THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học   Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn  Index Tác-Giả

 
 
 
 
 
c
GIẢNG KINH LĂNG NGHIÊM
Hoà Thượng Thích Duy Lực
Thích Đồng Thường Lập Thành Văn Tự
ML
01
02
03
04
05
06
07
08
09
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
Chánh văn: 

-Cái diệu tâm sáng tỏ này, phi tâm, phi không, phi địa, thủy, hỏa, phong; phi nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; phi sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; phi nhãn thức giới cho đến phi ý thức giới; phi minh, phi vô minh, phi minh vô minh tận, như thế cho đến phi lão phi tử, phi lão tử tận; phi khổ, tập, diệt, đạo; phi trí, phi đắc, phi bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định, trí huệ; phi đến bờ bên kia, cho đến phi Như Lai, phi Ứng Cúng, phi chánh Biến Tri; phi Đại Niết Bàn, phi thường đức, lạc đức, ngã đức, tịnh đức, (tứ đức của Niết Bàn), cho đến các pháp thế gian và xuất thế gian đều phi cả. 

-Cái diệu tâm sáng tỏ này tức tâm, tức không, tức địa, thủy, hỏa, phong; tức nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; tức sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; tức nhãn thức giới, cho đến tức ý thức giới; tức minh, tức vô minh, tức minh vô minh tận; cho đến tức lão, tức tử, tức lão tữ tận, tức khổ, tập, diệt, đạo; tức trí, tức đắc; tức bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định, trí huệ; tức đến bờ bên kia, cho đến tức Như Lai, tức Ứng Cúng, tức Chánh Biến Tri; tức Đại Niết Bàn, tức thường đức, lạc đức, ngã đức, tịnh đức; cho đến các pháp thế gian và xuất thế gian đều tức như thế cả. 

-Cái diệu tâm sáng tỏ này lìa Tức lìa Phi, cũng Tức cũng Phi Tức, tại sao chúng sanh tam giới của thế gian và các hàng Thanh Văn, Duyên Giác của xuất thế gian muốn dùng cái tâm sở tri để suy lường Vô Thượng Bồ Đề của Như Lai; muốn dùng lời nói của thế gian để nhập Tri Kiến Phật, đâu có thể được! 

-Ví như những cây đàn: Cầm sắt, tỳ bà, dù có diệu âm, nếu chẳng có sự khéo léo của ngón tay, thì diệu âm chẳng thể phát ra. Cũng vậy, cái diệu tâm chơn thật của ngươi và chúng sanh mỗi mỗi vốn saün đầy đủ. Nhưng nơi ta khi búng tay thì hải ấn phát ra ánh sáng, (hải ấn là: Lâu đài bỗng hiện trên mặt biển, dụ cho sức dụng vô biên của tự tánh tự hiện), còn nơi các ngươi, vừa móng tâm thì trần lao đã khởi; ấy là do chẳng cầu vô thượng Bồ Đề, ham thích tiểu thừa, được ít cho là đủ. 

Phú Lâu Na nói: 

-Diệu tâm sáng tỏ của con và Như Lai đều viên mãn không hai. Nơi con, vì xưa kia mắc phải vọng tưởng từ vô thỉ, chịu luân hồi đã lâu, nay dù chứng được thánh quả, nhưng chưa đến chỗ rốt ráo. Nơi Thế Tôn thì tất cả vọng tưởng đều diệt, chỉ diệu tâm chơn thường hiện hành. Vậy xin hỏi Như Lai: Tất cả chúng sanh vì sao có vọng, tự che khuất diệu tâm, cam chịu chìm đắm? 
Phật bảo Phú Lâu Na: 

-Ngươi dù trừ được lòng nghi, nhưng còn có mê hoặc chưa dứt sạch, nay ta đem những việc của thế gian hỏi ngươi. Ngươi há chẳng nghe trong thành Thất La Phiệt, có ông Diễn Nhã Đạt Đa, buỗi sáng lấy gương soi mặt, nhìn thấy mặt mày, bỗng ưa cái đầu trong gương, rồi tự trách đầu mình sao chẳng tự thấy mặt mũi, cho là yêu mị, khi không phát điên bỏ chạy. Ý ngươi thế nào? Người ấy vì sao khi không bỏ chạy? 

Phú Lâu Na đáp: 

-Người ấy tâm điên, chứ chẳng do gì khác. 

Phật nói: 

-Diệu tâm vốn tròn đầy sáng tỏ, đã gọi là vọng, làm sao có nhân? Nếu có cái nhân, sao còn gọi là vọng? Chỉ do các vọng tưởng xoay vần, tự làm nhân cho nhau, từ mê thêm mê, trải qua vô lượng kiếp, dù được Phật phát minh đại nghĩa, còn chẳng chịu quay về. Cái nhân mê như vậy, do mê tự có, biết cái mê vô nhân thì vọng chẳng chỗ dựa; sanh còn chẳng có, lấy gì để diệt? 

Giảng giải:

Diệu tâm sáng tỏ này tức là tâm của mình, mọi chúng sanh đều sẵn có, tâm này không có sự bắt đầu, không có cuối cùng. Phật gọi là vô thỉ vô sanh, tức là không có sự sanh khởi; nếu có sự sanh khởi, tức là có sự bắt đầu. Vì không hình tướng, không số lượng; như hư không, chính hư không cũng ở trong tâm này. 

Tất cả vũ trụ vạn vật, thế giới đều ở trong hư không. Kinh Lăng Nghiêm ví dụ: “Bọt biển là hư không, biển là tâm, thế giới ở trong hư không; khi bọt biển bể thì thế giới tiêu, tất cả chúng sanh vũ trụ vạn vật đâu còn”. Vì không chỗ dựa, tất cả đều do tâm kiến lập. Phật nói: “Tất cả đều do tâm tạo”. 

Nếu do tâm tạo thì phải lìa sự tương đối, đối đãi; cho nên ở đây nói phi, nếu muốn tìm thì phi, tức là tìm chỗ nào cũng không có. Nếu không tìm thì tức, chỗ nào cũng có. Như tánh thấy của mình khắp hư không, muốn tìm muốn chỉ thì không ra. Nếu không chỉ thì chỗ nào cũng có, tại sao mình thấy một lượt? Phải có tánh thấy nên mới thấy một lượt.

Cái dụng của diệu tâm chứng tỏ khắp không gian, sự thật không gian thì ở trong diệu tâm. Cho nên, muốn tìm thì không chỗ để tìm, vì khắp nơi. Nếu không muốn tìm thì chỗ nào cũng có. Trước nói tất cả đều phi (chẳng phải), nếu không muốn tìm chỗ nào cũng là tức, có nghĩa là chỗ nào cũng diệu tâm. Tham thiền là phát hiện diệu tâm.

Phú Lâu Na nghe Phật nói vậy, nhưng còn tư tưởng chấp thật, không biết tất cả do vọng tâm tạo ra. Tánh thấy của mình cũng là vọng (kinh Lăng Nghiêm), nhưng mình lại cho là thật. Cho nên mới hỏi: “Hư không thì trống rỗng, đất thì ngăn ngại, lửa với nước thì nghịch nhau, tại sao chúng đều dung nạp với nhau?” Trên đã giải thích rồi.

