HT.
DUY LỰC
GIẢNG
ĐẠI
PHẬT ĐẢNH THỦ LĂNG NGHIÊM KINH
(Tập
hai)
Chánh
văn:
A Nan
và đại chúng nghe lời dạy vô thượng và bài tụng tinh túy,
diệu lý trong suốt của Phật, tâm được sáng tỏ, tán thán
pháp chưa từng có. A Nan chắp tay đảnh lễ bạch Phật:
-Nay
con dù nghe pháp tánh chơn thật, vi diệu trong sạch của Phật,
nhưng tâm còn chưa thấu nghĩa "lục mở nhất tiêu" theo thứ
tự của mở thắt, xin Phật rủ lòng từ bi, thương xót cả
hội này và chúng sanh đời vị lai, bố thí pháp âm và rửa
sạch trần cấu cho chúng con.
Tức
thời, Như Lai từ nơi tòa sư tử, chỉnh áo trong và sửa đại
y, dựa vào ghế thất bảo, lấy cái khăn bông của cõi Trời
Dạ Ma cúng dường ở trước mặt đại chúng thắt một cái
kết, rồi hỏi A Nan:
-Đây
gọi là gì?
A Nan
và đại chúng đều đáp:
-Gọi
là thắt kết.
Như
Lai thắt thêm một kết nữa, lại hỏi A Nan:
-Đây
gọi là gì?
A Nan
và đại chúng lại đáp:
-Đây
cũng gọi là thắt kết.
Phật
tuần tự thắt sáu cái kết trên khăn, mỗi khi thắt xong một
cái, đều lấy cái kết vừa thắt hỏi:
-A
Nan! Đây gọi là gì?
A Nan
và đại chúng cũng tuần tự đáp lại Phật:
-Đây
gọi là thắt kết.
Phật
bảo A Nan:
-Khi
ta mới thắt cái khăn thì ngươi gọi là thắt kết, khăn bông
này vốn chỉ có một, tại sao lần thứ hai, lần thứ ba các
ngươi cũng gọi là thắt kết?
A Nan
bạch Phật:
-Khăn
này dù chỉ có một theo con nghĩ: Như Lai thắt một lần thì
được gọi là một cái kết, nếu thắt đến trăm lần thì
phải gọi là trăm cái kết, huống là khăn này chỉ có sáu
kết, không lên đến bảy, cũng không ngưng ở năm, tại sao
Như Lai chỉ cho cái đầu tiên được gọi là thắt kết, còn
cái thứ hai, thứ ba thì chẳng gọi là thắt kết?
Phật
bảo A Nan:
-Ngươi
biết khăn bông này vốn chỉ là một, khi ta thắt sáu lần
thì gọi là sáu kết. Ngươi hãy xét kỹ, bản thể của khăn
là đồng, do thắt kết mà thành khác. Ý ngươi thế nào? Cái
thắt kết đầu tiên thì gọi là kết thứ nhất, như vậy
cho đến cái kết thứ sáu, nay ta muốn gọi cái kết thứ
sáu thành kết thứ nhất, có được chăng?
-Bạch
Thế Tôn! Sáu kết nếu còn thì cái thứ sáu chẳng thể gọi
là cái thứ nhất, dẫu cho con dùng hết biện tài nhiều kiếp
để sáng tỏ nghĩa lý, cũng chẳng thể khiến sáu thắt kết
lộn tên được.
Phật
nói:
-Đúng
thế! Sáu kết chẳng đồng chỉ do một khăn tạo ra, nhưng
muốn làm cho sáu kết đảo lộn tên gọi, thì chẳng thể
được. Lục căn của ngươi cũng vậy, trong rốt cuộc đồng,
sanh rốt cuộc khác, ngươi ắt chê sự khác nhau của sáu kết,
mà mong muốn thành đồng một, thì phải làm sao mới được.
A Nan
đáp:
-Thắt
kết nếu còn thì thị phi mống khởi, trong đó tự sanh phân
biệt kết này chẳng phải kết kia, kết kia chẳng phải kết
này. Nếu hôm nay Như Lai giải tỏa tất cả, thắt kết chẳng
sanh nữa thì không có bỉ thử, nhất còn chẳng có, làm sao
thành lục?
Phật
bảo:
-Cái
nghĩa "Lục mở nhất tiêu" cũng như thế, do tâm ngươi cuồng
loạn từ vô thỉ, vọng sanh tri kiến, sanh mãi không thôi,
như con mắt ngó lâu mỏi mệt phát ra cảnh trần, thì có hoa
đốm lăng xăng vọng khởi nơi tánh trong lặng, các tướng
thế gian như núi sông, đất đai, sanh tử, Niết Bàn v.v...
tất cả đều là tướng hoa đốm điên đảo do mỏi mệt
mà phát sanh.
A Nan
hỏi:
-Cái
mỏi mệt này cũng như cái thắt kết kia, làm sao mở được?
Như
Lai lấy tay cầm khăn đã thắt, kéo riêng mối bên trái, rồi
hỏi A Nan:
-Thế
này có mở được chăng?
-Bạch
Thế Tôn! Không ạ. Phật lại lấy tay kéo riêng mối bên phải,
hỏi A Nan:
-Thế
này có mở được chăng?
-Bạch
Thế Tôn! Không ạ.
Phật
bảo A Nan:
-Nay
ta lấy tay kéo mối hai bên mà chẳng mở được, vậy ngươi
có cách nào để mở chăng?
-Bạch
Thế Tôn! Nên mở nơi trung tâm thắt kết thì tan rã ngay.
Phật
nói:
-Đúng
thế! Đúng thế! Muốn giải tỏa thắt kết thì phải mở
nơi trung tâm thắt kết. A Nan, ta thuyết pháp từ nhân duyên
ra, chẳng phải lấy tướng thô hòa hợp của thế gian. Như
Lai phát minh pháp thế gian và xuất thế gian, đều biết rõ
bản nhân của nó theo sở duyên gì mà ra; cho đến quá trình
dời đổi của một giọt mưa ở ngoài hằng sa thế giới,
trước mắt các thứ tòng thẳng, gai cong, cò trắng, quạ đen
v.v.. đều rõ nguyên do.
A Nan!
Nay tùy ngươi lựa chọn một căn nơi Lục căn, nếu giải
tỏa được gốc căn thì tướng trần tự diệt, vọng tưởng
liền tiêu, vậy chẳng phải chơn là gì?
-A
Nan! Ta lại hỏi ngươi: Cái khăn sáu kết này nếu cùng một
lượt mở ra, có được chăng?
-Bạch
Thế Tôn! Không ạ! Kết này khi thắt có thứ tự, nay mở
cũng phải theo thứ tự. Sáu kết dù đồng thể, nhưng thắt
chẳng cùng thời, thì làm sao có thể mở cùng một lượt?
Phật
nói:
-Giải
tỏa lục căn cũng như vậy, căn này vừa bắt đầu giải
tỏa thì được Nhân Ngã Không, nếu tánh Không sáng tỏ, thì
Pháp Ngã giải thoát, thành tựu pháp giải thoát xong, cả hai
thứ Không đều chẳng sanh, ấy gọi là từ Tam Ma Địa, chứng
Vô Sanh Pháp Nhẫn của Bồ Tát.
A Nan
và đại chúng nghe Phật khai thị huệ giác viên thông, chẳng
còn nghi hoặc, bèn chắp tay đảnh lễ, bạch Phật rằng:
-Nay
chúng con thân tâm rõ ràng vô ngại, dù đã ngộ cái nghĩa
"nhất lục đều tiêu", nhưng còn chưa thấu đạt nguồn gốc
của viên thông. Thế Tôn, chúng con bị trôi lăn lẻ loi từ
nhiều kiếp, ngờ đâu lại được làm con của Phật, như
đứa bé khát sữa bỗng được gặp mẹ, nếu nhân cơ hội
này mà thành đạo, được mật ngôn của Phật, đồng với
bổn ngộ của con, thì mới tự rõ: Nghe và chưa nghe chẳng
có sai biệt.
Xin
Phật rủ lòng từ bi ban cho bí nghiêm để con được thành
tựu lời khai thị cuối cùng của Như Lai. Nói xong, năm vóc
gieo sát đất, lui về chỗ ẩn mật, mong Phật âm thầm mật
thọ.
Lược
giải:
Phật
khai thị "Huệ giác viên thông" tức "Lục mở nhất tiêu" và
đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn kể trên, do "Lục mở" nên thân được
vô ngại; do "nhất tiêu" nên tâm được vô ngại, dù chưa
đến nơi lục căn thanh tịnh, nhưng nhổ nhất thì lục tiêu,
lục tiêu thì nhất diệt, đã rõ ràng chẳng còn nghi hoặc,
nhưng A Nan còn chưa ngộ nguồn gốc của viên thông ở đâu;
căn nào viên thông nhất; dựa theo căn nào sâu vào mới mau
chứng được viên thông.
Sự
dựa theo căn viên thông, chứng quả viên thông, nơi A Nan thì
do đó thành đạo, nơi Như Lai thì là lời khai thị cuối cùng,
nên A Nan mong Phật chẳng tiếc bí nghiêm (pháp vi diệu nhiệm
mầu), mà âm thầm mật thọ. Nếu nói về căn viên thông thì
có thể hiển bày, so sánh căn nào viên thông nhất để dựa
theo đó vào Tam Ma Địa còn có thể được; nếu muốn ngay
đó chứng ngộ thì phải mỗi mỗi tự tu tự chứng, đâu
thể nhờ lời nói mà đến được! Lời nói còn chẳng thể
đến thì làm sao có thể mật thọ?
Nhưng
theo ý của A Nan, mong Phật mật thọ, tức là Phật chẳng
dùng lời nói để nói, gọi là mật ngôn; A Nan chẳng dùng
cái nghe để nghe, gọi là bổn ngộ, nên nói "được mật
ngôn của Phật, tức đồng bổn ngộ của con", có nghe đồng
như chưa nghe, thường nghe khi chưa nghe, gọi là chơn nghe, nên
lui về chỗ ẩn mật mà mong cầu mật thọ.
Giả
sử Phật có thể truyền thọ, A Nan có thể đắc được,
thì chẳng phải là bí mật rồi, nếu do đó mà được chứng
viên thông thì chẳng phải viên thông rồi. Sự chứng ngộ
phải do tự ngộ, đâu thể do người khác ban cho mà được!
Giảng
giải:
Đoạn
này Phật giải thích lục mở nhất tiêu. Phật dùng 1 cái
khăn bông thắt 6 cái kết. Đem kết thứ 1 không được làm
kết thứ 6, vì mỗi kết khác nhau. Lục căn đều là cái dụng
của một tâm. Một tâm như cái khăn bông, lục căn cũng như
6 thắt kết.
Nếu
lục căn còn thì không thể cho tai là mắt, không thể cho tai
là mũi; nó lộn với nhau không được, mỗi căn có nhiệm
vụ riêng của nó. Mỗi căn cũng là dụng của tâm, nhưng đã
thành lục căn thì mỗi căn khác nhau. Như 1 cái khăn bông,
khi thắt thành 6 cái kết thì mỗi cái kết khác nhau.
Làm
sao cho 6 cái kết không khác nhau? A Nan nói: Phải mở hết 6
cái thắt kết thì khôi phục lại cái khăn. Muốn giải tỏa
làm sao?
Phật
nói: Kéo qua bên này được không?
A Nan
trả lời: Không được.
Phật
nói: Kéo qua bên kia được không?
A Nan
trả lời: Không được.
Phật
lại hỏi: Vậy làm sao giải tỏa?
A Nan
trả lời: Phải mở ngay trung tâm thắt kết mới giải tỏa
được.
Chỗ
này, Ngưỡng Sơn thí dụ: Một cái phòng có 6 cửa sổ mở,
ở giữa phòng đốt 1 cây đèn. Muốn ánh sáng không lọt ra
ngoài thì phải đóng hết 6 cái cửa sổ. Nếu có một cái
cửa chưa đóng kín thì ánh sáng sẽ lọt ra. Dùng màn che cửa
sổ, không bằng tắt cây đèn là xong, khỏi cần che từng
cửa sổ. Ý nghĩa thí dụ này là nhất bỏ lục tiêu, tức
là một căn trở về cội thì lục căn hoàn toàn giải thoát.
Phật
khai thị huệ giác viên thông (bản giác của mình sáng suốt
gọi là huệ giác. Viên là viên tròn. Thông là không chướng
ngại), tức là lục mở nhất tiêu đắc vô sanh pháp nhẫn
(trên có nói), do lục mở nên thân được vô ngại, do nhất
tiêu nên tâm được vô ngại.
Chứng
tỏ ngưng cái tâm thì mấy cái kia tự ngưng. Như Ngưỡng Sơn
nói: “Tắt cây đèn khỏi cần che màn”. Cho nên ở đây
nói: “Nhất tiêu nên tâm không chướng ngại”. Tại cho cái
tâm là năng sáng thì kiến lập sở sáng, do cái sáng thành
lỗi lầm.
Dù
chưa đến nơi lục căn thanh tịnh, nhưng nhổ nhất thì lục
tiêu, lục tiêu thì nhất diệt. Nhổ nhất như tắt cây đèn
thì ánh sáng 6 cửa không còn. Vì ánh sáng vốn không có, làm
sao lọt ra ngoài! Đã rõ ràng chẳng còn nghi hoặc. Nhưng A
Nan chưa ngộ nguồn gốc của viên thông ở đâu? Căn nào viên
thông nhất? Dựa theo căn nào sâu vào mới chứng được viên
thông?
Có
25 viên thông, chọn căn nào trong lục căn để tu cũng được.
Kinh này nói: “Chọn nhĩ căn là thích hợp”, gọi là phản
văn văn tự tánh. Mình có tánh nghe, vì có âm thanh nên đặt
tên nghe. Phản văn là lìa âm thanh, lìa âm thanh rồi đặt
tên nghe cho ai? Tức là phản văn không còn nghe nữa.
Như
tắt cây đèn thì không còn ánh sáng, làm sao có ánh sáng lọt
ra ngoài cửa sổ? Theo mặt chữ “phản văn” để giải thích,
ấy là hại người. Nhiều Pháp sư nói: “ Phản văn là không
nghe ở ngoài, mà nghe ở trong”. Nghe trong cũng là nghe vậy!
Tức là không nghe động thì nghe tịnh. Nếu không động tịnh
thì tánh nghe dựa vào đâu để nghe?
Tại
có sáng tối mới có sự thấy, có động tịnh nên có sự
nghe. Động tịnh đã không có thì lấy cái gì để mà nghe
nữa! Nói phản văn, sự thật không có nghe. Phản văn là nghe
tánh nghe, tánh nghe tự nghe, gọi là phản văn. Nhưng tánh nghe
khỏi cần nghe, vì nó tồn tại vĩnh viễn. Có âm thanh hay
không âm thanh, không làm cho tánh nghe sanh diệt. Như có tiếng
chuông hay không tiếng chuông thì tánh nghe chẳng bớt chẳng
thêm.
Tất
cả động tịnh không còn, tánh nghe cũng không mất. Sau có
nói tánh nghe là: “Thường nghe khi chưa nghe”. Tánh nghe không
nghe nhưng vẫn nghe, tức là dụng tự động không qua tác ý,
nên gọi là Bát Nhã. Tánh thấy, tánh nghe, tánh ngửi,… mình
không có ý dùng, nó mới hiện ra dùng, vì cái dùng cùng
khắp thời gian.
Sự
dựa theo căn viên thông, chứng quả viên thông, nơi A Nan do
đó thành đạo, nơi Như Lai là khai thị cuối cùng, nên A Nan
chẳng tiếc bí nghiêm (pháp vi diệu nhiệm mầu), mà âm thầm
mật thọ. Nếu nói về căn viên thông thì có thể hiển bày,
so sánh căn nào viên thông nhất, để dựa theo đó vào Tam
Ma Địa còn có thể được; nếu muốn ngay đó chứng ngộ
thì phải mỗi mỗi tự tu tự chứng, đâu thể nhờ lời nói
mà đến được! Lời nói còn chẳng đến làm sao có mật
thọ? (Bí mật truyền thọ)
Nhưng
theo ý của A Nan, mong Phật mật thọ, tức là Phật chẳng
dùng lời nói để nói gọi là mật ngôn; A Nan chẳng dùng
cái nghe để nghe gọi là bổn ngộ (bổn giác đã sẵn có,
tuy mình chưa ngộ, nhưng Phật nói: Tất cả chúng sanh đều
đã thành Phật), nên nói “được mật ngôn của Phật, tức
đồng như bổn ngộ của con”.
Phật
không dùng lời nói để nói, thì A Nan không dùng cái nghe để
nghe. Không có cái nghe để nghe mới gọi là chơn nghe.
Chỗ
này nói: “Có nghe đồng như chưa nghe, thường nghe khi chưa
nghe”, bản nghe là vậy. Không phải có tiếng mới nghe tiếng,
không phải im lặng mới nghe tịnh. Động tịnh đều lìa,
cũng tức động tức tịnh. Không phải không biết động,
không phải không biết tịnh, chỗ này cần phải ngộ mới
được.
Có
nghe đồng như chưa nghe, thường nghe khi chưa nghe gọi là chơn
nghe, nên lui về chỗ ẩn mật mà mong cầu mật thọ.
Giả
sử Phật có thể truyền thọ, A Nan có thể đắc được thì
chẳng phải là bí mật, nếu do đó mà chứng được viên
thông thì chẳng viên thông. Sự chứng ngộ phải do tự ngộ,
đâu thể do người khác ban cho mà được!
Bản
kiến, bản nghe, bản ngửi đều là biệt danh của tự tánh
(Phật tánh, chân tâm), khỏi cần qua sự tác ý nên gọi là
Bát Nhã, đang dùng nhưng mình không biết. Như tất cả vũ
trụ vạn vật đều nhờ hư không để dùng. Nhưng hư không
chẳng nói dùng, chẳng nói không dùng; hư không bất động,
nhưng hiển bày đủ thứ dùng.
Cái
không của tách đang dùng, cái không của nhà cũng đang dùng;
cái không chẳng động, chẳng nói dùng và không dùng, nhưng
nó đang dùng. Chỗ này khó hiểu, nên phải ngộ mới được.
Vì cái dùng nó sẵn sàng, tôi giảng các vị đang nghe đều
là cái dùng của tâm. Mỗi mỗi có thân nam thân nữ đều
là cái dùng của tâm. Dùng kính hiển vi để nhìn cái bàn,
mỗi hạt nguyên tử đang xoay, cũng là cái dùng của tâm.
Lục
Tổ nói: “Chẳng phải gió động, chẳng phải phướn động,
mà tâm của các ông động”, sức động ở đâu có? Ở tâm.
Nếu không có thì sức động từ đâu ra? Vũ trụ nhỏ, vũ
trụ lớn xoay như vậy. Tế bào của thân thể mình cũng xoay
như vậy, nó cứ xoay hoài; kính hiển vi chỉ thấy hạt nguyên
tử, nếu nhìn hạt trung tử, điện tử thì thấy không biết
bao nhiêu sự tổ chức thành hạt điện tử. Vi tế thêm vi
tế gọi là nhiệm mầu.
Mà
sự thật tất cả đều do tâm tạo, cho nên Trương Bảo Thắng
đi qua vách tường rất dễ dàng, như không có vách tường
vậy. Tôi đang mặc quần, y lấy quần áo của tôi, nhưng tôi
không biết. Chứng tỏ tất cả do tâm tạo, tâm tạo thì tất
cả vật chất đều không thật.
Nhà
khoa học phải có tai mắt tiếp xúc thì họ mới chịu. Phân
tích con số thời gian rất nhỏ, họ không biết; sức động
của hạt nguyên tử từ đâu ra cũng không biết, cái không
biết đó họ cho là tự nhiên.
Nhưng
Phật phủ định tự nhiên, nếu tự nhiên khỏi cần nhân
duyên. Nhân duyên mà không có nhân đầu tiên thì không thành
lập nhân duyên được, nên hai cái Phật đều phủ định.
Phật nói trong kinh Lăng Nghiêm: “Không phải nhân duyên, cũng
không phải tự nhiên”. Nhà khoa học chỉ biết nhân duyên.
Chánh
văn:
Lúc
bấy giờ, Thế Tôn bảo khắp chư Đại Bồ Tát và hàng vô
lậu Đại A La Hán trong chúng rằng:
-Các
ngươi là hàng Bồ Tát và A La Hán trong pháp ta, đã chứng
quả vô học, nay ta hỏi các ngươi: Trong lúc mới phát tâm,
nơi thập bát giới, ở giới nào mà ngộ được viên thông,
và do phương tiện gì được vào Tam Ma Địa.
Kiều
Trần Na trong nhóm năm vị Tỳ Kheo, liền từ chỗ ngồi đứng
dậy, đảnh lễ chân Phật mà bạch rằng:
-Con
ở Lộc Uyển và Kê Viên được lời dạy của Phật khi mới
thành đạo, do âm thanh Phật ngộ Tứ Thánh Đế. Khi đó, Phật
hỏi các Tỳ Kheo, con là người ngộ giải trước tiên, Như
Lai ấn chứng cho con tên là A Nhã Đa (ngộ giải), được diệu
âm mật viên. Con do âm thanh mà đắc quả A La Hán, Phật hỏi
về viên thông, như chỗ chứng của con, thì Âm Thanh là hơn
cả.
Ưu
Ba Ni Sa Đà liền đứng dậy, đảnh lễ bạch Phật:
-Con
cũng được lời dạy của Phật khi mới thành đạo, con quán
tướng bất tịnh, sanh lòng nhàm chán, ngộ các tánh sắc đều
là bất tịnh như xác chết, xương cốt thúi mục hóa ra vi
trần, rồi cuối cùng trở thành hư không. Sắc và Không cả
hai vốn chẳng có nên thành đạo vô học.
Như
Lai ấn chứng cho con tên là Ni Sa Đà (tánh không), tướng trần
đã sạch, thì diệu sắc mật viên. Con do sắc tướng mà đắc
quả A La Hán, Phật hỏi về viên thông, như chỗ chứng của
con thì Sắc Tướng là hơn cả.
Hương
Nghiêm Đồng Tử liền đứng dậy đảnh lễ bạch Phật:
-Con
nghe Như Lai dạy quán các tướng hữu vi, khi về trai đường
tĩnh tọa, đang lúc thiền quán, thấy các Tỳ Kheo đốt hương
trầm thủy, mùi hương lặng lẽ bay vào lỗ mũi. Con quán mùi
hương này phi gỗ phi không, phi khói phi lửa, chẳng từ đâu
đến, chẳng đi về đâu, do đó, ý căn tiêu diệt, phát minh
vô lậu, Như Lai ấn chứng cho con hiệu là Hương Nghiêm, hương
trần đã diệt thì diệu hương mật viên. Con do hương nghiêm
đắc quả A La Hán, Phật hỏi về viên thông, như chỗ chứng
của con, thì Hương Trần là hơn cả.
Hai
vị Pháp Vương Tử Dược Vương và Dược Thượng, cùng với
năm trăm Phạn Thiên trong hội, liền đứng dậy đảnh lễ
bạch Phật:
-Chúng
con làm lương y nơi thế gian nhiều kiếp từ vô thỉ, trong
miệng từng nếm những cỏ cây, kim thạch trong cõi Ta Bà này,
đến mười vạn tám ngàn thứ, nên biết hết các vị đắng,
chua, mặn, lạt, ngọt, cay v.v... và sự biến đổi của các
vật hòa hợp hay tự sanh, là tánh thuốc nóng hay mát, có độc
hay chẳng độc, thảy đều biết cả.
-Từ
khi phụng sự Như Lai, rõ biết tánh vị phi không phi hữu,
phi tức thân tâm, phi lìa thân tâm, do phân biệt bản nhân
của vị trần mà khai ngộ, được Phật ấn chứng cho anh
em chúng con cái danh hiệu Dược Vương và Dược Thượng Bồ
Tát; nay ở trong hội này, làm Pháp Vương Tử. Chúng con do
vị trần mà giác ngộ, lên bậc Bồ Tát, Phật hỏi về viên
thông, như chỗ chứng của chúng con, thì Vị Trần là hơn
cả.
Bạt
Đà Bà La cùng các bạn mười sáu Đại Sĩ liền đứng dậy
đảnh lễ bạch Phật:
-Chúng
con trước kia ở nơi Phật Oai Âm Vương nghe pháp rồi xuất
gia, đến giờ tắm, chúng con theo lệ vào phòng tắm, bỗng
ngộ tánh nước đã chẳng rửa bụi, cũng chẳng rửa thân,
khoảng giữa an nhiên, vốn vô sở đắc.
Cho
đến hôm nay theo Phật xuất gia, vì sự huân tập từ xưa
chẳng quên, khiến đắc quả vô học, Như Lai đặt tên con
là Bạt Đà Bà La (hiền hộ) do phát minh diệu xúc, thành Pháp
Vương Tử, Phật hỏi về viên thông, như chỗ chứng của
con thì Xúc Trần là hơn cả.
Ma
Ha Ca Diếp và Tử Kim Quang Tỳ Kheo Ni liền đứng dậy đảnh
lễ bạch Phật:
-Kiếp
xưa, trong cõi này có Phật Nhật Nguyệt Đăng ra đời, con
được thân cận nghe pháp tu học, sau khi Phật diệt độ,
con thắp đèn liên tục cúng dường Xá Lợi, lại lấy vàng
Tử Kim Quang tô thếp hình tượng Phật. Từ đó đến nay,
đời đời kiếp kiếp, thân thể thường viên mãn sáng ngời
như vàng Tử Kim Quang. Tử Kim Quang Tỳ Kheo Ni này, tức quyến
thuộc cùng phát tâm khi xưa của con.
-Con
quán thế gian, lục trần đều biến hoại, chỉ y theo Pháp
Không Tịch, tu Diệt Tận Định, thì thân tâm mới có thể
trải qua trăm ngàn kiếp như búng ngón tay. Con do quán Pháp
Không, đắc quả A La Hán. Thế Tôn khen con tu hạnh đầu đà
bậc nhất, diệu pháp sáng tỏ, tiêu diệt phiền não, Phật
hỏi về viên thông, như chỗ chứng của con, thì Pháp Trần
là hơn cả.
A Na
Luật Đà liền đứng dậy đảnh lễ bạch Phật:
-Lúc
con mới xuất gia, thường ham nằm ngủ. Như Lai quở con là
loài súc sinh, nghe lời Phật quở, con khóc lóc tự trách, suốt
bảy ngày không ngủ, hư cả hai con mắt. Thế Tôn dạy con
tu pháp "Lạc Kiến Chiếu Minh Kim Cang Tam Muội" chẳng nhờ
con mắt, xem thấy mười phương rỗng suốt như trái cây trong
bàn tay; Như Lai ấn chứng cho con đắc quả A La Hán. Phật
hỏi về viên thông như chỗ chứng của con, thì Xoay Cái Thấy
Trở Về Bản Tánh là hơn cả.
Châu
Lợi Bàn Đặc Ca liền đứng dậy đảnh lễ bạch Phật:
-Con
kém trí nhớ, chẳng thể tụng trì, khi mới gặp Phật, nghe
Pháp rồi xuất gia, con cố nhớ một câu kệ của Như Lai,
trong một trăm ngày mà chẳng thuộc lòng, hễ nhớ trước
thì quên sau, nhớ sau thì quên trước, Phật thương xót con
ngu muội, dạy con an cư, tu Sổ Tức Quán.
Con
quán hơi thở đến chỗ cùng tột, thấy các hành tướng vi
tế dời đổi từng sát na nơi sanh, trụ, dị, diệt, tâm con
bỗng ngộ, được đại vô ngại, cho đến phiền não dứt
sạch, đắc quả A La Hán, trước pháp tọa của Phật, được
ấn chứng thành bậc vô học. Phật hỏi về viên thông như
chỗ chứng của con, thì Xoay Hơi Thở Trở Về Tánh Không là
hơn cả.
Kiều
Phạm Bạt Đề liền đứng dậy đảnh lễ bạch Phật:
-Con
có khẩu nghiệp khinh rẻ Sa Môn trong kiếp quá khứ, nên đời
đời mắc bệnh nhai như trâu, Như Lai dạy con pháp môn: "Nhất
Vị Thanh Tịnh Tâm Địa". Con quán tánh biết vị chẳng phải
thân thể, chẳng phải ngoại vật, ngay đó được siêu thoát
những tập khí thế gian, bên trong giải thoát thân tâm, bên
ngoài lìa bỏ thế giới, xa lìa tam giới như chim sổ lồng,
lìa cấu tiêu trần, pháp nhãn thanh tịnh, đắc quả A La Hán.
Như Lai ấn chứng cho con lên bậc vô học. Phật hỏi về viên
thông, như chỗ chứng của con, thì Xoay Cái Biết Vị Trở
Về Tự Tánh là hơn cả.
Tất
Lăng Già Bà Ta liền đứng dậy, đảnh lễ bạch Phật:
-Khi
con mới phát tâm theo Phật, thường nghe Như Lai dạy về những
việc chẳng vui trong thế gian. Lúc đi khất thực trong thành,
đang suy nghĩ pháp môn, bất giác bị gai góc đâm vào chân,
cả thân đau đớn con nghĩ: Có cái năng biết mới biết sự
đau đớn này; dù biết đau đớn, nhưng bản giác trong sạch,
vốn chẳng có năng đau và sở đau. Con lại suy nghĩ: Một
thân đâu thể có hai giác? (năng giác và sở giác).
Nhiếp
niệm chưa bao lâu, thân tâm bỗng thành không tịch, trong 21
ngày, các tập khí phiền não đều dứt sạch, đắc quả A
La Hán. Như Lai ấn chứng cho con lên bậc vô học. Phật hỏi
về viên thông, như chỗ chứng của con, thì Quên Thân Thuần
Giác là hơn cả.
Tu
Bồ Đề liền đứng dậy đảnh lễ bạch Phật:
-Con
từ nhiều kiếp đến nay, tâm được vô ngại, tự nhớ thọ
sanh nhiều đời như hằng sa; lúc còn trong thai đã biết tánh
Không Tịch, cũng khiến chúng sanh chứng được tánh Không,
như thế cho đến mười phương đều thành tánh Không.
Nhờ
Như Lai phát minh Giác Tánh Chơn Không, nên tánh Không được
sáng tỏ, đắc quả A La Hán, đốn nhập Tánh Không sáng tỏ
của Biển Giác, đồng Tri Kiến Phật, được ấn chứng thành
bậc vô học, về giải thoát tánh Không, con là bậc nhất,
Phật hỏi về viên thông như chỗ chứng của con thì chư tướng
phi tướng, cả năng phi và sở phi đều sạch, Xoay Pháp Về
Tánh Không là hơn cả.
Xá
Lợi Phất liền đứng dậy, đảnh lễ bạch Phật:
-Con
từ nhiều kiếp đến nay, Tánh Kiến của bản tâm trong sạch,
thọ sanh nhiều đời như hằng sa, đối với các pháp biến
hóa của thế gian và xuất thế gian, hễ thấy liền thông
suốt, được chẳng ngăn ngại.
Con
ở giữa đường gặp anh em Ca Diếp Ba thuyết nghĩa nhân duyên,
ngộ tâm chẳng bờ bến. Con theo Phật xuất gia, giác ngộ
Tánh Kiến sáng tỏ, được đại vô úy, đắc quả A La Hán,
do pháp âm của Như Lai hóa sanh, làm trưởng tử của Phật.
Phật hỏi về viên thông, như chỗ chứng của con, thì Tánh
Kiến Của Bản Tâm Sáng Tỏ, Sự Sáng Tỏ Đến Chỗ Cùng
Cực, Đồng Tri Kiến Phật là hơn cả.
Phổ
Hiền Bồ Tát liền đứng dậy đảnh lễ bạch Phật:
-Con
đã từng làm Pháp Vương Tử cho hằng sa Như Lai, mười phương
Như Lai dạy những đệ tử có căn cơ Bồ Tát, tu hạnh Phổ
Hiền, hạnh đó theo con mà lập tên.
Thế
Tôn, con dùng Tánh Văn của bản tâm, phân biệt tất cả tri
kiến của chúng sanh. Nếu ở phương khác, ngoài hằng sa thế
giới, mỗi thế giới đều có chúng sanh phát tâm theo hạnh
Phổ Hiền, thì liền trong lúc đó con cỡi voi sáu ngà, phân
thân thành trăm ngàn, đồng thời đến mọi nơi, dẫu cho họ
nghiệp chướng còn sâu, chưa thấy được con, con cũng thầm
xoa đầu họ, ủng hộ an ủi, khiến cho họ được thành tựu
hạnh nguyện. Phật hỏi về viên thông, nơi bản nhân của
con thì Tánh Văn của Bản Tâm Sáng Tỏ, Phân Biệt Tự Tại
là hơn cả.
Tôn
Đà La Nan Đà liền đứng dậy, đảnh lễ bạch Phật:
-Lúc
con mới theo Phật xuất gia, dù giữ đủ giới luật, nhưng
với pháp Tam Ma Địa, tâm thường tán loạn, chưa được vô
lậu.
Thế
Tôn dạy con và Câu Si La quán nơi chót mũi, lúc con mới bắt
đầu tu quán này, trải qua 21 ngày, thấy hơi thở ra vào như
khói, thân tâm sáng tỏ, chiếu khắp thế giới thành rỗng
không, trong sạch như lưu ly; tướng khói dần dần tiêu tan,
hơi thở hóa thành màu trắng, tâm được khai ngộ, tập khí
dứt sạch, những hơi thở ra vào hóa thành ánh sáng chiếu
khắp mười phương thế giới, đắc quả A La Hán.
Thế
Tôn thọ ký cho con sẽ được Bồ Đề. Phật hỏi về viên
thông, con do Quán Sổ Tức, Tiêu Diệt Hơi Thở, Quán Lâu Phát
Minh Sáng Tỏ, Dứt Sạch Phiền Não là hơn cả.
Phú
Lâu Na Di Đa La Ni Tử liền đứng dậy, đảnh lễ bạch Phật:
-Con
từ nhiều kiếp đến nay, được biện tài vô ngại, thuyết
pháp Khổ Không, thông đạt thật tướng, như thế cho đến
pháp môn bí mật của hằng sa Như Lai, đều vi diệu khai thị
cho chúng sanh được sức vô úy.
Thế
Tôn biết con có biện tài lớn, dạy con dùng âm thanh giúp
Phật chuyển pháp luân, hoằng dương Chánh Pháp. Con do thuyết
pháp, đắc quả A La Hán. Thế Tôn ấn chứng cho con thuyết
pháp bậc nhất. Phật hỏi về viên thông, con do Pháp Âm Hàng
Phục Tà Ma Ngoại Đạo, Tiêu Diệt Tập Khí Phiền Não là
hơn cả.
Ưu
Ba Ly liền đứng dậy, đảnh lễ bạch Phật:
-Con
theo Phật, vượt thành xuất gia. Như Lai sáu năm khổ hạnh,
hàng phục tà ma, chế phục ngoại đạo, giải thoát tham dục
phiền não của thế gian, tất cả con đều đích thân được
thấy. Phật dạy con trì giới, cho đến ba ngàn oai nghi, tám
vạn tế hạnh, các Tánh Nghiệp và Giá Nghiệp thảy đều
trong sạch, thân tâm tịch diệt, đắc quả A La Hán.
Con
là người điều hành kỷ luật trong chúng. Thế Tôn ấn chứng
cho con tu thân trì giới bậc nhất. Phật hỏi về viên thông,
con do Trì Thân, Thì Thân Được Tự Tại, Lần Đến Trì Tâm,
Tâm Được Thông Suốt, Rồi Cả Thân Tâm Đều Thông Triệt
là hơn cả.
Đại
Mục Kiền Liên liền đứng dậy, đảnh lễ bạch Phật:
-Trước
kia con khất thực giữa đường, gặp ba anh em Ca Diếp Ba là:
Ưu Lâu Tần Loa, Già Gia, và Na Đề, giảng về nghĩa nhân duyên
thâm sâu của Như Lai, con liền phát tâm, được đại thông
đạt. Như Lai ban cho con áo cà sa đắp trên mình, râu tóc tự
rụng, con đi khắp mười phương được chẳng ngăn ngại,
phát ra thần thông là bậc nhất, đắc quả A La Hán.
Chẳng
những Thế Tôn, cả mười phương Như Lai đều khen thần lực
con sáng tỏ trong sạch, tự tại vô úy. Phật hỏi về viên
thông, con do xoay Ý Thức Lăng Xăng, Trở Về Tịch Lặng, Nên
Diệu Tâm Sáng Tỏ, như lắng nước đục lâu thành trong sáng
là hơn cả.
Ô
Xô Sắt Ma chắp tay đảnh lễ bạch Phật:
-Con
thường nhớ những kiếp xưa, tánh hay tham dục. Lúc ấy có
Phật Không Vương ra đời, nói người đa dâm như đống lửa
hồng, dạy con quán khắp hơi lạnh và nóng trong cơ thể, ánh
sáng tự tánh lặng đứng nơi trong, hóa tâm đa dâm thành lửa
trí huệ, từ đó chư Phật đều gọi con là Hỏa Đầu.
Con
nhờ sức "Hỏa Quang Tam Muội", đắc quả A La Hán; trong tâm
phát đại nguyện, chư Phật thành đạo, con sẽ làm lực sĩ,
uốn dẹp bọn tà ma. Phật hỏi về viên thông, con do Quán
Hơi Ấm Nơi Thân Tâm Lưu Thông Chẳng Ngại, Phiền Não Dứt
Sạch, Sanh Lửa Trí Huệ, Chứng Vô Thượng Giác là hơn cả.
Trì
Địa Bồ Tát liền đứng dậy, đảnh lễ bạch Phật:
-Con
nhớ kiếp xưa, khi Phật Phổ Quang ra đời, con làm Tỳ Kheo,
thường hay sửa sang những đoạn đường, bến nước, nơi
gập ghềnh, lồi lõm làm cản trở xe cộ, hoặc làm cầu cống,
hoặc gánh đất cát, siêng năng chịu cực, trải qua nhiều
đời Phật. Hoặc có chúng sanh ở nơi chợ búa cần người
mang đồ, con liền mang giúp đến nơi đến chốn mà chẳng
lấy tiền.
-Khi
Phật Tỳ Xá Phù ra đời, nhằm lúc đói kém, con cõng giúp
người, chẳng kể xa gần, chỉ lấy một xu; hoặc có xe trâu
bị sa xuống bùn lầy, con dùng thần lực xô kéo, khiến ra
khỏi khổ não.
Thuở
đó, vua thiết trai cúng dường Phật, con bèn sửa đường,
chờ Phật đi qua, Tỳ Xá Như Lai xoa đỉnh đầu con và bảo
rằng: "Nên bình tam địa, thì tất cả địa trên thế giới
đều bình". Con liền khai ngộ, thấu vi trần của thân thể
với tất cả vi trần tạo thành thế giới đều chẳng sai
biệt; vi trần tự tánh không, nên mỗi mỗi chẳng đụng chạm
nhau, cho đến binh lính giao chiến cũng chẳng đụng chạm.
Con
do pháp tánh ngộ Vô Sanh Nhẫn, đắc quả A La Hán, hồi tâm
hướng Đại Thừa, vào ngôi vị Bồ Tát, nghe chư Phật khai
diễn Diệu Pháp Liên Hoa, nhập Tri Kiến Phật, con được chứng
minh là bậc thượng thủ. Phật hỏi về viên thông, con do
Quán Thân Thể Và Thế Giới Hai Thứ Vi Trần Chẳng Sai Biệt,
Vốn Là Như Lai Tạng, Do Hư Vọng Phát Ra Cảnh Trần; Trần
Tiêu thì Trí Hiện, Thành Vô Thượng Đạo là hơn cả.
Nguyệt
Quang Đồng Tử liền đứng dậy, đảnh lễ bạch Phật:
-Con
nhớ hằng sa kiếp trước, có Phật Thủy Thiên ra đời, dạy
chư Bồ Tát tu tập Thủy Quán, vào Tam Ma Địa. Con quán tánh
thủy trong thân từ nước mũi, nước bọt, cho đến các thứ
dịch vị, tinh huyết, đại tiểu tiện, lưu chuyển trong thân,
đều đồng một tánh thủy, thấy nước trong thân cùng nước
các bể Hương Thủy của Liên Hoa Tạng Thế Giới đều chẳng
khác.
-Khi
con mới tu thành quán này, tuy được thấy nước, chưa được
quên thân. Lúc ấy, con là Tỳ Kheo tọa thiền trong phòng, đệ
tử con từ cửa sổ nhìn vào, thấy nước trong đầy khắp
phòng, nó nhỏ dại không biết, liền lấy một miểng ngói
ném vào nước phát ra tiếng, thích thú bỏ đi, khi con xuất
định, liền thấy đau tim như Xá Lợi Phất bị quỷ Vi Hại
đập.
Con
tự nghĩ: Nay con đã đắc quả A La Hán, lìa khỏi bệnh duyên
đã lâu, sao bỗng bị đau tim, chẳng lẽ đã bị lui sụt chăng?
Lúc bấy giờ, đệ tử đến kể lại việc trên, con mới
bảo nó sau này nếu lại thấy nước thì nên mở cửa, vào
lấy miểng ngói ra. Đệ tử vâng lời, khi con nhập định,
nó lại thấy nước với miểng ngói rõ ràng, liền mở cửa
lấy ra, sau đó con xuất định thì thân thể lại được như
cũ.
-Con
trải qua nhiều đời, gặp vô số Phật, đến đời Sơn Hải
Tự Tại Thông Vương Như Lai, thì con mới được quên thân.
Từ đó, cả thân đều hóa thành nước, cùng với nước các
bể Hương Thủy nơi mười phương thế giới đồng một tánh
Chơn Không, chẳng hai chẳng khác; nay ở nơi Như Lai, được
danh hiệu là Đồng Chơn, dự hội Bồ Tát. Phật hỏi về
viên thông, con do Quán Tánh Nước Một Mực Lưu Thông, Được
Vô Sanh Nhẫn, Bồ Đề Viên Mãn là hơn cả.
Lưu
Ly Quang Pháp Vương Tử liền đứng dậy đảnh lễ bạch Phật:
-Con
nhớ hằng sa kiếp trước, có Phật Vô Lượng Thanh ra đời,
khai thị bản giác diệu minh cho hàng Bồ Tát, dạy quán thế
giới và thân chúng sanh đều theo sức gió của vọng duyên
xoay chuyển.
-Bấy
giờ, con quán sự an lập của không gian, sự động chuyển
của thời gian, hành động của thân thể, sự động tịnh
của tâm niệm, những cái động ấy đều chẳng hai chẳng
khác.
Lúc
đó, con liền giác ngộ tánh của những thứ động ấy, chẳng
từ đâu đến, chẳng đi về đâu, mười phương vô số điên
đảo chúng sanh đều đồng một hư vọng, như vậy cho đến
tất cả chúng sanh trong một tam thiên đại thiên thế giới,
giống như hàng trăm con muỗi đựng trong bình, vo ve kêu ầm,
ở nơi nhỏ hẹp phát ra náo loạn.
Con
gặp Phật chưa bao lâu, được Vô Sanh Nhẫn, lúc bấy giờ
khai ngộ, thấy cõi Phật Đông Phương Bất Động, làm Pháp
Vương Tử, phụng sự mười phương Phật, thân tâm phát ra
ánh sáng, thấu triệt chẳng ngại. Phật hỏi về viên thông,
con do Quán Sức Gió Chẳng Nơi Nương Tựa, Ngộ Tâm Bồ Đề,
Vào Tam Ma Địa, Khế Hợp Với Diệu Tâm Của Mười Phương
Phật là hơn cả.
Hư
Không Tạng Bồ Tát liền đứng dậy, đảnh lễ bạch Phật:
-Con
cùng Như Lai chứng vô biên thân nơi Phật Định Quang. Lúc
ấy, tay con cầm bốn hạt châu lớn, chiếu sáng mười phương
vô số Phật Sát đều hóa thành hư không, lại ở nơi tự
tâm hiện Đại Viên Cảnh, hào quang vi diệu, soi khắp Liên
Hoa Tạng Thế Giới và tận mười phương hư không, đều vào
trong Viên Cảnh, xen nhập thân con, như xen vào hư không, chẳng
ngăn ngại nhau.
Thân
con hay vào vô số quốc độ, tùy thuận đại thần lực, rộng
làm Phật sự. Con quán tứ đại chẳng nơi nương tựa, vọng
tưởng, sanh diệt, với hư không và cõi Phật vốn đồng,
do phát minh tánh đồng, đắc Vô Sanh Nhẫn. Phật hỏi về
viên thông, con do Quán Hư Không Vô Biên, Vào Tam Ma Địa, Diệu
Lực sáng tỏ là hơn cả.
Di
Lặc Bồ Tát liền đứng dậy, đảnh lễ bạch Phật:
-Con
nhớ vô số kiếp trước, có Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh
ra đời, con dù theo Phật xuất gia, còn ham danh dự thế gian,
ưa giao du với các quý tộc.
Lúc
ấy, Thế Tôn dạy con tu tập Duy Tâm Thức Định, vào Tam Ma
Địa. Từ nhiều kiếp đến nay, dùng Tam Muội này phụng sự
hằng sa chư Phật, sự ham cầu danh dự đã dứt sạch. Đến
đời Phật Nhiên Đăng, con mới được thành "Vô Thượng Diệu
Viên Thức Tâm Tam Muội", ngộ các pháp dơ, sạch, có, không,
nơi tất cả cõi Phật, đều do tâm thức biến hiện.
-Thế
Tôn! Vì con ngộ Duy Tâm thức như thế, nên từ tánh thức
hiện ra vô số Như Lai, nay được thọ ký sẽ thừa kế ngôi
Phật ở cõi này. Phật hỏi về viên thông, con do Quán Mười
Phương Duy Thức, Tâm Thức Sáng tỏ, Chứng Nhập Viên Thành
Thật, Xa Lìa Tánh Y-Tha-Khởi Và Biến-Kế-Chấp, Đắc Vô Sanh
Nhẫn là hơn cả.
Giảng
giải:
Ở
đây kể 25 vị viên thông, số 25 này gồm có: Lục căn (nhãn,
nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý), lục trần (sắc, thinh, hương, vị,
xúc, pháp), lục thức (nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt
thức, thân thức, ý thức) và thất đại (địa, thủy, hỏa,
phong, không, kiến, thức).
Có
người dùng nhãn căn, có người dùng nhĩ căn… Tức là dùng
lục căn để tu, có người dùng lục trần, có người dùng
lục thức, có người dùng tứ đại. Có người dùng không,
dùng kiến dùng thức.
-Tát
Lăng Già đi dọc đường suy nghĩ, bị gai độc đâm vào chân
thấy đau, nên có sự quán. Đau thì phải có năng đau và sở
đau, nhưng bản tâm mình không có năng sở. Ai là năng đau?
Ai là sở đau? Bản tâm không có năng đau và không có sở
đau, thì cái đau là hư vọng. Quán rồi thì nó hết đau, không
những hết đau mà do đây chứng quả.
-Di
Lặc Bồ Tát sau này hạ sanh thành Phật, tu Duy Thức quán.
Duy Thức tức là duy tâm, Phật pháp nói về cái tâm, tất
cả do tâm tạo. Như Trương Bảo Thắng tâm tạo ra có liền,
gọi là duy thức, duy tâm.
Không
tạo gọi là bổn tâm, Phật tánh, Như Lai, Niết Bàn,… theo
cái dụng mà lập danh. Bản tâm vốn không danh, không hình
tướng, không số lượng, không thể dùng lục căn; nhưng cái
dụng thì biết được, dùng lục căn tiếp xúc cái dụng được.
Bây
giờ, mình đang nói chuyện là cái dụng của bản tâm, được
cái thân này cũng do cái dụng của bản tâm. Tất cả vũ trụ
vạn vật đều ở trong bản tâm, nhưng mình không tự biết.
Tại bị vọng tưởng chấp thân thể này thành một chỗ,
nhưng bản tâm thì cũng khắp hư không, không chỗ nào không
có bản tâm.
Cái
dùng của mình ở trong hư không này, dùng cái tách, cái nhà
cũng ở trong hư không này. Nói Phật hạ sanh là đối với
mình mà nói hạ sanh. Đã khắp hư không mà từ đâu hạ sanh?
Tại mình chấp một chỗ, chấp thân này thì mới có thân
Phật để hạ sanh, để mở cái trói của mình. Tất cả là
do mình, chúng sanh nên có Phật hạ sanh. Nếu không có chúng
sanh thì không có Phật hạ sanh.
Như
hư không là tâm của mình, là tâm của Phật. Ai suy nghĩ ra
bằng cái tách thì cái dụng cái tách, tức là cái không của
cái tách. Suy nghĩ ra bằng cái nhà thì cái dụng bằng cái
nhà cao rộng hơn. Nhưng cái tách là cái không này, căn nhà
cũng bằng cái không này; mà cái không đó không nói là cái
dụng của ta, cũng không nói là cái này tôi đang dùng. Cái
không chẳng lay động, nhưng đang dùng.
Ngườøi
ngộ thì khỏi cần dùng vẫn đang dùng, người chưa ngộ lấy
thân này mới dùng được. Như đi làm việc cũng lấy cái
thân này đi làm việc, không làm việc thì không dùng. Ngộ
rồi giải quyết được tất cả, nếu dùng bộ óc đi tìm
hiểu, càng tìm hiểu thì càng xa. Tất cả đều do tâm tạo.
-Di
Lặc Bồ Tát liền đứng dậy đảnh lễ bạch Phật: Con nhớ
vô số kiếp trước có Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh ra đời,
con dù theo Phật xuất gia, còn ham danh dự thế gian, ưa giao
du với các quí tộc.
Lúc
ấy, Phật dạy con tu tập Duy Thức định, vào tam ma địa.
Từ nhiều kiếp đến nay dùng tam muội này phụng sự hằng
sa chư Phật, sự ham cầu danh dự đã dứt sạch. Đến đời
Phật Nhiên Đăng, con mới được thành vô thượng diệu viên
thức tâm tam muội, ngộ các pháp dơ sạch có không nơi tất
cả cõi Phật, đều do tâm thức biến hiện.
Tất
cả tương đối, dơ, sạch, có, không… cuộc sống hàng ngày
đều ở trong nhất niệm vô minh là phạm vi tương đối. Phàm
có nói ra là tương đối, không nói ra cũng là tương đối.
Vì nói với nín là tương đối, bất cứ cái gì có lý hay
không có lý là tương đối. Cuộc sống của mình đều ở
trong phạm vi tương đối. Tới chừng ngộ Duy Thức là bất
nhị thì không còn tương đối, lúc đó hiện ra bản thức
nên gọi là Duy Thức.
Thế
Tôn! Vì con ngộ Duy Tâm Thức như thế, nên tự tánh thức
hiện ra vô số Như Lai.
Như
Lai cũng do tánh thức mà hiện, tại tánh thức phân biệt cái
này là chúng sanh, cái này là Như Lai. Nếu không có tánh thức
phân biệt thì chẳng phải chúng sanh cũng chẳng phải Như
Lai. Nhưng không phải không có chúng sanh, không có Như Lai.
Như chẳng phải không có hư không, tuy không có cái gì để
dùng, chứ không phải không có hư không, mà hư không đang
dùng.
Chỗ
này rất khó nói, nên nói là Duy Tâm Thức; chỗ khác nói không
phải tâm không phải thức, cứ nói đi nói lại hoài. Tức
là muốn phá tâm chấp của mình, không có tâm chấp thì cái
gì cũng y như cũ. Như gọi cái tách thì cứ gọi cái tách,
gọi cái nhà thì cứ gọi cái nhà, kêu con trâu thì cứ kêu
con trâu, kêu con ngựa thì cứ kêu con ngựa. Đừng thêm
ý vô cho thật hay là giả, chơn hay vọng.
Đó
là tâm chấp của mình, nếu không có tâm chấp (trước tưởng)
thì tất cả y như cũ, vốn tự tại tự do. Nói dễ thì thật
dễ, nhưng muốn làm được thì khó thật là khó. Tại mình
quen với tập khí phiền não. Cho nên, Phật dạy tu là dứt
trừ tập khí phiền não, kỳ thật không có cái pháp.
Một
ông hỏi nghiệp chướng, trong bản tâm vốn không có cái đó,
tức là không có năng đau và không có sở đau. Tâm là năng
suy nghĩ, nghiệp chướng là sở suy nghĩ của tâm. Cái sở
không phải là năng, tâm đang suy nghĩ không có nghiệp chướng,
tại ham suy nghĩ cho nghiệp chướng là của ta, thành ra bị
nghiệp chướng trói buộc. Tâm không hình tướng không có
số lượng, khó hiểu.
Cho
nên, tôi dùng hai chân thí dụ cho tâm: Hai chân là năng đi,
con đường gai gốc cứt sình là sở đi của hai chân; hai chân
không dính gai gốc cứt sình, vốn sạch sẽ. Tại hai chân
ham đi con đường đó, mới bị dính gai gốc cứt sình, rồi
cho gai gốc cứt sình là của hai chân. Cái tâm cũng vậy, nếu
tâm không suy nghĩ nghiệp chướng, thì không bị nghiệp chướng
dính mắc.
Như
người bị gai gốc đâm chân thấy đau. Bản tâm vốn không
có năng đau và sở đau, tại do mình suy nghĩ nên mới có.
Cho nên, gọi là Duy Thức, Duy Tâm. Vì tâm suy nghĩ cái này
thì tạo thành cái này, suy nghĩ cái kia thì tạo thành cái
kia. Suy nghĩ gai gốc cứt sình thì tạo gai gốc cứt sình,
suy nghĩ nghiệp chướng thì tạo nghiệp chướng, suy nghĩ cái
đau thì tạo cái đau. Nghe tôi nói dễ, nhưng thực hành rất
khó.
Từ
bắt đầu tu tập Duy Tâm Thức Định, đến khi thành vô thượng
Diệu Viên Thức Tâm Tam Muội, tức là chuyển thức thành trí
(thức thì phân biệt hay chấp thật, trí thì không phân biệt
cái nào cũng là cái không này; không của cái tách cũng là
cái không này, không của cái nhà cũng là cái không này, không
của lư hương cũng là cái không này, chẳng có khác).
Nên
nói vào viên thành thật. (Duy Thức là biến kế sở chấp
và y tha khởi, cuối cùng là Viên Thành Thật, cũng là bản
tâm bản thức của mình). Khi chưa chuyển thức, còn bị cảnh
buộc, gọi là biến kế chấp, (tại sao bị ràng buộc? Cảnh
vui chạy theo cảnh vui, cảnh buồn chạy theo cảnh buồn, đó
gọi là biến kế chấp, vì tâm mình chấp cho là thật nên
có vui, buồn).
Phá
được biến kế chấp, còn bị pháp buộc, gọi là chấp y
tha khởi (không đuổi theo buồn cũng không đuổi theo vui, mà
có cái pháp để phá biến kế chấp buồn vui, thì gọi là
y tha khởi, tại còn chấp có cái pháp để phá).
Ham
danh dự thế gian, thích giao du với quí tộc, là tướng biến
kế chấp. Sự ham cầu danh dự của thế gian đã dứt sạch,
là cái tướng chấp y tha khởi. Đến khi liễu ngộ tất cả
Duy Tâm Thức, nên thức tánh hiện ra vô số Như Lai, ấy là
tướng Viên Thành Thật.
Vô
số Như Lai là do thức tánh hiện ra, chứ không phải có Phật
giáng sanh! Tất cả đều do tâm tạo thì Phật cũng do tâm
tạo. Nếu Phật không phải tâm tạo thì tất cả cũng không
phải do tâm tạo. Nói cái khác do tâm tạo thì được, nói
Phật do tâm tạo thì mọi người chửi tôi; ấy là do Phật
nói, chứ đâu phải tôi nói! Tất cả đều do tâm chấp thật
của mình sanh ra, nên nói là tất cả đều do tâm tạo, cũng
gọi là Duy Thức, Duy Tâm.
Duy
tâm của Phật và duy tâm của các đại học thế gian thì
khác nhau. Duy tâm của thế gian thì chấp thật, còn duy tâm
của Phật thì phá chấp thật, nhưng cùng danh từ là duy tâm.
Kinh
Giải Thâm Mật nói: “Người mắt nhặm như Biến Kế Chấp,
hiện màu xanh vàng như Y Tha Khởi, con mắt trong sáng như Viên
Thành Thật vậy”.
Kinh
Giải Thâm Mật thí dụ: Người bị mắt nhặm thì thấy hư
không có hoa đốm, gọi là biến kế chấp. Hoa đốm đó tại
chấp mới có, nó vốn không có, tại vì mắt nhặm nên thành
biến kế chấp, hiện màu xanh màu đỏ (hoa đốm) gọi là
y tha khởi, tức là y theo con mắt bệnh nên có màu này màu
kia.
Con
mắt trong sáng hết bệnh là Viên Thành Thật, hư không vẫn
là hư không chẳng có hoa đốm. Bây giờ chúng ta sống trong
con mắt bệnh, kinh Lăng Nghiêm nói cái bệnh từ vô thỉ, chứ
không phải mới đây.
Chánh
văn:
Đại
Thế Chí Pháp Vương Tử cùng với 52 vị Bồ Tát đồng tu,
liền đứng dậy, đảnh lễ bạch Phật:
-Con
nhớ hằng sa kiếp trước, có Phật Vô Lượng Quang ra đời,
thuở đó, mười hai vị Như Lai kế nhau thành Phật trong một
kiếp. Vị Phật sau cùng hiệu là Siêu Nhựt Nguyệt Quang, dạy
con tu "Niệm Phật Tam Muội", ví như có người thì chuyên nhớ,
người thì chuyên quên, nếu hai người ấy nhớ nhau, không
kể gặp hay chẳng gặp, thấy mặt hay chẳng thấy; cứ nhớ
mãi sâu vào tâm niệm, cho đến đời này, đời khác, thì
như hình với bóng, chẳng cách xa nhau.
-Mười
phương Như Lai tưởng nhớ chúng sanh như mẹ nhớ con, nếu
con trốn tránh thì dù nhớ cũng chẳng làm gì được; nếu
con nhớ mẹ như mẹ nhớ con, thì đời đời mẹ con chẳng
xa cách. Nếu tâm chúng sanh nhớ Phật, niệm Phật, thì hiện
nay hay về sau nhất định thấy Phật, cách Phật không xa,
chẳng nhờ phương tiện, tâm tự khai ngộ, như người ướp
hương thì thân có mùi thơm, ấy gọi là Hương Quang Trang Nghiêm.
Bản
nhân của con là dùng tâm niệm Phật, đắc vô sanh nhẫn, nay
ở cõi này tiếp dẫn người niệm Phật về cõi Tịnh Độ.
Phật hỏi con về viên thông, con do Nhiếp Cả Lục Căn, Tịnh
Niệm Tương Tục Vào Tam Ma Địa là hơn cả.
Lược
giải:
Người
niệm Phật chẳng có một sát na niệm ngũ dục của thế gian,
mới được gọi là tịnh niệm (tâm niệm trong sạch). Tịnh
niệm tương tục như con nhớ mẹ, là miệng niệm tâm nhớ,
oai nghi nghiêm chỉnh, nhiếp cả lục căn, là nhãn chẳng thấy
tướng xấu đẹp, nhĩ chẳng nghe tiếng khen chê, tỷ chẳng
ngửi mùi thơm thối, thiệt chẳng nếm vị ngon dở, thân chẳng
tiếp xúc lạnh, ấm, ý chẳng phân biệt buồn vui, ấy mới
được gọi là nhiếp cả lục căn, cho đến nhất tâm bất
loạn, như thế trong Tam Ma Địa, ắt phải thấy Phật.
Nói
chẳng nhờ tu tập, tự được khai ngộ, như người ướp
hương, chẳng mong mùi hương mà tự có mùi hương, ấy là
nguyện lực bất khả tư nghì của Phật Di Đà. Dù nói nhờ
nguyện lực của Phật Di Đà, nhưng cần phải có đại nguyện
của chính mình để tương ưng với đại nguyện của Phật
thì mới được thành tựu.
Đại
nguyện nếu chỉ dùng tâm nghĩ miệng nói ấy là nguyện suông,
cần phải thực hành đúng theo đại nguyện của chính mình
phát ra, mới là nguyện chơn thật, và mới có thể tương
ưng với đại nguyện của Phật.
Giảng
giải:
Người
tu Tịnh Độ dẫn chứng đoạn này để nói tu Tịnh Độ rất
dễ, nhưng sự thật trong này nói: “Nhiếp cả lục căn,
tịnh niệm tương tục vào tam ma địa là hơn cả”. Nhiếp
lục căn tịnh niệm tương tục đâu phải dễ, ở trong này
lược giải.
Nếu
người niệm Phật chẳng có 1 sát na niệm ngũ dục của thế
gian, (ngũ dục: Tài, sắc, danh, thực, thùy). Nếu không có
niệm ngũ dục của thế gian mới gọi là tịnh niệm tức
là niệm trong sạch. Nếu cứ niệm ngũ dục làm sao có niệm
trong sạch được? Đâu phải có niệm trong sạch là dễ!
Tịnh
niệm tương tục như con nhớ mẹ thì mới tương ứng. Tịnh
niệm còn không có, tức là cái niệm ngũ dục quá dơ, làm
sao có công hiệu?
Nhiếp
cả lục căn thì mắt chẳng thấy tướng xấu đẹp, tai không
nghe tiếng khen chê, mũi không ngửi mùi thơm thúi, lưỡi không
nếm mùi ngon dở, thân chẳng tiếp xúc lạnh ấm, ý chẳng
phân biệt buồn vui; ấy mới gọi là nhiếp cả lục căn,
cho đến nhất tâm bất loạn, như thế trong tam ma địa ắt
là sẽ thấy Phật.
Nói
tu Tịnh Độ dễ, tu thiền khó. Vậy nhiếp lục căn có được
không? Có nhiếp được căn nào chưa? Không nhiếp được,
tịnh niệm cũng không có nữa, hàng ngày cứ nghĩ nhớ ngũ
dục thế gian, làm sao có được niệm trong sạch? Sự thật
Tịnh Độ không phải dễ tu, mà Tổ Sư thiền không phải
khó!
Cái
khó dễ là do tâm mình tạo, chứ không phải cái pháp khó
dễ. Cho nên, nói tất cả đều do tâm tạo. Nhưng mình nói
người ta không tin, mà còn lại phỉ báng, vậy biết làm sao?
Mình chỉ biết tự lo tu thôi, việc người khác đừng biết
tới là tốt nhất. Đừng nói: Cái này tốt, cái kia xấu,
mặc kệ người ta nói gì.
Liên
Hệ:
Kinh
Thủ Lăng Nghiêm Tông Thông, HT. Nhẫn Tế
Kinh
Thủ Lăng Nghiêm, HT. Thích Duy Lực
Tổng
Luận Kinh Lă ng Nghiêm Trưc Chỉ, HT. Thích Thiện Siêu
Pháp
Tu Lăng Nghiêm Ðại Ðịnh, HT. Thích Huệ Hưng
Phép
Tu Lăng Nghiêm Ðại Ðịnh
