Chánh
văn:
NGŨ
ẤM VỐN VÔ SANH
-Sao
nói Ngũ Ấm vốn là Như Lai Tạng, cũng là Diệu tánh chơn
như?
l.
SẮC ẤM VỐN VÔ SANH
-A
Nan! Ví như có người dùng con mắt trong sạch, nhìn hư không
sáng sủa chỉ có trống rỗng, hẳn không thấy gì, người
ấy khi không ngó hẳn một chỗ chẳng nháy mắt, ngó lâu mắt
mỏi thì thấy hoa đốm hiện nơi hư không (hoa đốm dụ cho
sắc ấm), hoặc thấy những tướng lăng xăng giả dối. Nên
biết sắc ấm cũng vậy.
-A
Nan! Những hoa đốm này chẳng từ hư không ra, cũng chẳng
từ mắt ra. Nếu từ hư không ra, ắt phải trở vào hư không,
nếu có ra vào thì chẳng phải hư không. Nếu hư không chẳng
phải hư không thì tự nhiên chẳng thể dung nạp tướng hoa
đốm sanh diệt trong đó, cũng như thân thể A Nan chẳng dung
nạp được một A Nan nữa.
-Nếu
hoa đốm từ con mắt ra thì phải trở vào con mắt; nếu từ
mắt ra, ắt phải có tánh thấy, nếu có tánh thấy thì khi
xoay về, lẽ ra phải thấy mắt. Nếu chẳng có tánh thấy,
khi ra đã che mờ hư không, thì khi về phải che mờ con mắt.
Lại, khi thấy hoa đốm, lẽ ra mắt phải không mờ, vậy sao
nói thấy hư không sáng sủa mới gọi là con mắt trong sạch?
Nên biết sắc ấm hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân duyên,
cũng chẳng phải tánh tự nhiên.
Giảng
giải:
Người
thế gian cho cái thấy này chân thật, Phật đã biết nhắm
mắt chiêm bao là chiêm bao, mở mắt chiêm bao cũng là chiêm
bao; còn người thế gian cho nhắm mắt chiêm bao là chiêm bao,
mở mắt chiêm bao thì không chấp nhận là chiêm bao. Phật
muốn chứng tỏ sự thấy không phải chân thật, mới giải
thích rất kỹ càng, để cho người tin được tất cả vốn
vô sanh, nên người chứng quả ngộ pháp vô sanh hay chứng
vô sanh pháp nhẫn.
Chánh
văn không có đề những đề mục như sắc ấm vốn vô sanh,
nên tôi mới đề thêm để cho người đọc dễ hiểu.
1-
SẮC ẤM VỐN VÔ SANH.
A Nan!
Ví như có người dùng con mắt trong sạch, nhìn hư không sáng
sủa chỉ có trống rỗng, hẳn không thấy gì, người ấy
khi không ngó hẳn một chỗ chẳng nháy mắt, ngó lâu mắt
mỏi thì thấy hoa đốm hiện nơi hư không (hoa đóm dụ cho
sắc ấm) hoặc thấy những tướng lăng xăng giả dối,
nên biết sắc ấm cũng vậy.
Dùng
con mắt thấy hư không sáng sủa, không có gì hết, nhưng nhìn
hẳn một chỗ, nhìn lâu tới chừng mỏi mệt thì thấy hoa
đốm. Sau này đều dùng chữ “ngó lâu mỏi mệt” để thí
dụ, lấy hoa đốm dụ cho sắc ấm, do con mắt ngó lâu
mỏi mệt hiện ra. Ở trên nói cái bệnh đã thành từ
vô thỉ, mới hiện ra sắc tướng có năng thấy có sở thấy,
sắc ấm cũng vậy.
-A
Nan! Những hoa đốm này chẳng từ hư không ra, cũng chẳng
từ mắt ra. Nếu từ hư không ra, ắt phải trở về hư không,
nếu có ra vào thì chẳng phải hư không. Nếu hư không chẳng
phải hư không thì tự nhiên chẳng dung nạp tướng hoa đốm
sanh diệt trong đó, cũng như thân thể A Nan chẳng dung nạp
được một A Nan nữa.
Phật
dùng sự hiểu biết của mình để chứng tỏ sự hiểu biết
của mình là sai lầm. Mình cho là thật, nhưng thật ra không
có cái nào là thật; mình cho là giả, nhưng thật không thành
lập được, huống chi giả làm sao thành lập được? Cho là
giả thì cái bệnh càng nặng thêm.
-Nếu
hoa đốm từ con mắt ra thì trở về con mắt, nếu từ con
mắt ra, ắt phải có tánh thấy, nếu có tánh thấy thì khi
xoay về, lẽ ra phải thấy mắt. Nếu chẳng có tánh thấy,
khi ra đã che mờ hư không thì khi về phải che mờ con mắt.
Lại, khi thấy hoa đốm, lẽ ra mắt phải không mờ, vậy sao
nói hư không sáng sủa mới gọi là con mắt trong sạch? Nên
biết sắc ấm hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân duyên cũng
phải tánh tự nhiên.
Nói
nhân duyên thì không có nhân đầu tiên, nói tự nhiên thì
khỏi cần nhân duyên, 2 cái đều không phải. Bây giờ muốn
thấy thì phải có nhân duyên, nhưng không có nhân đầu tiên,
như thí dụ con gà và trứng gà, con gà sanh ra trứng gà, trứng
gà sanh ra con gà, cái đó là nhân duyên nhân quả với
nhau.
Nếu
là nhân duyên thì phải con gà trước hay trứng gà trước
(nhân đầu tiên). Con gà không thể làm nhân đầu tiên, trứng
gà không thể làm nhân đầu tiên; không thể nhân đầu tiên
thì lý nhân duyên không thành lập, cho nên nói phi nhân duyên.
Còn
nói tự nhiên thì phải tự nhiên có con gà, tự nhiên có trứng
gà. Nhưng không thể được, con gà do trứng gà sanh ra, trứng
gà do con gà sanh ra, không thể tự nhiên được.
Thành
ra lý nhân duyên, lý tự nhiên không thành lập được. Cho
nên, Phật nói phi nhân duyên, phi tự nhiên là vậy.
Chánh
văn:
2.
THỌ ẤM VỐN VÔ SANH.
-A
Nan! Ví như có người tay chân khỏe mạnh, thân thể điều
hòa, cuộc sống yên ổn, quên hẳn sự thuận nghịch, người
ấy vô cớ hai bàn tay xoa nhau, vọng sanh các tướng trơn, rít,
lạnh, nóng nơi hai bàn tay.
Nên
biết thọ ấm cũng vậy.
-A
Nan! Những xúc giác huyễn hóa này (xúc giác dụ cho thọ ấm),
chẳng từ hư không ra, cũng chẳng từ bàn tay ra. A Nan, nếu
từ hư không ra, đã tiếp xúc với bàn tay, sao chẳng tiếp
xúc với thân thể? Chẳng lẽ hư không lại biết lựa chỗ
để tiếp xúc ư?
-Nếu
từ bàn tay ra thì chẳng cần đợi hai bàn tay hợp lại mới
có xúc giác; lại, đã từ bàn tay ra, lúc hai tay hợp lại
biết có xúc giác, lúc hai tay rời ra thì xúc giác phải chạy
vào, vậy xương tủy, cánh tay cũng phải biết được cái
dấu tích của xúc giác khi vào. Nếu có tâm biết ra biết
vào, thì phải có một vật đi lại trong thân, đâu cần đợi
hai tay hợp rồi mới gọi là tiếp xúc!
-Nên
biết thọ ấm hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân duyên,
cũng chẳng phải tánh tự nhiên.
Giảng
giải:
-A
Nan! Ví như có người tay chân khỏe mạnh, thân thể điều
hòa, cuộc sống yên ổn, quên hẳn thuận nghịch, người ấy
khi không dùng hai bàn tay xoa nhau vọng sanh các tướng trơn,
rít, lạnh, nóng nơi hai tay.
Nên
biết thọ ấm cũng vậy.
Người
bình thường khỏe mạnh quên hết thuận nghịch, khi không
lấy hai bàn tay xoa nhau mới biết trơn rít lạnh nóng. Cái
ấy là do tiếp xúc sanh ra.
-A
Nan! Những xúc giác huyễn hoặc này (xúc giác dụ cho thọ
ấm) chẳng từ hư không ra, cũng chẳng từ bàn tay ra. A Nan,
nếu từ hư không ra, đã tiếp xúc với bàn tay, sao chẳng
tiếp xúc với thân thể? Chẳng lẽ hư không lại biết lựa
chỗ để tiếp xúc ư?
Phật
giải thích rất kỹ, những xúc giác huyễn hóa này tức là
xúc giác dụ cho thọ ấm, chẳng từ hư không ra. Tại sao?
Nếu từ hư không ra tiếp xúc với bàn tay, sao không tiếp
xúc với thân thể? Chẳng lẽ hư không biết lựa chọn sao?
Cho nên, nói từ hư không ra là không đúng.
-Nếu
do từ bàn tay ra thì chẳng cần hai bàn tay hợp lại mới có
xúc giác. Nếu từ bàn tay ra thì 2 bàn tay khỏi cần chà với
nhau mới phải, nhưng không phải vậy, phải cần 2 bàn tay
tiếp xúc với nhau, mới sanh ra trơn rít lạnh nóng; đã từ
bàn tay ra, lúc 2 tay rời ra thì xúc giác phải chạy vào, bởi
vì nó từ bàn tay ra, lúc 2 tay lìa thì phải trở về.
Vậy
xương tủy cánh tay cũng phải biết được các dấu tích của
xúc giác khi vào thì xương tủy, cánh tay cũng phải biết.
Nếu có tâm biết vào thì phải có một vật đi lại trong
thân, đâu cần đợi 2 tay hợp rồi mới gọi là tiếp xúc!
Nên
biết thọ ấm hư vọng vốn chẳng phải tánh nhân duyên cũng
chẳng phải tánh tự nhiên.
Chánh
văn:
3.
TƯỞNG ẤM VỐN VÔ SANH.
-A
Nan! Ví như nghe người nói đến trái mơ chua thì tiết ra nước
miếng, nghĩ đến leo dốc cao thì lòng bàn chân ghê rợn, (nước
miếng và ghê rợn dụ cho tưởng ấm), nên biết tưởng ấm
cũng vậy.
-A
Nan! Cái tiếng chua này chẳng từ trái mơ ra, cũng chẳng từ
miệng ra. Nếu từ trái mơ ra thì trái mơ tự biết nói, đâu
cần đợi người nói? Nếu từ miệng ra thì miệng phải tự
nghe tiếng, đâu cần đợi tai nghe?
Nếu
chỉ riêng tai có nghe thì nước miếng sao chẳng từ tai chảy
ra? Tưởng tượng mình leo dốc thì cũng như vậy. Nên biết
tưởng ấm hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, cũng
chẳng phải tánh tự nhiên.
Giảng
giải:
-A
Nan! Ví như nghe người nói đến trái mơ chua thì tiết ra nước
miếng, nghĩ đến leo dốc cao thì lòng bàn chân ghê rợn (nước
miếng và ghê rợn dụ cho tưởng ấm) nên biết tưởng ấm
cũng vậy.
Mình
nghe nói chua thì tiết ra nước miếng, như trên đất bằng
bắt cái cầu đi bình thường chân không có ghê rợn, nếu
cái cầu này đem lên hư không thì đi thấy có ghê rợn, ghê
rợn là do mình sợ té, đất bằng thì không sợ té.
-A
Nan! Cái tiếng chua này chẳng phải từ trái mơ ra, cũng chẳng
từ miệng ra (do nghe tiếng nói mơ chua, lại nghĩ đến rồi
tiết ra nước miếng). Nếu nói tiếng chua này từ trái mơ
ra thì trái mơ tự biết nói, đâu đợi người nói? (Người
nói chứ đâu phải trái nói)
Nếu
từ miệng ra thì miệng phải tự nghe tiếng, đâu cần đợi
nghe tiếng? Nếu riêng tai có nghe thì nước miếng sao chẳng
từ tai chảy ra? Tưởng tượng mình leo dốc thì cũng như vậy.
Nên biết tưởng ấm hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân
duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên.
Nó
không có từ chỗ nào ra, do mình suy nghĩ ghi nhớ mới có vọng
hiện hữu; cuộc sống hàng ngày đều do suy nghĩ ghi nhớ mới
có phiền não. Nếu lìa được suy nghĩ ghi nhớ thì không còn
phiền não.
Chánh
văn:
4.
HÀNH ẤM VỐN VÔ SANH.
-A
Nan! Ví như dòng nước chảy mạnh (dòng nước dụ cho hành
aám), làn sóng nối tiếp, lớp trước lớp sau chẳng vượt
khỏi nhau, nên biết haønh aám cũng vậy.
-A
Nan! Tánh dòng nước như thế chẳng do hư không sanh ra, chẳng
do nước mà có, chẳng phải tánh của nước, cũng chẳng lìa
hư không và nước.
-Nếu
do hư không sanh ra thì mười phương vô tận hư không đều
thành dòng nước vô tận, và tự nhiên thế giới đều bị
chìm đắm cả. Nếu do nước mà có thì nước là năng có,
dòng nước là sở có, hai tướng khác nhau thì tánh của dòng
nước lẽ ra chẳng phải là nước; nếu dòng nước tức là
tánh của nước thì khi nước trong lặng lại chẳng phải
tự thể của nước. Nếu lìa hư không và nước thì hư không
vốn chẳng có trong và ngoài, và ngoài nước ra chẳng có dòng
nước. Nên biết hành ấm hư vọng, vốn chẳng phải tánh
nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên.
Giảng
giải:
-A
Nan! Ví như dòng nước chảy mạnh (dòng nước dụ cho hành
ấm), làn sóng nối tiếp, lớp trước lớp sau chẳng vượt
khỏi nhau, nên biết hành ấm cũng vậy.
-A
Nan! Tánh dòng nước như thế chẳng do hư không sanh ra, chẳng
do nước mà có, chẳng phải tánh của nước cũng chẳng lìa
hư không và nước.
-Nếu
do hư không sanh ra thì 10 phương vô tận hư không đều thành
dòng nước vô tận và thế giới đều bị chìm đắm cả
(bây giờ mình đâu thấy thì chứng tỏ không phải từ hư
không sanh ra). Nếu do nước mà có thì nước là năng có, dòng
nước là sở có, 2 tướng khác nhau thì tánh của dòng nước
lẽ ra chẳng phải là nước.
Nghĩa
này khó hiểu vì có nước chảy gọi là dòng nước là sở
có, năng sở phải khác nhau. Nhưng đây năng sở không khác,
dòng nước là nước, năng có cũng là nước, sở có cũng
là nước, chỉ là nước chảy thôi,
2 tướng
không khác nhau. Nếu do nước ra thì năng sở khác nhau mới
phải, nhưng chẳng phải như vậy.
Nếu
dòng nước tức là tánh của nước thì khi nước trong lặng
(không chảy) lại chẳng phải tự thể của nước.
Dòng
nước ngưng chảy thì trong lặng, đáng lẽ không phải là
nước mới phải, nhưng vẫn là nước, không có năng sở.
Vậy nói dòng nước là do nước sanh ra không đúng, lý này
người ta rất khó hiểu.
Chánh
văn:
5.
THỨC ẤM VỐN VÔ SANH.
-A
Nan! Ví như có người lấy một cái bình (cái bình dụ cho
nghiệp thân), trong đựng đầy hư không (hư không dụ cho thức
ấm), bít kín miệng bình đem xa ngàn dặm tặng cho nước khác,
nên biết Thức Ấm cũng vậy.
-A
Nan! Hư không này chẳng phải từ phương kia ra, cũng chẳng
phải từ phương này vào. Nếu từ phương kia ra, trong bình
đã đựng hư không đem đi, thì phương kia phải thiếu hư
không. Nếu từ phương này vào, khi mở miệng bình trút ra
thì phải thấy hư không ra. Nên biết thức ấm hư vọng, vốn
chẳng phải tánh nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên.
Giảng
giải:
Giải
thích thức ấm vô sanh này cũng khó hiểu, cái thân này thí
dụ như cái bình đựng thức ấm, đi đầu thai thành heo, ngựa,
đem thức ấm đi chỗ khác.
-A
Nan! Ví như có người lấy một cái bình (cái bình dụ cho
cái thân), trong đựng đầy hư không (hư không dụ cho thức
ấm, vì thân này có ngũ ấm, sắc, thọ, tưởng, hành, thức),
bịt kín miệng bình đi xa ngàn dặm tặng cho nước khác, nên
biết thức ấm cũng vậy (lục đạo luân hồi như đi nước
này nước kia. Nhưng ở đây chứng tỏ vốn là vô sanh, vốn
là vọng, không có thức ấm).
-A
Nan! Hư không này chẳng phải từ phương kia ra, cũng chẳng
phải từ phương này vào (thức là hư không) hư không đựng
trong cái bình. Nếu từ phương này vào thì hư không phải
thiếu một chút, đem bình đựng hư không trút ra phương kia
thì phải thêm một chút hư không. Sự thật không phải vậy.
Nếu
từ phương kia ra, trong bình đã đựng hư không đem đi thì
phương kia phải thiếu hư không (sự thật thì không có thiếu,
trút ra thì hư không cũng không có dư).
Nếu
từ phương này vào khi mở miệng bình trút ra thì phải thấy
hư không ra (nhưng sự thật không phải không thấy). Nên biết
thức ấm hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân duyên cũng phải
tánh tự nhiên.
Nghiệp
thân dụ cho cái bình, bây giờ mình đem cái thức đi đầu
thai, như đi tới nước khác tặng cho người khác. Kỳ thật,
ở trong Như Lai Tạng khắp không gian thời gian, không khứ
lai nên gọi là Như Lai, không sanh diệt nên gọi là Niết Bàn.
Chấp
thân này thì phải có khứ lai, phải có gián đoạn; hư không
làm sao có khứ lai, gián đoạn? Tại mình đem hư không đựng
trong bình bít miệng, rồi nói hư không ở trong bình, nhưng
sự thật không phải. Nói nghiệp thức ở trong thân này. Đâu
phải! Thức này cùng khắp hư không. Hư không đựng trong bình,
nhưng ở ngoài vẫn đầy đủ hư không.
Tại
mình không biết, chỉ nhận thân nghiệp này, như cho hư không
ở trong bình là của ta, chứ hư không ở ngoài bình không
phải ta. Nhưng sự thật ngoài thân này đều là cái thức
của mình, cái thân là 1 bộ phận thôi. Trong kinh này nói thân
này và vũ trụ vạn vật đều là diệu tâm sáng tỏ của
mình sanh ra. Lục Tổ lúc ngộ nói: “Đâu ngờ tự tánh năng
sanh vạn vật”. Vạn vật đều tự tánh sanh ra, cái thân
này cũng là vật, trái cam, trái lê cũng là vật bằng nhau.
Lúc
kiến tánh thì tất cả dụng cùng khắp không gian thời gian
đều là tự tánh, thì thân này cũng y như cũ. Bao nhiêu đèn
lớn nhỏ đều cùng 1 ánh sáng khắp không gian, không thể
chỉ ra ánh sáng nào thuộc đèn nhỏ, ánh sáng nào thuộc đèn
lớn; tức có ngã và không ngã là tương đối tự tiêu diệt
thì cùng khắp không gian, nên không có chỗ để chỉ.
Ngã
và vô ngã đều không, 1 triệu đèn vẫn là 1 triệu đèn,
đèn lớn phát ra ánh sáng lớn, đèn nhỏ phát ra ánh sáng
yếu. Như chúng sanh vẫn là chúng sanh có tánh riêng biệt,
nhưng Phật tánh không phân biệt, đều cùng khắp không gian
như ánh sáng đèn vậy.
Lược
giải:
Trung
Quán Luận có bài kệ rằng:
Các
pháp chẳng tự sanh,
Cũng
chẳng phải tha sanh,
Chẳng
cộng chẳng vô nhân,
Cho
nên nói Vô Sanh.
Sao
nói các pháp chẳng tự sanh? Vì phải đợi nhân duyên hòa
hợp mới được sanh. Sao nói chẳng tha sanh? Vì các duyên đều
chẳng có tự tánh. Sao nói chẳng cộng sanh? Vì tự và tha
còn chẳng có, lấy gì để cộng? Sao nói chẳng vô nhân sanh?
Vì bản thể sáng tỏ của diệu tâm, phải do tu hành đến
giác ngộ mới được hiển bày, chẳng tự nhiên mà thành.
Vậy biết tất cả sự vật trên thế gian vốn là Vô Sanh,
vì chẳng có lý do nào để sanh vậy.
Nếu
ngộ tất cả pháp vô sanh thì Sắc như dụi mắt thấy hoa
đốm trên không; Thọ như xoa bàn tay sanh những xúc giác trơn,
rít, lạnh, nóng; Tưởng như nghe nói trái mơ tiết ra nước
miếng; Hành như dòng nước chảy, chẳng có năng sanh sở sanh
(nước chẳng phải năng sanh, dòng nước chẳng phải sở sanh);
Thức như cái bình đựng đầy hư không, bình dụ cho nghiệp
thân, hư không dụ cho vọng thức.
Bản
Giác tánh không, cùng khắp pháp giới, hễ mê thành vọng thức
thì thành hư không ở trong bình, nhét bít miệng bình dụ cho
vọng phân đồng dị, có trong có ngoài, kỳ thật trong bình
ngoài bình chỉ cùng một hư không (dụ cho tánh và thức vốn
là một thể), hư không chẳng khứ lai dụ cho tánh chẳng sanh
diệt. Bình dụ vọng nghiệp, hư không dụ vọng thức, nghiệp
kéo thức chạy theo, như đem bình đựng hư không đi các nước
khác, dụ cho đi khắp lục đạo, cam chịu luân hồi.
Lục
nhập, thập nhị xứ, thập bát giới, cho đến thất đại
ở quyển sau, đều sáng tỏ nghĩa này (Vạn Pháp Vốn Vô Sanh).
Giảng
giải:
Trung
Quán Luận có bài kệ:
Các
pháp chẳng tự sanh,
Cũng
chẳng phải tha sanh,
Chẳng
cộng chẳng vô sanh,
Cho
nên nói vô sanh.
Sao
nói các pháp chẳng tự sanh? Vì phải đợi nhân duyên hòa
hợp mới được sanh, nhân duyên không hòa hợp thì không sanh,
cho nên nói chẳng tự sanh.
Sao
nói chẳng tha sanh? Vì các duyên đều chẳng có tự tánh, do
hòa hợp mới có, không hòa hợp thì không có tự tánh, không
phải do cái khác mà sanh ra. Đối cái này thì nói cái kia là
khác, đối cái kia thì nói cái này là khác, cũng như cái bình
đối với trái lê thì nói trái lê là khác, còn trái lê thì
nói cái bình là khác.
Sao
nói chẳng cộng sanh. Vì tự và tha chẳng có, không có lý
thành lập, lấy gì để cộng?
Sao
nói chẳng vô nhân sanh? Vì bản thể sáng tỏ của diệu tâm,
phải do tu hành đến giác ngộ mới được hiển bày, chẳng
tự nhiên mà thành. Vậy, biết tất cả sự vật trên thế
gian vốn là vô sanh, chẳng có lý do nào để sanh. Bởi không
có lý do sanh khởi, nên người chứng quả là ngộ pháp vô
sanh, chứng vô sanh pháp nhẫn.
Nếu
ngộ tất cả pháp vô sanh thì sắc như dụi mắt thấy hoa
đốm trên không.
Thọ
như xoa bàn tay sanh những xúc giác trơn, rít, lạnh, nóng. Cái
trơn, rít, lạnh, nóng, vốn không có, tại do xoa mới thành
có.
Tưởng
như nghe nói trái mơ tiết ra nước miếng. Mình không ăn trái
mơ, chỉ nghe thấy đã tiết ra nước miếng, tức là hư vọng.
Hành
như dòng nước chảy chẳng có năng sanh sở sanh. Nước chẳng
phải năng sanh, dòng nước chẳng phải sở sanh.
Thức
như bình đựng đầy hư không, bình dụ cho nghiệp thân, hư
không dụ cho nghiệp thức. Thí dụ này rất hay, nhưng cũng
khó hiểu hơn mấy cái kia.
Bản
Giác Tánh Không cùng khắp pháp giới, hễ mê thành vọng thức
thì giống như hư không trong bình. Tại chấp thì phải có
nơi chỗ, người nào cũng chấp cái thức là thân của mình.
Nhét nút miệng bình dụ cho vọng phân đồng dị, có trong,
có ngoài. Nói cái thức ở trong thân khác cái thức ngoài thân,
như nói hư không ở trong bình khác hơn hư không ở ngoài bình.
Kỳ
thật, trong bình, ngoài bình chỉ cùng một hư không. Do tâm
chấp mới thành khác, tâm đã chấp cái thân là ta thì cái
thức ở trong thân mới là ta, còn cái thức khắp hư không
chẳng phải ta. Nhưng sự thật trong bình ngoài bình
cùng khắp hư không (dụ cho tánh và thức vốn là một thể).
Hư
không chẳng khứ lai dụ cho tánh chẳng sanh diệt, bình dụ
cho vọng nghiệp, hư không dụ cho vọng thức, nghiệp kéo thức
chạy theo như đem bình đựng hư không đi các nước khác,
dụ cho đi khắp lục đạo, cam chịu luân hồi.
Như
nghiệp thân kéo thức đi luân hồi trong lục đạo, vì mình
chỉ nhìn thấy cái thân này, chứ không chịu nhìn cái
thức cùng khắp hư không. Trong kinh nói, mình không nhìn nước
khắp biển cả, mà lại nhìn bọt nước cho là mình. Kỳ thật,
khắp nước biển (đại giác) là mình, không nhận mà chỉ
nhận bọt nước cho là mình; tất cả hư không là mình, mà
chỉ nhận cái nhục thân, thành ra oan uổng phải chịu luân
hồi (nghiệp thân kéo thức đi lục đạo luân hồi).
Hỏi:
Muốn
giác ngộ phải 3 a tăng kỳ kiếp, còn Phật chỉ thị hiện,
ngài đã thành Phật từ lâu, như trong kinh Diệu Pháp Liên
Hoa nói, chứ nói trong 1 đời mà giác ngộ thì chuyện đó
không thể xảy ra, vậy việc này như thế nào?
Đáp:
Quá
khứ, hiện tại, vị lai là do tánh si ái kéo dài nên sanh ra
thời gian đó. Thấy là thời gian, tại si ái cùng khắp thì
lập ra cái giới (kinh Lăng Nghiêm). Kinh Kim Cang nói: “Quá
khứ, hiện tại, vị lai tâm bất khả đắc”, tức là quá
khứ, hiện tại, vị lai vốn không có thật, do tâm si ái mới
thành có, mà lại chấp thật có thời gian, rồi phải tu 3
a tăng kỳ kiếp mới thành Phật.
Nếu
có cái chấp ấy, đừng nói là 3 a tăng kỳ kiếp thành Phật,
mà 1 triệu a tăng kỳ kiếp cũng không thành Phật. Vì có thời
gian chân thật để chấp làm sao kiến tánh được? Phá hết
tất cả chấp mới kiến tánh; còn chấp một chút, tức là
có sở trụ, chứ không phải bản thể vô trụ.
Thiền
sư Diệu Cao hay buồn ngủ, nên ngài ngồi thiền nơi chỗ núi
cao, dưới vực thẳm; nếu ngồi ngủ gật thì té phải chết,
vì thế sau này người ta gọi ngài là Diệu Cao. Ngài lên cao
ngồi vì sợ chết, ban đầu không buồn ngủ; nhưng lâu ngày
vọng tưởng hết, buồn ngủ lại đến thì vừa té xuống,
nhưng có người đỡ.
Diệu
Cao hỏi: Ai cứu tôi vậy?
Đáp:
Hộ Pháp Vi Đà.
Diệu
Cao trong lòng mừng, tự nghĩ mình tu hành có Hộ Pháp ủng
hộ, nên sanh tâm kiêu căng.
Hộ
Pháp Vi Đà nói: Ông nổi niệm kiêu căng, nên 20 năm tôi không
hộ pháp nữa.
Ngài
trong lòng nghĩ vì mình kiêu căng nên Hộ Pháp không ủng hộ,
nếu ngồi thiền té xuống không có Hộ Pháp thì sẽ chết,
ngài tự ăn năn sám hối và tiếp tục ngồi thiền, ngồi
lâu cũng lại buồn ngủ, té xuống lại có người đỡ.
Diệu
Cao hỏi: Ai cứu tôi vậy?
Đáp:
Hộ Pháp Vi Đà.
Diệu
Cao hỏi: Vừa rồi nói 20 năm không hộ tôi mà sao lại cứu
tôi vậy?
Hộ
Pháp Vi Đà nói: Ông có 1 niệm sám hối đã qua khỏi 20 năm.
Vậy
thời gian không có thực tế là do có niệm mới thành.
Hỏi:
“Tiền
niệm bất sanh, hậu niệm bất diệt” là như thế nào?
Đáp:
“Tiền
niệm bất sanh, hậu niệm bất diệt” là không sanh
diệt. Vậy, đâu có tiền niệm, hậu niệm. Vì theo lời nói
của thế gian nên có tiền có hậu, tiền hậu là tương đối;
tự tánh bất nhị không tương đối, không có tiền hậu.
Tại
muốn nói tiền niệm bất sanh, hậu niệm bất diệt là bản
niệm, không có tiền niệm sanh, không có hậu niệm diệt,
mà bản niệm khắp thời gian không sanh diệt gọi là Niết
Bàn, khắp không gian không có khứ lai gọi là Như Lai. Tuy tên
gọi đủ thứ, nhưng bản thể không khác.
Hỏi:
Phật
Thích Ca tu hành giác ngộ hay là chỉ thị hiện?
Đáp:
Phật
Thích Ca tu hành giác ngộ và chư Tổ kiến tánh trong Truyền
Đăng Lục nói “khi kiến tánh mới biết không có Phật
để thành, vốn là vô tu vô chứng”. Nói tu nói chứng
là đã chấp thành bệnh (bệnh giả); ấy vốn không có bệnh,
nên Phật mới đưa ra thuốc giả để trị bệnh giả. Bệnh
giả đã hết thì thuốc giả cũng phải bỏ, như chiếc bè
qua sông; qua đến bờ bên kia thì chiếc bè vô dụng, đâu
phải vác chiếc bè đi chơi!
Tất
cả đều do bệnh chấp, rồi mới nói là thị hiện hay là
Phật tu hành đắc đạo. Bây giờ nói tu hành, nhưng đến
kiến tánh thì thấy không phải do tu hành đắc đạo; vì tự
tánh đâu có giảm bớt, đâu có gián đoạn, đâu có thành
hoại! Ai cũng biết, nhưng bị tâm mê chấp thành quên.
Hỏi:
Phật
tánh con ruồi và Phật tánh Đức Phật có bằng nhau không?
Đáp:
Phật
tánh chúng sanh và Phật tánh của Phật đều bằng nhau, tại
tạo nghiệp con ruồi, nên phải đầu thai ruồi; như con dơi
có ra đa, ra đa là cái dụng của Phật tánh. Nhưng tại nghiệp
con dơi có ra da, như ngiệp con người là bộ óc tinh vi; nhà
khoa học lấy cái tinh vi của bộ óc làm ra máy điện toán,
học con dơi phát minh ra da.
Tất
cả cái gì, ở trong Phật tánh đều có đầy đủ bằng như
Phật. Vì không giảm bớt, nên Phật tánh không gián đoạn.
Cho nên, bây giờ mình là chúng sanh cũng đang làm Phật, nếu
mình không làm Phật thì Phật tánh đã gián đoạn, nhưng chỉ
do mình không nhìn nhận thôi.
Kinh
Pháp Hoa nói: “Hạt châu như ý ở trong chéo áo, sao không
đem ra dùng?” dùng thì giàu sang, muốn cái gì có cái nấy,
vì nó là như ý.
Hỏi:
Ngồi
thiền để tâm vắng lặng có hòa vào tâm biển giác không?
Đáp:
Hư
không dụ cho thức, khắp hư không tức là biển giác, biển
giác không sanh diệt, không tên gọi. Bây giờ gọi biển giác
là do mình đặt tên, nên không thể cho là cái gì! 2 chữ “cho
là” dùng không được, vốn là Như Lai tạng hay là Diệu
tâm sáng tỏ, là vô sanh vô diệt. Mình đề ra câu hỏi thì
đã có bắt đầu, tức là đã sanh rồi.
Kinh
Lăng Già có những câu hỏi ấy: Có Phật tánh hay không có
Phật tánh? Có Phật tánh là thế luận 1, không có Phật tánh
là thế luận 2. Có vũ trụ hay không có vũ trụ? Có vũ trụ
là thế luận 1, không có vũ trụ là thế luận 2. Tất cả
tương đối đều là thế luận, Phật chỉ nói thế luận
1, thế luận 2. Vì câu hỏi đó đã sai lầm, câu hỏi là thế
luận thì chỉ nói là thế luận cũng đủ, đâu cần giải
thích; vì câu hỏi không có nghĩa lý gì, chuyện đó vốn không
có.
Kinh
Lăng Nghiêm nói: “Vốn không có thế giới chúng sanh là do
vọng mới có chúng sanh”, do sanh mới có diệt, từ chỗ vô
thỉ vô sanh, nếu mình đặt ra “cho là” đã sanh là thỉ
(bắt đầu) rồi. Những việc đó có hỏi cũng không đúng,
nếu Phật trả lời cũng là vọng. Vì câu hỏi là vọng thì
trả lời cũng là vọng, cho nên mới trả lời là thế luận
1 thế luận 2, thế luận 3, thế luận 4,…
Hỏi:
Tọa
thiền có thể “niệm trước không sanh, niệm sau không diệt”
không?
Đáp:
Niệm
trước không sanh, niệm sau không diệt là bản niệm, vốn
không có trước sau. Không sanh không diệt làm sao có trước
sau? Có trước sau là sanh diệt rồi.
Hỏi:
Nếu
không tham thọai đầu, chỉ ngồi xuống có đến cảnh giới
đó không?
Đáp:
Nếu
ngồi để tâm không, hết vọng tưởng là vô ký; vô ký là
thiền bệnh, lúc không có nhất niệm là vô ký. Rồi nổi
lên 1 niệm là vọng niệm thì cũng ở trong sanh diệt. Hoàn
toàn không có niệm là vô niệm, vô niệm cũng là cái tịnh
duyên của niệm, niệm thiện niệm ác gọi là niệm nhiễm.
Mặc
dầu, niệm thiện cũng là nhiễm, không có niệm thiện không
có niệm ác gọi là vô niệm cũng là tịnh duyên, tức niệm
trong sạch, cũng chưa đến chỗ vô thỉ vô minh. 24/ 24 không
có niệm nào khởi được, muốn khởi lên 1 niệm cũng không
được, chỉ có nghi tình mới gọi là vô thỉ vô minh.
Một
hồi không có niệm nào, một lúc thì nổi lên niệm, hay là
biết mình vô niệm, biết mình thanh tịnh cũng là cái bóng
phân biệt của pháp trần (kinh Lăng Nghiêm).
Hỏi:
Có
một người nữ trong ban nhạc không mập mà lại sợ mập
nhịn ăn, nhịn đến khi cô ấy chết, hiện tượng ấy như
thế nào?
Đáp:
Chuyện
đó chưa đúng cụ thể, ở Việt Nam có 1 người nghi mình
bệnh lao, nhưng sự thật không có bệnh lao. Vì tâm có tạo
bệnh lao, rồi người đó ăn uống rất cẩn thận, nhưng 3
tháng sau, rọi kiếng thấy bệnh lao và sau này do bệnh lao
mà chết.
Từ
chỗ không có mà nghi ra thành có thật, là do tâm người ấy
tự tạo, chứ không phải ai cho. Cô ấy cũng vậy, tự tạo
cho mình; nghiệp thân bây giờ cũng do tiền kiếp mình tạo.
Kinh Lăng Nghiêm nói: “Nếu ngươi chẳng có tưởng thì không
có thân, do cái tưởng của ngươi và cái tưởng của cha mẹ
mới ra thân ngươi”.
Hỏi:
Cái
hình chỉ có chấm chấm, tùy theo cách nhìn của mỗi người
thấy hiện ra cảnh giới, có người nhìn chẳng thấy gì cả,
có người khác nhìn thấy mặt trời mặt trăng hiện ra, trong
trường hợp này giải thích cho chúng sanh như thế nào?
Đáp:
Tất
cả do cái nghiệp, tâm niệm tưởng của mình tạo ra; như
chùa nào có xá lợi Phật, có người thấy màu vàng, có người
thấy màu trắng, có người thấy màu đen, có người thấy
lớn, có người thấy nhỏ, có người thấy một hột, có
người thấy nhiều hột, mỗi người mỗi khác, mà tùy theo
nghiệp của người đó mà thấy, tức là vọng kiến biệt
nghiệp mỗi người mỗi khác.
Phật
thí dụ hạt châu ma ni tùy sắc, mặc đồ trắng thấy hạt
châu trắng, mặc đồ đen thấy hạt châu đen, mặc đồ đỏ
thấy hạt châu đỏ; nhưng hạt châu vốn không có màu, thấy
màu là tại nơi mình, không phải là tại hạt châu. Phật
đã nói: “Tất cả thấy nghe hiểu biết các pháp đều
là bệnh từ vô thỉ”.
Hỏi:
Nói
tu là chuyển nghiệp, vậy lúc nào mới chuyển được nghiệp?
Đáp:
Làm
sao lúc nào! Phải tự hỏi, nếu mình không chấp trước thì
mới chuyển được nghiệp, nếu mình gặp đâu dính đó làm
sao chuyển được nghiệp?
Khởi
tâm động niệm đều là nghiệp, nghiệp là do mình làm, nếu
mình không tạo nữa làm sao có nghiệp? Tại mình tạo, cứ
tiếp tục tạo hoài làm sao rời khỏi được! Cho nên, tu là
ngưng cái tạo, tham thiền là ngưng tạo, không cho bộ óc tìm
hiểu, suy nghĩ, ghi nhớ, mới ngưng tạo thì chuyển được
nghiệp.
Bây
giờ còn tiếp tục tạo, như chấp tu cũng thành nghiệp, trong
kinh Lăng Nghiêm có giải thích.
Hỏi:
Nói
tu đỗ nghiệp thì như thế nào?
Đáp:
Tất
cả đều do tâm chấp mới có tu có chứng, tới khi kiến tánh
thấy không có Phật để thành, không có tu để chứng. Kinh
Kim Cang nói: “Không có vô thượng Bồ Đề, tại tôi không
có chứng đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, Nhiên Đăng
Phật mới thọ ký cho tôi thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu
Ni”, nếu còn chứng đắc thì có ngã chấp.
Kinh
Viên Giác có tứ tướng bậc thánh (ngã, nhân, chúng sanh, thọ
giả), tại chấp gọi là mê trí.
-Biết
có sở chứng gọi là ngã tướng.
-Ngộ
biết chẳng do ta chứng, siêu việt tất cả chứng nhưng có
năng ngộ gọi là nhân tướng.
-Rõ
biết năng chứng năng ngộ không thể đến được, còn tâm
liễu tri gọi là chúng sanh tướng.
-Chiếu
soi tâm liễu tri cũng bất khả đắc, chỉ có một giác thể
trong sạch, tất cả tịch diệt (Niết Bàn), còn trụ Niết
Bàn gọi là thọ giả tướng.
Sự
thật căn nhà vốn không có xoay, sao gọi là ngưng xoay? Nói
ngưng xoay dụ là chuyển nghiệp, căn nhà vốn không xoay, tại
sao có chuyện ngưng xoay? Cho nên sanh tử, Niết Bàn vốn như
hoa đốm trên hư không.
Nghiệp
đã chín mùi thì quả đến, quả đến trùng lúc đang tu, nhân
nào quả nấy. Mình còn ở trong chiêm bao thì phải chịu nhân
quả trong chiêm bao, chứ không phải mình tu mà nghiệp đỗ
cho mình, tại người ta hiểu lầm; đang tu thì quả mới có
sau, không phải có liền. Nhưng đang tu phát tâm mạnh thì quả
đến liền.
Như
ở thời Phật có 2 vợ chồng cùng chung chiếc chăn 2 người
thay phiên xin ăn. Họ phát tâm đem chiếc chăn cúng dường
Phật, do phát tâm rất mạnh nên quả đến liền. Vì Phật
nói nhà vua, vua thấy vậy mới cho tiền và ban chức quyền
cho họ.
Hỏi:
A La
Hán có đồng với cảnh giới vô thỉ vô minh không?
Đáp:
A La
Hán dứt hết kiến hoặc, tư hoặc của tam giới (dục giới,
sắc giới, vô sắc giới) thì tất cả phiền não đều hết,
không bị luân hồi; nhưng còn phải bị biến dịch sanh tử,
họ còn tiến lên Đại thừa. Như tiến lên
Duyên
Giác rồi tiến lên Bồ Tát Sơ Địa, đến Nhị Địa. Tiến
lên 1 bước như Sơ Địa chết tiến lên Nhị Địa, Nhị Địa
chết tiến lên Tam Địa, gọi là biến dịch sanh tử, tức
là chưa đến cuối cùng Diệu Giác.
Còn
những người định tánh Thanh Văn không chịu bỏ quả vị
của mình để tiến lên, nên bị Phật quở là “như lúa
bị hư”, nhưng họ chỉ có một thời gian giống như bị
say rượu, đến chừng hết chấp quả A La Hán, rồi bỏ A
La Hán tiến lên.
Hỏi:
Phật
nói thân người mới tu được, còn A La Hán không còn thọ
sanh, vậy họ tu như thế nào?
Đáp:
Thân
người tu để thành bậc thánh là dứt phần đoạn sanh tử.
Còn bậc thánh chỉ bỏ tâm chấp Niết Bàn Tiểu thừa, họ
tu là dứt tập khí xuất thế gian, tập khí thế gian họ đã
dứt hết. Phàm phu tu là dứt tập khí thế gian.
Hỏi:
Tham
thiền đến vô thỉ vô minh, nhưng chưa ngộ, bỗng nhiên họ
chết thì việc ấy như thế nào?
Đáp:
Chưa
tới vô thỉ vô minh mà ngộ chỉ là giải ngộ, chứ không
phải là chứng ngộ, ngộ mà phá vô thỉ vô minh mới gọi
là kiến tánh.
Tham
thiền đến vô thỉ vô minh nhưng chưa ngộ, bỗng nhiên chết,
họ phải theo nghiệp trước mà thọ sanh, nếu không gặp thiện
tri thức vẫn kiến được tánh. Như Thiền sư Diệu Tổng
15 tuổi kiến tánh là cháu nội thừa tướng Tô Công Tụng,
tự mình phá sơ quan, sau này gặp Thiền sư Đại Huệ phá
luôn Mạc Hậu Lao Quan.
Hỏi:
Người
niệm Phật đến vô niệm, khi họ chết thì tái sanh như thế
nào?
Đáp:
Họ
cũng theo nghiệp trước mà thọ sanh, nếu niệm Phật
không đúng Tín Nguyện Hạnh thì theo nghiệp thọ sanh; thiện
nghiệp nhiều thì thọ sanh giàu sang phú quý, họ không được
vãng sanh Tịnh Độ. Họ phát đại nguyện mà làm đúng thì
được đới nghiệp vãng sanh đến chỗ cực lạc Tây Phương,
nhờ Phật A Di Đà dạy tham thiền khởi lên nghi tình mới
được ngộ. Bởi do nghi mới ngộ được, không có nghi
là không có ngộ, pháp thế gian và xuất thế gian đều vậy.
Hỏi:
A Di
Đà Phật ở trong tâm mình làm sao đến Tây Phương gặp A
Di Đà Phật?
Đáp:
Không
phải chỉ A Di Đà Phật ở trong tâm mình, mà tất cả chư
Phật hằng hà sa số cũng ở trong tâm mình, tại tâm mình
khắp hư không thì cái ngộ cũng vậy, cái đó gọi là Phật
tánh, chữ “Phật” là ngộ, đâu có ở ngoài tâm mình? Mình
đang làm người thì bị sanh tử, nhưng vốn không có sanh tử,
tại do vọng tâm chấp nên mới có.
Thế
giới vốn không thật có, như kinh Lăng Nghiêm nói: “Hư
không do tâm tạo mới thành hư không, dụ như biển, hư không
dụ như bọt ở trên biển, mà thế giới kiến lập trong hư
không, tức là ở trong bọt biển, tới chừng bọt bể
thì thế giới ở đâu? Mà mình lại ở trong thế giới nữa”.
KINH
THỦ LĂNG NGHIÊM
Quyển
3
Chánh
văn:
LUC
NHÄP
-Lại
nữa, A Nan! Sao nói Lục Nhập vốn là Như Lai Tạng, cũng là
diệu tánh chơn như?
l.
NHÃN NHẬP VỐN VÔ SANH.
-Ví
như dùng mắt ngó hẳn một chỗ, lâu tự mỏi mệt, cả con
mắt và cái mỏi mệt đó, đều là tướng ngó lâu mỏi mệt
của tánh Bồ Đề. Do hai thứ vọng trần Sáng và Tối hiện
ra cái thấy, thu nạp cảnh trần, gọi là tánh thấy; cái thấy
này lìa Sáng và Tối vốn chẳng có tự thể.
-A
Nan nên biết! Kiến tinh này chẳng từ sáng, tối ra, chẳng
từ con mắt ra, cũng chẳng từ hư không ra. Tại sao? Nếu từ
chỗ sáng ra, thì khi tối, kiến tinh đã theo sáng diệt, lẽ
ra chẳng thể thấy tối; nếu từ chỗ tối ra, thì khi sáng,
kiến tinh phải theo tối diệt, lẽ ra chẳng thể thấy sáng.
Nếu
từ con mắt ra thì chẳng có sáng tối, vậy biết kiến tinh
vốn chẳng có tự tánh. Nếu từ hư không ra, thì nhìn ra ngoài
thấy cảnh trần, xoay về phải thấy con mắt; lại, hư không
tự thấy có liên quan gì chỗ nhập của ngươi? Vậy biết
Nhãn Nhập hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân duyên cũng
chẳng phải tánh tự nhiên.
Giảng
giải:
Kinh
Lăng Nghiêm là kinh liễu nghĩa, sáng tỏ nghĩa tâm tạo; tâm
tạo mới có, cái có ấy không phải thật. Ở đây giảng
phá lục căn, lục trần đều không có thật.
1 –
Nhãn nhập vốn vô sanh:
Con
mắt mình thấy có 2 cảnh sáng tối, nếu không có 2 cảnh
sáng tối thì không thấy. Sau này còn giải thích kỹ. Lúc
đó, trí thức con người không bằng bây giờ, vì khoa học
tiến bộ, trí thức biết nhiều hơn. Kinh giảng theo sự hiểu
biết thời đó, Phật nói lý để con người nghe dễ hiểu,
sự thấy lục căn tiếp xúc lục trần không phải thật.
Nên
đối với khoa học hiện tại không thích hợp, nhưng khoa học
không hợp với thực tế, thực tế là cái tâm; tâm không
hình tướng, không số lượng, dùng lục căn không thể tiếp
xúc được. Cho nên, ở trong này giải thích, tại con mắt
ngó lâu thành mỏi mệt sanh ra hoa đốm. Hư không chẳng có
hoa đốm, mà biến thành có. Con mắt mình thấy cũng vậy.
Như
ở quyển 2 nói: “Mình thấy cái này cái kia đều là cái
bệnh từ vô thỉ, nếu con mắt không bệnh thì không thấy
cái này cái kia”. Mình biết được cho là gì đó, đều là
tâm lượng của ta. Lượng là số lượng, chân tâm không có
số lượng, biết thấp là số lượng thấp, biết cao là số
lượng cao, tuy cao tới cùng tột cũng ở trong số lượng.
Số lượng không phải thật, nếu thật không phải số
lượng.
Cho
nên, kinh Lăng Già nói: “Tự tâm hiện lượng”. Kinh hoa nghiêm
nói: “Tất cả do tâm tạo”, bây giờ máy điện toán cũng
chứng tỏ được là do tâm tạo, còn Trương Bảo Thắng tạo
ra có liền, cũng chứng tỏ tâm tạo. Như vũ trụ nhỏ vũ
trụ lớn, động lực là tâm, cho đến hạt nguyên tử có
động lực xoay hoài cũng do tâm.
Chánh
Văn:
2.
NHĨ NHẬP VỐN VÔ SANH
-A
Nan! Ví như có người lấy hai ngón tay bịt chặt hai lỗ tai,
do lỗ tai mỏi mệt, trong đầu hóa ra có tiếng; cả hai tai
cùng cái mỏi mệt đó, đều là tướng ngó lâu mỏi mệt
của tánh Bồ Đề. Do hai thứ vọng trần Động và Tịnh hiện
ra cái nghe, thu nạp cảnh trần, gọi là tánh nghe; tánh nghe
này lìa Động và Tịnh, vốn chẳng có tự thể.
-A
Nan nên biết! Cái nghe này chẳng từ động tịnh ra, chẳng
từ tai ra, cũng chẳng từ hư không ra. Tại sao? Nếu cái nghe
từ chỗ tịnh ra, thì khi động, cái nghe đã theo tịnh diệt,
lẽ ra chẳng thể nghe động; nếu từ chỗ động ra, thì khi
tịnh, cái nghe đã theo động diệt, lẽ ra chẳng biết được
tịnh.
Nếu
từ lỗ tai ra thì chẳng có động tịnh, vậy biết cái nghe
vốn chẳng có tự tánh. Nếu từ hư không ra, hư không đã
thành tánh nghe thì chẳng phải hư không; lại hư không tự
nghe, có liên quan gì chỗ nhập của ngươi? Vậy biết Nhĩ
Nhập hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, cũng chẳng
phải tánh tự nhiên.
Giảng
giải:
Nhãn
nhập như vậy, nhĩ nhập cũng như vậy. Nhãn nhập do 2 tướng
sáng tối mới có, còn nhĩ nhập do 2 tướng động tịnh, nếu
lìa động tịnh không có nhĩ nhập, lìa sáng tối cũng không
có nhãn nhập.
Người
ta không biết, cho là tự nhiên hay cho là nhân duyên. Nhà khoa
học biết vấn đề gì cho là nhân duyên, còn cái nào không
biết cho là tự nhiên. Đức Phật phủ nhận nhân duyên và
tự nhiên, như con gà và trứng gà, 2 thứ khác nhau.
Nếu
nói nhân duyên như con gà sanh ra trứng gà, trứng gà ấp ra
con gà, làm nhân với nhau mà sanh ra. Nếu lý nhân duyên thành
lập thì phải có nhân đầu tiên, cái nhân đầu tiên thì
phải có sự bắt đầu, sự thật không có bắt đầu được.
Cho
nên, Phật nói là vô thỉ, không có nhân đầu tiên, tức là
còn gà không thể có trước. Tại sao? Tại không có trứng
gà để ấp ra. Trứng gà không thể có trước. Tại sao? Vì
không có con gà để sanh ra. Vậy, không có nhân đầu tiên
thì lý nhân duyên không thể thành lập.
Còn
tự nhiên khỏi cần nhân duyên, tức là con gà khỏi cần trứng
gà ấp, trứng gà khỏi cần con gà sanh. Cho nên, lý tự nhiên
không thể thành lập. Vì kinh Lăng Nghiêm phủ nhận lý nhân
duyên và tự nhiên, chứng tỏ tất cả không có cái nào thật.
Nói
về Phật pháp thì tất cả do tâm tạo, nếu tâm tạo nên
không có thật; vì tâm tạo mới có, tâm không tạo thì không
có. Con mắt mình thấy, lỗ tai nghe đều không thật. Ý thức
hiểu kém là số lượng thấp, ý thức hiểu nhiều là số
lượng cao, dù cao cùng tột cũng tâm tạo, chứ không có thật.
Tâm thật không có số lượng, do tai mắt tiếp xúc hiện ra
số lượng.
Chánh
Văn:
6.
Ý NHẬP VỐN VÔ SANH.
-A
Nan! Ví như có người mệt nhọc thì ngủ, ngủ đã bèn thức,
gặp cảnh thì nhớ, không nhớ thì quên, như cảnh mộng giả
dối cho là chơn thật, ấy là điên đảo. Các tướng sanh,
trụ, dị, diệt, tùy duyên thay đổi từng sát na, chẳng vượt
khỏi nhau. Gom sự hiểu biết trong đó thành tướng mỏi mệt;
cả ý căn cùng cái mỏi mệt đó, đều là tướng ngó lâu
mỏi mệt của tánh Bồ Đề.
- Do
hai thứ vọng trần Sanh và Diệt, vọng khởi pháp trần bên
trong, thành cái biết của ý căn. Ý căn như dòng nước, sự
trước mắt nhờ tai mắt thấy nghe tiền trần bên ngoài là
thuận lưu (đồng thời ý thức); sự tưởng nhớ chẳng nhờ
tai mắt được thấy nghe pháp trần bên trong là nghịch lưu
(độc đầu ý thức), khi chảy ngược vào chỗ tai mắt chẳng
thể đến (sự vật đã qua hoặc cách xa), chỉ có ý căn mới
biết, gọi là tánh hay biết của ý căn; tánh hay biết này
lìa thức, ngủ, sanh, diệt, vốn chẳng có tự thể.
-A
Nan nên biết! Cái hay biết của ý căn chẳng từ thức ngủ
ra, chẳng từ sanh diệt ra, chẳng từ ý căn ra, cũng chẳng
từ hư không ra. Tại sao? Nếu từ thức ra, thì khi ngủ, ý
căn đã theo thức diệt, lấy gì để biết ngủ? Nếu từ
sanh mà ra, thì khi diệt đồng như không, ai biết sự diệt?
Nếu từ diệt ra thì khi sanh đã không có, ai biết sự sanh?
Nếu
từ ý căn ra thì chẳng có tướng thức, ngủ, vậy cái hay
biết của ý căn đồng như hoa đốm trên không, vốn chẳng
có tự tánh. Nếu từ hư không ra, thì hư không tự biết,
có liên quan gì đến chỗ nhập của ngươi? Nên biết, Ý Nhập
hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, cũng chẳng phải
tánh tự nhiên.
Giảng
giải:
Năm
căn là nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân thì có phù trần căn, như
con mắt thấy được, ý căn không thấy được, ý hoạt động
khó biết. Nếu dùng máy điện toán đo thì biết.
Phật
giải thích tai mắt có thể đến gọi là thuận lưu, như đường
suối chảy, nay mình thấy trái cây, lọ hoa,… Còn nghịch
lưu thì tai mắt chẳng thể đến, chỉ có ý căn đến được.
Như mình tưởng nhớ ngày xưa, tưởng nhớ bà con mình ở
Việt Nam,...
Nhưng
có đối đãi sanh diệt, mình có việc tưởng nhớ để cho
ý căn tiếp xúc được, nếu lìa khỏi sanh diệt thì không
có; như nhãn căn phải có sáng tối, nhĩ căn phải có động
tịnh, ý căn phải có sanh diệt.
Chánh
văn:
THẬP
NHỊ XỨ
-Lại
nữa A Nan! Sao nói Thập Nhị Xứ vốn là Như Lai Tạng, cũng
là diệu tánh Chơn Như?
l.
NHÃN CĂN VỚI SẮC TRẦN VỐN VÔ SANH.
-A
Nan! Ngươi hãy xem rừng cây và các suối ao trong vườn Kỳ
Đà này, ý ngươi thế nào? Ấy là sắc trần sanh ra nhãn căn,
hay nhãn căn sanh ra sắc tướng?
-A
Nan! Nếu nhãn căn sanh ra sắc tướng, vậy khi nhìn hư không
chẳng phải sắc tướng, thì tánh sắc phải mất; hễ mất
thì tất cả chẳng có, sắc tướng chẳng có thì làm sao rõ
được tánh không? Sự không cũng như thế.
-Lại,
nếu sắc trần sanh ra nhãn căn, thì khi nhìn hư không chẳng
phải sắc, nhãn căn liền mất, nhãn căn đã mất thì lấy
gì để phân biết Sắc và Không.
-Nên
biết sự thấy và sắc không đều chẳng xứ sở, tức sắc
trần và sự thấy, hai xứ đều hư vọng, vốn chẳng phải
tánh nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên.
Giảng
giải:
Trước
kia phá lục căn: Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý. Tiếp theo
là lục trần, ý nghĩa cũng vậy, không có cái nào là thật.
Phật dùng sự hiểu biết của người đương thời, để chứng
tỏ lục căn lục trần đều không có thật.
Liên
Hệ:
Kinh
Thủ Lăng Nghiêm Tông Thông, HT. Nhẫn Tế
Kinh
Thủ Lăng Nghiêm, HT. Thích Duy Lực
Tổng
Luận Kinh Lă ng Nghiêm Trưc Chỉ, HT. Thích Thiện Siêu
Pháp
Tu Lăng Nghiêm Ðại Ðịnh, HT. Thích Huệ Hưng
Phép
Tu Lăng Nghiêm Ðại Ðịnh
