ bạch Phật: 

-Con nhớ khi xưa, từ vô số hằng sa kiếp trước có Phật Quán Thế Âm ra đời, con phát tâm Bồ Đề nơi Phật ấy, Phật dạy con từ Văn, Tư, Tu nhập Tam Ma Địa (Văn, Tư, Tu là Văn nơi tai, Tư nơi Tâm, Tu nơi Hạnh). 

-Bước đầu ở trong sự nghe được nhập lưu (chẳng chạy theo lục trần) mà quên cái sở nghe (vong, sở: Vong nghĩa là quên). Sở nhập đã tịch, thì hai tướng động và tịnh chẳng sanh, như thế dần dần tiến thêm, thì năng nghe và sở nghe đều hết; sự hết năng sở của nghe cũng chẳng trụ. 

Còn biết chẳng trụ thì còn năng giác và sở giác, nên phải Không cái năng giác sở giác, thì sự Không giác ấy mới cực viên tròn; năng giác sở giác được Không đến cùng tột, là nhập vào chỗ Không, nhập vào chỗ Không thì còn trụ nơi Không, nên năng không sở không cũng phải diệt. 

Năng sở của Không diệt rồi thì tất cả sự sanh và diệt đều hết, sanh diệt đã diệt, thì tịch diệt hiện tiền, thình lình siêu việt thế gian và xuất thế gian. Đến đây, khắp mười phương pháp giới đều sáng tỏ, được hai thứ thù thắng tròn đầy sáng tỏ: 

l. Trên khế hợp với giác tâm vốn huyền diệu của mười phương chư Phật, với Như Lai đồng một Từ Lực (Phật độ chúng sanh cho vui, nhưng không có năng độ, gọi là Vô Duyên Từ). 

2. Dưới khế hợp với tất cả mười phương chúng sanh lục đạo, với tất cả chúng sanh đồng một Bi Ngưỡng (chúng sanh cầu Phật độ lìa khổ, nhưng không có sở độ, gọi là Đồng Thể Bi). 

Thế Tôn! Do con cúng dường Quán Âm Như Lai, Phật dạy con y tánh Văn như huyễn, huân tu Kim Cang Tam Muội. Vì với chư Phật đồng một Từ Lực, nên khiến con được thành tựu 32 ứng thân vào các quốc độ. 

1. Thế Tôn! Nếu chư Bồ Tát vào Tam Ma Địa tu pháp vô lậu, thắng giải đầy đủ, thì con hiện thân Phật, thuyết pháp cho họ, khiến được giải thoát. 

2. Nếu có hàng hữu học được tịch tịnh diệu minh, thắng giải đầy đủ, thì con hiện thân Độc Giác, thuyết pháp cho họ, khiến được giải thoát. 

3. Nếu có hàng hữu học đoạn mười hai nhân duyên được thắng tánh hiện tiền, thắng giải đầy đủ, thì con hiện thân Duyên Giác, thuyết pháp cho họ, khiến được giải thoát. 

4. Nếu có hàng hữu học tu Đạo nhập diệt, được pháp Không của Tứ Thánh Đế, thắng giải đầy đủ, thì con hiện thân Thanh Văn, thuyết pháp cho họ, khiến được giải thoát. 

5. Nếu có chúng sanh, muốn tâm minh ngộ, chẳng phạm dục trần, muốn thân trong sạch, thì con hiện thân Phạn Vương, thuyết pháp cho họ, khiến được giải thoát. 

6. Nếu có chúng sanh, muốn làm thiên chủ, lãnh đạo chư thiên, thì con hiện thân Đế Thích, thuyết pháp cho họ khiến được thành tựu. 

7. Nếu có chúng sanh, muốn thân được tự tại, đi khắp mười phương, thì con hiện thân Tự Tại Thiên, thuyết pháp cho họ, khiến được thành tựu. 

8. Nếu có chúng sanh, muốn thân được tự tại, bay khắp hư không, thì con hiện thân Đại Tự Tại Thiên, thuyết pháp cho họ, khiến được thành tựu. 

9. Nếu có chúng sanh, muốn thống lãnh quỷ thần, cứu giúp quốc độ, thì con hiện thân Thiên Đại Tướng Quân, thuyết pháp cho họ, khiến được thành tựu. 

10. Nếu có chúng sanh, thích thống lãnh thế giới, bảo vệ chúng sanh, thì con hiện thân Tứ Thiên Vương, thuyết pháp cho họ, khiến được thành tựu. 

11. Nếu có chúng sanh, muốn sanh nơi thiên cung, sai khiến quỷ thần, thì con hiện thân Thái Tử của Tứ Thiên Vương, thuyết pháp cho họ, khiến được thành tựu. 

12. Nếu có chúng sanh, muốn làm vua cõi người, thì con hiện thân vua, thuyết pháp cho họ, khiến được thành tựu. 

13. Nếu có chúng sanh, thích làm chủ các dòng quý tộc, mọi người cung kính, thì con hiện thân trưởng giả, thuyết pháp cho họ, khiến được thành tựu. 

14. Nếu có chúng sanh, thích đàm luận những lời hay giữ mình trong sạch, thì con hiện thân Cư Sĩ, thuyết pháp cho họ, khiến được thành tựu. 

15. Nếu có chúng sanh, Thích Cai trị việc nước, trông coi các ban ấp, thì con hiện thân Tể quan, thuyết pháp cho họ, khiến được thành tựu. 

16. Nếu có chúng sanh, thích các số thuật, tự nhiếp tâm giữ thân, thì con hiện thân Bà La Môn, thuyết pháp cho họ, khiến được thành tựu. 

17. Nếu có thiện nam tử, ham học pháp xuất gia, giữ gìn giới luật, thì con hiện thân Tỳ Kheo, thuyết pháp cho họ, khiến được thành tựu. 

18. Nếu có thiện nữ nhân, ham học pháp xuất gia, trì các giới cấm, thì con hiện thân Tỳ Kheo Ni, thuyết pháp cho họ, khiến được thành tựu. 

19. Nếu có thiện nam tử, thích giữ ngũ giới, thì con hiện thân Ưu Bà Tắc, thuyết pháp cho họ, khiến được thành tựu. 

20. Nếu có thiện nữ nhân, tự giữ ngũ giới, thì con hiện thân Ưu Bà Di, thuyết pháp cho họ, khiến được thành tựu. 

21. Nếu có thiện nữ nhân, lập thân trong cung vua, chủ việc nội chính, giúp việc nước nhà, thì con hiện thân nữ chủ (hoàng hậu), hay phu nhân, mệnh phụ, đại gia (nữ giáo sư của hoàng hậu và các cung phi), thuyết pháp cho họ, khiến được thành tựu. 

22. Nếu có con trai, chẳng hoại trinh nam, thì con hiện thân đồng nam, thuyết pháp cho họ, khiến được thành tựu. 

23. Nếu có con gái, muốn giữ trinh nữ, chẳng cầu sự xâm bạo, thì con hiện thân đồng nữ, thuyết pháp cho họ, khiến được thành tựu. 

24. Nếu có chư Thiên, muốn ra khỏi loài trời, thì con hiện thân chư Thiên, thuyết pháp cho họ, khiến được thành tựu. 

25. Nếu có con Rồng, muốn ra khỏi loài rồng, thì con hiện thân rồng, thuyết pháp cho họ, khiến được thành tựu. 

26. Nếu có Dược Xoa (l) muốn ra khỏi loài mình, thì con hiện thân Dược Xoa, thuyết pháp cho họ, khiến được thành tựu. 

27. Nếu có Càn thát Bà (2) muốn ra khỏi loài mình, thì con hiện thân Càn Thát Bà, thuyết pháp cho họ, khiến được thành tựu. 

28. Nếu có A Tu La, muốn thoát khỏi loài mình, thì con hiện thân A Tu La, thuyết pháp cho họ, khiến được thành tựu. 

29. Nếu có Khẩn Na La (3), muốn thoát khỏi loài mình, thì con hiện thân Khẩn Na La, thuyết pháp cho họ, khiến được thành tựu. 

30. Nếu có Ma Hầu La Già (4) muốn thoát khỏi loài mình, thì con hiện thân Ma Hầu La Già, thuyết pháp cho họ, khiến được thành tựu. 

31. Nếu có chúng sanh thích làm người, tu nghiệp người, thì con hiện thân người, thuyết pháp cho họ, khiến được thành tựu. 

32. Nếu có loài phi nhân, hoặc có hình, hoặc vô hình, hoặc có tưởng, hoặc vô tưởng, muốn thoát khỏi loài mình, thì con hiện thân như họ, thuyết pháp cho họ, khiến được thành tựu. 

- Áy gọi là 32 ứng thân nhiệm mầu vào các quốc độ, những thân ấy đều do vô tác diệu lực của sự huân tu tam muội tự tại thành tựu.  

Giảng giải:

Hai mươi lăm vị kể ra viên thông của mình, cho A Nan chọn cái nào viên thông nhất để tu. Quán Thế Âm là dùng văn tư tu, văn là nghe, tư là suy nghĩ, nghe rồi suy nghĩ để tu. 

Nhưng nói là nói vậy, sự thật cách thực hành bước đầu ở trong sự nghe được nhập lưu, văn là nghe, nhập lưu là chẳng chạy theo lục trần. Nếu chạy theo lục trần (sắc, thinh, hương, vi, xúc, pháp) thì không phải nhập lưu. 

Tức là nhập lưu phải lìa lục trần. Nhập lưu tiếng Ấn Độ gọi là Tu Đà Hoàn  là chứng sơ quả. Lục trần là sở nghe, cho nên gọi là vong sở (vong là quên).

Sở nhập đã tịch là không có lục trần nhập thì được tịnh lặng, nên hai tướng động tịnh chẳng sanh tức là không nghe động tịnh. Nếu dùng cái nghe, không nghe động thì phải nghe tịnh.

Như thế dần dần tiến thêm thì năng nghe và sở nghe đều hết, vì có tai nghe tiếng động tịnh là sở nghe, động tịnh đã sạch thì không có năng nghe và sở nghe.

Sự hết năng sở của nghe cũng chẳng trụ. Còn biết chẳng trụ thì còn biết năng giác sở giác, nên không cái năng giác sở giác thì sự giác ấy mới cực viên tròn. 

Năng giác sở giác được không, đến cùng tột thì nhập vào chỗ không; nhập vào chỗ không thì còn trụ chỗ không, nên năng không sở không cũng phải tiêu diệt. 

Năng sở đều không thì tất cả sự sanh diệt hết, sanh diệt đều hết thì thế gian và xuất thế gian, đến đây 10 phương pháp giới đều sáng tỏ, được hai thứ thù thắng tròn đầy sáng tỏ. 

1- Trên khế hợp với giác tâm vốn huyền diệu của 10 phương chư Phật với Như Lai đồng 1 từ lực.

2- Phật độ chúng sanh cho vui, nhưng không có năng độ, nên gọi là vô duyên từ, từ bi  Quán Thế Âm khác hơn bác ái. Từ là vô duyên từ không có tâm đối đãi, không có ta năng từ bi, không có ngươi là sở từ bi nhận từ bi của tôi.

3- Dưới khế hợp với tất cả 10 phương chúng sanh lục đạo, với tất cả chúng sanh đồng một bi ngưỡng.

4- Chúng sanh cầu Phật độ lìa khổ, nhưng không có sở độ gọi là đồng thể bi; mặc dầu Quán Thế Âm là năng độ, chúng sanh là sở độ. Nhưng không cho có năng độ là ta, sở độ là chúng sanh. Thân thể chúng sanh là thân thể của tôi. Khổ của chúng sanh là khổ của tôi, cho nên gọi là đồng thể bi.

Tức là tất cả chúng sanh với tôi cùng một thân thể, chứ không phải tôi là năng độ. Chúng sanh là sở độ. Bác ái của tôn giáo khác còn cái ta là tăng cường ngã chấp, còn từ bi của Phật phá hết ngã chấp không còn năng sở; không có năng độ và sở độ, tất cả tương đối đều sạch hết.

Nói chung 32 hóa thân đều cái nghĩa này là tùy theo chúng sanh để độ, muốn độ chúng sanh nào thì hiện cái thân đó để độ. Muốn độ Tỳ Kheo thì hiện thân Tỳ Kheo, muốn độ Tỳ Kkeo Ni thì hiện Tỳ Kheo Ni, muốn độ người nam thì hiện người nam, muốn độ người nữ thì hiện người nữ,… ứng thân Quán Thế Âm độ chúng sanh là vậy.

Ấy gọi là 32 ứng thân nhiệm mầu (bất khả tư nghì là dùng ý thức không thể suy nghĩ). Vào các quốc độ để độ chúng sanh. Những thân ấy đều do vô tác diệu lực của sự huân tu tam muội tự tại thành tựu. 

Vô tác không có năng sở, không có ai làm. Dù Quán Thế Âm đi các quốc độ làm những việc này, nhưng không có người làm, tức là không có năng tác thì không có sở tác. Ấy, tự tánh vốn như vậy, như cái dụng của hư không; chẳng có năng tác sở tác, nhưng tất cả phải nhờ hư không hiển bày ra cái dụng.

Chánh văn:

-Thế Tôn! Con lại dùng vô tác diệu lực của sự huân tu Kim Cang Tam Muội này, cùng với tất cả chúng sanh lục đạo trong mười phương tam thế đồng một Bi Ngưỡng, nên khiến các chúng sanh nơi thân tâm con được 14 thứ công đức vô úy: 

l. Do con chẳng quán âm thanh, tự quán kẻ quán, khiến chúng sanh khổ não mười phương tự quán âm thanh, liền được giải thoát. 

2. Xoay tri kiến về bản tri, khiến chúng sanh dù vào đống lửa, lửa chẳng thể cháy. 

3. Xoay cái nghe về bản văn, khiến chúng sanh bị nước cuốn trôi mà chẳng chìm đắm. 

4. Vọng tưởng dứt sạch, tâm chẳng sát hại, khiến chúng sanh vào xứ quỷ, quỷ chẳng thể hại. 

5. Huân tập cái nghe thành Bản Văn, tiêu cả lục căn thành một tánh Văn, khiến chúng sanh đang lúc bị giết hại, dao gãy từng đoạn, các binh khí chạm vào thân người, như cắt dòng nước, như thổi ánh sáng, mà bản tánh chẳng lay động. 

6. Huân tập tánh Văn thuần nhất sáng tỏ, chiếu khắp pháp giới, dẹp tan tối tăm, khiến chúng sanh dù gặp các loài Dược Xoa, La Sát, yêu mị, quỷ thần ở gần bên cạnh mắt họ chẳng thể nhìn thấy. 

7. Âm thanh tiêu sạch, tánh nghe trở vào, thoát khỏi trần vọng, khiến chúng sanh gặp những thứ gông, cùm, xiềng, xích đều chẳng thể trói buộc. 

8. Âm thanh tiêu diệt, tánh Văn viên mãn, Từ Lực khắp nơi, khiến chúng sanh đi qua chỗ nguy hiểm, chẳng bị giặc cướp. 

9. Huân tu tánh Văn, xa lìa cảnh trần, sắc dục chẳng thể lôi kéo, khiến tất cả chúng sanh đa dâm xa lìa tham dục. 

10. Thuần âm vô trần, căn trần viên dung, chẳng năng sở đối đãi, khiến tất cả chúng sanh hay giận dữ lìa bỏ sân hận. 

11. Xoay minh tiêu trần, trở về bản tánh, cả pháp giới, thân tâm đều như lưu ly, thấu triệt vô ngại, khiến những kẻ ngu muội chẳng tin Phật pháp, xa lìa hẳn sự si mê ám muội. 

12. Tiêu dung hình thể, trở về bản Văn, ngồi bất động đạo tràng, vào thế gian mà chẳng hoại pháp thế gian, đi khắp mười phương, cúng dường vô số Như Lai, nơi mỗi Như Lai làm Pháp Vương Tử, khi pháp giới chúng sanh cầu sanh con trai, được con trai có phước đức trí huệ. 

13. Lục căn viên thông, sáng và soi không hai, khắp mười phương thế giới, lập Đại Viên Cảnh, Không Như Lai Tạng, thừa nhận pháp môn bí mật của vô số Như Lai, chẳng có thiếu sót, khiến pháp giới chúng sanh cầu sanh con gái, được con gái có tướng tốt, đoan chính, phước đức, dịu dàng, được mọi người yêu mến. 

14. Trăm ức nhựt nguyệt chiếu khắp tam thiên đại thiên thế giới này, trong đó có 62 hằng sa pháp vương tử đang trụ trì nơi thế gian, tu chánh pháp, làm mô phạm, mỗi mỗi dùng phương tiện và trí huệ chẳng đồng, tùy thuận căn tánh mọi người để giáo hóa chúng sanh. 

-Do con được Nhĩ Căn viên thông, phát ra diệu dụng, nên thân tâm vi diệu, cùng khắp pháp giới, khiến chúng sanh người trì danh hiệu con so với người trì danh hiệu của 62 hằng sa Pháp Vương Tử, hai người được phước đức bằng nhau. 

-Thế Tôn! Sở dĩ một danh hiệu của con cân xứng với nhiều danh hiệu kia, là do con tu tập đắc chơn viên thông, ấy gọi là mười bốn thứ sức vô úy, thí cho chúng sanh phước đức đầy đủ. 
Thế Tôn! Do con tu chứng Vô Thượng Đạo, được căn viên thông này, nên khéo được bốn thứ diệu đức vô tác bất khả tư nghì: 

l. Do con được Bản Văn huyền diệu, tâm diệu lìa văn: Kiến, Văn, Giác, Tri thành một bửu giác viên dung trong sạch, chẳng thể chia cách, nên hay hiện nhiều dung mạo vi diệu, thuyết vô biên bí mật thần chú, trong đó từ một đến tám vạn bốn ngàn con mắt và cánh tay, tùy nghi thị hiện, hoặc từ hoặc oai, hoặc định hoặc huệ, cứu giúp chúng sanh được tự tại. 

2. Do sự Văn Tư của con thoát khỏi lục trần, như âm thanh vượt qua bức tường, chẳng bị ngăn ngại, nên con khéo hiện mỗi mỗi hình, mỗi mỗi chú, những hình những chú, đều hay thí cho chúng sanh được sức vô úy. Vì thế, mười phương vô số quốc độ đều gọi con là người Thí Vô Úy. 

3. Do con tu tập Nhĩ Căn trong sạch, được diệu tâm viên thông, nên đi khắp thế giới, đều có thể khiến chúng sanh xả bỏ thân mạng và châu báu cầu con thương xót. 

4. Con được ngộ tâm Phật, chứng nơi cứu cánh, hay dùng các thứ châu báu cúng dường mười phương Như Lai, cho đến chúng sanh lục đạo trong pháp giới, cầu vợ được vợ, cầu con được con, cầu sống lâu được sống lâu, cầu chánh định được chánh định, như thế cho đến cầu Đại Niết Bàn được Đại Niết Bàn. 

-Phật hỏi về viên thông, con từ Nhĩ Căn vào Viên Chiếu Tam Muội, Tùy Tâm tự Tại, Từ Sự Nghe Nhập Lưu, cho đến Đắc Tam Ma Địa, Thành Tựu Bồ Đề là hơn cả. 

-Thế Tôn! Như Lai khen con khéo được pháp môn viên thông, ở trong hội thọ ký cho con hiệu là Quán Thế Âm, do con quán âm sáng tỏ mười phương, nên danh hiệu QUÁN ÂM khắp mười phương thế giới. 

Giảng giải:

32 ứng thân của Quán Thế Âm, đều dùng sức vô tác, khỏi cần khởi tâm động niệm, tức là không tác ý. Không tác ý gọi là Bát Nhã, dịch là trí huệ. Trí huệ của thế gian phải tác ý của bộ óc, trí huệ của Quán Thế Âm khỏi cần tác ý, nó vốn là vậy; như hư không chẳng động, nhưng hiện ra cái dùng, gọi là vô tác diệu lực.

14 thí vô ý cũng do vô tác diệu lực, cho đến 4 thứ sau này cũng vậy. Cuối cùng kết luận nói là: Con từ nhĩ căn viên chiếu tam muội. 

Ban đầu dùng nhĩ căn, sau này động tịnh đã hết thì không cần nhĩ căn nữa, gọi là viên chiếu tam muội.

Tùy tâm tự tại (khỏi cần tác ý) từ sự nghe nhập lưu, (ban đầu là sự nghe, khi nhập lưu thì không còn nghe nữa, vì đã lìa động tịnh thì không còn nghe nữa) đắc tam ma địa (chánh định) thành tựu Bồ Đề (giác ngộ) là hơn cả.

-Thế Tôn! Như Lai khen con khéo được pháp môn viên thông (trên có 25 viên viên thông, viên thông cuối cùng của Quán Thế Âm). Ở trong hội thọ ký cho con hiệu là Quán Thế Âm.

 Âm thanh của thế gian là dùng tai nghe mới phải, mà lại dùng quán (mắt) để nghe. Tại Quán Thế Âm đã tự động, khỏi cần dùng tai mà nghe, xem khỏi cần mắt, nếu cần mắt thì không tự động. Nếu đã tự động thì không cần tai, không cần mắt, cho nên gọi là vô tác. Vô tác mà quán được âm thanh của thế gian, không những ở cõi Ta Bà này, mà vô lượng vô biên quốc độ đều quán được cả.

Do con quán âm sáng tỏ mười phương (đông nam, tây nam, đông bắc, tây bắc, đông, nam, tây, bắc, trên, dưới, khoa học nói là không gian). Nên danh hiệu quán âm khắp mười phương thế giới (không phải chỉ thế giới Ta Bà thôi, mười phương tất cả thế giới đều biết danh hiệu Quán Thế Âm).

Chánh văn:

Bấy giờ, Thế Tôn nơi tòa Sư Tử, từ ngũ thể cùng phóng hào quang, chiếu soi đỉnh đầu của mười phương vô số Như Lai, với các Pháp Vương Tử và chư Bồ Tát; các Như Lai ấy cũng trong ngũ thể cùng phóng hào quang, từ mọi nơi chiếu đến đỉnh đầu của Phật, với chư Đại Bồ Tát và A La Hán trong hội. Rừng cây, ao hồ đều diễn pháp âm, hào quang giao xen như lưới báu, đại chúng được pháp chưa từng có, tất cả đều được Kim Cang Tam Muội. 

Tức thời, trời mưa bách bửu liên hoa, xanh, vàng, đỏ, trắng, xen lộn lẫn nhau; mười phương hư không hóa thành màu sắc thất bửu, núi sông, đất đai nơi cõi Ta Bà này đều ẩn mất, chỉ thấy mười phương vô số quốc độ hợp thành một cõi, ca nhạc vang lừng, tự nhiên hòa tấu.  

Lúc đó, Như Lai bảo Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử rằng: 

-Ngươi hãy xem 25 vị vô học Đại Bồ Tát và A La Hán này, mỗi mỗi trình bày phương tiện thành đạo lúc ban đầu, đều nói tu tập viên thông chơn thật, lối tu của họ thật chẳng hơn kém và chẳng trước sau sai biệt. Nay ta muốn khiến A Nan khai ngộ, trong 25 lối tu, lối nào thích hợp, và sau khi ta diệt độ, chúng sanh trong cõi này muốn vào Bồ Tát thừa, cầu đạo Vô Thượng, từ cửa phương tiện nào để được thành tựu? 

Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử vâng theo ý chỉ của Phật, liền đứng dậy đảnh lễ chân Phật, thừa oai thần của Phật, nói kệ đáp rằng: 

-Giác hải tánh trừng viên, 
(Biển giác tánh trong lặng),  
Viên trừng giác nguyên diệu,
(Vốn đầy đủ vi diệu),
Nguyên minh chiếu sanh sôû,  
(Chấp sáng sanh sở chiếu),  
Sở lập chiếu tánh vong. 
(Sở lập tánh chiếu mất). 
-Mê vọng hữu hư không,
(Mê vọng có hư không). 
Y Không lập thế giới, 
(Do Không lập thế giới), 
Tưởng trừng thành quốc độ, 
(Tưởng lặng thành Quốc Độ), 
Tri giác nải chúng sanh. 
(Tri giác là chúng sanh). 
-Không sanh Đại Giác trung, 
 ("Không" sanh nơi Đại Giác)  
Như hải nhất âu phát. 
(Như biển nổi một bọt).  
Hữu lậu vi trần quốc, 
(Vô số nước hữu lậu),  
Giai y Không sở sanh 
(Đều từ Không sanh khởi), 
Âu diệt Không bổn vô, 
(Bọt bể Không đã diệt)  
Huống phục chư tam hữu. 
(Đâu thể còn tam giới). 
-Qui nguyên tánh vô nhị, 
(Về cội tánh chẳng hai),  
Phương tiện hữu đa môn, 
(Phương tiện có nhiều lối),  
Thánh tánh vô bất thông, 
(Bậc Thánh chẳng ngăn ngại),  
Thuận nghịch giai phương tiện. 
(Thuận nghịch đều tùy nghi). 
Sơ tâm nhập tam muội, 
(Sơ cơ vào chánh định), 
Trì tốc bất đồng luân. 
(Nhanh chậm chẳng đồng nhau). 
-Sắc tưởng kết thành trần, 
(Quán Sắc thành nội trần),  
Tinh liễu bất năng triệt. 
(Tinh vi chẳng thấu triệt).  
Như hà bất minh triệt, 
(Nếu đã chẳng thấu triệt),  
Ư thị hoạch viên thông? 
(Làm sao được viên thông?) 
-Âm thanh tập ngữ ngôn, 
(Âm thanh lộn ngữ ngôn),  
Đản y danh cú vị. 
(Chỉ nương tựa lời Phật).  
Nhất phi hàn nhất thiết, 
(Một chẳng gồm tất cả),  
Vân hà hoạch viên thông? 
(Làm sao được viên thông?) 
-Hương dĩ hiệp trung tri, 
(Hương do hợp mới biết), 
Ly tắc nguyên vô hữu. 
(Ly thì chẳng có mùi).  
Bất hằng kỳ sở giác, 
(Hợp ly tánh chẳng thường),  
Vân hà hoạch viên thông? 
(Làm sao được viên thông?) 

Giảng giải:

Bấy giờ, Thế Tôn nơi tòa sư tử, từ ngũ thể cùng phóng hào quang, chiếu soi đỉnh đầu mười phương vô số Như Lai, với các vương tử và chư Bồ Tát, các Như Lai cũng trong ngũ thể cùng phóng hào quang, từ mọi nơi chiếu đến đỉnh đầu của Phật, nơi chư đại Bồ Tát và A La Hán trong hội. Rừng cây, ao hồ đều diễn pháp âm, hào quang giao xen như lưới báu, đại chúng được pháp chưa từng có, tất cả đều được kim cang tam muội.

 Tam muội là chánh định. Kim cang là vật cứng phá được tất cả vật khác, vật khác không phá được kim cang.

Tức thời, trời mưa bách bửu liên hoa, xanh, vàng, đỏ, trắng xen lộn lẫn nhau; mười phương hư không hóa thành màu sắc thất bửu, núi sông, đất đai nơi cõi Ta Bà này đều ẩn mất, chỉ thấy mười phương vô số quốc độ hợp thành một cõi, ca nhạc vang lừng tự nhiên hòa tấu.

Chỗ này Phật hiện thần thông để biểu thị pháp lớn, là mười phương quốc độ đều cùng phát ánh sáng hào quang, rọi chiếu đến đỉnh đầu Phật Thích Ca và chư đại Bồ Tát trong hội này. Phật Thích Ca cũng phát ánh sáng chiếu khắp mười phương quốc độ.

Lúc đó, Như Lai bảo Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử rằng:

-Ngươi hãy xem 25 vị vô học và đại Bồ Tát và A La Hán này cái nào viên thông nhất, thì chọn cái đó để tu, với người mạt pháp sau này cũng vậy. Sau đây, Văn Thù theo lời và thừa oai thần của Phật nói kệ:

Biển giác tánh trong lặng,

Vốn đầy đủ vi diệu.

Biển giác là tâm của mình và cũng là tâm của mọi người, tâm của mọi nười đều là biển giác, tánh vốn trong lặng không có làn sóng thì đầy đủ vi diệu, không dùng lời nói để diễn tả.

Chấp sáng sanh sở chiếu,

Sở lập tánh chiếu mất.

Tại sao bây giờ không có vi diệu? Tại chấp cái tâm mình có cái sáng, có cái sáng thì phải có cái chiếu, sanh ra sở chiếu. Có năng chiếu và sở chiếu thì có tác, chứ không phải cái vô tác. Tâm mình vốn là vô tác trong lặng, bây giờ nổi lên chấp, nói tâm tôi có cái sáng thì sanh ra sở chiếu. Sở chiếu kiến lập thì tánh chiếu bị mất. Tánh chiếu vô tác tự động soi khắp không gian thời gian. Tánh chiếu tự động bị mất, vì nổi lên vọng niệm gọi là nhất niệm vô minh.

Mê vọng có hư không,

Vì muốn chiếu soi thì phải có hư không mới chiếu soi được. Nếu không có hư không thì dựa vào đâu để chiếu soi?

Do Không lập thế giới.

Vì tất cả thế giới đều kiến lập ở trong hư không, rồi tâm nổi niệm thì có tưởng.

Tưởng lặng thành quốc độ,

Tri giác thành chúng sanh.

Tâm mình không phải không có tri giác, mà tri giác đó tự động. Nó không có năng tri sở tri, năng giác sở giác. Đã có tri giác là năng tri thì phải có sở tri. Năng sở đã lập thì tất cả đều là vọng. Cho nên nói: “Tri giác là chúng sanh”. Phật không phải không có tri giác, nhưng tri giác đó tự động, vốn như vậy, không qua sự tác ý, gọi là vô tác. Bây giờ có tác rồi thì có năng sở đối đãi, mới thành hư vọng. Đã lập ra mê vọng có hư không, hư không đã sanh, sanh ở đâu? Sanh trong đại giác của tâm mình.

Không sanh nơi đại giác,
 
Như biển nổi một bọt.

Đại giác là biển cũng là tâm của mình, còn hư không ở trong đại giác. Tâm mình nổi lên bọt nước, bọt nước thí dụ cho hư không, thế giới kiến lập trong hư không, tức là kiến lập trong bọt nước.
 
Vô số nước hữu lậu,
 
Đều tự không sanh khởi.

Bây giờ các quốc độ hữu lậu trên thế giới, đều kiến lập trong bọt nước này, từ cái không này mới sanh khởi được. Như cái nhà chẳng có cái không, làm sao cất lên được? 
 
Bọt bể không đã diệt,

Vì cái bọt ví dụ cho hư không, nếu bọt bể thì hư không tiêu diệt.
 
Đâu thể còn tam giới.

Tam giới: Dục giới, sắc giới, vô sắc giới. Con người ở trong dục giới, còn cõi trời ở trong sắc giới. Tam giới đều ở trong bọt nước này, bọt nước đã bể thì tam giới cũng đâu còn. Chỉ còn nước biển tức là còn cái tâm mình thôi.
 
Về cội tánh chẳng hai,
 
Phương tiện có nhiều lối.

Tham thiền là muốn về cội nguồn, cội nguồn không có hai thứ, tức là tâm, tự tánh, Phật tánh,… Nhưng phương tiện muốn đưa mình đến chỗ nguồn gốc, chỗ biển giác tâm mình thì có nhiều đường lối. Tổ Sư thiền cũng là một đường lối đi đến nơi tâm mình, ngoài ra còn có 84.000 pháp môn nữa, cho nên nói có nhiều lối.
 
Bậc thánh chẳng ngăn ngại,
 
Thuận nghịch đều tùy nghi.

Phàm phu có tâm chấp thật làm chướng ngại, cho nên đi đến đâu cũng bị ngăn ngại; còn bậc thánh chỉ có thế lưu bố tưởng, không chấp thật thì không chướng ngại, như đi qua vách tường rất dễ dàng.
 
Sơ cơ vào chánh định,
 
Nhanh chậm chẳng đồng nhau.

Người sơ cơ tu học, muốn vào chánh định có người nhanh có người chậm, tùy theo sự tu của mình không bằng nhau được. Tiếp theo ở đây là lục trần.

Quán sắc thành nội trần,
Tinh vi chẳng thấu triệt.
Nếu đã chẳng thấu triệt,
Làm sao được viên thông? 

25 vị Bồ Tát và A La Hán, người nào cũng kể cách tu của mình cho là viên thông. Văn Thù nói quán sắc được thành đạo. Sắc là ngoại trần, do quán thành nội trần, như cái tách, cái ghế là ngoại trần. Quán ở trong tâm không có trần ở ngoài. Như quí vị ở đây quán cái tủ, cái chén ở nhà, không có trước mắt thành nội trần.

Tinh vi chẳng thấu triệt,

Đó chỉ ghi nhớ suy nghĩ, không có đầu đuôi, cho nên nói chẳng thấu triệt.

Âm thanh lộn ngữ ngôn,
Chỉ nương tựa lời Phật.
Một chẳng gồm tất cả,
Làm sao được viên thông?

Mùi hương do mình ngửi mới biết, nhưng mũi phải tiếp xúc với mùi hương; hợp với mùi hương thì mới biết mùi hương, nếu lìa khỏi thì không có. Nhưng hợp với lìa thì không có thường, đâu phải mùi hương có hoài. Cho nên nói: “Chẳng thường”, chẳng thường thì không phải viên thông; viên thông thì thường, vì không có bắt đầu và cuối cùng.

Chánh văn:

Xúc dĩ sở xúc minh, 
(Xúc phải có sở xúc),  
Vô sở bất minh xúc, 
(Chẳng sở thì chẳng xúc),  
Hợp ly tánh phi định, 
(Hợp ly tánh chẳng định).  
Vân hà hoạch viên thông? 
(Làm sao được viên thông?) 
-Pháp xưng vi nội trần, 
(Pháp gọi là nội trần),  
Bằng trần tất hữu sở. 
(Nương trần ắt có sở).  
Năng sở phi biến thiệp, 
(Năng sở chẳng cùng khắp),  
Vân hà hoạch viên thông? 
(Làm sao được viên thông?) 
-Kiến tánh tuy động nhiên, 
(Tánh kiến dù rõ ràng),  
Minh tiền bất minh hậu, 
(Thấy trước chẳng thấy sau),  
Tứ duy khuy nhất bán, 
(Bốn phía thiếu một nửa),  
Vân hà hoạch viên thông? 
(Làm sao được viên thông?) 
-Tỷ tức xuất nhập thông, 
(Hơi Thở thông ra vào),  
Hiện tiền vô giao khí, 
(Quán đến chẳng giao khí),
 (Giống như nín thở) 
Chi ly phi thiệp nhập, 
(Lìa thở chẳng ngộ nhập),  
Vân hà hoạch viên thông? 
(Làm sao được viên thông?)
-Thiệt phi nhập vô đoạn, 
(Thiệt nhập chẳng vô cớ),  
Nhân vị sanh giác liễu, 
(Do vị sanh giác tri),  
Vị vong liễu vô hữu, 
(Vị mất giác cũng mất),  
Vân hà hoạch viên thông?
(Làm sao được viên thông?)
-Thân dữ sở xúc đồng, 
(Thân với xúc đồng nhau), (5) 
Các phi viên giác quán, 
(Chẳng phải Viên Giác Quán),  
Nhai lượng bất minh hội,
(Chẳng hội không ngằn mé),  
Vân hà hoạch viên thông? 
(Làm sao được viên thông?) 
-Tri căn tạp loạn tư, 
(Ý căn lộn vọng tưởng),  
Trạm liễu chung vô kiến, 
(Chẳng thấy tánh trong lặng),  
Tưởng niệm bất khả thoát, 
(Tưởng niệm chẳng giải thoát),  
Vân hà hoạch viên thông? 
(Làm sao được viên thông?) 
-Thức kiến tạp tam hòa, 
(Kiến, Tướng, Thức hòa hợp),  
Cật bổn xưng phi tướng, 
(Cả ba vốn chẳng tướng),  
Tự thể tiên vô định, 
(Tự thể đã chẳng định),  
Vân hà hoạch viên thông? 
(Làm sao được viên thông?) 
-Tâm Văn động thập phương, 
(Tâm Văn khắp mười phương),  
Sanh ư đại nhân lực, 
(Sanh nơi đại nguyện lực),  
Sơ tâm bất năng nhập, 
(Sơ cơ, chẳng thể vào),  
Vân hà hoạch viên thông? 
(Làm sao được viên thông?) 
-Tỷ Tưởng bổn quyền cơ, 
(Quán Mũi là phương tiện),  
Chỉ linh nhiếp tâm trụ, 
(Chỉ khiến nhiếp tâm trụ),  
Trụ thành tâm sở trụ, 
(Trụ thành tâm sở truï) (6)  
Vân hà hoạch viên thông? 
(Làm sao được viên thông?) 
-Thuyết pháp lộng âm văn, 
(Thuyết Pháp dùng âm thanh),  
Khai ngộ tiên thành giả, 
(Khai ngộ người đã thành),  
Danh cú phi vô lậu, 
(Lời nói chẳng vô lậu),  
Vân hà hoạch viên thông? 
(Làm sao được viên thông?) 
-Trì Phạm đản thúc thân, 
(Trì Phạm chỉ trói thân),  
Phi thân vô sở thúc, 
(Phi thân chẳng thể trói),  
Nguyên phi biến nhất thiết, 
(Vốn chẳng khắp tất cả),  
Vân hà hoạch viên thông? 
(Làm sao được viên thông?) 
-Thần Thông bổn túc nhân, 
(Thần Thông vốn saün đủ),  
Hà quan pháp phân biệt, 
(Chẳng do luyện mới có),  
Niệm duyên phi ly vật, 
(Tác ý không lìa vật),  
Vân hà hoạch viên thông? 
(Làm sao được viên thông?) 
-Nhược dĩ Địa tánh quán,
(Nếu quán theo tánh Địa),  
Kiên ngại phi thông đạt, 
(Ngăn ngại chẳng thông suốt),  
Höõu vi phi thánh tánh, 
(Hữu vi chẳng phải thánh),  
Vân hà hoạch viên thông? 
(Làm sao được viên thông?) 
-Nhược dĩ Thủy tánh quán, 
(Nếu quán theo tánh Thủy),  
Tưởng niệm phi chơn thật, 
(Niệm tưởng chẳng chơn thật),  
Như như phi giác quán, 
(Giác quán chẳng như như),  
Vân hà hoạch viên thông? 
(Làm sao được viên thông?) 
-Nhược dĩ hoûa tánh quán, 
(Nếu quán theo tánh hỏa),  
Yếm hữu phi chơn ly, 
(Có chán chẳng phải chơn), 
(chơn giải thoát) 
Phi sơ tâm phương tiện, 
(Chẳng thích hợp sơ cơ),  
Vân hà hoạch viên thông? 
(Làm sao được viên thông?) 

Giảng giải:

Xúc phải có sở giác,
Chẳng sở thì chẳng xúc.
Hợp ly tánh không định,
Làm sao được viên thông?

Tiếp xúc thì phải có sở xúc, như cái bàn là sở xúc, cái tay là năng xúc. Phải có sở xúc mới hiển bày cái xúc được. Nếu chẳng có sở thì chẳng có xúc. Vậy xúc là hợp, nhưng ly không có xúc. Hợp với ly tánh không có nhất định. Như tôi muốn uống nước thì phải cầm cái tách này, mới xúc đến cái tách, nếu tôi để xuống là ly. Hợp ly tánh không nhất định, không phải luôn luôn xúc hoài. Cho nên, không được gọi là viên thông.

Pháp gọi là nội trần,
Nương trần ắt có sở.
Năng sở chẳng cùng khắp,
Làm sao được viên thông?

Pháp gọi là nội trần đối với ý căn. Sắc, thinh, hương, vị, xúc, là tiền trần, cũng gọi là ngoại trần. Còn pháp do mình suy nghĩ ghi nhớ là thuộc về nội trần. Nương theo cái trần phải có cái sở. Có năng biết thì phải có sở biết, năng sở thì chẳng cùng khắp.

Bây giờ, mình ở đây nhớ đến thân nhân Việt Nam là cái sở, thuộc về pháp trần. Đâu phải mình luôn luôn như vậy, có khi nhớ có khi quên; nhớ chỗ này thì không nhớ chỗ kia nên không cùng khắp, nó chỉ nhớ một chỗ thôi. Nhớ thân nhân ở Việt Nam thì không nhớ thân nhân ở Pháp. Lúc nhớ thân nhân ở Pháp thì không nhớ thân nhân ở Việt Nam, nó không cùng khắp nên không gọi là viên thông.

 Tánh kiến dù rõ ràng,
 Thấy trước chẳng thấy sau. 
 Bốn phía thiếu một nửa.
 Làm sao được viên thông?

Như tôi thấy cái tách, thấy cái bàn, thấy tất cả đại chúng đây, mặc dầu tôi thấy rõ ràng; nhưng tôi chỉ thấy phia trước, phía sau không thấy, tức là thiếu một nửa, cho nên không cùng khắp thì làm sao được viên thông! 

 Hơi thở không ra vào,
 Quán đến cchẳng giao khí.
 Lìa thở chẳng ngộ nhập,
 Làm sao được viên thông?

Quán hơi thở đến chẳng giao khí (giống như nín thở). Hít vô thở ra, lúc hít vô đã đầy mà chưa thở ra, ở giữa gọi là giao khí. Quán đến chỗ giao khí, không phải hít vô cũng không phải thở ra. Lúc đó lìa thở, vì hít vô thở ra, mà ở giữa hít vô và thở ra, gọi lìa thở làm sao ngộ nhập? Không ngộ nhập làm sao được viên thông?

 Thiệt nhập chẳng vô cớ,
 Do vị  sanh giác tri.
 Vị mất giác cùng mất,
 Làm sao được viên thông?

Cái lưỡi biết vị thì phải tiếp xúc với đồ ăn, mình mới biết đồ ăn đó ngọt hay mặn… Không phải vô cớ khi không có đồ ngọt mặn, phải có sự nếm do mùi vị mới sanh giác tri, biết ngọt hay đắng. Nếu vị giác đã mất thì giác tri đó cũng mất, như mình ăn đồ ngọt, xong rồi uống nước vô thì vị ngọt cũng hết, mà giác tri cũng hết. Lúc đó đâu còn biết cái ngọt nữa, như vậy làm sao được viên thông?

 Thân với xúc đồng nhau, 
 Chẳng như Viên Giác quán.
 Chẳng hội không ngắn mé,
 Làm sao được viên thông?

Thân với xúc đồng nhau, chẳng phải Viên Giác quán. Sự xúc rõ ràng chỉ có thân mới biết, quên thân cùng giác cũng chẳng phải Viên Giác. Như người bị gai độc đâm chân, cảm thấy rất đau, khi quên thân thì không còn biết đau. Bản giác không có năng đau và sở đau, nên không đau, gọi là quên thân cùng giác, nhưng chẳng phải Viên Giác. Phải Viên Giác quán thân tâm đều tiêu diệt thì mới cùng khắp hư không. 

Bây giờ còn thân, tuy quên thân còn có cái giác. Nên thân và tâm cần phải tiêu diệt, không còn thân xúc và không còn tâm biết nữa. Còn tâm biết thì có ngằn mé, chẳng phải Viên Giác quán. Mới có thể chẳng xúc chẳng nhờ thân biết mà thầm hội (ngộ). 

Nhờ thân xúc mới biết thì không phải ngộ, vạn pháp nay có thân xúc thì sự biết có ngằn mé; nhờ thân xúc vật cứng biết là cứng, xúc vật mềm biết là mềm; chỉ là theo sự xúc mà biết chỗ xúc, còn ngoài ra thì không biết, nó hạn chế trong cái xúc đó. Vì có ngằn mé thì không phải viên thông. Cho nên nói: Làm sao được viên thông?

 Ý căn lộn vọng tưởng,
 Chẳng thấy tánh trong lặng.
 Tưởng niệm chẳng giải thoát,
 Làm sao được viên thông?

Ý căn ngày đêm hay sanh vọng tưởng, ban đêm vọng tưởng sanh ra nhắm mắt chiêm bao. Ban ngày vọng tưởng sanh ra mở mắt chiêm bao. Nó luôn lộn với vọng tưởng thì mất đi tánh trong lặng. Có thiền định mới có tánh trong lặng, hàng ngày chúng ta cứ lộn với vọng tưởng, gọi là nhất niệm vô minh  thì chẳng thấy tánh trong lặng
Hàng ngày cứ nhất niệm này qua nhất niệm kia, mình muốn thoát khỏi, nhưng không được vì tập khí đã có từ lâu đời. Như cuộc sống hàng ngày phải lo tiền nhà, tiền ăn uống, lo cái này cái kia,… nên không thể thoát được. Trừ ra tham thiền đến kiến tánh mới thoát khỏi được. Vậy tưởng niệm chẳng giải thoát, làm sao được viên thông?

 Kiến tướng, thức hòa hợp,
 Cả ba vốn chẳng tướng.
 Tự thể đã chẳng định,

Làm sao được viên thông?

Kiến là năng thấy, tướng là sở thấy, thức là phân biệt. Mắt tôi là kiến, thấy cái tách là tướng; do thức phân biệt cái tách có con rồng màu vàng, ba cái hòa hợp. Nhưng ba cái chẳng có tánh. Tại sao? Năng kiến ở đâu? Không phải chỗ kiến, cũng không phải chỗ tướng, cũng không phải chỗ thức. Tức là không phải từ kiến ra, không phải từ tướng ra, không phải từ thức ra. Vậy cả ba chẳng có tướng, tự thể đã chẳng định, làm sao được viên thông?

 Tâm văn khắp mười phương,
 Sanh nơi đại nguyện lực.
 Sơ cơ chẳng thể vào,
 Làm sao được viên thông? 

Văn là nghe, không phải dùng tai để nghe, mà dùng tâm để nghe. Dùng tai nghe thì có hạn chế, nghe không xa được. Dùng tâm nghe thì mới xa, vì khắp mười phương hư không. Nhưng tâm văn ấy thành đạo đều có nguyện lực, thì lúc thành Phật, theo bản nguyện mà độ chúng sanh khắp mười phương. Bây giờ mình sơ cơ mới học tu, đâu có được định lực đó. Vậy làm sao được viên thông? 

 Quán mũi là phương tiện,
 Chỉ khiến nhiếp tâm trụ.
 Trụ thành tâm sở trụ,
 Làm sao được viên thông?

Có một vị quán mũi thấy hơi thở trắng hết, nhưng đó chỉ là phương tiện, chỉ khiến nhiếp tâm trụ, tức là chú tâm ở ngay chỗ hơi thở ra của mũi, ngoài ra chỗ khác không để ý. Ban đầu tâm không trụ được, đến chừng trụ tâm được một chỗ rồi, thì chỗ đó thành có sở trụ. Có sở trụ là chướng ngại cái dụng của tâm, nên không được viên thông. Vì bản thể của tâm là vô sở trụ.

 Thuyết pháp dùng âm thanh,
 Khai ngộ người đã thành.
 Lời nói chẳng vô lậu.
 Làm sao được viên thông?

Tu Bồ Đề thuyết pháp là hạng nhất, nhưng thuyết pháp là để cho người tu đến mức độ công phu gần đến ngộ, khi nghe đến đó thì ngộ liền. Nếu dùng âm thanh để khai ngộ cho người công phu gần thành tựu thì mới được. 

Những người sơ tham, mặc dầu tham năm, mười năm mức độ còn kém thì nghe đâu thể khai ngộ! Nếu nghe mà chấp theo kiến giải thì thêm chướng ngại. Thành ra lời nói chẳng vô lậu. Lậu là tập khí phiền não. Cho nên không được viên thông.

 Trì phạm chỉ trói thân,
 Phi thân chẳng thể trói. 
 Vốn chẳng khắp tất cả,
 Làm sao được viên thông?

Khi thọ giới, cư sĩ tại gia thọ ngũ giới, hoặc thọ Bồ Tát giới, hay thọ Bát Quan Trai giới; có theo giới thực hành gọi là trì, nếu phạm giới gọi là phạm. Ở đây nói: “Trì với phạm đều là trói thân”. Vô sắc giới không có thân, lấy cái gì để trì để phạm? 
Vậy trì phạm là người có thân. Vô sắc giới cũng là phàm phu vậy! Sắc giới và dục giới phải có trì phạm, vì họ có thân. Còn phi thân (chẳng có thân), như vô sắc giới không có thân thì không thể trói. Cho nên, không cùng khắp, làm sao được viên thông?

 Thần thông vốn sẵn đủ,
 Chẳng do luyện mới có.
 Tác ý không lìa vật,
 Làm sao được viên thông?

Thần thông của mọi chúng sanh đều sẵn đầy đủ bằng như Phật, nhưng Phật làm được mà mình làm không được, vì tư tưởng mình chấp thật nên bị chướng ngại, tức là tập khí phiền não làm chướng ngại. Mình tu là luyện bỏ tập khí, nhưng thần thông này không phải do luyện mà có; tức là không phải do tu mới có, đã sẵn có nhưng chưa hiện ra nên dùng chẳng được.

Thần thông của tâm mình khỏi cần tác ý, như thần thông của Quán Thế Âm không cần tác ý gọi là vô tác diệu lực. Tất cả tà ma ngoại đạo có tác ý mới dùng thần thông được. Tác ý thì phải dính mắc với vật, không lìa được vật chất thì bị vật chất làm chướng ngại, làm sao được viên thông?

 Nếu quán theo tánh địa,
 Ngăn ngại chẳng thông suốt.
 Hữu vi chẳng phải tánh,
 Làm sao được viên thông?

Địa là ngăn ngại thì không thông suốt. Địa thuộc hữu vi, nếu dùng hữu vi thì không phải bậc thánh, vô vi mới là bậc thánh. Hữu vi chẳng phải thánh, làm sao được viên thông? 

 Nếu quán theo tánh thủy,
 Niệm tưởng chẳng chơn thật.
 Giác quán chẳng như như,
 Làm sao được viên thông?

Thủy cũng vậy, niệm tưởng không chân thật, nổi niệm mới có. Niệm đó không chân thật gọi là vọng niệm. Giác quán là như như, không có niệm nào hết. Nếu có tưởng niệm thì không giác quán, như vậy làm sao được viên thông?

 Nếu quán theo tánh hỏa,
 Có chán chẳng phải chơn. 
 Chẳng thích hợp sơ cơ,
 Làm sao được viên thông?

Chơn là chơn giải thoát, chán là nhàm chán, cũng như mình sợ lửa. Nếu có chán thì không giải thoát, chẳng thích hợp sơ cơ, làm sao được viên thông?
 
 

ML
01
02
03
04
05
06
07
08
09
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20

Liên Hệ:
Kinh Thủ Lăng Nghiêm Tông Thông, HT. Nhẫn Tế
Kinh Thủ Lăng Nghiêm, HT. Thích Duy Lực
Tổng Luận Kinh Lă ng Nghiêm Trưc Chỉ, HT. Thích Thiện Siêu
Pháp Tu Lăng Nghiêm Ðại Ðịnh, HT. Thích Huệ Hưng
Phép Tu Lăng Nghiêm Ðại Ðịnh

 
c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap