Chánh
văn:
6.
Ý CĂN VỚI PHÁP TRẦN VỐN VÔ SANH.
-A
Nan! Ngươi thường dùng ý thức duyên theo ba tánh thiện, ác
và vô ký, sanh khởi pháp trần. Vậy pháp trần này từ nơi
tâm ra, hay lìa tâm riêng có phương sở?
-A
Nan! Nếu từ tâm ra thì pháp trần chẳng phải cảnh trần,
chẳng phải là cái sở duyên của tâm, làm sao thành xứ được?
-Nếu
lìa tâm riêng có phương sở, thì tự tánh của pháp trần
là biết hay chẳng biết? Biết tức gọi là tâm, tâm này lìa
tâm ngươi thì chẳng phải pháp trần của ngươi biết, đồng
như tâm của người khác; nếu lìa tâm ngươi lại còn có
tâm biết, thì tâm ngươi thành hai sao?
Nếu
chẳng biết thì pháp trần này đã chẳng phải sắc, thanh,
hương, vị, ly, hợp, lạnh, nóng và tướng hư không, thì phải
ở chỗ nào? Hiện nay nơi sắc, không đều chẳng thể nêu
ra, chẳng lẽ trong thế gian lại có cái ở ngoài hư không
ư? Lại tâm chẳng phải sở duyên thì xứ từ đâu mà an lập?
-Nên
biết, pháp trần và tâm đều chẳng có xứ sở, tức ý căn
và pháp trần hai xứ đều hư vọng, vốn chẳng phải tánh
nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên.
Giảng
giải:
Ý
căn và pháp trần vốn vô sanh tức là không có thật, nếu
thật có sanh mới là thật.
Phật
bảo A Nan! Ngươi thường dùng ý thức duyên theo 3 tánh thiện,
ác, vô ký. Vô ký là không phải thiện không phải ác. Ác
hại người, thiện giúp ích người, vô ký không giúp ích
cho người cũng không hại người. Ý căn duyên theo 3 thứ này
mới sanh khởi pháp trần, vì pháp trần không có hình tướng.
Ý
căn tiếp xúc với pháp trần chỉ có sanh và diệt. Nhưng không
có hình tướng để đối đãi, sự thật có pháp trần để
biết, tức là có sanh diệt để biết. Vậy pháp trần này
từ nơi tâm ra hay lìa tâm riêng có phương sở.
A Nan!
Nếu từ tâm ra thì pháp trần chẳng phải cảnh trần, chẳng
phải là cái sở duyên của tâm, làm sao thành xứ được?
Nếu từ tâm ra thì tâm trở thành cảnh.
Trong
này, nếu tự tâm ra pháp trần chẳng phải cảnh trần, bởi
vì tâm đối cảnh trần mới sanh ra hiểu biết. Nếu cảnh
tự tâm ra thì không có cảnh, tức là ý căn không có cảnh
sanh diệt.
Nếu
không có cảnh sanh diệt cho ý căn để hiểu biết, thì chẳng
phải cái sở duyên của tâm, vì tâm duyên pháp sanh diệt thành
có cảnh. Ý căn tự mình làm cảnh, tức năng biết là tâm,
sở biết cũng là tâm, thì không có cảnh duyên cho tâm hiểu
biết, làm sao thành sở biết? Sở biết là cảnh đối với
ý căn, tâm tự ra cảnh thì không có xứ, không có chỗ hiểu
biết của ý căn.
Ý
căn không hình tướng là tịnh sắc căn, không phải như nhãn,
nhĩ, tỷ, thiệt, thân có phù trần căn ở bên ngoài. Như nhãn
căn đối với vật chất thì thấy, còn ý căn thì không có
tiền trần, mà có pháp trần. Pháp trần thì mênh mông khắp
không gian thời gian, do ý căn mới tiếp xúc được.
Chánh
văn:
THẬP
BÁT GIỚI
-Lại
nữa A Nan! Sao nói Thập Bát Giới vốn là Như Lai Tạng, cũng
là diệu Tánh Chơn Như?
l.
NHÃN CĂN, SẮC TRẦN, NHÃN THỨC GIỚI VỐN VÔ SANH.
-A
Nan! Như ngươi đã rõ, nhãn căn và sắc trần làm duyên với
nhau, sanh ra nhãn thức. Vậy thức này là từ nhãn căn ra, lấy
nhãn căn làm giới; hay từ sắc trần ra, lấy sắc trần làm
giới?
-A
Nan, nếu từ nhãn căn ra mà chẳng có Sắc Không thì chẳng
thể phân biệt, dẫu cho có cái thức của ngươi cũng chẳng
dùng được. Sự thấy của ngươi chẳng phải xanh, vàng, đỏ,
trắng, chẳng thể nêu ra, vậy từ đâu để lập giới?
-Nếu
từ sắc trần ra, hư không chẳng phải sắc trần thì thức
ngươi phải diệt, sao được biết tánh hư không? Nếu lúc
sắc trần biến đổi, thức ngươi cũng biết sắc trần biến
đổi, mà thức ngươi chẳng biến, vậy giới từ đâu mà
an lập? Theo sự biến đổi là biến đổi, giới tướng vốn
chẳng có; chẳng biến đổi thì thường còn, thức đã từ
sắc trần ra, lẽ ra chẳng biết được chỗ hư không?
-Nếu
do căn trần cộng sanh cái giới ở giữa, khi căn trần hợp
lại thì chẳng thể lập giới, tức là lìa trung; khi lìa căn
thì phải hợp trần, lìa trần thì phải hợp căn, vậy thể
tánh lẫn lộn, làm sao thành giới?
-Nên
biết, nhãn căn và sắc trần làm duyên với nhau, sanh nhãn
thức giới, ba chỗ đều không tức nhãn căn, sắc trần và
nhãn thức giới, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, cũng chẳng
phải tánh tự nhiên.
Giảng
giải:
Những
đoạn trong kinh Lăng Nghiêm sau cùng có “chẳng phải tánh
nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên” là phá nhân duyên
và tự nhiên.
Lục
căn gọi là nhập, lục căn tiếp xúc lục trần gọi là xứ
(chỗ), còn lục căn tiếp xúc lục trần sanh ra lục thức
gọi là giới, tức là cái giới này không phải lục căn,
lục trần. Thức là phân biệt nhận biết cái tốt xấu. Nhãn
thức phân biệt cái này là trái bôm,… còn thập nhị xứ
có ý căn thì có chỗ, có chỗ gọi là xứ. Thập bát giới
thì có giới hạn phân biệt, như cái này tốt hay xấu,…
có sự phân biệt gọi là giới.
Lục
căn tiếp xúc lục trần sanh ra lục thức vốn không phải
thật, tức là vô sanh. Dù tốt cũng không phải thật, xấu
cũng không phải thật. Nhưng ở đây nói là không thật thì
người ta không tin, vì cuộc sống hàng ngày trong thập bát
giới, tức là mỗi ngày dùng lục căn tiếp xúc lục trần
sanh ra lục thức phân biệt.
Phật
dùng lý hiểu biết của người đương thời để chứng tỏ
cái giới ấy không có thật.
A Nan!
Như ngươi đã rõ, nhãn căn và sắc trần làm duyên với nhau,
sanh ra nhãn thức. Vậy thức này từ nhãn căn ra mà chẳng
có sắc không thì chẳng thể phân biệt. Vì sở thấy phải
có hư không, phải có vật chất. Bây giờ không có vật chất
không có hư không, làm sao thấy được? Dù có vật chất mà
không có hư không, lấy tay đè sát mí mắt, không có chỗ
hư không thì không có thể thấy được.
Sự
thấy phải có sắc và không mới thấy được, nếu cái thấy
đó từ nhãn căn chạy ra thì không có sắc không. Chẳng có
sắc không làm sao thấy được? Chẳng có sắc không chẳng
thể phân biệt, vì giới là phân biệt tốt hay xấu. Thấy
như không thấy phân biệt cái gì!
Nếu
từ sắc trần ra, hư không chẳng phải sắc trần thì thức
của ngươi phải diệt, sao được biết tánh hư không? Như
trái bôm này là sắc trần, cái giới ấy từ trái bôm này
ra, bây giờ con mắt thấy hư không chẳng phải sắc trần,
vì sự thấy có hư không mới thấy được. Cho nên, nhìn hư
không chẳng phải sắc trần, vì hiểu biết từ sắc trần
mà ra. Từ sắc trần ra mà không có hư không thì hiểu biết
đó phải tiêu diệt. Vậy lấy gì để phân biệt trái bôm
này?
Chánh
văn:
6.
Ý CĂN, PHÁP TRẦN, Ý THỨC GIỚI VỐN VÔ SANH.
-A
Nan! Như ngươi đã rõ, ý căn, pháp trần làm duyên với nhau,
sanh ra ý thức. Vậy thức này từ ý căn ra, lấy ý căn làm
giới; hay từ pháp trần ra, lấy pháp trần làm giới?
-A
Nan! Nếu từ ý căn ra, thì trong ý ngươi ắt phải có suy tư
mới phát minh được ý ngươi; nếu chẳng suy tư thì ý chẳng
thể sanh, lìa duyên thì chẳng có hình tướng, vậy thức dùng
để làm gì? Thức của ngươi với sự suy tư và tánh hiểu
biết là đồng hay khác?
Nếu
đồng với ý tức là ý căn, sao nói từ ý căn ra? Nếu khác
với ý thì chẳng phải ý căn, chẳng phải ý căn thì không
có năng biết, năng không ắt sở cũng không, nếu không có
sở biết thì sao nói từ ý căn ra? Nếu có sở biết thì làm
sao biết ý căn? Vậy hai tánh đồng và dị đã chẳng có thì
giới từ đâu lập?
-Nếu
từ pháp trần ra, thì các pháp trong thế gian chẳng ngoài ngũ
trần, ngươi hãy xét xem, các pháp sắc, thanh, hương, vị,
xúc đều có tướng rõ ràng để đối với ngũ căn, chẳng
thuộc phạm vi của ý căn, nếu thức ngươi nhất định từ
pháp trần ra, thì ngươi hãy xét kỹ hình tướng của mỗi
pháp như thế nào?
Nếu
lìa sắc, không, thông, nghẽn, ly, hợp và sanh, diệt, ngoài
các tướng này chẳng có sở đắc, sanh thì các pháp sắc,
không cùng sanh, diệt thì các pháp sắc, không cùng diệt, vậy
cái nhân sanh ra đã không, làm sao có thức? Thức đã chẳng
có, giới từ đâu lập?
-Nên
biết ý căn, pháp trần làm duyên với nhau sanh ra ý thức giới,
ba chỗ đều không, tức ý căn, pháp trần, ý thức giới vốn
chẳng phải tánh nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên.
A Nan
bạch Phật:
-Như
Lai thường giảng về nhân duyên hòa hợp rằng: Tất cả các
thứ biến hóa trên thế gian đều do tứ đại hòa hợp mà
sanh", sao Như Lai lại bác bỏ cả hai nghĩa nhân duyên và tự
nhiên? Nay con chẳng biết nghĩa này thế nào, xin Phật thương
xót, khai thị pháp liễu nghĩa chẳng hý luận của trung đạo
cho con và chúng sanh được rõ.
Lúc
bấy giờ, Thế Tôn bảo A Nan:
-Trước
đây, ngươi nhàm chán các pháp Tiểu Thừa Thanh Văn, Duyên
Giác, phát tâm cầu đạo Vô Thượng Bồ Đề nên ta vì ngươi
khai thị Đệ Nhất Nghĩa Đế, sao ngươi lại còn đem những
hý luận của thế gian, vọng tưởng cho là nhân duyên mà tự
ràng buộc? Ngươi dù học rộng nghe nhiều, như người chỉ
dùng miệng nói thuốc, khi thuốc thật hiện tiền thì lại
chẳng biết, Như Lai gọi là thật đáng thương xót. Nay ngươi
hãy nghe kỹ, ta sẽ vì ngươi khai thị từng lớp một, cũng
khiến những người tu đại thừa sau này thông đạt được
thật tướng.
A Nan
yên lặng kính vâng thánh chỉ của Phật.
-A
Nan! Như ngươi đã nói, tứ đại hòa hợp sanh ra các thứ
biến hóa trên thế gian. A Nan, nếu thể tánh của tứ đại
chẳng phải hòa hợp thì chẳng thể lẫn lộn nhau, cũng như
hư không, chẳng thể hòa hợp với các sắc tướng; nếu là
hòa hợp thì đồng như biến hóa, đầu đuôi duyên nhau, sanh
diệt tương tục, sanh rồi diệt, diệt rồi sanh, sanh sanh diệt
diệt như vòng lửa quay tròn. A Nan, cũng như nước thành băng,
băng lại thành nước, chẳng hề ngừng nghỉ.
Giảng
giải:
Ý
căn, pháp trần, ý thức giới, 3 cái này rất phức tạp hơn
nhãn căn, sắc trần có hình tướng.
A Nan!
Như ngươi đã rõ, ý căn, pháp trần làm duyên với nhau sanh
ra ý thức; vậy thức này từ ý căn ra, lấy ý căn làm giới;
hay từ pháp trần ra, lấy pháp trần làm giới?
Ý
căn tiếp xúc pháp trần sanh ra ý thức, tức là sự phân biệt,
ý thức đó từ ý căn ra, lấy ý căn làm giới, hay từ pháp
trần ra, lấy pháp trần làm giới? Giới tức là phân biệt,
là sự hiểu biết đối pháp trần.
Phật
nói kinh Lăng Nghiêm: “Lục căn tiếp xúc lục trần sanh ra
lục thức chẳng phải thật”, đều là việc trong chiêm bao
mới có, nếu thức tỉnh thì chứng tỏ không phải thật.
Phật Thích Ca muốn chúng sanh trong mở mắt chiêm bao được
thức tỉnh, chứng tỏ mở mắt chiêm bao này không thật. Cuộc
sống hàng ngày đủ thứ phiền não, trong tâm mình vốn không
có cái này, tại mình chấp thật mới thành có. Nên Phật
Thích Ca phá tâm chấp thật của mình.
Tham
thiền là thức tỉnh chiêm bao mở mắt, như thức tỉnh chiêm
bao nhắm mắt, chứng tỏ chiêm bao này không thật. Chiêm bao
mở mắt, người ta cho là thật, khi tham thiền kiến tánh,
tức là mở mắt chiêm bao thức tỉnh thì chứng tỏ không
thật, gọi là chứng ngộ.
Chánh
văn:
THẤT
ĐẠI.
l.
TÁNH ĐỊA ĐẠI VỐN VÔ SANH.
-Ngươi
xem tánh Địa, thô là đại địa, tế là vi trần, cho đến
cực vi là lân hư trần, là sắc tướng nhỏ tột, nếu phân
tách nữa thì thành tánh hư không.
-A
Nan, nếu cái lân hư trần đó tách được thành hư không,
thì hư không cũng sanh được sắc tướng. Nay ngươi hỏi rằng,
do hòa hợp mà sanh các tướng biến hóa trên thế gian, thì
ngươi hãy xét, cái lân hư trần này phải dùng bao nhiêu hư
không hợp lại mới có? Chẳng lẽ lân hư trần hợp thành
lân hư trần? Lại lân hư trần đã tách thành hư không, thì
dùng bao nhiêu sắc tướng hợp lại mới được thành hư không?
Nếu lúc hợp sắc, sắc chẳng phải hư không; nếu lúc hợp
không, hư không chẳng phải là sắc, sắc còn có thể tách
ra được, chứ hư không làm sao mà hợp?
-Ngươi
vốn chẳng biết, trong Như Lai Tạng (Tự tánh), tánh Sắc chơn
Không (thể tánh của Sắc chẳng phải thật, tức là Chơn
Không), tánh Không chơn Sắc (thể tánh của Không chẳng phải
thật, tức là Chơn Sắc), tự tánh vốn thanh tịnh, đầy khắp
mười phương pháp giới, tùy theo mức độ hiểu biết của
tâm chúng sanh tạo thành nghiệp, và nương theo nghiệp ấy
biến hiện các cảnh giới hiện hữu.
Người
thế gian chẳng biết những hiện tượng đó chỉ là mở mắt
chiêm bao, lại mê lầm cho là nhân duyên và tự nhiên, ấy
đều là do tâm thức phân biệt suy lường. Phàm là lời nói
đều chẳng phải nghĩa thật.
2.
TÁNH HỎA ĐẠI VỐN VÔ SANH.
-A
Nan! Tánh Hỏa chẳng có tự thể, nhờ các trợ duyên mà phát
sanh. Ngươi xem các nhà, khi muốn nhúm lửa nấu cơm thì cầm
tấm kiếng đưa dưới ánh sáng mặt trời mà lấy lửa.
-A
Nan! Cái gọi là hòa hợp, cũng như ta cùng ngươi và 1250 vị
Tỳ Kheo, nay hợp thành một chúng; chúng dù là một, xét về
căn bản thì mỗi người đều có thân riêng biệt, có tên
gọi và họ hàng của mình, như
Xá
Lợi Phất thuộc dòng Bà La Môn, Ưu Lâu Tần Loa thuộc dòng
Ca Diếp Ba, cho đến ngươi thì thuộc dòng họ Cù Đàm.
-A
Nan! Nếu tánh lửa này do hòa hợp mà có, thì khi người cầm
kiếng lấy lửa nơi ánh sáng mặt trời, lửa này từ trong
kiếng ra, từ bùi nhùi ra, hay từ mặt trời ra?
-A
Nan! Nếu lửa từ mặt trời ra, đốt được bùi nhùi trong
tay người ấy, thì những rừng cây mà ánh sáng mặt trời
chiếu qua, lẽ ra đều bị đốt cả. Nếu từ trong kiếng
ra, có thể đốt cháy bùi nhùi, sao cái kiếng lại không chảy?
Cả cái tay người cầm kiếng còn chẳng thấy nóng thì làm
sao kiếng lại chảy được? Nếu do bùi nhùi ra thì cần gì
ánh sáng mặt trời với kiếng tiếp xúc nhau rồi mới có
lửa?
-Ngươi
lại xét kỹ, kiếng do tay cầm, mặt trời thì ở trên không,
còn bùi nhùi thì từ đất sanh ra, vậy lửa từ phương nào
mà đi đến chỗ này? Mặt trời và kiếng cách xa nhau, chẳng
hòa chẳng hợp, chẳng lẽ tánh lửa khi không tự có?
-Ngươi
còn chẳng biết, trong Như Lai Tạng, tánh hỏa chơn không, tánh
không chơn hỏa, tự tánh vốn thanh tịnh, đầy khắp mười
phương pháp giới, tùy theo mức độ hiểu biết của tâm chúng
sanh tạo thành nghiệp và nương theo nghiệp ấy biến hiện
các cảnh giới hiện hữu.
A Nan
nên biết, người thế gian ở nơi này cầm kiếng thì nơi
này bốc lửa; nếu khắp pháp giới đều cầm kiếng thì khắp
pháp giới bốc lửa, lửa cháy khắp thế gian, đâu có xứ
sở, chỉ tùy theo nghiệp thức của chúng sanh mà biến hiện.
Người thế gian chẳng biết lại mê lầm cho là tánh nhân
duyên và tự nhiên ấy đều là do tâm thức phân biệt suy
lường. Phàm là lời nói đều chẳng phải nghĩa thật.
3.
TÁNH THỦY ĐẠI VỐN VÔ SANH.
-A
Nan! Tánh Thủy chẳng định, ngưng và chảy không chừng. Như
trong thành Thất La Phiệt, các ông Ca Tỳ La, Chước Ca La và
các nhà đại huyễn thuật Bát Đầu Ma Ha Tát Đa, khi muốn
cầu Thái Âm Tinh để hòa các thuốc huyễn thuật, thì các
ông ấy ở giữa đêm trăng sáng, tay cầm hạt châu, hứng
nước dưới ánh trăng. Vậy nước này từ hạt châu ra, từ
hư không ra, hay từ mặt trăng ra?
-A
Nan! Nếu từ mặt trăng ra, ánh trăng đã có thể từ phương
xa làm cho hạt châu chảy nước, thì những rừng cây mà ánh
trăng chiếu qua, lẽ ra đều phải chảy nước. Nếu chảy
nước thì khỏi đợi hạt châu mới có nước chảy; nếu
không chảy nước thì rõ ràng nước chẳng phải từ mặt
trăng ra.
Nếu
từ hạt châu ra, thì trong hạt châu phải thường chảy nước,
đâu cần đợi ánh trăng trong lúc nửa đêm? Nếu từ hư không
ra thì hư không vô tận, nước cũng vô biên, vậy từ cõi
người đến cõi Trời đều bị chìm ngập cả, làm sao lại
có các loài ở dưới nước, trên bờ và trên không?
-Ngươi
hãy xét kỹ, mặt trăng ở trên trời, hạt châu ở nơi tay,
còn mâm đựng hạt châu hứng nước thì do người đặt ra,
vậy nước từ phương nào mà chảy đến đây? Mặt trăng
và hạt châu cách xa nhau, chẳng hòa chẳng hợp, chẳng lẽ
nước khi không tự có?
-Ngươi
còn chẳng biết, trong Như Lai Tạng, tánh thủy chơn không,
tánh không chơn thủy, tự tánh vốn thanh tịnh, cùng khắp
mười phương pháp giới, tùy theo mức độ hiểu biết của
tâm chúng sanh tạo thành nghiệp, và nương theo nghiệp ấy
biến hiện các cảnh giới hiện hữu. Hễ nơi này cầm hạt
châu thì nơi này chảy nước; khắp pháp giới cầm hạt châu
thì khắp pháp giới chảy nước.
Tánh
thủy cùng khắp thế gian, đâu có xứ sở, chỉ theo nghiệp
thức, của chúng sanh mà biến hiện. Người thế gian chẳng
biết lại mê lầm cho là tánh nhân duyên và tự nhiên, ấy
đều là do tâm thức phân biệt suy lường. Phàm là lời nói
đều chẳng phải nghĩa thật.
4.
TÁNH PHONG ĐẠI VỐN VÔ SANH.
-A
Nan! Tánh Phong chẳng có tự thể, động tịnh không chừng.
-Ngươi
thường ở nơi chúng mà sửa áo, chéo áo Tăng Già Lê chạm
đến người bên cạnh thì có chút gió phất qua mặt người
kia, vậy gió này từ chéo áo Cà Sa ra, từ hư không ra, hay
từ mặt người kia ra?
-A
Nan! Nếu gió từ chéo áo Cà Sa ra thì ngươi đã mặc luôn
cả gió, lẽ ra cái áo phải tung bay ra, rời khỏi thân ngươi.
Nay ta rũ áo ở trong Hội này, ngươi hãy xem cái áo ta, gió
núp ở chỗ nào? Chẳng lẽ trong áo lại có chỗ chứa gió
ư?
-Nếu
gió từ hư không ra, khi cái áo ngươi chẳng động, thì sao
lại chẳng phất? Tánh hư không thường trụ thì gió phải
thường sanh, vậy lúc chẳng gió, hư không phải diệt; gió
diệt còn có thể thấy được, hư không diệt thì là hình
tướng gì? Nếu có sanh diệt thì chẳng gọi là hư không,
đã gọi là hư không thì làm sao lại có gió ra?
-Nếu
gió từ mặt người bị phất sanh ra, thì đã từ mặt người
đó ra, lẽ ra phải phất lại ngươi, sao tự ngươi sửa áo
mà phất ngược lại người kia?
-Ngươi
hãy xét kỹ; sửa áo do ngươi, cái mặt thì thuộc người
kia, hư không thì vắng lặng chẳng lay động, vậy gió từ
phương nào dong ruổi đến đây? Tánh gió và tánh hư không
khác nhau, chẳng hòa chẳng hợp, chẳng lẽ tánh gió khi không
tự có ư?
-Ngươi
còn chẳng biết, trong Như Lai Tạng, tánh phong chơn không, tánh
không chơn phong, tự tánh vốn thanh tịnh, cùng khắp mười
phương pháp giới, tùy theo mức độ hiểu biết của tâm chúng
sanh tạo thành nghiệp, và nương theo nghiệp ấy, biến hiện
các cảnh giới hiện hữu.
A Nan,
như một mình ngươi hơi động cái áo thì có chút gió ra,
khắp pháp giới đều phất thì khắp pháp giới đều ra gió,
tánh phong đầy khắp thế gian, đâu có xứ sở, chỉ theo nghiệp
thức của chúng sanh mà biến hiện. Người thế gian chẳng
biết, lại mê lầm cho là tánh nhân duyên và tự nhiên, ấy
đều là do tâm thức phân biệt suy lường. Phàm là lời nói
đều chẳng phải nghĩa thật.
5.
TÁNH KHÔNG ĐẠI VỐN VÔ SANH.
-A
Nan! Tánh Không vô hình, nhờ sắc tướng mới được hiển
bày. Như trong thành Thất La Phiệt, chỗ cách xa sông, những
dòng Sát Lî, Bà La Môn, Tỳ Xá, Thủ Đà, Phả La Đọa, Chiên
Đà La v.v... khi dựng nhà xong, đào giếng lấy nước, đào
ra một thước đất thì có một thước hư không; như vậy
cho đến đào ra một trượng đất thì lại được một trượng
hư không, hư không sâu hay cạn là tùy theo đất đào ra được
nhiều hay ít. Vậy hư không này từ đào đất ra, do đào mà
có, hay vô nhân tự sanh?
-A
Nan! Nếu hư không vô nhân tự sanh, thì khi chưa đào đất,
sao nơi đó lại chẳng vô chướng ngại, mà chỉ thấy đất
liền, chẳng thấy trống rỗng?
-Nếu
từ đào đất ra, thì khi đất ra, phải thấy hư không vào;
nếu đất ra trước mà không thấy hư không vào, thì sao nói
hư không từ đào đất mà ra? Nếu chẳng ra vào thì hư không
với đất vốn chẳng có khác, chẳng khác tức là đồng,
thì lúc đào đất ra, hư không sao chẳng ra? Nếu do đào mà
có, thì phải đào ra hư không, chứ chẳng phải đào ra đất;
nếu chẳng do đào mà có, thì làm sao lại thấy hư không?
-Ngươi
hãy xét kỹ, đào do tay người vận động, đất theo sự đào
mà dời chỗ, vậy hư không từ đâu mà ra? Đào thì có thật
chất, hư không thì trống rỗng, chẳng tác dụng với nhau,
chẳng hòa chẳng hợp, chẳng lẽ hư không khi không tự ra?
-Vậy,
tánh hư không cùng khắp, vốn chẳng lay động. Nên biết hiện
tiền địa, thủy, hỏa, phong và hư không gọi là Ngũ Đại,
tánh chất viên dung, đều là Như Lai Tạng, vốn chẳng sanh
diệt.
-A
Nan! Tâm ngươi mê muội, chẳng ngộ được tứ đại vốn
là Như Lai Tạng, ngươi hãy xem hư không là ra hay vào; hoặc
chẳng ra vào? Ngươi còn chẳng biết trong Như Lai Tạng, tánh
giác chơn không, tánh không chơn giác, tự tánh vốn thanh tịnh,
cùng khắp pháp giới, tùy theo mức độ hiểu biết của tâm
chúng sanh tạo thành nghiệp, và nương theo nghiệp ấy biến
hiện các cảnh giới hiện hữu.
-A
Nan, như đào một giếng thì ra một giếng hư không, vậy mười
phương hư không cũng như thế, tánh Không cùng khắp mười
phương, đâu có xứ sở, chỉ theo nghiệp thức của chúng
sanh mà biến hiện. Người thế gian chẳng biết, lại mê lầm
cho là tánh nhân duyên và tự nhiên, ấy đều là do tâm thức
phân biệt suy lường. Phàm là lời nói đều chẳng phải nghĩa
thật.
6.
TÁNH KIẾN ĐẠI VỐN VÔ SANH.
-A
Nan! Bổn kiến, Bổn giác vốn chẳng có năng tri sở tri, vì
Sắc và Không mới có lập năng sở. Như ngươi hôm nay ở
vườn Kỳ Đà, ngày sáng đêm tối, nếu nửa đêm có trăng
thì sáng, không trăng thì tối, do kiến tinh phân biệt nên
có sáng và tối. Vậy kiến này với tướng sáng, tối và
hư không, là một thể hay chẳng phải một thể? Hoặc đồng,
chẳng đồng? Hoặc khác, chẳng khác?
-A
Nan! Nếu cái kiến này cùng với sáng, tối, hư không vốn
là một thể, thì sáng và tối hai tướng nghịch nhau, khi sáng
chẳng tối, khi tối chẳng sáng. Nếu cùng với tối đồng
một thể thì khi sáng, cái kiến biến mất, hễ cùng với
sáng đồng một thể, thì khi tối, cái kiến ấy phải diệt,
đã diệt thì lấy gì để thấy sáng thấy tối? Nếu sáng
tối khác nhau, kiến chẳng sanh diệt thì đâu có thể nói
là một thể được?
-Nếu
cái kiến này cùng với sáng tối chẳng phải một thể, thì
ngươi lìa sáng, tối và hư không, phân tách cái kiến tinh
xem là hình tướng gì? Lìa sáng, tối và hư không thì kiến
tinh đồng như lông rùa sừng thỏ.
Sáng,
tối, hư không ba thứ đều khác biệt, vậy từ đâu mà lập
kiến tinh? Sáng, tối nghịch nhau, làm sao nói đồng được?
Lìa ba thứ vốn chẳng có, làm sao nói khác được? Hư không
và kiến tinh vốn chẳng có ranh giới, làm sao nói chẳng đồng?
Thấy sáng thấy tối, sở kiến thay đổi, làm sao nói chẳng
khác?
-Ngươi
cần phải xem xét vi tế kỹ càng, xét tới cứu cánh triệt
để. Sáng do mặt trời, tối do đêm không trăng, thông thuộc
về hư không, nghẽn thuộc về đại địa, kiến tinh có giác,
hư không vô tri, chẳng hòa chẳng hợp, vậy kiến tinh từ
đâu mà ra? Chẳng lẽ khi không tự ra?
-Nên
biết Kiến, Văn, Giác, Tri, thể tánh viên mãn cùng khắp mọi
nơi, vốn chẳng lay động, với hư không vô biên chẳng động,
và địa, thủy, hỏa, phong, lay động, cùng gọi là Lục Đại,
thể tánh viên dung, đều là Như Lai Tạng, vốn chẳng sanh
diệt.
-A
Nan! Ngươi đánh mất tự tánh, chẳng ngộ kiến, văn, giác,
tri của ngươi vốn là Như Lai Tạng. Ngươi hãy xem cái kiến,
văn, giác, tri này là sanh hay diệt, là đồng hay dị, là chẳng
sanh diệt hay chẳng đồng dị?
Ngươi
còn chẳng biết, trong Như Lai Tạng, tánh kiến giác minh, giác
tinh minh kiến (cái bổn kiến là tự tánh vốn giác vốn minh,
cái tinh thể của bổn giác vốn minh vốn kiến), vốn tự
nhiên thanh tịnh, cùng khắp pháp giới, tùy theo mức độ hiểu
biết của tâm chúng sanh tạo thành nghiệp, và nương theo nghiệp
ấy mà biến hiện các cảnh giới hiện hữu.
Như
một "kiến tinh" thấy cùng pháp giới, cho đến tai nghe, mũi
ngửi, miệng nếm, thân xúc, ý biết, sự diệu dụng rõ ràng
viên mãn, cùng khắp mười phương pháp giới, đâu có xứ
sở, chỉ theo nghiệp thức của chúng sanh biến hiện. Người
thế gian chẳng biết, lại mê lầm cho là tánh nhân duyên và
tự nhiên, ấy đều do tâm thức phân biệt suy lường. Phàm
là lời nói đều chẳng phải nghĩa thật.
7.
TÁNH THỨC ĐẠI VỐN VÔ SANH.
-A
Nan! Tánh của Thức vốn chẳng có nguồn gốc, duyên theo sáu
thứ căn trần hư vọng mà sanh. Nay ngươi hãy xem khắp thánh
chúng trong hội này khi mới dùng con mắt lướt qua, chưa khởi
phân biệt thì thấy chúng chỉ như bóng tượng trong gương,
rồi tâm thức của ngươi theo thứ tự phân biệt đây là
Văn Thù, đây là Phú Lâu Na, rồi tới Mục Kiền Liên, Tu Bồ
Đề, Xá Lợi Phất v.v... Vậy sự biết của thức này từ
kiến tinh ra, từ sắc tướng ra, từ hư không ra, hay khi không
vô nhân mà ra?
-A
Nan! Giả sử thức của ngươi từ kiến tinh ra, nếu chẳng
có sáng tối và sắc không, thì chẳng có kiến tinh, kiến
tinh còn chẳng có, vậy thức từ đâu mà ra?
-Nếu
thức của ngươi từ sắc tướng ra, chẳng từ kiến tinh ra,
thì chẳng thấy sáng, cũng chẳng thấy tối, sáng tối đã
chẳng thấy tức chẳng có sắc không, sắc tướng kia còn
chẳng có thì thức do đâu mà ra?
-Nếu
từ hư không ra, chẳng phải sắc tướng, cũng chẳng phải
kiến tinh. Nếu chẳng phải kiến tinh thì chẳng thể phân
biệt, tự nhiên không thể biết được các tướng sáng tối
và sắc không. Nếu chẳng phải sắc tướng thì sở duyên
diệt mất, vậy kiến, văn, giác, tri chẳng có chỗ an lập.
Giữa hai thứ chẳng phải kể trên, nếu "không" thì thức
đồng như chẳng có; nếu "có" thì thức đồng như các vật,
dẫu cho có thức của ngươi cũng thành vô dụng.
Giảng
giải:
Thức
là phân biệt, như biết tốt xấu... Bản tánh của thức vốn
không thật, nhưng cuộc sống hàng ngày làm cho mình khổ, phiền
não đủ thứ. Phật đã giải thích tất cả thứ ấy đều
không thật, vì thức ấy không có từ chỗ nào ra được.
Vọng thức phân biệt từ đâu ra? Nếu từ ý căn ra cũng không
đúng, từ pháp trần ra cũng không đúng. Trên có giải thích
rồi, pháp trần là đối tượng phân biệt, như là tốt, xấu,
thiện, ác, buồn, vui,…
Những
pháp buồn, vui có đối đãi, như sắc, thinh, hương, vị, xúc
là tiền trần. Pháp trần là những việc ở xa hay quá khứ,
như bà con ở Việt Nam mà nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân thể
không tiếp xúc, nhưng ý căn tưởng nhớ được. Tất cả
sinh diệt đối đãi có hình hay không hình, thiện, ác… có
thể nói là pháp trần.
Pháp
trần là phân biệt với tiền trần. Tiền là trước mắt,
như: Nhãn thấy sắc trước mắt, nhĩ nghe âm thanh trước mắt;
tỷ ngửi mùi trước mắt, tức là nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt,
thân đối với 5 tiền trần. Còn ý căn đối với pháp trần,
pháp trần như hồi xưa thấy nhưng bây giờ không thấy; ý
căn nhớ lại hồi xưa giống như thấy vậy, cái đó thuộc
về ý căn. Pháp trần đối với ý căn, ý căn suy nghỉ có
thể đến đều là pháp trần.
Sự
thấy do kiến tinh, nếu do từ kiến tinh ra thì không có sắc
không, tức là không có sở duyên, kiến tinh là tánh thấy,
tánh thấy tự thấy sao? Như con mắt đâu tự thấy mắt được?
Tức là ý của Phật ở đây chứng tỏ tất cả vốn là vô
sanh, do tâm mình hiểu biết, tuy cao nhất cũng lọt trong số
lượng là vọng, không thật. Cho nên, lục căn tiếp xúc lục
trần có hiểu biết, hiểu biết theo trình độ mình, dù thấp
hay cao cũng là vọng, không thật.
KINH
THỦ LĂNG NGHIÊM.
Quyển
4
Chánh
văn:
Lúc
bấy giờ, Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử ở trong chúng liền từ
chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai áo tay phải, quỳ gối chân
phải, chắp tay cung kính bạch Phật rằng:
-Thế
Tôn có oai đức lớn, khéo vì chúng sanh hiển bày đệ nhất
nghĩa đế của Như Lai. Thế Tôn thường khen con là bậc nhất
trong những người thuyết pháp, mà nay con nghe pháp âm nhiệm
mầu của Như
Lai,
cũng như người điếc, cách xa trăm bước mà nghe tiếng muỗi
bay, vốn chẳng thể thấy, huống là được nghe! Phật dù
chỉ rõ, khiến con dứt trừ lỗi lầm, nhưng con còn chưa thấu
suốt chỗ chẳng nghi hoặc của nghĩa này.
-Thế
Tôn, hàng hữu lậu như A Nan, dù được khai ngộ, nhưng chưa
dứt tập khí phiền não, còn chúng con là bậc vô lậu trong
hội này, nay nghe pháp âm của Như Lai còn mắc phải những
điều nghi ngờ.
-Thế
Tôn, nếu tất cả các thứ căn, trần, ấm, xứ, giới v.v...
Của thế gian đều là Như Lai Tạng, bản tánh vốn trong sạch,
sao lại bỗng sanh các tướng hữu vi như núi sông, đất đai,
thành rồi hoại, hoại rồi thành, thành hoại chẳng ngừng?
-Lại
Như Lai nói Địa, Thủy, Hỏa, Phong, bản tánh viên dung, cùng
khắp pháp giới, trạm nhiên thường trụ. Thế Tôn, nếu tánh
Địa cùng khắp, thì làm sao dung nạp được Thủy? Nếu tánh
Thủy cùng khắp thì Hỏa chẳng thể sanh; sao lại nói hai tánh
Thủy và Hỏa đều cùng khắp hư không, chẳng đoạt mất
nhau?
-Thế
Tôn, tánh Địa thì ngăn ngại, tánh không thì trống rỗng,
làm sao hai tánh ấy đều cùng khắp pháp giới? Nay con chẳng
biết nghĩa này thế nào, xin Phật từ bi, khai mở lòng mê
muội của con và đại chúng.
Nói
xong, năm vóc gieo sát đất, kính mong lời dạy Vô Thượng
của Như Lai.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo Phú Lâu Na và hàng A La Hán lậu tận vô
học trong Hội rằng:
-Hôm
nay, Như Lai vì cả chúng trong Hội này hiển bày tánh chơn
thắng nghĩa trong thắng nghĩa, khiến hàng định tánh Thanh
Văn và tất cả A La Hán chưa được Nhị Không (nhân ngã không
và pháp ngã không), phát tâm hướng về thượng thừa, đều
được chỗ tu hành chơn chánh, thiết thực chẳng xao động
của cảnh giới tịch diệt nhất thừa, các ngươi hãy chú
ý nghe.
Phú
Lâu Na và đại chúng kính vâng pháp âm của Phật, yên lặng
ngồi nghe.
Phật
bảo:
-Phú
Lâu Na, như lời ngươi nói, bản tánh trong sạch, sao lại bỗng
sanh núi sông đất đai. Ngươi chẳng thường nghe Như Lai dạy
rằng: Tánh giác diệu minh, bản giác minh diệu hay sao?
Giảng
giải:
Trên
nói, lục căn tiếp xúc lục trần sanh ra lục thức, tất cả
đều không thật, nhưng Phật cũng nói vốn là Như Lai Tạng.
Như Lai Tạng là bản tâm của mình, tạng như cái kho.
Tôi
thường giải thích tánh không, tâm mình như hư không, tất
cả vũ trụ vạn vật, nhà cửa, cây cối đều ở trong tâm
này. Hư không là Như Lai Tạng, cuộc sống hàng ngày là vọng,
chẳng thật, nhưng cũng là Như
Lai
Tạng, chứ không phải ở ngoài hư không. Tất cả cái gì,
mặt trăng, mặt trời, nhà cửa cây cối, nam nữ,… đều
ở trong tâm. Vì tâm là hư không, hư không là tâm.
Tại
sao ở trên nói địa, thủy, hỏa, phong đều cùng khắp pháp
giới, cùng khắp hư không? Theo lý thường để hiểu, nếu
chỗ có đất (địa) thì phải ngăn ngại. Nếu có nước thì
phải diệt lửa, nếu có lửa thì nước không đến được.
Vì lửa và nước nghịch nhau, tại sao đều cùng khắp pháp
giới?
Nhưng
Phật giải thích lửa do tâm tạo, nước cũng do tâm tạo.
Địa, thủy, phong đều do tâm tạo thì đâu có khác! Vì do
có 2 tâm. Tâm cùng khắp pháp giới, nên địa, thủy, phong
cùng khắp pháp giới, khắp hư không là Như Lai Tạng, vốn
là như vậy.
Chánh
văn:
-Bạch
Thế Tôn, vâng ạ, con thường nghe Phật khai thị nghĩa này.
Phật
bảo:
-Ngươi
nói giác minh, là do tánh minh được gọi là giác; hay là cái
giác bất minh, gọi là minh giác?
Phú
Lâu Na nói:
-Nếu
cái bất minh này gọi là giác, thì chẳng có sở minh.
Phật
bảo:
-Nếu
chẳng có sở minh thì chẳng có minh giác, có sở chẳng phải
là giác, không sở chẳng phải là minh, chẳng minh lại chẳng
phải tánh trạm nhiên sáng tỏ của bản giác. Vì tánh giác
ắt minh, vọng cho là minh giác, bổn giác chẳng phải sở minh,
do chấp sự minh nên lập sở minh, sở minh đã vọng lập,
thì sanh cái năng minh hư vọng của ngươi.
-Ở
trong chẳng đồng dị, vọng chấp thành dị, khác với cái
dị này, do sự dị mà lập sự đồng, tướng đồng dị đã
sanh, từ đó lại lập ra cái chẳng đồng chẳng dị. Nhiễu
loạn như thế, đối đãi nhau sanh ra mỏi mệt, mỏi lâu thành
trần, tự hỗn tạp lẫn nhau, do đó sanh ra trần lao phiền
não, khởi dậy thành thế giới, tịch lặng thành hư không;
hư không là đồng, thế giới là dị, do đồng dị lập ra
chẳng đồng chẳng dị, ấy là pháp hữu vi, cái vốn chẳng
đồng dị của bản giác, mới thật là pháp vô vi.
-Bản
giác tánh không, chẳng minh chẳng vô minh, tùy theo nghiệp thức
biến hiện nên vô minh bắt đầu; một niệm vô minh bỗng
khởi, thì bản giác lìa tánh không mà sanh vọng minh, tánh
không cũng lìa bản giác mà sanh ám muội. Bản giác sanh vọng
minh thì phát ra thức, chỗ trong lặng chẳng lay động của
thức tinh (nguồn gốc của thức) tức là Thủy, tánh "không"
sanh ám muội, kết tụ thành sắc, tức là Địa (trái đất),
Địa và Thủy nhiễu loạn nhau thành Phong (Bầu khí quyển
bao phủ trái đất).
Vì
tánh "không" bị ám muội, cố chấp cái năng minh thành chướng
ngại, nên vọng cho bản giác là sở minh, năng sở nhiễu loạn,
nên vọng có tánh biến hóa của Hỏa, ngọn Hỏa xông lên,
nên có hơi Thủy khắp cả mười phương hư không. Hỏa bốc
lên, Thủy chảy xuống, giao lộn vọng lập thì Thủy ướt
thành biển cả, đất khô thành lục địa.
Do
nghĩa này, nên trong biển cả Hỏa thường phun lên, trong lục
địa sông ngòi thường chảy. Thế Thủy kém thế Hỏa thì
kết thành núi, nên khi đập đá núi thì có tia lửa; thế
Địa kém thế Thủy thì mọc lên thành cỏ cây, nên đốt
cỏ cây thì thành đất, vắt ra thì có nước. Tứ đại giao
lộn lẫn nhau vọng sanh nhân quả, do nhân duyên này nên thế
giới tương tục.
Giảng
giải:
Cuộc
sống hàng ngày đều là vọng, mình đừng chấp
thật, tu hành truy cứu cái chân thật của mình, tức là bản
tâm của mình hiện lên thì mới cần.
Đoạn
này, vì có người ham biết, chấp vào thành lập địa cầu,
thành lập thế giới. Ở trên Phật có giải thích tất cả
là vọng, đều do tâm tạo, như Trương Bảo Thắng tạo ra
có liền.
Tại
mình chấp cái minh (sáng), như nhiều người trí thức nói,
cần phải trí huệ sáng sủa. Cái bệnh từ chỗ đó thành
lỗi lầm, nói bản giác có cái sáng sủa, sáng là năng chiếu
thì lập sở chiếu. Lập sở chiếu rồi thì tánh chiếu bị
mất, không phải là không sáng, nhưng đã lập cái sáng rồi,
cho là có cái sở thì có năng sở đối lập, nên tánh sáng
bị mất.
Như
đầu lại mọc thêm đầu thì phải khổ, cần bác sĩ cắt
bỏ mới được. Cái sáng đã có sẵn, mà lập thêm cái sáng
nữa, nên mới thành lỗi lầm. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Diệu
minh và minh diệu”. Tại sao? Diệu là thường minh bất khả
tư nghì, mà chẳng lập sở minh; tuy sáng, nhưng sáng tự nhiên
chiếu, mà không có sở chiếu, vì nó cùng khắp.
Lập
sở chiếu thì có chỗ nên tánh chiếu bị mất, mới không
thành diệu, chẳng được gọi là diệu minh. Tại lập sở
minh tức là có chỗ, cái sáng khắp không gian khắp thời gian
không có chỗ. Nếu lập có chỗ thì bản minh bị mất không
gọi là diệu minh. Diệu minh chẳng lập sở minh, cũng chẳng
phải không có minh. Cái minh đó có sẵn, nên nói minh mà diệu,
tức là không có năng sở đối đãi.
Nếu
chấp thật có giác minh thì lọt vào tình thức phân biệt,
thành ra lìa cái giác thì chẳng minh. Cái giác ấy là bản
giác đâu có thể lìa được! Bây giờ lập ra cái minh gọi
là giác minh, nếu lìa giác thì chẳng có minh. Chẳng có minh
thì cũng không giác, cũng không thể nói là diệu, nên kinh
Lăng Nghiêm nói “thành lỗi lầm”.
Cho
nên, không được nói cho là cho rằng, không phải bản lai
diện mục. Tham thiền là hiện bản lai diện mục của mình,
nên không được thêm cái gì vào đó, tức là tất cả đều
y như cũ.
Liên
Hệ:
Kinh
Thủ Lăng Nghiêm Tông Thông, HT. Nhẫn Tế
Kinh
Thủ Lăng Nghiêm, HT. Thích Duy Lực
Tổng
Luận Kinh Lă ng Nghiêm Trưc Chỉ, HT. Thích Thiện Siêu
Pháp
Tu Lăng Nghiêm Ðại Ðịnh, HT. Thích Huệ Hưng
Phép
Tu Lăng Nghiêm Ðại Ðịnh