Đến đây Phú Lâu Na lại hỏi:

Diệu Giác này vốn nhiệm mầu sáng tỏ cùng với tâm Như Lai Tạng chẳng thêm chẳng bớt, sao khi không bỗng sanh các tướng hữu vi, như núi sông đất đai? Mà Như Lai đã chứng Diệu Giác làm sao núi sông đất đai, các tướng hữu lậu còn sanh ra? Phú lâu  Na tưởng Phật đã chứng Diệu Giác thì tất cả núi sông đất đai đều phải tiêu diệt. Tại sao vẫn còn y nguyên vậy? Tại sao vẫn còn sanh trở lại?

Phật bảo Phú Lâu Na: Ví như người mê ở 1 xóm làng đi lộn đường, muốn đi Nam lại đi Bắc. Người mê thình lình được người ngộ chỉ cho đường đi, cũng như muốn nhà bà con ở hướng Nam lại đi hướng Bắc tìm là do tại mê. Bây giờ có người chỉ thì người ấy hết mê. 

Như Lai cũng vậy, ngộ rồi sao lại còn mê nữa! Phật nói Phú Lâu Na: Sự mê này vốn chẳng có gốc, tánh rốt cuộc không thật, xưa vốn chẳng mê, tại do vọng chấp nên có mê có giác. Giác được cái mê thì cái mê liền lìa.

Phật bảo Phú Lâu Na:

-Ngươi dù trừ được lòng nghi, nhưng còn mê hoặc chưa dứt sạch. Nay ta đêm việc thế gian để hỏi ngươi: Ngươi há chẳng nghe trong thành Thất La Phiệt có ông Diễn Nhã Đạt Đa, buổi sáng lấy gương soi mặt, nhìn thấy mặt mày, bỗng ưa cái đầu trong gương, rồi tự trách cái đầu sao chẳng tự thấy mặt mũi, cho là yêu mị, khi không phát điên bỏ chạy.

Phật dùng Diễn Nhã Đạt Đa để ví dụ, khi không soi gương thấy mặt mũi của mình, ưa thích cái đầu mình, tại sao không thấy cái đầu mình vậy? Tự cho là yêu mị rồi phát điên bỏ chạy, cái điên này tự mê hay tự ngộ ra? Phú Lâu Na trả lời: Ngộ chẳng sanh mê, làm sao tự ngộ ra! Mê chẳng sanh ngộ, làm sao tự mê ra? Vì điên cuồng không thể nói tại sao.

Phật nói: Tại sao khi không lại có đất đai, núi sông? Nói là vọng thì không có tại sao, nếu có lý do tại sao thì không gọi vọng. Vọng không có lý do để truy cứu.

Chánh văn: 

-Người đắc đạo Bồ Đề, như người tỉnh giấc nói việc trong chiêm bao; tâm dù rõ ràng, làm sao lấy được những vật trong chiêm bao ra? Huống là vô nhân, vốn chẳng có gì! Như Diễn Nhã Đạt Đa, đâu có nhân duyên gì mà tự sợ đầu mình bỏ chạy. Nếu bỗng nhiên hết điên, cái đầu đâu phải từ ngoài mà được; dù chưa hết điên, đầu cũng chẳng mất. Phú Lâu Na, tánh vọng như thế, làm sao có nhân? 

-Nếu ngươi chẳng duyên theo thế gian, nghiệp quả, chúng sanh, ba thứ phân biệt này xoay chuyển liên tục, ba duyên đã diệt thì ba nhân chẳng sanh, tánh điên của Diễn Nhã Đạt Đa trong tâm ngươi tự dứt, dứt tức là Bồ Đề. Vậy diệu tâm sáng tỏ vốn khắp pháp giới, chẳng từ người khác mà được, chẳng nhờ nhọc nhằn tu chứng mà có. 

-Ví như có người, nơi áo mình có hạt châu như ý mà chẳng tự biết, nghèo nàn rách rưới, ăn xin nơi phương xa. Người ấy dù nghèo, hạt châu chưa từng mất, bỗng được người trí chỉ ra hạt châu, liền thành giàu sang tùy theo ý muốn, mới ngộ bảo châu chẳng từ bên ngoài mà có. 

Tức thời, A Nan ở trong chúng đảnh lễ chân Phật, bạch Phật rằng: 

-Nay Thế Tôn, nói ba nghiệp Sát, Đạo, Dâm diệt rồi thì ba nhân chẳng sanh, và tánh điên của Diễn Nhã Đạt Đa trong tâm tự dứt, dứt tức là Bồ Đề, chẳng từ người khác mà được. Thế thì rõ ràng là nhân duyên rồi, làm sao Như Lai bác bỏ nghĩa nhân duyên? Chính con do nhân duyên mà tâm được khai ngộ. 

-Thế Tôn, nghĩa này chẳng những hàng Thanh Văn hữu học trẻ tuổi như chúng con, cả Đại Mục Kiền Liên, Xá Lợi Phất và Tu Bồ Đề trong hội này, đều từ nơi ông lão Phạn Chí nghe cái thuyết nhân duyên của Phật, tâm được khai ngộ, thành quả vô lậu. Nay Phật nói Bồ Đề chẳng do nhân duyên, vậy thì cái thuyết tự nhiên của bọn ngoại đạo Câu Xá Ly lại thành đệ nhất nghĩa sao? Xin Phật đại bi, khai phá chỗ mê muội cho chúng con. 

Phật bảo A Nan: 

-Như Diễn Nhã Đạt Đa, nếu diệt trừ được cái nhân duyên phát điên, thì tánh chẳng điên tự nhiên hiện ra, lý cùng tột của nhân duyên và tự nhiên là vậy. 

-A Nan! Nếu đầu của Diễn Nhã Đạt Đa vốn tự nhiên, đã là tự nhiên, thì tại sao sợ đầu bỏ chạy? Ấy là do nhân duyên nào? 

-Nếu đầu tự nhiên do nhân duyên nên phát điên, tại sao chẳng tự nhiên do nhân duyên mà mất đi? Đầu vốn chẳng mất, tại sao vẫn còn vọng sanh điên sợ? Thế thì đâu phải nhờ nhân duyên? 

-Nếu bản tánh vốn tự nhiên có điên sợ, vậy khi chưa điên, cái điên ẩn núp ở chỗ nào? Nếu tánh chẳng điên là tự nhiên, đầu vốn chẳng vọng, sao lại bỏ chạy? 

-Nếu ngộ được cái đầu vốn chẳng mất, tánh điên cuồng vốn vọng danh, thì nhân duyên và tự nhiên đều là hý luận. 

-Cho nên ta nói ba duyên diệt rồi tức là tâm Bồ Đề. Tâm Bồ Đề sanh, thì tâm sanh diệt được diệt, ấy cũng là sanh diệt; khi sanh và diệt đều sạch, mới gọi là vô công dụng đạo. 

-Nếu có sự chẳng sanh, chẳng diệt gọi là tự nhiên, thì tâm tự nhiên này là do sanh diệt đã sạch mà hiện, ấy cũng là pháp sanh diệt, chẳng phải Bồ Đề. Cái lý chẳng sanh diệt kia gọi là tự nhiên, cũng như các tướng lẫn lộn thành một thể của thế gian, gọi là tánh hòa hợp; cái chẳng hòa hợp thì gọi là tự nhiên. Tự nhiên chẳng phải tự nhiên, hòa hợp chẳng phải hòa hợp, tự nhiên và hòa hợp đều lìa, có lìa có hợp đều sai, đến chỗ này mới được gọi là pháp chẳng hý luận.

Giảng giải:

Người thường tư tưởng chấp thật. Nhà khoa học, nhà triết học cũng dùng tư tưởng chấp thật. Nên Phú Lâu Na chấp thật, thay mặt đại chúng hỏi Phật: Tại mê mới có núi sông đất đai, Phật đã ngộ sao vẫn thấy núi sông đất đai?

Cái thấy đó là do chúng sanh thấy, Phật theo sự thấy hiểu lầm của chúng sanh, giải thích để chúng sanh tự thức tỉnh mở mắt chiêm bao. Trong chiêm bao thấy cái nào cũng thật, lúc thức tỉnh thì cái thật trong chiêm bao tự mất.

Người đã thức tỉnh chiêm bao, còn lấy lý do và lấy đồ trong chiêm bao, dù tâm rất sáng tỏ việc này làm sao được? Như mình phát tài trong nhắm mắt chiêm bao, khi thức tỉnh thấy không có gì cả. Thức tỉnh rồi lại lấy tiền ở trong bao làm  sao có?

Phật nói Diễn Nhã Đạt Đa ban, đầu nói tự nhiên sau nói nhân duyên. Nếu tự nhiên, khi lúc chưa phát điên, điên ẩn núp ngay chỗ nào? Nhân duyên mà không có nhân đầu tiên thì không thể làm nhân duyên được. Vậy Phật luôn luôn phá tự nhiên và phá nhân duyên.

Phật hỏi Phú Lâu Na: Tại sao Diễn Nhã Đạt Đa điên?

Phú Lâu Na đáp: Người ấy tâm điên chẳng do gì khác.

Tại tâm điên, chỉ có thể nói vậy, làm sao nói lý do tâm điên? Bây giờ ở trong xã hội có nhiều tâm thần. Mình muốn hỏi tại sao cũng không giải đáp được. Nếu cắt nghĩa tại sao thì có bệnh tại sao, như nói tại có nghiệp nhân nghiệp quả; rồi hỏi tại sao có nghiệp nhân,… tại sao cứ hỏi hoài không thể cùng được. Khi nào kiến tánh thì mới cùng, lúc đó khỏi cần giải thích mà tự rõ.

Dùng vọng tâm truy cứu đến chỗ nào cũng là vọng, vọng thì không có lý do. Phật trả lời cho Phú Lâu Na: Đã nói vọng làm sao có nhân, có tại sao! Nếu có nhân, có tại sao, không được gọi là vọng, cái lý cùng tột chỉ làvậy. Cần mình ngộ mới giải quyết được. Nếu không ngộ cứ dùng trí óc của mình để truy cứu mãi không đến cùng tột được, vì chỗ vọng chỉ vào chỗ vọng mà thôi.

Chánh văn:

-Nếu dựa vào chỗ này để thủ chứng Vô Thượng Bồ Đề và Niết Bàn thì quả Phật vẫn còn cách xa lắm. Tại sao? Vì chấp do dụng công tu chứng mà có sở đắc vậy. Kỳ thật, Bồ Đề Niết Bàn vốn saün đầy đủ, chỉ có thể sát na ngộ nhập, chẳng do nhiều kiếp siêng năng tu chứng mà được, dẫu cho nhớ hết diệu lý thanh tịnh như cát sông Hằng trong mười hai bộ Kinh của mười phương Như Lai, chỉ càng thêm hý luận.

Giảng giải:

Tất cả đệ tử của Phật tu hành muốn thủ chứng, như mình tham thiền muốn kiến tánh, gọi là kiến tánh thành Phật. Nhưng dùng tâm muốn lấy muốn kiến muốn đắc thì lọt vào vọng rồi. Phạm điều thứ nhất của Đường Lối Thực Hành Tham Tổ Sư thiền là: “Vô sở cầu, vô sở đắc, vô sở sợ”. Tại sao? Vì Phật của mình đã thành sẵn, không phải kiến tánh mà đắc được. Nếu còn hy vọng thủ chứng là vọng.

Chánh văn:

-Ngươi dù nói lý nhân duyên, tự nhiên chắc chắn rõ ràng, người đời khen ngươi đa văn bậc nhất, với cái huân tập đa văn nhiều kiếp này, chẳng thể tránh khỏi nạn Ma Đăng Già, phải nhờ thần chú của ta, làm cho Ma Đăng Già dập tắt lửa dâm, sông ái khô cạn, chứng quả A Na Hàm, nơi pháp ta thành tựu tinh tấn, khiến ngươi giải thoát.

 A Nan, ngươi dù nhiều kiếp ghi nhớ những lời bí mật nhiệm mầu của Như Lai, chẳng bằng một ngày tu nghiệp vô lậu, xa lìa hai khổ yêu, ghét của thế gian. 

Như Ma Đăng Già xưa kia là dâm nữ, do sức thần chú, tiêu diệt lòng ái dục, nay trong pháp ta gọi là Tỳ Kheo Ni Tánh với Gia Du Đà La (mẹ của La Hầu La), cùng ngộ nhân xưa, biết được nhân duyên nhiều kiếp, đều do tham ái làm khổ, chỉ một niệm huân tu pháp vô lậu thiện, nay người thì ra khỏi ràng buộc, người thì được Phật thọ ký, sao ngươi còn tự dối, kẹt nơi thấy nghe? 

A Nan và đại chúng nghe lời Phật dạy, nghi hoặc tiêu trừ, tâm ngộ thật tướng, thân ý khinh an, được pháp chưa từng có, rơi lệ đảnh lễ chân Phật, quỳ gối chắp tay bạch Phật rằng: 

-Lòng trong sạch vô thượng đại bi của Phật, khéo khai ngộ cho tâm chúng con, dùng đủ thứ nhân duyên và phương tiện dìu dắt kẻ chìm đắm ra khỏi biển khổ. 

Thế Tôn, nay con dù được nghe pháp âm như thế, nhận biết diệu tâm sáng tỏ khắp mười phương thế giới, trùm chứa các cõi Phật thanh tịnh trang nghiêm trong mười phương quốc độ. Như Lai lại trách con đa văn vô ích, chẳng bằng tu tập, nay con như người phiêu bạt, bỗng được Thiên Vương ban cho cái nhà sang, dù được nhà lớn, nhưng phải biết chỗ cửa vào. 

Vậy xin Như Lai từ bi khai thị cho những kẻ mê muội trong hội này, lìa bỏ tiểu thừa, đều được bước lên con đường đã phát tâm từ xưa nay, thẳng đến Vô Dư Niết Bàn của Như Lai, khiến hàng hữu lậu biết cách uốn dẹp tâm phan duyên từ lâu đời, được pháp tổng trì, chứng nhập Tri Kiến Phật. 

Giảng giải:

Tin mình sẵn có diệu tâm sáng tỏ, không phải do tu mới thành, do chứng mới đắc. Tất cả kinh điển của Phật chỉ là phương tiện, phá tư tưởng chấp thật của mình, cho mình trong mở mắt chiêm bao được thức tỉnh. Thức tỉnh rồi, mới biết mình có tất cả, không thiếu cái gì. 

Nhắm mắt chiêm bao thức tỉnh thì được tự chứng phần, chứng tỏ nhắm mắt chiêm bao không thật. Mình hiện nay đang trong mở mắt chiêm bao chưa thức tỉnh, phải tham thiền đến lúc kiến tánh mới thức tỉnh; nếu chưa thức tỉnh, dù hiểu biết hết kinh điển, mà không tu hành thì đối với đạo càng xa. 

Như Phật quở A Nan học rộng nghe nhiều không bằng một ngày tu. Vì tu mới hiện được bản tâm, còn học rộng nghe nhiều rồi chấp cho đó là thật, làm chướng ngại sự kiến tánh.

Hỏi:

Theo kinh này Phật dạy phải lìa bỏ Tiểu thừa, nhưng Tiểu thừa cũng được quả A La Hán, họ có sai lầm chỗ nào, xin thầy chỉ rõ?

Đáp:

Kinh này Phật dạy người căn cơ Đại thừa, như nói theo pháp thế gian, Tiểu thừa là tiểu học, Trung thừa là trung học, Đại thừa là đại học. Phật giảng cho Thanh Văn nghe Đại thừa, Phật mới bảo bỏ Tiểu thừa và Trung thừa. 

Như lên đại học thì phải tiểu học và trung học. Nếu còn ôm bài tiểu học và bài trung học, làm sao học bài đại học được? Ngày xưa mọi người chưa tin bài đại học, cho nên Phật dạy bài tiểu học, rồi bảo họ lên trung học. Chứ đâu được giữ lại không cho lên lớp! 

Nói lìa bỏ tiểu học, vì ôm pháp Tiểu thừa, không chịu buông để tiến lên, nên Phật bảo lìa bỏ. Lìa bỏ là những người đủ trình độ học đại học thì phải học đại học mới phải, mà cứ ôm bài tiểu học cho là chân lý làm sao tiến lến được? Phải lìa bỏ là vậy.

Hỏi:

Chúng con học tiểu học chưa xong làm sao học đại học, như chúng con đối với Tiểu thừa chưa làm được làm sao lên Đại thừa?

Đáp:

Ấy là pháp thế gian chỉ để ví dụ, Phật pháp tuy có ba thừa: Tiểu thừa, Trung thừa, Đại thừa, lại có thêm một thừa nữa là Tối Thượng thừa. Đại Thừa Tuyệt Đối Luận của ngài Nguyệt Khê có nói rõ.

Như dùng máy điện toán đo bộ óc của bé Bi tham thiền, chấm dứt được suy nghĩ phân biệt nên đèn của máy tắt mất. Việc ấy không phải tôi nói gạt, chính mắt tôi thấy và những người đi cùng với tôi cũng thấy. Nó đâu có biết gì, nhưng Phật tánh sẵn sàng, chẳng những con người mà cầm thú cũng vậy.

Nhưng cầm thú không thể tu được, vì do cái nghiệp của nó. Cõi Trời tuy phước nhiều hơn loài người cũng không tu được, tại họ ham thích phước báo. A Tu La cũng không tu được vì tánh hay sân hận. Cho nên, chỉ có con người mới tu được, còn năm đạo kia không thể tu được. Con người có vui có khổ, cảm thấy khổ mới  phát tâm muốn lìa cái khổ, nên phát tâm tu.

Ở thế gian, người có năng khiếu, mới mấy tuổi biết toán học còn hơn đại học. Đó chứng tỏ cái tâm đã sẵn. Nếu đã có năng khiếu ấy rồi, mà lại bảo nó học lớp sơ cấp làm sao được! Siêu việt bài đại học rồi thì khỏi học mấy thứ kia. Tại mấy thứ kia đã học qua, mặc dầu hiện tại nó không có học.

Như giáo môn từ Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hồi Hướng,… phải từ cấp từ cấp mà tiến lên. Thiền tông không có giai cấp, từ địa vị phàm phu tu chứng Đẳng Giác. 

Nói theo thế gian gọi là năng khiếu thì khỏi cần qua tiểu học trung học, qua liền đại học. Trong Thiền tông có nhiều người khờ ngốc kiến tánh, siêu việt tam thừa. Đây là pháp xuất thế gian, phát hiện cái mình sẵn có. Chứ không phải pháp thế gian, học mới biết, không học thì không biết. Nếu lấy pháp thế gian để so sánh bằng nhau với pháp xuất thế gian thì không được.

Hỏi:

Tiểu thừa còn phá được ngã chấp. Chúng con trước cần phá ngã chấp, rồi sau mới tu lên pháp cao, việc ấy như thế nào?

Đáp:

Theo pháp thế gian mà nói cao thấp, cao với thấp là tương đối cũng là pháp hữu vi. Pháp hữu vi có cao thấp, còn pháp vô vi thì không có cao thấp. Người nào  có năng khiếu đó thì cứ học cái đó. 

Phật giảng kinh Pháp Hoa có 5.000 người bỏ đi, không chịu nghe. Những người ấy cần phải học Tiểu thừa trước, rồi mới học Đại thừa, học từ cấp lên. Còn những người đủ trình độ Đại thừa thì học Đại thừa, khỏi cần từ cấp lên.

Cho nên, người tu Tối Thượng thừa rất ít, Đại thừa nhiều, còn Tiểu thừa thì nhiều hơn. Như học tiểu học rất nhiều, học trung học ít hơn, học đại học càng ít hơn, rồi vô nghiên cứu viện lại càng ít hơn nữa.

Thái Hư đại sư là người nổi tiếng gần đây, Đại thừa có 8 tông, ngài đều hoằng dương và nói: “Cốt tủy Phật Giáo là Thiền, nếu chẳng có Thiền không phải Phật Giáo”. Tác dụng của Phật pháp là muốn giải thoát, chỉ có Thiền tông mới chân thật đạt đến giải thoát.

 Còn các thứ kia, như Tiểu thừa đừng có nói chứng quả A La Hán, chỉ chứng sơ quả Tu Đà Hoàn cũng không thấy một người. Tiểu thừa rất hưng thịnh, những người da trắng ở Tây phương, phần nhiều học Tiểu thừa. Nhưng bây giờ có ai chứng sơ quả được chưa! Đừng nói đến kiến tánh. 

Kiến tánh là mở mắt chiêm bao thức tỉnh, tức không gian thời gian không có gì để nghi nữa, là hiểu biết hết rồi. Bây giờ, nói chứng tứ quả của Tiểu thừa không có một người, huống là kiến tánh tới Đẳng Giác, thêm một bước là Diệu Giác (Phật).

Nhưng sự thật gần đây, có ngài Lai Quả, ngài Hư Vân, ngài Nguyệt Khê và Tăng sửa đường lộ ở tỉnh Vân Nam, 4 người này đều được kiến tánh. Bây giờ khắp thế giới, chỉ ra ai chứng sơ quả chưa? Nói thì dễ, nhưng phải có sự thật! Có thể có những người kiến tánh gần đây trong xã hội Trung Quốc, họ lại ở ẩn không ai biết. Có số người kiến tánh ở Trung Quốc thời xưa cũng không ai biết.

Hỏi:

Ngài Hư Vân hoằng dương Thiền tông và Tịnh Độ, việc ấy như thế nào?

Đáp:

Biết được nguồn gốc Phật pháp là không lấy không bỏ, gặp căn cơ nào thì dạy căn cơ đó. Ngài Hư Vân ở trong Thiền tông kiến tánh thì lấy Thiền tông làm chánh, các pháp kia làm phụ. Như người ta hỏi tông Thiên Thai thì tôi dạy thiền quán tông Thiên Thai, hỏi tông Tịnh Độ thì tôi cũng dạy tín, hạnh, nguyện của tông Tịnh Độ.

Có khoảng 6, 7 người trong Thiền tông kiến tánh, mà lại có hoằng Tịnh Độ thì người tu Tịnh Độ cho là Tổ Tịnh Độ. Nhưng sự thật Tổ ở bên Thiền tông, chứ không phải ở bên Tịnh Độ. Chứ không phải tôi bài xích Tịnh Độ. Tịnh Độ và các pháp khác đều ở trong tâm.

Vừa rồi nói Tức và Phi. Nếu nói Tức là tất cả, không có cái nào không phải Phật pháp. Pháp thế gian còn là Phật pháp, huống là niệm Phật của Tịnh Độ là một pháp xuất thế gian. Người biết được căn bản thì không bỏ không lấy, cũng Phi cũng Tức, vừa rồi giảng đoạn này. 

Nếu cố ý muốn tìm thì tất cả đều Phi. Nếu không muốn tìm thì chỗ nào cũng sẵn sàng là Tức. Cái này là tâm, cái kia là Phật, cái nào cũng là Phật thì không khác, nên gọi là bất nhị. Còn có ý chấp thì có  khác, đủ muôn ngàn sai biệt. Cái sai biệt là tâm của mọi người. Cái không sai biệt, như ánh sáng đèn, muôn ngàn cây đèn có sai biệt, còn ánh sáng không có sai biệt. 

Như đèn nhỏ thì ánh sáng yếu hơn, đèn lớn thì ánh sáng mạnh hơn. Ánh sáng cùng khắp gian thì không thể chỉ ánh sáng này thuộc cây đèn này, ánh sáng kia của cây đèn kia, muôn ngàn cây đèn chỉ có một ánh sáng.

Muôn ngàn chúng sanh chỉ có một Phật tánh. Muôn ngàn cái Không để dùng, như cái Không của tách, cái Không của bình, cái Không của nhà,… đều là một cái Không, chẳng có nhiều cái Không. Nhưng chẳng phải không có tách, không có bình, không có nhà. Cái Không của tách, cái Không của bình, cái Không của nhà,... đều là cái Không sẵn sàng của tâm. 

Vì có phân biệt mới có Không này Không kia. Nếu chẳng có phân biệt thì tất cả chỉ một cái Không, chứ chẳng được 2 cái Không.

Có phân biệt thì mỗi cây đèn khác nhau. Nhưng ánh sáng không khác, ánh sáng muôn triệu cây đèn không khác, chỉ là một ánh sáng, chứ không có hai ánh sáng, sự thật là vậy. Phật phải nói theo sự thật, thuyết pháp của Phật là lấy chuyện trước mắt để chứng tỏ cho người ta tin, mà phải chứng tỏ theo sự hiểu biết của người nghe.

Như ngày xưa, khoa học chưa tiến bộ bằng bây giờ, Phật phải nói theo ngày xưa. Nếu nói theo người nghe bây giờ thì người ta cười. Nhưng hiểu biết hồi đó phải nói như vậy. Như ngày xưa nói con rồng làm mưa. Nếu bây giờ nói con rồng làm mưa thì người ta cười. Nhưng lúc đó phải nói như vậy người ta mới hiểu.

Hỏi:

Tâm Minh dịch kinh Lăng Nghiêm như thế nào?

Đáp:

Kinh Lăng Nghiêm của Tâm Minh dịch, so với mấy bản dịch khác thì hay hơn. Kinh Lăng Nghiêm đâu phải Tịnh Độ, kinh Lăng Nghiêm là liễu nghĩa của Đại thừa. Người học khác người tu thì khác, như tôi dạy Thiền tông cũng có giảng kinh Lăng Nghiêm.

Tôi dạy Tổ Sư thiền là bất biến, còn tùy duyên dịch kinh Viên Giác, kinh Kim Cang, kinh Duy Ma Cật,… nói Thiên Thai, Tịnh Độ, Hoa Nghiêm, công thương kỹ nghe, khoa học,… Tôi thường nói khoa học, nhưng tôi không học khoa học; những người nghe tôi nói, tưởng tôi có học khoa học.

Hỏi:

Những người giúp ích cho người ta thì như thế nào?

Đáp:

Những người phỉ báng Phật pháp cũng giúp người ta vậy. Chính những người chân tu ít có giúp người ta. Trong giới luật Phật nói, nếu tu sĩ bỏ bổn phận tu, chỉ làm những việc thiện giúp người, gọi là nhân thiện lại chiêu quả ác. Vì lấy sự cúng dường của mười phương cho là của mình. Rồi giúp người ta, để tăng cường địa vị của mình. Vì mục đích tăng cường ngã chấp, chứ không phải vì Phật pháp.

Hỏi:

Sự tranh luận đối với Phật pháp như thế nào?

Đáp:

Chính biện luận tranh giành nên Phật cấm, không cho tranh luận. Phật pháp sẵn sàng không cần tranh luận. Tranh luận muốn thắng là ngã chấp. 

Thủ môn túc cầu Trương Quốc Anh đi đấu lần nào cũng thắng, nhưng Y không hy vọng thắng. Hồi trước, Y làm việc trong hãng bột ngọt cho nhà nước, tiền lương ít; nhiều lần chịu thiệt thòi. Qua giờ chính thức, người ta nhờ một mình lên xuống hàng không trả tiền mà Y vẫn vui vẻ. Nếu người khác làm sao chịu! 

Hỏi:

Ở trong thế gian, phải theo cách sống thế gian, vậy như thế nào?

Đáp:

Bây giờ tất cả hiểu biết thì phải qua tai mắt, nhưng tai mắt của mình rất hạn chế. Theo khoa học thì biết 5 trạng thái, 3 trạng thái là: Cố thể, dịch thể, khí thể thì người nào cũng biết dùng tai mắt mà biết được. 

Như nước là dịch thể, dưới 0 độ thành băng là cố thể, trên 90 độ thành hơi là khí thể. Còn trạng thái thứ 4 và thứ 5 thì phải qua cái máy mới biết. Như qua máy kính hiển vi thì thấy được các nguyên tử đang xoay, qua cái máy mới thấy hồng ngoại tuyến.

Còn Trương bảo Thắng dùng tâm tạo có liền, nếu dùng máy móc không thể truy cứu được. Đó là trạng thái thứ 6. Khoa học chưa biết, sau này khoa học sẽ biết. Theo Phật nói họ không thể biết được. Vì lục căn không thể biết được cái không có số lượng, chỉ biết được cái có số lượng.

Như đem thời gian, 1 sát na chia thành 60 A, 1 A chia thành 60 B, 1 B chia thành 60 C. Chỉ chia 3 lần, con số còn, thời gian thực tế thì bộ óc không biết. Lại chia 30 lần, 300 lần do con số biểu thị thời gian đó, nhưng bộ óc không thể nhận biết được. Chính mình đang sống trong thời gian hiện tại, mà mình không biết.

Không gian cũng vậy, nhà khoa học chỉ biết con số. Phàm có số lượng không phải tâm của mình, tâm của mình không có số lượng. Cho nên không thể tiếp xúc, nhưng cái dụng thì rõ ràng. Như tánh thấy không thể tiếp xúc, nhưng sở thấy rõ ràng.

Hỏi:

Im lặng là gì?

Đáp:

Im lặng là cú thứ hai, nói là cú thứ nhất, chẳng nói chẳng nín là cú thứ ba, cũng nói cũng nín là cú thứ tư. Phàm lọt vào tứ cú thì không phải thật tế. Thật tế không lọt vào tứ cú, gọi là vô sở trụ.

Hỏi:

Ngài Văn Thù hỏi Duy ma cật, Duy Ma Cật im lặng thì ngài Văn Thù tán thán, việc ấy như thế nào?

Đáp:

Còn tiếp câu sau nữa là gì? Là “từ gốc vô trụ lập tất cả pháp”. Nếu không có câu sau thì không được. Nó là tuần hoàn, lý vũ trụ, lý Phật pháp cũng vậy. Không có sự bắt đầu và không có sự cuối cùng, nếu có cuối cùng thì cũng bắt đầu lại nữa. Bởi vì nói đến vô trụ, hai vị Văn Thù và Duy Ma Cật đối đáp, đến chỗ vô trụ làm gốc. 

Văn Thù hỏi: Vô trụ lấy gì làm gốc? 

Duy Ma Cật đáp: Vô trụ chẳng có gốc. 

Đến chỗ này sợ người ta hiểu lầm, nên Duy Ma Cật nói lớn tiếng: Từ gốc vô trụ lập tất cả pháp.

Tất cả pháp từ gốc vô trụ lập ra, như tay hoạt bát vạn năng là do vô trụ. Nếu có trụ thì mất cái dụng hoạt bát vạn năng. Cho nên các pháp sanh khởi từ gốc vô trụ, cũng gọi là viên thông. Viên là tròn cứ xoay hoài. 

Tất cả vật lý đều xoay tròn, bắn vệ tinh trên không gian cũng xoay như vậy. Vũ trụ lớn tuần hoàn cũng xoay như vậy, vũ trụ nhỏ hạt bụi cũng xoay như vậy, mà cái xoay đó không bao giờ ngưng. Sức xoay từ đâu ra? Ai cũng không biết. 

Lục Tổ trả lời trong Pháp Bảo Đàn: “Chẳng phải gió động, chẳng phải phướn động, mà do tâm của các ông động”. Nên Phật nói: “Tất cả đều do tâm tạo”.

Ông hỏi tâm là gì? Đó cũng là dụng của tâm phải ngộ mới được. Không ngộ thì nghi sau này ngộ mới hiểu, khi ngộ rồi thì hết nghi. Bây giờ còn nghi nhiều lắm, đến chừng vô tu vô chứng không thấy có ngộ. Nếu thấy có ngộ thì còn có mê. Mê là cú thứ nhất, không mê là cú thứ nhì là đúng rồi. 

Thiền sư Cao Phong đã phá Trùng Quang rồi, ban ngày làm chủ được, ban đêm chiêm bao làm chủ được. Rồi thầy hỏi: “Không chiêm bao, không suy nghĩ chủ ở đâu”? Trả lời không được phải tham thêm 5 năm nữa, nghe cái gối của bạn đồng tham rớt xuông đất, ngộ triệt để. Ngộ triệt để thì chẳng có ngộ thêm cái gì, chỉ là cái ngộ Trùng Quan tan rã, không còn ngộ nữa, đến Mạc Hậu Quan.

Hồ nghi là dùng bộ óc tìm hiểu nghiên cứu, như tánh con người hay ham tìm hiểu; triết học, khoa học, tất cả xã hội đều dạy người ta tìm hiểu, học nhiều chừng nào hay chừng nấy. Từ tiểu học, trung học, cho đến các thứ chuyên môn đều dùng bộ óc đi nghiên cứu tìm hiểu. Còn chánh nghi là ngưng tất cả mọi tìm hiểu, ghi nhớ, suy nghĩ. Cho nên, cuối cùng gọi là vô tu vô chứng.

Hỏi:

Làm sao phân biệt tiểu ngộ, đại ngộ, triệt ngộ, liễu ngộ và thời gian nào được bảo nhậm?

Đáp:

Phần nhiều tiểu ngộ là hiểu biết của bộ óc, đại ngộ có 3 cửa: “Sơ Quan, Trùng Quan, Mạc Hậu Lao Quan”. Nhưng tùy theo trình độ căn cơ, người có trình độ cao không phải chỉ đến Sơ Quan, Trùng Quan, mà thấu luôn Mạc Hậu Lao Quan. 

Có người ngộ phá sơ quan, rồi tiếp tục phá thêm 2 quan nữa, có người phá 2 quan, rồi cuối cùng phá thêm 1 quan. Cũng tùy mỗi người có khác nhau, cho nên nói Thiền tông không có giai cấp. Từ địa vị phàm phu ngộ đến chỗ cuối cùng, gọi là Đẳng Giác, tức là bằng với Phật.

Ngộ rồi, nhưng tập khí vẫn còn, nên phải bảo nhậm tập khí. Tập khí ham tìm hiểu ham biết. Dứt tập khí thì khỏi cần biết, tức là nói cứ nói, chỉ có thế lưu bố tưởng, không có trước tưởng. Không chấp cho là thật gọi là dứt tập khí, sau khi kiến tánh thì tự động dứt trừ.

Chánh văn:

Nói xong, năm vóc gieo sát đất, cả chúng trong hội một lòng mong đợi lời dạy của Phật. 

Lúc bấy giờ, Thế Tôn thương xót hàng Thanh Văn, Duyên Giác trong hội chưa được tự tại nơi tâm Bồ Đề, và những chúng sanh phát tâm Bồ Đề trong đời mạt pháp, khai thị pháp tu nhiệm mầu của Vô Thượng Thừa, bảo A Nan và đại chúng rằng: 

-Các ngươi quyết định phát tâm Bồ Đề, đối với pháp Tam Ma Đề nhiệm mầu của chư Phật, chẳng sanh mỏi mệt, trước hết nên biết hai nghĩa quyết định trong lúc mới phát tâm. 

-Thế nào là hai nghĩa quyết định lúc mới phát tâm? 

-A Nan! Nghĩa thứ nhất: Nếu các ngươi muốn lìa bỏ Thanh Văn, tu Bồ Tát Thừa, nhập Tri Kiến Phật, thì nên xét kỹ chỗ phát tâm của nhân địa, với chỗ giác ngộ của quả địa là đồng hay là khác? A Nan, nếu ở nơi nhân địa, dùng tâm sanh diệt làm cái nhân tu hành, để cầu cho được quả chẳng sanh diệt của Phật thừa thì chẳng đúng. 

-Do nghĩa này, ngươi nên xét kỹ vạn vật trên thế gian, các pháp có thể tạo ra đều phải biến diệt. A Nan, ngươi hãy xem các pháp có thể tạo ra, có cái nào chẳng hoại chăng? Nhưng chẳng bao giờ nghe nói hư không biến hoại. Tại sao? Vì hư không chẳng phải là vật sở tạo, cho nên chẳng thể biến hoại. 

-Vậy thì trong thân ngươi, tánh cứng là Địa, ướt nhờn là Thủy, hơi ấm là Hỏa, lay động là Phong, do tứ đại ràng buộc, mà chia cái diệu tâm sáng tỏ của ngươi ra thành Kiến, Văn, Giác, Tri từ vô thỉ, tạo thành năm lớp ô trược. 

-Sao gọi là trược? A Nan, ví như nước trong bản tánh thanh khiết, và những thứ bụi, đất, tro, cát, bản chất ngăn ngại, thể tánh vốn khác nhau. Bỗng có người lấy đất cát bỏ vào nước trong, làm cho đất mất ngăn ngại, nước mất thanh khiết, thành tướng vẩn đục, nên gọi là trược. Năm lớp ô trược của ngươi cũng vậy. 

-A Nan! Ngươi thấy hư không khắp mười phương thế giới, hư không và kiến tinh chẳng thể phân ra rõ ràng; hư không thì chẳng có bản thể, tức là ngoan không; kiến tinh thì chẳng có bản giác, tức là vô minh, cả hai giao kết lẫn nhau, vọng thành lớp thứ nhất, gọi là Kiếp Trược. 

-Kiến, Văn, Giác, Tri vốn chẳng ngăn ngại, vì kẹt nơi tứ đại nên thành ngăn ngại; Địa, Thủy, Hỏa, Phong vốn chẳng giác tri, vì xoay chuyển theo lục căn thành có giác tri, các điều đó giao kết lẫn nhau, vọng thành lớp thứ hai, gọi là Kiến Trược. 

-Lại, trong tâm ngươi, tánh tưởng nhớ học tập phát ra tri kiến, dung nạp lục trần, lìa trần thì chẳng có tướng, lìa giác thì chẳng có tánh, từ đó giao kết lẫn nhau vọng thành lớp thứ ba gọi là Phiền Não Trược. 

-Lại tâm niệm của ngươi ngày đêm sanh diệt chẳng ngừng, tri kiến thì muốn ở mãi trên thế gian, nhưng nghiệp báo xoay vần lại thường dời đổi trong lục đạo, những điều ấy giao kết lẫn nhau, vọng thành lớp thứ tư, gọi là Chúng Sanh Trược. 

-Tánh kiến văn của các ngươi vốn chẳng khác biệt, do lục trần ngăn cách, bỗng thành khác biệt, tánh biết thì đồng, sự dụng thì khác, đồng và khác chẳng định, từ đó giao kết lẫn nhau, vọng thành lớp thứ năm, gọi là Mệnh Trược. 

-A Nan! Nay ngươi muốn cho Kiến, Văn, Giác, Tri khế hợp với tứ đức Thường, Lạc, Ngã, Tịnh của Như Lai, trước hết phải lọc bỏ cội gốc sanh tử, dựa theo tánh trong lặng chẳng sanh diệt của diệu tâm, để xoay các thứ sanh diệt hư vọng trở về bản giác. Được tánh chẳng sanh diệt của bản giác làm cái tâm nhân địa, rồi mới viên thành sự tu chứng của quả địa. 

Như lắng nước đục trong đồ đựng nước, để yên mãi chẳng lay động, đất cát tự chìm và nước trong hiện ra, ấy gọi là bắt đầu uốn dẹp được khách trần phiền não; gạn bùn hết sạch, chỉ còn nước trong, gọi là dứt hẳn căn bản vô minh, tướng minh thuần nhất thì tất cả biến hiện đều chẳng gây ra phiền não, và đều hợp với diệu đức trong sạch của Niết Bàn. 

-Nghĩa thứ hai: Các ngươi nếu muốn phát tâm Bồ Đề nơi Bồ Tát Thừa, sanh lòng đại dũng mãnh, quyết định lìa bỏ các tướng hữu vi, nên suy xét kỹ cái cội gốc phiền não của nhuận (nhuần) nghiệp vô minh và nhuận sanh vô minh từ vô thỉ này là ai làm, ai chịu? 

Lược giải:

Xét kỹ chỗ phát tâm của nhân địa là để hợp cái Chơn; xét kỹ cội gốc của phiền não là để tuyệt cái Vọng, vọng đã chẳng vọng thì tức vọng tức chơn. 

Cội gốc của phiền não có hai: Một là Nhuận Nghiệp Vô Minh (nhuận là thấm nhuần), tức là phiền não của những kiếp quá khứ; hai là Nhuận Sanh Vô Minh, tức là khi đầu thai, nơi tình thức sanh khởi yêu, ghét đối với cha mẹ. Hai thứ phiền não này vốn chẳng tự tánh, nếu ngộ biết chẳng tự tánh thì chẳng có kẻ làm, chẳng có kẻ chịu, ngay đó "không tịch", còn ai phiền não?

 Người tiểu thừa chẳng lìa công dụng hữu vi, cho thật có phiền não cần phải phá trừ, ấy do chẳng biết căn trần là hư vọng. Người đại thừa thì khác, thẳng đến Vô Thượng Bồ Đề, chỉ cần xét kỹ nơi căn trần ai làm ai chịu, bỗng được khám phá, thì căn bản vô minh tức thời tan rã. 

Giảng giải:

A Nan và đại chúng nghe Phật nói diệu tâm sáng tỏ trùm khắp 10 phương thế giới và cùng khắp cõi Phật. Vậy A Nan vẫn còn nghi, mặc dầu con nghe như vậy, con hiểu con tin. Như vua cõi trời ban cho cái nhà lớn, nhưng không có cửa làm sao vào được?

Nói vua ban cho, sự thật tự mình sẵn có cái nhà to lớn này. Tham thiền là mở cửa để đi vào nhà lớn, tức là đến chỗ tri kiến Phật. Không còn tư tưởng tri kiến gì hết, mới gọi là tri kiến Phật.

Nói xong năm vóc gieo xuống đất, cả chúng mong đợi lời dạy của Phật.

Lúc bấy giờ, Thế Tôn thương xót hàng Thanh Văn, Duyên Giác chưa được tự tại nơi thân Bồ Đề trong đời mạt pháp (chúng ta hiện đang ở trong đời mạt pháp) khai thị pháp tu nhiệm mầu của vô thượng thừa, bảo A Nan và đại chúng rằng: 

-Các ngươi quyết định phát tâm Bồ Đề, đối với pháp Tam Ma Đề nhiệm mầu của chư Phật, chẳng sanh mỏi mệt, trước hết nên biết hai nghĩa quyết định trong lúc mới phát tâm. 

Sa Ma Tha, Tam Ma Đề, Thiền Na, 3 thiền quán của giáo môn. Ở đây nói Tam Ma Đề bao gồm 3 thiền quán. Tam Ma đề nghĩa là biến hóa, Phật có bá trăm ức hóa thân. Biến hóa của người thế gian gọi là thần thông, nhưng bản năng của tự tánh, ai cũng có năng lực đó. Chỉ cần qua sự tu luyện bỏ các tạp chất thì hiện lên. Mình tu đến mức nào thì hiện lên mức nấy.

Như Trương Bảo Thắng ở Trung Quốc, kiếp trước có tu ngoại đạo, bây giờ cũng hiện được bản năng tự tánh, vô ra vách tường rất dễ, không bị chướng ngại, dùng tâm ý vẽ chữ sau lưng ai cũng được. Mình mặc đồ nhiều, y lấy áo trong của mình ra, mà mình không biết. Tâm tạo ra liền có, đó là sự thật; có những người khác, tuy không bằng Trương Bảo Thắng, nhưng họ vẫn làm được. Chứng tỏ tâm mình đã sẵn có, chứ không phải tu mới được hay học ở ngoài mà có.

Giáo môn dùng Tam Ma Đề, vì pháp này là pháp xuất thế gian, nên nói là nhiệm mầu như có vẻ thần bí vậy. Học cái này không phải như học pháp thế gian mà người ta đi thi học đến mỏi mệt. Còn cái này khỏi cần mỏi mệt, trong này nói “chẳng sanh mỏi mệt”. Trước hết nên biết hai nghĩa quyết định trong lúc mới phát tâm.

Thế nào là hai nghĩa quyết định lúc mới phát tâm?

-Nghĩa thứ nhất: Nếu ngươi muốn  lìa bỏ Thanh Văn tu Bồ Tát thừa (Thanh Văn là Tiểu thừa, Bồ Tát là Đại thừa). Muốn bỏ Tiểu thừa tu Đại thừa nhập tri kiến Phật thì nên xét kỹ chỗ phát tâm của nhân địa, với chỗ giác ngộ là đồng hay khác? 

Tức là nhân nào quả nấy, nếu phát tâm hữu vi thì được quả hữu vi (Tiểu thừa), phát tâm vô vi (quả Phật). Nên Phật bảo lìa Tiểu thừa tiến lên Đại thừa được quả vô vi. Như Tiểu thừa cho có sanh tử, dùng thiền quán để chấm dứt sanh tử, chứng quả Niết Bàn. Còn vô vi quán sanh tử lúc nào cũng không có, khỏi cần dẹp, không có ai làm thì không có ai chịu.

-Do nghĩa này ngươi nên xét kỹ, vạn vật trên thế gian, các pháp có thể tạo đều phải biến diệt.

 Có thành thì phải có hoại, còn hư không thì không có ai tạo ra, cho nên không bao giờ nghe hư không hoại. Đập bể hư không là đập bể tâm chấp, tâm chấp không gian, tâm chấp thời gian, tâm chấp số lượng. 

Nếu khái niệm không gian đập bể thì khái niệm thời gian, khái niệm số lượng cũng tan nát, mới được tự do tự tại. Bây giờ, mình đi tới đâu cũng bị không gian, thời gian và số lượng trói buộc; mà 3 thứ này là hư vô, không có bản thể, chỉ là 3 khái niệm của vọng tâm.

Hỏi:

Tâm không là gì?

Đáp:

Tâm không là bản tánh của mình, như là cái hư không này. Phàm muốn dùng phải nhờ cái không, như cái không của cái tách dùng để đựng nước, cái không của bình thủy đựng nước sôi, cái không của nhà dùng để ở,... tất cả dùng đều do tâm không này. Mặc dầu, dùng của bình thủy, cái tách, cái nhà,… có khác nhau. Nhưng cùng một cái không, tức là tâm không này.

 Vũ trụ vạn vật, núi sông đất đai, công thương kỹ nghệ, bất cứ cái gì, đều phải nhờ cái không mới tồn tại, sinh sống và làm được. Bỏ tâm chấp hữu vi thì vô vi hiện là sẵn sàng khỏi làm. Những cái làm ra được thì sẽ hoại, hư không chẳng làm thì không hoại, vì nó có sẵn; chưa có cái bình, hư không này có sẵn, gọi là pháp vô vi.

Hư không chẳng thể tạo, chẳng thể chấp. Vậy lấy cái gì để chấp? Bây giờ nắm bắt được hư không chăng? Nói đập bể hư không, hư không làm sao đập bể? Tuy nói vậy, nhưng đó là để thí dụ.
Người kiến tánh nói ra đều là chuyển ngữ thì không chỗ trụ. Những người đem giải, thành ra có chỗ trụ. Bàng Uẩn là cư sĩ đã kiến tánh, có nói ra điều gì cũng không trụ. Người kiến tánh mới nói được chuyển ngữ. 

Người kiến tánh nói giống như người thế gian, nhưng người thế gian sanh ra trước tưởng, còn người kiến tánh không sanh ra trước tưởng. Vì người thế gian trước tưởng, rồi cho người kiến tánh cũng có trước tưởng là trụ nơi không. Nhưng sự thật, người kiến tánh nói có cũng được, đâu cần nói không!

Tất cả do tâm tạo, 5 thứ trược cũng do tâm tạo. Trong  này giải từng danh từ.

-Vậy thì trong thân ngươi, tánh cứng là địa, ướt nhuần là thủy, hơi ấm là hỏa, lay động là phong, do tứ đại ràng buộc mà chia cái diệu tâm sáng tỏ của ngươi ra tánh kiến, văn, giác, tri từ vô thỉ tạo thành 5 lớp ô trược. 

Thân của mình do tứ đại cấu tạo, tánh cứng là địa đại, hơi ấm là hỏa đại, nước là thủy đại, hơi thở là phong đại. Địa, thủy, hỏa, Phong vốn không có giác tri mà tổ chức làm thân này. Vì lộn với diệu tâm sáng tỏ thành kiến, văn, giác, tri là không có sự bắt đầu, mà tạo 5 lớp ô trược (không trong sạch). Tâm mình  vốn trong sạch, nhưng chấp thân tứ đại sanh ra kiến, văn, giác, tri thì ô trược. Có 5 lớp ô trược:

1- Kiếp trược: Hư không chẳng có bản thể và kiến tinh chẳng có bản giác, hai thứ chẳng phân rõ ràng giao kết lẫn nhau. 

2- Kiến trược: Là do kiến văn giác tri mà cảm thấy hiểu biết.

3- Phiền não trược: Cuộc sống hàng ngày vì lo cái thân phải có tiền này tiền kia, phiền não sanh ra nhiều.

4- Chúng sanh trược: Tâm niệm ngày đêm không ngừng thì phiền não liên tục, ban đêm biến hiện cảnh giới nhắm mắt chiêm bao, ban ngày biến hiện cảnh giới mở mắt chiêm bao. Tất cả chúng sanh đều như vậy.

5- Mệnh trược: Tứ đại không có sanh mạng, thần thức của mình với duyên cha mẹ mới có duyên này, nên có sanh mạng.

Năm lớp trược này đều là vọng, do tư tưởng chấp thật sanh ra. Nên Phật dạy mình bỏ tư tưởng chấp thật thì hiện lên tri kiến Phật (chẳng có tri kiến), gọi là trong sạch. 

Như lắng nước cho đất cát chìm xuống, nếu lay động thì nước đục lại. Chỉ cần gạn bỏ đất cát còn lại nước trong, dù lay động cách mấy cũng không đục. Sau khi kiến tánh là luyện lọc hết chấp trước thì trong hoàn cảnh nào cũng thấy an vui tự tại.

Xét kỹ chỗ phát tâm của nhân địa là muốn học cái chơn (bản tâm). Muốn xét kỹ cội gốc phiền não là muốn tuyệt cái vọng thì phải bỏ những trược ấy, bỏ được trược thì chơn hiện.

Hỏi: 

Trước kia tu nghiêm chỉnh thanh tịnh, vì hoàn cảnh nào đó, họ trở thành cuộc sống đời thường, việc ấy như thế nào?

Đáp:

Những vị ấy giống như đất cát chỉ chìm dưới đáy nước, nếu bị lay động thì nước nổi đục lên. Cho nên, tu đến kiến tánh triệt để, tất cả tập khí dứt sạch thì trong hoàn cảnh nào cũng không bị chi phối.
 
 

ML
01
02
03
04
05
06
07
08
09
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20

Liên Hệ:
Kinh Thủ Lăng Nghiêm Tông Thông, HT. Nhẫn Tế
Kinh Thủ Lăng Nghiêm, HT. Thích Duy Lực
Tổng Luận Kinh Lă ng Nghiêm Trưc Chỉ, HT. Thích Thiện Siêu
Pháp Tu Lăng Nghiêm Ðại Ðịnh, HT. Thích Huệ Hưng
Phép Tu Lăng Nghiêm Ðại Ðịnh

 
c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap