THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học   Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn  Index Tác-Giả

 
 
 
 
 
c
GIẢNG KINH LĂNG NGHIÊM
Hoà Thượng Thích Duy Lực
Thích Đồng Thường Lập Thành Văn Tự
ML
01
02
03
04
05
06
07
08
09
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
Chánh văn: 

-Lại nữa, Phú Lâu Na, cái minh hư vọng này chẳng phải gì khác, do giác minh thành lỗi lầm; sở minh đã vọng lập, thành lý minh có ngằn mé. Vì vậy, nên nghe chẳng ra ngoài tiếng, thấy chẳng vượt khỏi sắc, sáu thứ sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp đã vọng lập, do đó chia ra Kiến, Văn, Giác, Tri. 

Cộng nghiệp ràng buộc lẫn nhau mà có hợp, ly, thành, hóa; do kiến chấp của sở minh nên sanh khởi sắc tướng, do năng minh của kiến chấp thì thành tư tưởng, ý kiến khác với mình thì thành ghét, tư tưởng đồng với mình thì thành yêu, gieo cái yêu thành hạt giống, thu nạp tư tưởng thành cái thai, giao cấu phát sanh, hấp dẫn cộng nghiệp, nên có nhân duyên sanh ra bào thai. 

-Các loài thai sanh, noãn sanh, thấp sanh, hoá sanh, tùy theo sự cảm ứng mà thành: Noãn do tưởng niệm mà sanh, thai do ái tình mà có, thấp sanh do hợp mà cảm ứng, hóa sanh do tách ly mà hiện. Tình, tưởng, hợp, ly, thay đổi lẫn nhau, các loài thọ nghiệp theo đó mà thăng trầm, do nhân duyên này, nên chúng sanh tương tục. 

-Phú Lâu Na, do tư tưởng thương yêu liên kết thành nghiệp, yêu mãi không rời thì những cha mẹ con cháu trong thế gian sanh nhau chẳng ngừng, ấy đều từ gốc Dục Tham sanh khởi. 

-Lòng tham ái giúp nhau tăng trưởng, tham mãi không thôi thì các loại thai, noãn, thấp, hóa trong thế gian, tùy sức mạnh yếu, ăn nuốt lẫn nhau, ấy đều từ gốc Sát Tham sanh khởi. 

-Người ăn thịt dê, dê chết làm người, người chết làm dê, như vậy cho đến mười loại chúng sanh, chết sống sống chết, ăn nuốt lẫn nhau, ác nghiệp lan tràn cùng tột đời vị lai, ấy đều từ gốc Đạo Tham (trộm cắp) sanh khởi. 

-Ngươi nợ mạng ta, ta trả nợ ngươi, do nhân duyên này, trải qua trăm ngàn kiếp, thường ở trong dòng sanh tử; ngươi yêu tâm ta, ta ưa sắc ngươi, do nhân duyên này trải qua trăm ngàn kiếp, thường ở trong dòng ràng buộc, ấy đều từ gốc Sát, Đạo, Dâm sanh khởi. Do nhân duyên này nên nghiệp quả tương tục. 

-Phú Lâu Na, ba thứ điên đảo kể trên tương tục như vậy, đều do sự lỗi lầm của giác minh cho là có tánh liễu tri của năng minh rồi biến hiện sắc tướng, từ vọng kiến đó sanh khởi các tướng hữu vi như núi sông đất đai, theo thứ tự dời đổi, vì hư vọng này nên xoay chuyển chẳng ngừng. 

Phú Lâu Na nói: 

-Thế Tôn! Nếu Diệu Giác này vốn nhiệm mầu sáng tỏ, cùng với tâm Như Lai chẳng thêm, chẳng bớt, khi không bỗng sanh các tướng hữu vi như núi sông, đất đai; nay Như Lai đã chứng Diệu Giác, làm sao núi sông đất đai và các tập khí hữu lậu còn được sanh trở lại? 

Phật bảo Phú Lâu Na: 

-Ví như người mê ở một xóm làng, nhận lầm phương Nam thành phương Bắc, vậy sự mê lầm này từ mê ra hay từ ngộ ra? 

Phú Lâu Na đáp: 

-Người mê như vậy chẳng từ mê ra, cũng chẳng từ ngộ ra? Tại sao? Mê vốn chẳng gốc, làm sao từ mê ra? Ngộ chẳng sanh mê, sao nói từ ngộ ra? 

Phật nói: 

-Người mê kia đang trong lúc mê, bỗng có người ngộ chỉ thị cho ngộ, Phú Lâu Na, ý ngươi thế nào? Người ấy dẫu mê, đối với xóm làng này, còn mê lại nữa chăng? 

-Bạch Thế Tôn, không ạ! 

-Phú Lâu Na, mười phương Như Lai cũng như vậy, sự mê này vốn chẳng có gốc, tánh rốt cuộc là không, xưa vốn chẳng mê, do vọng chấp nên tựa như có mê có giác, giác được cái mê thì mê liền diệt, giác chẳng sanh mê. 

-Cũng như người nhặm thấy hoa đốm trên không, nếu trừ được bệnh nhặm thì hoa đốm nơi không liền diệt. Bỗng có người ngu ở chỗ hư không mà hoa đốm đã diệt kia, mong đợi hoa đốm sanh nữa, ngươi xét người này là ngu hay trí? 

Phú Lâu Na đáp: 

-Hư không vốn chẳng có hoa đốm, vọng thấy có sanh diệt, thấy hoa đốm diệt đã là điên đảo rồi, lại còn muốn hoa đốm sanh nữa, thì thật là điên dại, làm sao còn gọi người điên như vậy là ngu hay trí! 

Phật bảo: 

-Theo như ngươi hiểu, sao lại còn hỏi Diệu Giác của chư Phật lại sanh núi sông đất đai nữa! Cũng như quặng vàng, đất cát lộn với vàng ròng, khi quặng đã luyện thành vàng ròng thì chẳng trở thành quặng nữa; như cây đã đốt thành tro, thì chẳng trở lại thành cây nữa. Bồ Đề Niết Bàn của chư Phật cũng như vậy. 

-Phú Lâu Na, ngươi còn hỏi về bản tánh viên dung, cùng khắp pháp giới của Địa, Thủy, Hỏa, Phong nghi rằng tánh Thủy và Hỏa sao chẳng đoạt mất nhau, và hỏi sao hư không và tánh Địa đều khắp pháp giới, lẽ ra chẳng dung nạp nhau. 

-Phú Lâu Na, ví như hư không chẳng phải các tướng, cũng chẳng ngăn ngại các tướng phát huy. Tại sao? Phú Lâu Na, ở nơi hư không, mặt trời chiếu thì sáng, mây che thì tối, gió thổi thì động, trời tạnh thì trong, sương mù thì đục, bụi nổi thì mờ, nước lặng thì lóng lánh, ý ngươi thế nào? Các tướng hữu vi khác nhau như vậy, là tự sanh hay từ hư không ra? 

Phú Lâu Na, nếu mỗi mỗi tự sanh, khi lúc mặt trời chiếu, đã là mặt trời chiếu sáng, thì mười phương hư không đều thành màu sắc của mặt trời, tại sao lại còn thấy mặt trời trên không? Nếu hư không tự sáng, thì hư không phải tự chiếu sáng, tại sao lúc giữa đêm mây mù lại chẳng thấy sáng?

 Nên biết cái sáng như vậy chẳng phải mặt trời, chẳng phải hư không, cũng chẳng ngoài mặt trời và hư không. Xét các tướng ấy vốn là hư vọng, chẳng thể chỉ bày, cũng như muốn hoa đốm trên không kết thành quả hư không, làm sao còn hỏi cái nghĩa chẳng đoạt mất nhau? Diệu Tâm sáng tỏ, vốn chẳng phải thủy, hỏa, tại sao lại còn hỏi về nghĩa chẳng dung nạp nhau? 

-Tánh sáng tỏ của Diệu Tâm cũng vậy, nếu ngươi phát minh cái hư không thì hư không hiện ra; địa, thủy, hỏa, phong mỗi mỗi phát minh thì mỗi mỗi hiện ra, nếu cùng phát minh thì cùng hiện ra. 

-Thế nào là cùng hiện? Phú Lâu Na, như trong một dòng nước, hiện ra bóng mặt trời, hai người cùng xem bóng đó, rồi người đi phương Đông, người đi phương Tây, mỗi người đều thấy mặt trời theo mình, một cái đi về phương Đông, một cái đi về phương Tây, chẳng có nhất định. Không nên hỏi rằng: Mặt trời là một, sao lại mỗi cái đi theo mỗi người? Bóng mặt trời trong nước đã thành hai, tại sao trên trời chỉ có một? Sự hư vọng quanh lộn như thế chẳng có căn cứ. 

-Phú Lâu Na, ngươi cho tướng Sắc, Không đoạt mất lẫn nhau nơi Như Lai Tạng, thì Như Lai Tạng tùy theo sắc không cùng khắp pháp giới, nên ở trong đó, gió thổi thì động, hư không thì lặng, mặt trời thì sáng, mây mù thì tối, chúng sanh mê muội, trái giác tánh, hợp cảnh trần, phát khởi trần lao, nên có tướng thế gian. 

-Ta dùng tánh chẳng sanh diệt của diệu tâm sáng tỏ hợp với Như Lai Tạng, thì Như Lai Tạng chỉ duy nhất một diệu tâm sáng tỏ, tròn đầy chiếu khắp pháp giới, nên ở trong đó, một là vô lượng, vô lượng là một, trong nhỏ hiện ra lớn, trong lớn hiện ra nhỏ, đạo tràng chẳng động mà khắp mười phương thế giới, thân thể bao hàm vô tận hư không, nơi đầu một mảy lông hiện ra cõi Phật, ngồi trong vi trần chuyển đại pháp luân, nghịch cảnh trần, hợp giác tánh, nên hiện ra tánh Chơn Như sáng tỏ của diệu tâm.

Giảng giải:

Thế giới tương tục, chúng sanh tương tục, nhật hỏa tương tục, tiếp tục với nhau, lỗi lầm là do giác minh. Cái giác vốn minh là như vậy, không có ai làm ra; mà mình làm tài khôn nói cái giác đó có cái minh, lập ra sở minh; nên giác minh thành lỗi lầm; lỗi lầm mới sanh ra thế giới, sanh ra chúng sanh, sanh ra nhật hỏa. Tất cả đều do tâm mình tạo. 

Tâm tạo là ban đầu tạo cho cái giác phải có minh, nhưng cái giác không phải minh; cái minh của cái giác cùng khắp, nên không có sở minh; khi đã lập sở minh thành có phân biệt, nếu có sở thì đã thành nhiều rồi. Vì cái giác vốn bất nhị. Đã lập sở thì phải có sở này sở kia, đủ thứ muôn ngàn sai biệt, mới có thế giới, chúng sanh, nghiệp quả.

Trong kinh nói vốn là bản tâm của mình, không phải thế giới, không phải chúng sanh, không phải nghiệp quả. Do mình làm tài khôn lập ra mới thành vậy. Cho nên nói “tất cả đều do tâm tạo”, Phật khuyên mình đừng tạo thì đưa đến bản lai diện mục, tức là hiện chơn tâm ra, lúc ấy được tự do tự tại.

Đừng cho giác đó phải có minh và sở minh, tự lập có năng sở. Tôi thường nói “hư không có cái dụng là không; như tách cần phải có cái không để đựng sửa, bình cần có cái không để đựng nước, nhà cần có cái không để ở,…”. 

Cứ phân biệt cái không của nhà khác cái không của tách và khác cái không của bình. Nhưng sự thật chỉ có một cái không, chứ chẳng có hai cái không; nếu giải thích muôn ngàn thứ không khác biệt, nên mới khác. 

Hỏi:

Tại sao nói công dụng ông Trương Bảo Thắng?

Đáp:

Để chứng tỏ “tất cả đều do tâm tạo”. Máy điện toán cũng do tâm tạo, là học cấu tạo của bộ óc, như gởi tiền vào máy này thì máy khác đều có. Tánh thấy cùng khắp hư không, nên tất cả đồ vật đều thấy một lượt.

Tất cả đều thấy được là do khắp không gian thời gian. Phật nói nhân quả, thế giới, vi trần đều do tâm làm ra. Nhân tâm thành thể  (kinh Lăng Nghiêm) là muốn tin tự tâm, không cần đi tìm cầu bên ngoài. 

Thực hành được vô sở đắc, vô sở cầu, vô sở sợ, mới phá được ngã chấp, giúp cho mình tu mau được kết quả.

Tất cả thần thông trí huệ mình có đầy đủ, không cần phải đi tìm cầu, bằng với chư Phật, không hơn kém. Vì mình bị tạp chất tham sân si che khuất, khi nào luyện bỏ tạp chất thì nó hiện ra, gọi là kiến tánh. Chứ không phải tu mới thành. 

Kinh Viên Giác nói: “Vàng trong quặng đã thành sẵn, vì lộn với đất cát tạp chất nên không thấy. Bỏ hết đất cát tạp chất thì vàng hiện ra, nếu trong quặng không có vàng thì luyện cách mấy cũng không hiện ra. Phật tánh của mình đã thành sẵn, không phải tu mới thành”. 

Cho nên, Tổ Sư thiền tham đến cuối cùng là “vô tu vô chứng”. Tâm nhìn thoại đầu, tâm hỏi câu thoại, mà hỏi và nhìn một lượt. Vậy có 2 tâm sao? Không phải một tâm cũng phải hai tâm. Tâm không hình tướng, không số lượng, không thể diển tả. 

Tôi dùng cái đồng hồ để thí dụ, chứng tỏ là một lượt. Kim gió nhảy 1 giây không ngừng, con mắt mình nhìn kim gió nhảy không ngừng, còn miệng mình hỏi câu thoại cũng không ngừng, 3 cái đều không ngừng, có phải cùng một lượt không? 3 cái cùng một lượt tức là đồng thời thì không phải 2 tâm, cũng không phải 1 tâm. 

Sự thật có đồng thời, con mắt nhìn, miệng hỏi, kim gió nhảy, 3 cái không gián đoạn, tức là một lượt. Lấy cái này để ví dụ không có trước sau, không phải nhìn trước hỏi sau, cũng không phải hỏi trước nhìn sau; không phải 2 tâm cũng không phải 1 tâm, vì tâm không có số lượng.

Hỏi: 

Như thế nào là vô tâm?

Đáp:

Trong Thiền tông nói: “Vô tâm còn cách muôn trùng quan”, vì vô tâm lọt vào chấp không, có và không là thế lưu bố tưởng. Bậc thánh chỉ có thế lưu bố tưởng, không có trước tưởng. Phàm phu có thế lưu  bố tưởng và có trước tưởng. Nói có thì chấp có là thật, nói không thì chấp không là thật, nên lọt vào hữu vô. Còn bậc thánh không cho hữu là thật, nói vô không cho vô là thật. 

Mặc dầu, nói vô tâm nhưng sự thật không phải vô tâm. Vì bản tâm không bao giờ gián đoạn, chỗ đó không dùng lời nói để diễn tả; nếu dùng ngữ ngôn, chẳng thể vào tri kiến Phật.  Việc này cần phải ngộ mới được.

Hỏi:

Làm thế nào để ngộ?

Đáp:

Tham thiền để ngộ, Phật Thích Ca dạy người tham thiền, truyền lại cho đến ngày nay, chỉ chú trọng cái nghi, giữ được nghi sẽ đưa đến ngộ.

Hỏi:

Nếu còn nghĩ đến nghi tình thì lọt vào có và không phải không?

Đáp:

Sao lại có nghĩ! Vì thoại đầu là một niệm chưa sanh, nếu nghĩ thì niệm đã sanh rồi.

Hỏi: 

Dùng nhất niệm vô minh để phá vô thỉ vô minh, vậy là như thế nào? 

Đáp: 

Tham thoại đầu là nhất niệm vô minh, nhất niệm vô minh này không phải nhất niệm vô minh của giáo môn. Nhất niệm vô minh của giáo môn là dùng cái biết. Còn Tổ Sư thiền dùng nhất niệm vô minh là cái không biết. 

Vì không biết, nên không bị ngoại cảnh lôi kéo, như người khen không biết không thấy mừng, người chửi không biết không thấy buồn. Chỉ dùng cái không biết (nghi tình) thì đúng, đến thoại đầu (vô thỉ vô minh) được phá tan gọi là kiến tánh.

Hỏi:

Vô minh chỉ là hoa đốm ở giữa trời, mình gọi nó là vô minh, vậy nó có thật là vô minh không?

Đáp:

Không phải vô minh, tại có tâm chấp mới thành vô minh, cho nên Bát Nhã Tâm Kinh nói: “Vô vô minh (không có vô minh), diệc vô vô minh tận (cũng không có hết vô minh)”. Đã không có vô minh, làm sao có hết vô minh? Nhưng đã chấp có vô minh, nên phải nói phá vô minh, sự thật không có vô minh để phá.

Hỏi:

Tịnh Độ đến nhất tâm bất loạn, còn Thiền tông đến chỗ nào?

Đáp:

Không có đến chỗ nào hết, Tại sao? Tại không có chỗ để đến, nếu có chỗ thì tâm mình không cùng khắp không gian; khắp không gian khỏi cần đến, chỗ nào cũng là thể của tâm mình.

Nhất tâm bất loạn của Tịnh Độ thì còn biết, Thiền tông thì không hiểu không biết, biết và không biết nghịch nhau.

Hỏi:

Quả A La Hán còn cái biết không?

Đáp: 

Còn biết có Niết Bàn của mình chứng, họ còn biến dịch sanh tử. Như bị say rượu tịnh, hết say rượu tịnh bỏ quả A La Hán để tiến lên Đại thừa.

Hỏi:

Như thế nào vô tâm không cho hữu tâm biết?

Đáp:

Nếu dùng hữu tâm để biết vô tâm thì hữu tâm không phải vô tâm. Vô tâm không có năng biết vô tâm, vì biết là tâm, mà không biết cũng là tâm thì không biết mới đến được, còn cái biết không đến được. Vô tâm không có kiến, văn, giác, tri.

Kiến, văn, giác, tri là lục căn (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý). Mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, thân xúc, ý biết. Lục căn chia làm 4 bộ: Kiến thuộc về mắt, văn thuộc về tai, giác thuộc về mũi, nếm thuộc về thân, tri thuộc về ý; gọi chung là kiến, văn, giác, tri. 

Kinh Lăng Nghiêm nói: “Dẫu cho diệt hết kiến, văn, giác, tri, tâm còn giữ u nhàn, cũng là bóng phân biệt của pháp trần”. Nếu tu pháp môn khác đến chỗ thanh thanh tịnh tịnh thì rất mừng. Nhưng Thiền tông còn phải quét cái thanh tịnh ấy, chứ không cho trụ. Cần phải tiến lên, nếu còn chấp chỗ vô tâm thì cũng chưa được, phải liễu tâm.

Thoại đầu, vô thỉ vô minh, đầu sào trăm thước, ý nghĩa 3 danh từ này đều giống nhau. Chỗ đó không có cái gì để nói, không có cái gì để tiếp xúc, không thể suy nghĩ được. Nhưng còn có cái bóng của bụi  chưa sạch, mặc dầu không phải bụi. 

Từ đầu sào 100 thước tiến lên 1 bước, cái bóng của bụi mới sạch, không còn cái gì nữa, bản lai diện mục mới hiện ra hoàn toàn. Lúc ấy, không lấy cái gì để biết, chỉ  giữ nghi tình để tiến thôi. Bắt đầu tham thiền chỉ giữ nghi tình, không có cái gì khác; tại mình tưởng có cái gì khác, khi nhân duyên chín mùi thì tự ngộ.

Hỏi:

Tham thiền không giữ được cuộc sống bình thường hàng ngày phải không?

Đáp:

Lúc làm việc 8 tiếng đồng hồ đừng tập tham, tập tham 16 tiếng đồng hồ không làm việc. Tập tham thiền trong lúc không làm việc, tập tham trong 16 tiếng đồ hồ này quen thuộc thì lúc làm việc cũng tham được. Tham được là tại thói quen hơn những thói quen khác, thành ra mới tự động được. Cho nên, lúc đó làm việc cũng tham, nhưng không phải tập tham. 

Hỏi:

 Nếu nói như vậy, có phải kẹt vào tiệm ngộ hay đốn ngộ?

Đáp:

Tiệm hay đốn là tùy đương cơ, cũng  như Thiền sư Cao  Phong Nguyên Diệu có mấy chục cái tiểu ngộ, mười mấy đại ngộ. Còn Lâm Tế chỉ 1 lần tới Lao Quan, không có Sơ Quan, Trùng Quan. Đó tùy theo người chứ không phải do pháp, pháp không có việc đó.

Hỏi:

Có phải triệt ngộ thì tập khí vẫn còn?

Đáp:

Phần nhiều thì còn, cho nên phải qua bảo nhậm. Như Lục Tổ phải qua bảo nhậm 15 năm, ngài là bậc thượng căn, lúc còn đi bán củi, nghe người ta tụng kinh thì phá được sơ quan. Rồi nghe Ngũ Tổ giảng kinh Kim Cang, phá luôn Mạc Hậu Lao Quan.

Hỏi:

Lục Tổ triệt ngộ rồi, chưa dứt trừ hết tập khí, bỗng nhiên ngài sân lên, ngay khi đó ngài tịch thì kiếp sau ra sao?

Đáp:

Nếu còn tập khí mà tịch thì kiếp sau tiếp tục dứt tập khí đến chừng nào sạch hết, vẫn tái sanh; nhưng không có lui sụt, chỉ có tiến lên. Như có một vị Tăng, kiếp trước là Đại Huệ, đọc ngữ lục Đại Huệ chỉ 1 lần là thuộc lòng.

Hỏi:

Đức Phật thọ ký cho ngài Ma Ha Ca Diếp và ngài Di Lặc như thế nào?

Đáp:

Tất cả chúng sanh đều Phật thọ ký sau này thành Phật. Nhưng Phật đã nói “tất cả chúng sanh đều đã thành Phật”. Nói sau này thành Phật dứt trừ tập khí. Trong giáo lý có 4 phần: Kiến phần là năng kiến, tướng phần là sở kiến, chứng phần, chứng tự chứng phần. 

Bát Nhã Tâm Kinh nói: “Vô lão tử diệc vô lão tử tận (không già chết, cũng không hết già chết). Chính tôi bây giờ sau này cũng phải già chết, mà làm sao tin nổi! Thật tế tôi đã già, sau này cũng phải chết. Tại sao Phật nói không có già chết? Vì chưa có tự chứng phần, mặc dầu Phật nói vậy, nói tin Phật nhưng sự thật mình tin chưa nổi. 

Như nhắm mắt chiêm bao, mình tiếp xúc cái nào cũng thấy thật. Tiếp xúc trái cây, bàn ghế, nóng lạnh đều biết và luôn thân chiêm bao, người ta đánh cũng biết đau, biết mừng biết vui; giả sử trong chiêm bao, có thiện trí thức giải thích, cái tách, trái cây, luôn cả cái thân của ông đều không thật thì thân chiêm bao không tin nổi.

 Tại sao? Vì tiếp xúc cái nào cũng đều thật. Nói cái thân không thật mà người ta đánh tôi, tôi biết đau, biết buồn biết vui; trong chiêm bao cũng có khóc, có sợ, thức dậy còn có nước mắt, trái tim còn đập, chứng tỏ chiêm bao có thật. Thiện tri giải thích có lý, nhưng tin không nổi, tin không nổi là thiếu tự chứng phần. 

Mình tự thức tỉnh là được chứng phần, lúc đó không tin cũng không được; hồi nãy thân chiêm và các vật chất đâu, tìm không ra! Lúc đó được tự chứng phần thì tin, khỏi cần thiện tri thức giải thích.

Nay, mở mắt chiêm bao, mình thấy cái gì cũng thật. Nhưng Phật nói trong kinh không già chết, ai cũng không tin là chưa được tự chứng phần. Tới chừng kiến tánh, như ở trong chiêm bao thức tỉnh được tự chứng phần thì tin. Nhưng chưa có chứng tự chứng phần (ấn chứng). 

Nếu không có thầy ấn chứng thì dùng kinh liễu nghĩa để ấn chứng hay ngữ lục của Tổ kiến tánh triệt để, để ấn chứng cũng được. Nếu có người kiến tánh triệt để ấn chứng thì tốt hơn.

Sợ mình có vọng tâm, chưa chứng mà nói là chứng. Được chứng tự chứng phần mới bảo đảm. Bây giờ mình tin đều là vọng tưởng, tại chưa có tự chứng phần; nói tin, nhưng sự thật chưa thật tin, nên mình lo sợ cái này cái kia là vậy. Nếu được tự chứng phần thì khỏi lo.

Hỏi: 

Như thế nào nói tự tin? 

Đáp:

Bây giờ hỏi Phật tử có tin Phật không? Ai cũng nói tin. Nhưng sự thật thì chưa tin, có thể tin phần nào thôi. Chưa phải tin 100%, tùy theo mỗi người có sức tin.

Hỏi:

Pháp môn khác có giải trừ tập khí, còn Thiền tông sao không thấy nói?

Đáp: 

Thiền tông còn gọi là Tổ Sư thiền, ngài Nguyệt Khê là người kiến tánh. Giải thích rất giãn dị mà thật kỹ.

1 – Tiểu thừa: Giai đoạn ngã chấp.

Bây giờ người nào cũng có ngã chấp, theo triết lý là Duy Vật Luận. Cuộc sống hàng ngày của mình ở trong phạm vi tương đối. Cách tu là Tứ Diệu Đế. Còn tâm trạng ở trong nhất niệm vô minh, thừa này gọi là thừa Thanh Văn. Mục đích dứt lục căn.

2 – Trung thừa: Giai đoạn pháp chấp.

Phá được ngã chấp, theo triết lý là Chủ Quan Duy Tâm Luận. Nhưng vẫn còn ở trong phạm vi tương đối. Cách tu là Thập Nhị Nhân Duyên. Cũng còn ở trong nhất niệm vô minh, thừa này gọi là thừa Duyên Giác. Mục đích là dứt nhất niệm vô minh.

3 – Đại thừa: Giai đoạn không chấp.

Tiểu thừa phá ngã chấp, Trung thừa pháp chấp, Đại thừa chấp không. Phá được ngã chấp, pháp chấp thì lọt vào không chấp. Đây là tâm và vật hợp một, còn trong phạm vi tương đối. Cách tu Lục Độ Ba La Mật. Đến vô thỉ vô minh cũng gọi là Bồ Tát thừa. Mục đích phá vô thỉ vô minh.

4 – Tối Thượng thừa: Giai đoạn thật tướng.

Khác hơn 3 thừa kia là duy vật, duy tâm, tâm và vật hợp một, chỗ này là Phi Tâm Phi Vật, không thể nói được. Trước kia ở phạm vi tương đối, tới đây thì phạm vi tuyệt đối, cách tu là thoại đầu. Đại thừa đến vô thỉ vô minh, còn đây là chân như Phật tánh, cũng gọi là Nhất Phật thừa vạn đức viên mãn, vô tu vô chứng. Cuối cùng phát hiện không phải tu mới thành, không phải chứng mới đắc. Đây là chỗ cuối cùng không còn tu nữa.

Nếu Ngài không phải kiến tánh thì không thể dùng ít lời nói, mà diễn tả được 4 thừa rất rõ ràng như vậy! 

Hỏi:

Nếu nói như vậy, chỉ dành cho căn cơ cao, chỉ thẳng chân như Phật tánh. Còn mình phàm tục quá thì phải tu từ từ, nếu mình tu liền làm sao được? 

Đáp:

Cái đó cũng theo chấp tâm mà nói, Phật đã nói tất cả chúng sanh bình đẳng, vốn không có cao thấp, vì chấp tâm mới thành cao thấp, nếu bỏ được tâm chấp thì không có cao thấp.

Hỏi:

Nếu không có kiến, văn, giác, tri, như những người điên thì sẽ ra sao?

Đáp:

Ngủ mê, chết giấc, bệnh tâm thần, không hiểu, không biết thì không thể tham thiền được.

Hỏi: 

Thế nào tẩu hỏa nhập ma, khi thọ trì?

Đáp:

Tẩu hỏa nhập ma là do tâm chấp thật, có sở  cầu, có sở đắc, có sở sợ. Nếu thực hành  được 9 chữ  này thì ma nhập chỗ nào? Tại ma nhập là do có ta. Ta còn không có, ma nhập chỗ nào! Nên bảo đảm không bị ma nhập. 10 điều tham Tổ Sư thiền, điều kiện thứ nhất là “vô sở cầu, vô sở đắc, vô sở sợ”. Nhưng tập tham mới được, không phải tự nhiên mà thành Phật.

Hỏi: 

Nói nhập ma là nhập nơi tâm nào? Thầy thường dạy tâm chúng sanh không bờ mé. Nếu chỗ này nhập vào chỗ kia thì không thể gọi là  không bờ mé. Vì có xuất nhập tất nhiên có hai?

Đáp:

Có hai chỗ thì không phải chân tâm, nên mới gọi là phàm phu. Phàm phu theo thế lưu bố tưởng sanh ra trước tưởng. Bây giờ mình là phàm phu đang thực tập để bỏ chấp thật, nhưng cũng rất khó. Nếu dùng cái không biết thì thật hay không thật, có hoặc không có, buồn và vui,… đều không biết. 

Hỏi: 

Tham Tổ Sư thiền và tu mong cầu thần thông có thể nhập ma không?

Đáp:

50 thứ ma ngũ ấm trong kinh Lăng Nghiêm giảng thật kỹ. Nói tóm tắc là do tâm chấp, nên không dùng 2 chữ “cho là hay cho rằng”, bất cứ cho là hay cho rằng thì tẩu hỏa nhập ma, vì dùng cái biết, dùng tâm niệm để tu.

 Tổ Sư thiền dùng cái không biết của nghi tình, bảo đảm không bị ma nhập. Khi nổi lên tâm chấp có cầu, có đắc, có sợ thì mới bị tẩu hỏa nhập ma. Nhưng đó lại nghịch với Tổ Sư thiền, họ tu không đúng tông chỉ của Tổ Sư thiền. 

Hỏi:

Thế nào gặp Phật sát Phật, gặp ma sát ma?

Đáp:

Nếu mình giữ được nghi tình thì đã là sát rồi. Sát là sát tâm chấp, chứ không phải sát Phật. Còn sợ ma thì chấp thật có ma thì phải sát ma, cũng là sát cái tâm chấp ma.

Hỏi:

Phật Thích Ca truyền pháp môn Tịnh Độ cho Xá Lợi Phất phải không?

Đáp:

Không phải, Xá Lợi Phất chỉ đại diện đương cơ trong kinh Di Đà. Kinh Di Đà là bất liễu nghĩa, nên Phật không có thân truyền. Phật bất đắc dĩ mới giảng kinh bất liễu nghĩa. Kinh đại thừa liễu nghĩa còn không truyền, vì liễu nghĩa đối đãi với bất liễu nghĩa. 3 thiền quán Sa Ma Tha, Tam Ma Bát Đề và Thiền Na của Như Lai thiền, Phật chỉ nói, không có truyền.

 Duy nhất Phật truyền pháp Tổ Sư thiền, phó chúc cho Ma Ha Ca Diếp; nhưng chỉ đưa nhánh hoa lên, không mở miệng, Ma Ha Ca Diếp mỉm cười không đáp. Tức là dùng tâm ấn tâm, nên gọi là truyền tâm ấn. Mặc dầu, nói truyền  tâm ấn nhưng không có tâm để truyền.

Hỏi:

Làm thế nào cho thùng sơn đen lũng đáy?

Đáp:

Chỉ cần giữ nghi tình miên mật, cuối cùng thùng sơn mới lũng đáy. Thùng sơn lũng đáy diễn tả phá được vô minh. Thùng sơn không lũng đáy thì ánh sáng vô không được nên thấy đen tối. Ngài Nguyệt Khê nói là “hầm sâu vô minh”. Khi nào kiến tánh (ánh sáng vô thì hết đen tối) là phá căn bản vô minh (thùng sơn lũng đáy).

Chỉ duy nhất tham câu thoại đầu cho miên mật. Có công án: Một Ni Cô tham câu thoại đầu: “Chẳng phải tâm, chẳng phải vật, chẳng phải Phật, là cái gì? 

Vì có tâm cầu, cứ hỏi thầy có cách nào cho mau kiến tánh không? Thầy lắc đầu, không trả lời. Nhiều năm, cứ hỏi hoài. Có một ngày lại hỏi, thầy biết công phu đã chín mùi mới nói: Có.

Ni cô nói: Có, sao thầy không nói trước cho con biết? Xin thầy nói ra cho con biết!

Thầy nói: Bây giờ để ý nghe “chẳng phải tâm, chẳng phải vật, chẳng phải Phật, là cái gì”? 

Ni Cô liền kiến tánh, sự thật chẳng có phương pháp khác. Vì Ni Cô chấp có phương pháp khác để mau ngộ, nên cũng thành chướng  ngại. Khi thầy nói ra dẹp được mong cầu cách khác thì kiến tánh liền ngay đó. 

Hỏi:

Thế nào niệm một câu danh hiệu Phật phải súc miệng 3 ngày?

Đáp:

Đó là công án của Triệu Châu, phàm chấp cái gì thật thì không được, lời nói của Tổ, Phật cũng không được. Lời nói của Tổ là mục đích để cho người ta phát nghi, chứ không phải để cho người ta chấp thật. Nếu chấp thật thì sẽ tẩu hỏa nhập ma. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Tất cả do tâm tạo”, và cũng nói: “Nhân quả, thế giới, vi trần nhân thành thể”, vì tâm mới có các thứ đó.

Tiểu thừa thì duy vật, Trung thừa thì duy tâm. Đại thừa thì tâm và vật hợp một, Tối Thượng thừa thì chẳng phải tâm chẳng phải vật, mới siêu việt,  không trụ ở tâm, không trụ ở vật.

Chư Tổ dạy mình chuyên tu 1 pháp môn, đi sâu vào, đừng có như dùng 2 chân đi trên 2 chiếc thuyền.

“Ưng vô sở trụ, nhi sanh kỳ tâm”, như tay dụ cho tâm hoạt bát vạn năng, lấy trái cây, lấy cuốn kinh,… lấy cái gì cũng được, vì không có sở trụ. Tham thiền khởi lên nghi tình là cây chổi tự động quét “biết và không biết” của bộ óc thì khôi phục lại hoạt bát vạn năng bản thể vô trụ cùng khắp không gian và thời gian. 

Lục Tổ nói: “Lấy vô trụ làm gốc”. Duy Ma Cật nói: “Từ gốc vô trụ lập tất cả pháp”, lập tất cả pháp là cái dụng. Dụng là sanh kỳ tâm, vô sở trụ mới được cái dụng của tâm, nếu có sở trụ thì bị mắc kẹt. 

Nếu trụ nơi có thì mắc kẹt nên không hiện ra cái dụng, trụ nơi không cũng bị mắc kẹt cái dụng. Cho nên, có và không đều phải quét thì khôi phục bản năng của bản thể. Lục Tổ vừa nghe đến câu này liền đại ngộ, không phải ai cho, tức là hồi nào vốn như vậy. Tại mình chấp thì bị  chướng ngại nên không được ngộ.

Vô sở trụ thì không trụ nơi có, không trụ nơi không, không trụ nơi cũng có cũng không, không trụ nơi chẳng có chẳng không. Tức là không trụ nơi nào thì cái dụng mới hoạt bát vạn năng, ứng dụng việc gì đều được. Nếu trụ bất cứ chỗ nào một chút thì cũng bị chướng ngại cái dụng.

Kinh Lăng Nghiêm nói: “Do giác minh thành lỗi lầm”, là trụ nơi minh (sáng). Tâm mình vốn sáng, khỏi cần sáng nữa. Do chấp cái sáng thì mất cái sáng của bản thể, cho nên tin tâm mình tất cả sẵn sàng, khỏi cần lấy vô.

Như Bàng Uẩn nói với Ông quan: “Phàm cái nào mình đã có đều đổ ra hết, cái nào mình không có đừng lấy vô”. Người thế gian cho mình còn thiếu, nghèo rồi đi khất thực các nơi, không biết trong áo của mình có hạt châu như ý mà không lấy dùng (kinh Pháp Hoa). 

Cho nên, người học đạo phải tin tự tâm mình có tất cả đầy đủ thần thông diệu dụng khắp không gian thời gian, siêu việt số lượng. Nếu nổi lên một niệm thì có số lượng (tâm lượng). Kinh Lăng Già nói: “Tự tâm hiện lượng”, cũng gọi là vọng tưởng.

Cái không sẵn sàng, vì do con người tạo ra sự phân biệt, mới sanh có đủ thứ phiền não, thế giới hiện tượng. Nên Phật muốn chúng ta đừng tạo thì được bình yên vô sự. Như tạo cái tách, nếu cái tách bể thì sanh ra phiền não.

Tất cả đều là vọng, nhưng là Như Lai Tạng. Phá trước tưởng, chứ không phải không có thế lưu bố tưởng! Tức là không hoại pháp thế gian, tất cả y như cũ; như cái tách vẫn là cái tách, trái bôm vẫn là trái bôm,… không thêm ý mình vô, không cho là phải như vầy mới đúng hay không đúng. Chỉ theo thế lưu bố tưởng không sanh ra trước tưởng.

Tại thói quen con người giải thích cái này, cái kia, nên Trung Quán Luận phá cái “không” thì phá hết tất cả. Tại sao phá 27 thứ, như phá Phật, phá Như Lai, phá Nhân Duyên,…? Vì con người có đủ thứ tâm chấp, chấp nhân duyên thì phải phá nhân duyên, chấp không thì phải phá không, chấp Phật thì phải phá Phật, chấp ma thì phải phá ma,… là phá tâm chấp. Vì vậy, phải phá đủ thứ, không phải chỉ phá một thứù.

Nếu tất cả thứ đều ở trong hư không, phá được hư không thì tất cả thứ đều phá. Nhưng không làm được như vậy, phá hư không rồi người ta vẫn còn chấp mấy cái khác nữa, cho nên tùy theo sự chấp mà phá. Người này chấp Bồ Tát thì phá Bồ Tát, người kia chấp Phật thì phá Phật,... Tùy theo cái chấp của chỗ nào thì phá chỗ đó, chứ không được phá chung.

Giải nghĩa của Phật chỉ là phá chấp, nhưng lời nói đủ thứ sai biệt. Đối với người này nói vậy. Thành ra người trí thức đọc kinh Phật thấy mâu thuẫn, nhưng sự thật không có mâu thuẫn, mà Phật không thể nói. Cũng như món ăn, thích hợp người này, không thích hợp người kia, không thích hợp cho nhiều người được.

Vô trụ là không có chỗ nào để trụ được, nói cái gì cũng không trụ, tại người đó muốn trụ thì đâu có cách nào? Căn bản là vô trụ, như cái tay vô trụ thì hiện ra cái dụng hoạt bát vạn năng. Có sở trụ, bất cứ trụ nơi Phật, tuy Phật cao nhất cũng là chướng ngại cái dụng tự tánh, huống là còn trụ dưới Phật. Nghe tôi giảng rất có lý, không được trụ lời nói của tôi và Phật.

Phật rất sợ người ta trụ vào lời nói của Phật. Lời nói không thể thay thế cho thực tế. Như diễn tả ông Trương cho người khác biết thì không thể được. Theo lời nói mà nhận biết ông Trương càng không được. Có hình tướng số lượng còn không diễn tả được, huống chi Phật tánh không hình tướng, số lượng, làm sao dùng lời nói mà diễn tả? Hiểu lầm là tất nhiên rồi, chứ không thể không hiểu lầm! 

Nên Phật mới thuyết 84.000 pháp môn. Chư Phật chư Tổ muốn người ta phát nghi để tự ngộ, tới ngộ rồi mới không hiểu lầm. Chưa ngộ thì phải có sự hiểu lầm, nên gọi là tự tâm hiện lượng. Từ chỗ hiểu lầm tiến tới chỗ ngộ thì không còn hiểu lầm, vì thực tế đã hiện lên rồi.

Tôi thường nói không dùng 2 chữ “cho là”, “cho là” là ý của mình xen vô thì làm hoại pháp thế gian, không phải pháp xuất thế gian phá hoại pháp thế gian! Cho nên, trên thế giới vì bảo thủ tư tưởng của mình, thường xảy ra xung đột chiến tranh. Tại mình cho cái này đúng thì mới sanh ra đủ thứ tai họa.

Trong Phật pháp phân biệt là thức, không phân biệt là trí. Vậy làm sao không phân biệt? Pháp Bảo Đàn nói: “Dù có phân biệt, nhưng không đụng đệ nhất nghĩa”. Nếu dùng lời nói để bao gồm không thể được. Phật nói: “Phàm có lời nói đều không có nghĩa thật”. Phật rất sợ người ta hiểu lầm nên nói câu này, Phật còn nói: “Ai nói Phật có thuyết pháp, người ấy phỉ báng Phật”.

Mặc dầu, sợ người ta hiểu lầm, nhưng người ta vẫn hiểu lầm, cho đến bây giờ Phật Giáo đồ hiểu lầm hơn 90%. Việc này rất là khó! Cho nên, hợp với người này thì không hợp với người kia. Nếu có hợp, đối với sự thật có ích gì! Phật muốn mọi người tự tu giải thoát, chứ theo cái hiểu cho là đúng và sai thì không có ích lợi. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Chơn và vọng là 2 thứ vọng”.

Tôi thường khuyên các hành giả tự lo cho mình để tu, đừng lấy kiến giải của mình phải như vậy đúng hay sai; mặc dầu ý tốt, nhưng đối sự giải thoát không có ích lợi.

Hỏi:

Vô ký nghiệp có qua tác ý không?

Đáp:

Có tác ý mới thành nghiệp, nếu không tác ý thì không thành nghiệp, không ích lợi và không hại người, phàm có sự vật gì có tâm suy nghĩ gọi là nghiệp. Tâm mình suy nghĩ vật đó không hại, không giúp ích cho người thì thuộc về vô ký nghiệp, tức giữa thiện và ác là vô ký. Trong kinh: Chẳng phải thiện, chẳng phải ác, chẳng phải vô ký gọi là 3 thứ tánh.

Hỏi:

Xin thầy giảng công án: Lấy cát bỏ gạo hay lấy gạo bỏ cát?

Đáp:

Qui Sơn đang vo gạo, Tuyết Phong hỏi Qui Sơn: Vo gạo lấy cát bỏ gạo hay lấy gạo bỏ cát?

Qui Sơn đáp: Cát và gạo đều bỏ hết.

Tuyết Phong hỏi: Đại chúng ăn cái gì?

Tuy, lấy chuyện thật để hỏi nhưng có chuyện thiền ở trong đó, để thử Qui Sơn ngộ chưa!

Chư Tổ mở miệng là giúp ích cho hành giả được ngộ, cho nên có khi hỏi thật vô lý.

Người ngộ tự nhiên nơi ngộ thì biết, còn người chưa ngộ muốn cải lý vẫn không ngộ.

Hỏi:

Xin thầy giải thích: Ta thấy tiếng hay tiếng thấy ta trong kinh Lăng Nghiêm?

Đáp:

Có cái trả lời mà người ta không hiểu, cũng như: “Quân tử ái tài, thủ chi hữu đạo”, tức là người quân tử muốn tiền quả, phải lấy theo có đạo đức. Có vị trụ trì kiến tánh hỏi đại chúng: Tứ châu đại thánh, tại sao xuất hiện ở Dương châu?

Có ông trả lời: Quân tử ái tài, thủ chi hữu đạo.

Tất cả chúng đều cho trả lời bậy, thì y cũng không cải. Rồi công án này truyền đến đệ tử Lâm Tế là Am Chủ.

Am Chủ nói: Con cháu Vân Môn vẫn còn đây.

Phái Vân Môn lúc đó gần tuyệt, không có người kế thừa. Am Chủ nghe như vậy, biết con cháu Vân Môn còn. Người thường nghe không biết. Sau này, ông ấy kế thừa phái vân môn, vì ông ở trong phái Vân 

Môn kiến tánh và nói ra 2 câu này thích hợp với phái Vân Môn.

Hỏi:

Không ta không người thì hiểu như thế nào?

Đáp:

Nếu tất cả không sai biệt thì chỉ có 1 cái không, chứ chẳng có 2 cái không. Mà nói 1 cũng không được, vì hư không đâu có ngoài mà nói 2. Nếu có 1 thì phải có 2 có 3… nhưng dùng lời nói thế gian phải nói 1, mà cái không đã sẵn, nhưng các thứ không để dùng lại khác biệt. 

Cái không của bình, cái không của tách, cái không của nhà,… đủ thứ sai biệt và cũng nhiều nghĩa khác nhau. Không phải nghĩa sai biệt không đúng! Vì dùng của tách khác hơn cái dùng của bình, khác hơn dùng của nhà,… Tất cả lý khác nhau, nhưng cái không chẳng khác. Phật tánh mình cũng vậy.

Không ta không người hiểu sao cũng được. Nhưng cho có hiểu là sai lầm, hiểu sao cũng sai lầm là bệnh. Nếu nói có hiểu tức “cho là” thì bệnh.

Hỏi: 

Tu Giáo môn như trồng cây có trái chín, Thiền tông chỉ cần rung cây thì trái sẽ rụng, có phải vậy không?

Đáp:

Cơ xảo chư Tổ Thiền tông nói ra là ngộ liền, nếu không ngộ phải nghi. Niềm tin có trước, tin 10 phần thì nghi mới có 10 phần. Nghi 10 phần thì ngộ mới 10 phần. Nếu chưa tin lời nói của Tổ làm sao phát nghi được? Trước kia không có nhân duyên trực tiếp, rồi học giáo môn cũng có căn bản niềm tin. Việc ấy là tùy theo nhân duyên của mỗi người, có người kiếp trước đã học rồi.

Hỏi:

A La Hán đã phá ngã chấp, rồi lấy gì để biết?

Đáp:

A La Hán phá được ngã chấp thì lọt vào pháp chấp, chấp pháp mình tu, mình chứng; tức là lấy pháp Niết Bàn cho là ta chứng, nghĩa là bỏ thân ngũ uẫn ngã, lại chấp Niết Bàn ngã. Ngã thật không có hình tướng số lượng là cái không chung. Tất cả chúng sanh chung Phật tánh, cũng là chung một cái không; còn cái dụng tùy theo mỗi người, như tách, bình, nhà,… dùng thì khác nhau, nhưng cùng một cái không.

Thí dụ đốt một trăm ngọn đèn, có đèn lớn đèn nhỏ; ánh sáng có khác biệt, nhưng đều chung một ánh sáng, không có hai ánh sáng; không phải chung một ánh sáng, rồi cái khác biệt của những cây đèn bị mất! Nhưng vẫn y như cũ. Cho nên, Phật pháp không phá hoại thế gian pháp.

Hỏi:

Ấn Độ Giáo lấy tiểu ngã tu hành hòa nhập đại ngã. Vậy có giống Phật Giáo tu hành giải thoát thể nhập vào Phật tánh không?

Đáp:

Đại ngã của Phật pháp gọi là chúng sanh tướng, còn phải phá luôn. Chúng sanh tướng cũng là ngã tướng, có sở tướng đều không được. Phàm có sở tướng đều là hư vọng. Phật pháp nói khó thì thật khó, nói dễ thì thật dễ. Cái gì vẫn y như cũ, đừng thêm bớt, cho là vậy hay không phải vậy, chẳng dùng hai chữ “cho là”.
 
 
 

ML
01
02
03
04
05
06
07
08
09
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20

Liên Hệ:
Kinh Thủ Lăng Nghiêm Tông Thông, HT. Nhẫn Tế
Kinh Thủ Lăng Nghiêm, HT. Thích Duy Lực
Tổng Luận Kinh Lă ng Nghiêm Trưc Chỉ, HT. Thích Thiện Siêu
Pháp Tu Lăng Nghiêm Ðại Ðịnh, HT. Thích Huệ Hưng
Phép Tu Lăng Nghiêm Ðại Ðịnh

 
c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap