THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học   Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn  Index Tác-Giả

 
 
 
 
 
c
GIẢNG KINH LĂNG NGHIÊM
Hoà Thượng Thích Duy Lực
Thích Đồng Thường Lập Thành Văn Tự
ML
01
02
03
04
05
06
07
08
09
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
Chánh văn: 

A Nan nói: 

-Nếu tâm tánh của con đều có chỗ trả về, thì cái diệu tâm sáng tỏ của Như Lai nói, sao chẳng có chỗ trả về? Xin Phật thương xót, khai thị cho con. 

Phật bảo A Nan: 

-Nay ngươi thấy được ta là do cái kiến tinh sáng tỏ (đệ nhị nguyệt), kiến tinh này chẳng phải là diệu tâm sáng tỏ (đệ nhất nguyệt), gượng nói như mặt trăng thứ hai, cũng chẳng phải bóng của mặt trăng thứ nhất vậy. Ngươi hãy chú ý nghe, bây giờ ta sẽ chỉ rõ chỗ chẳng thể trả về. 

A Nan, như đây, giảng đường mở cửa bên đông, mặt trời mọc lên thì sáng, nửa đêm không trăng thì tối; chỗ có cửa nẻo thì thông, chỗ có vách tường thì nghẽn, chỗ phân biệt là duyên, nơi hư không là trống rỗng, bụi trần nổi lên thì thấy mịt mù, mưa tạnh trời thanh thì thấy sáng sủa, 

A Nan, ngươi xem các tướng biến hóa này, nay ta trả về chỗ bản nhân của nó! Sao gọi là bản nhân? Các tướng biến hóa này, sáng trả về mặt trời, tại sao? 

Vì không mặt trời thì chẳng sáng, sáng thuộc mặt trời, nên trả về mặt trời, tối trả về đêm không trăng, thông trả về cửa nẻo, nghẽn trả về vách tường, duyên trả về phân biệt, trống rỗng trả về hư không, mịt mù trả về bụi trần, sáng sủa trả về mưa tạnh, tất cả việc thế gian không ngoài những loại này, vậy còn kiến tinh thấy được tám thứ kể trên đó, ngươi định trả về đâu? 

Nếu trả cho sáng thì lúc không sáng chẳng thể thấy tối, thế thì sáng tối chẳng thể phân biệt, còn bảy thứ kia cũng giống như vậy. Những cái trả về được tất nhiên chẳng phải ngươi, cái không thể trả về, chẳng phải ngươi là ai? 

Vậy biết tâm ngươi vốn diệu minh trong sạch, ngươi tự mê muội lạc mất bản tâm, cam chịu luân hồi, thường bị trôi lăn trong vòng sanh tử, nên Như Lai nói là đáng thương xót! 

Giảng giải:

A Nan nói: 

Nếu tâm tánh của con đều có chỗ trả về thì cái diệu tâm sáng tỏ của Như Lai nói sao chẳng có chỗ trả về? Xin Phật thương xót khai thị cho con.

Phật bảo A Nan: 

Nay ngươi thấy được ta là do cái kiến tinh sáng tỏ (đệ nhị nguyệt) là cái dụng của bản thể, chứ không phải bản thể. Đồ vật trước mắt mà mình thấy được là do tánh thấy, tánh thấy tồn tại vĩnh viễn chân thật không phải bản thể, chỉ là cái dụng của bản thể, nên ở đây nói là đệ nhị nguyệt không phải đệ nhất nguyệt (bản thể), gượng nói như mặt trăng thứ hai, cũng không phải bóng mặt trăng thứ nhất vậy. 

Tánh thấy là dụng của bản thể, sau khi khai ngộ thì dụng là thể, thể cũng là dụng. Muốn giải nghĩa thì nói thể sanh ra dụng, thể không có hình tướng nên không nói được; dụng như thấy các đồ vật rõ ràng; có tánh thấy mới thấy được sở thấy, không phải bản thể chân thật (diệu tâm sáng tỏ). 

Hỏi: 

Cái dụng của bản thể là mặt trăng thứ 2, cũng không phải bóng mặt trăng thứ 1, vậy là sao? 

Đáp: 
Mình đứng dưới ánh sáng có cái bóng, bóng đâu có dùng được! Còn tánh thấy dùng được, như thấy cái này là nho, bánh,… mà lại thấy một lượt khắp không gian. Cái bóng làm sao có tánh này? Nhưng cũng không phải bản thể của mặt trăng, chỉ là cái dụng  thôi.

Ngươi hãy chú ý nghe bây giờ ta sẽ chỉ rõ chỗ chẳng thể trở về.

A Nan, như đây giảng đường mở cửa bên Đông, mặt trời mọc lên thì sáng, nửa đêm không trăng thì tối, chỗ có cửa nẻo thì thông, chỗ có vách tường thì nghẽn, chỗ phân biệt là duyên, nơi hư không là trống rỗng, bụi trần nổi lên thì thấy mịt mù, mưa tạnh trời thanh thì thấy sáng sủa.

A Nan, ngươi xem cái tướng biến hóa này, nay ta trả về bản nhân của nó. Sao gọi là bản nhân? Cái tướng biến hóa này, sáng trả về mặt trời. 

Tại sao? Vì không có mặt trời thì chẳng sáng, sáng thuộc về mặt trời, nên trả về mặt trời, tối trả về đêm không trăng, thông trả về cửa nẻo, nghẽn trả về vách tường, duyên trả về phân biệt, trống trả về hư không, mịt mù trả về bụi trần, sáng sủa trả về mưa tạnh, tất cả thế gian không ngoài những loại này. 

Vậy còn kiến tinh thấy được tám thứ kể trên đó, ngươi định trả về đâu? Nếu trả về cho sáng thì lúc không sáng chẳng thể thấy tối. Thế thì, sáng tối chẳng thể phân bịêt, còn 7 thứ kia cũng giống như vậy. 

Những cái trả về được, tất nhiên chẳng phải ngươi, cái không phải trả về chẳng phải ngươi là ai? 

Vậy biết tâm người vốn diệu minh trong sạch, người tự mê muội lạc mất bản tâm cam chịu luân hồi, thường bị trôi lăn trong vòng sanh tử, nên Như Lai nói là đáng thương xót!

Hỏi:

 Thế nào luật nhân quả?

Đáp: 

Việc nhân quả trong mở mắt chiêm bao, còn cái này muốn hiển bày chân tâm.

Hỏi: 

Nếu con người đầu thai vào súc sanh, sao trở lại làm người được nữa?

Đáp: 

Tất cả việc luân hồi là chuyện trong chiêm bao, việc trong chiêm bao nếu thức tỉnh thì biến mất. Tại sao thấy có sự luân hồi? Lược Giải Bát Nhã Tâm Kinh nói: Vì tâm mình hoạt động ngày đêm không ngừng, ban đêm biến hiện nhắm mắt chiêm bao, ban ngày biến hiện mở mắt chiêm bao, mà chiêm bao ấy chẳng có thật. 

Con người cho nhắm mắt chiêm bao là chiêm bao, vì tự mình có thức tỉnh nên có kinh nghiệm chứng tỏ nhắm mắt chiêm không thật. Mở mắt chiêm bao không cho là thật. 
Phật giải thích mở mắt chiêm bao và nhắm mắt chiêm bao giống nhau. Nhắm mắt chiêm bao là một thức biến hiện. Mở mắt chiêm bao là do hai thức biến hiện. Hai thức và một thức đều là tâm biến hiện. Cho nên nói: “Tất cả do tâm tạo”, nhưng người ta không tin. 

Tại sao? Vì chưa có thức tỉnh. Như nhắm mắt chiêm bao chưa thức tỉnh, dù có Thiện tri thức giải thích không thể tin được. Vì tiếp xúc cái gì cũng thật. Khi mhắm mắt chiêm bao hết cơn ngủ, tự thức tỉnh thì chứng tỏ được. Mở mắt chiêm bao không bao giờ tự thức tỉnh được, phải tham thiền cho đến kiến tánh mới thức tỉnh. Lúc đó tự mình chứng tỏ, nên gọi là chứng ngộ. 

Bây giờ, chưa thức tỉnh đang ở trong chiêm bao, tuy Phật giải thích rất kỹ, nhưng khó tin được! Vì mình tiếp xúc cái gì cũng thấy chân thật.

Hỏi: 

Hiện tượng những vị đã  kiến tánh, lại đầu thai trong 6 loài thì việc ấy như thế nào?

Đáp: 

Trong đại tạng có câu chuyện: Tăng Biện Thông ở Ngũ Đài Sơn gặp 1 vị Tăng già hình thù dơ dáy, ai cũng ghét ông. Vị Tăng già thấy Biện Thông có tánh không phân biệt thương ghét. Lúc Biện Thông ở đó mấy tháng, rồi muốn về kinh thành, khi đi từ giã với vị Tăng già.

Vị Tăng già nói: Tôi muốn gửi lá thư. 

Thông Biện trả lời: Được. 

Ở ngoài lá thư đề người nhận Bạc Hà, lá thư không có niêm phong, đi tới nửa đường Thông Biện mở ra xem, trong thư có 16 chữ, ý trong đó là: “Độ chúng sanh xong mau mau về, đừng có lưu lại mà tạo thêm nghiệp”. Khi đến cửa thành, Thông Biện hỏi thăm Bạc Hà ở đâu, mấy đứa con nít chỉ con heo lớn nằm ở gần đó. Thông Biện nghỉ thầm trong tâm, không lẽ là con heo. Rồi tìm ra chủ heo là ông Triệu. 

Thông Biện hỏi ông Triệu: Sao gọi con heo này là Bạc Hà?

Ông Triệu đáp: Vì nó ăn toàn bạc hà, tôi đã nuôi nó mười mấy năm, thường thường nuôi heo chỉ 1 năm, rồi đem làm thịt, mà con heo bạc hà này đã mười mấy năm không làm thịt vì có lý do, tôi nuôi heo nhiều không nhốt trong chuồng thả đi tự do, nhờ con heo bạc hà kêu về, không bị lạc mất con nào, nên tôi rất thương con này.

 Tăng Biện Thông nghỉ là lá thư gởi cho con heo này nên liền bỏ lá thư xuống đất, lúc đó con heo liền táp lá thư nhai nuốt vào bụng, rồi đứng hai chân chết ngay lúc đó. 

Theo chuyện này chứng tỏ Bồ Tát thị hiện heo để độ heo. Tứ Nhiếp pháp gồm có: Bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự. Bố thí, ái ngữ, lợi hành thì ngoại đạo làm được, còn đồng sự thì chỉ có đạo Phật mới làm được.

Hỏi: 

Bồ Tát làm con heo đâu có hại ai mà sao phải nhập diệt?

Đáp:

Công việc đã xong ở lại làm cái gì nữa, vì những con heo có duyên với Bồ Tát khi độ xong phải nhập diệt, cũng như Phật Thích Ca ở cõi Ta Bà cùng với những người có nhân duyên Phật Thích Ca độ xong thì phải nhập diệt.

Hỏi:

Bồ Tát nhập vào cõi Ta Bà không bị nhiễm phải không? 

Đáp:

Làm sao mà nhiễm! Chư Phật độ chúng sanh, tùy theo nghiệp duyên mà độ, bây giờ chúng ta có nghiệp duyên đối với Phật pháp của Phật Thích Ca, cho nên cùng nhau nối pháp Phật Thích Ca.

Hỏi:

Con thắc mắc chuyện Phật Thích Ca bị đau đầu?

Đáp: 

Những thứ đó là thị hiện trong chiêm bao, phương tiện để cho chúng sanh tin nhân quả không mất. Nhưng sự thật Phật không có đau đầu.

Hỏi:

Phật thị hiện như trên lúc lâm chung có ảnh hưởng không?

Đáp:

Làm sao có ảnh hưởng! Vì đã thức tỉnh chiêm bao, đâu có bị hạn chế trong chiêm bao; tức là bậc thánh chỉ có thế lưu bố tưởng, chứ không có trước tưởng. Mặc dầu, nói không cho là có, nói có cho là không, nói đau không cho là đau, nói vui không cho là vui, nói buồn không cho là buồn, tức là không có sanh ra tư tưởng chấp thật.

Chánh văn:

A Nan nói: 

-Con dù biết tánh kiến này chẳng thể trả về, nhưng làm sao biết là chân tánh của con? 

Phật bảo A Nan: 

-Ta hỏi ngươi, nay ngươi chưa đắc quả vô lậu, nhờ thần lực của Phật, được thấy cõi sơ thiền chẳng có ngăn ngại, mà A Na Luật thấy cõi Ta Bà như xem trái Yêm Ma La trong bàn tay, các Bồ Tát thấy trăm ngàn cõi, mười phương Như Lai cùng tột vô số quốc độ Phật, chẳng chỗ nào không thấy khắp, mà sức thấy của chúng sanh thì chẳng quá vài dặm.

A Nan, nay ta cùng ngươi xem cung điện của Tứ Thiên Vương, từ đó trở xuống, xem tất cả hình tượng sáng tối khắp hư không, dưới nước và trên bờ, đều bị chướng ngại nơi tiền trần phân biệt, nay ta cho ngươi phân biệt trong sự thấy, xét xem cái nào là tự thể của tánh thấy, cái nào là vật tượng?

 A Nan, cùng tột sức thấy của ngươi, từ cung trăng cho đến Thất Kim Sơn, quán xét cùng khắp, dù có đủ thứ ánh sáng cũng đều là vật chứ chẳng phải ngươi, dần dần xem đến mây bay, chim hót, gió động, bụi nổi, cho đến núi sông, đất đai, người thú, cỏ lá... đều là vật chứ chẳng phải ngươi. 

A Nan, các tánh vật xa gần dù có khác biệt, nhưng đều do kiến tinh trong sạch của ngươi mà nhìn thấy. Vậy thì các loài vật tự có sai biệt mà tánh kiến chẳng khác, cái kiến tinh diệu minh này chính là tánh thấy của ngươi. 

-Nếu kiến tinh là vật thì ngươi cũng có thể thấy kiến tinh của ta, nếu cùng thấy gọi là thấy kiến tinh ta, thì lúc ta chẳng thấy, sao ngươi không thấy chỗ chẳng thấy của ta? Nếu thấy được chỗ chẳng thấy của ta thì chẳng phải cái tướng chẳng thấy; nếu không thấy chỗ chẳng thấy của ta, thì kiến tinh tất nhiên phi vật, sao lại chẳng phải ngươi?

-Nếu kiến tinh là vật, thì vật cũng có tánh thấy, lúc ngươi thấy vật, vật cũng thấy ngươi, thể tánh lẫn lộn thì ngươi và ta với tất cả thế gian chẳng thể an lập. A Nan, nếu lúc ngươi thấy là ngươi chẳng phải ta thấy, thì cái tánh thấy cùng khắp đó không phải ngươi là ai? Sao lại tự nghi chơn tánh của ngươi cho là chẳng chơn, mà cầu sự thật nơi ta? 

Giảng giải:

A Nan nghi tâm tánh có thể trả về, vì những cảnh phân biệt cho là ta, Phật giải thích rõ ràng.

A Nan nói: Con dù biết tánh kiến này, chẳng thể trả về, nhưng làm sao biết tâm tánh của con?

Phật bảo A Nan: Ta hỏi ngươi, nay ngươi chưa đắc quả vô lậu (lậu là tập khí phiền não, là thói quen nhiều kiếp), Tiểu thừa chứng quả A La Hán thì dứt được kiến hoặc và tư hoặc của tam giới; kiến hoặc là tư tưởng mê lầm, tư hoặc là mê hoặc. Tất cả thói quen đã hết gọi là vô lậu, còn hữu lậu là còn tập khí; còn tập khí thì có phiền não; đến vô lậu thì hết phiền não. 

Lúc ấy, A Nan chưa đắc quả vô lậu, nhưng nhờ thần lực của Phật thấy được cảnh sơ thiền chẳng có ngăn ngại. Sơ thiền thuộc về sắc giới, tức là ở trên dục giới, cõi trời dục giới 6 lớp, sắc giới có 18 lớp chia làm tứ thiền.

Bây giờ, chúng ta chưa có thể thấy được, mà A Na Luật thấy cõi Ta Bà như xem trái yêm ma la trong bàn tay. A Na Luật không có con mắt nhưng đã chứng quả, khỏi cần dùng con mắt để thấy cõi Ta Bà (tam thiên đại thiên thế giới) như thấy trái cây như trên bàn tay.

Các Bồ Tát thấy trăm ngàn cõi mười phương Như Lai cùng tột vô số quốc độ Phật. Chứng quả Bồ Tát không những thấy 1 thế giới, như thế giới Ta Bà, Tây phương  có thế giới Cực Lạc, Đông phương có thế giới Dược Sư Lưu Ly. Trong vũ trụ có vô biên thế giới, người chứng quả A La Hán chỉ thấy có 1 thế giới. 

Tại sao gọi là tam thiên đại thiên thế giới? Tiểu thế giới gồm có 4 đại châu, quả đất này thuộc 4 đại châu, gọi là Nam thiệm bộ châu. Còn 3 cái khác không phải trái đất này. Cộng 3 cái khác thành 1 tiểu thế giới.

Một tiểu thế giới gồm có 1 mặt trăng, 1 mặt trời. 1000 tiểu thế giới gọi là tiểu thiên thế giới, 1 tiểu thiên thế giơi x 1000 gọi là trung thiên thế giới, 1 trung thiên thế giới x 1000 gọi là đại thiên thế giới. 

Mười phương Như Lai cùng tột vô số quốc độ Phật, tức là tất cả cõi đều thấy được, không sót cõi nào, vì bản thể đã cùng khắp không gian, chẳng chỗ nào không thấy khắp, mà sức thấy của chúng sanh là thấy tùy theo nghiệp của mình. 

A Nan, nay ta cùng ngươi xem cung điện của Tứ Thiên Vương (nhờ thần lực của Phật thấy được sơ thiền, Tứ Thiên Vương thuộc về sắc giới), từ đó trở xuống xem tất cả hình tượng sáng tối khắp hư không, dưới nước và trên bờ đều bị chướng nơi tiền trần phân biệt, nay ta cho ngươi phân biệt trong sự thấy, xét xem cái nào là tự thể của tánh thấy, cái nào là vật tượng? (A Nan chưa phân biệt rõ, cho nên mới hỏi Phật).

 A Nan, cùng tột sức thấy của ngươi từ cung trăng cho đến Thất Kim Sơn, quán xét cùng khắp, dù có đủ ánh sáng cũng đều là vật chứ chẳng phải ngươi, dần dần xem đến mây bay, chim hót, gió động, bụi nổi, cho đến núi sông đất đai, người thú cỏ lá…đều là vật chứ chẳng phải ngươi.

A Nan, các tánh vật xa gần dù có khác biệt, nhưng đều do kiến tinh trong sạch của ngươi mà nhìn thấy (nếu không có kiến tinh trong sạch của ngươi thì đâu thấy được những vật tượng này). Vậy thì các loài vật có sai biệt, mà kiến tinh chẳng khác, cái kiến tinh diệu minh này là tánh thấy của ngươi.

Nếu kiến tinh là vật, thì ngươi cũng có thể thấy kiến tinh của ta (kiến tinh là thể tinh thần không có hình tướng, không có số lượng, không có thể thấy được vì nó không phải là vật), nếu  cùng thấy gọi là thấy kiến tinh ta thì lúc ta chẳng thấy, sao ngươi chẳng thấy chỗ chẳng thấy của ta? 

A Nan chưa hỏi, Phật phá trước là chứng tỏ kiến tinh có sức năng thấy, nhưng không phải là vật, mà cùng khắp không gian thời gian, có năng lực thấy rõ ràng, nhưng năng thấy không có chỗ để chỉ. Nếu nói là vật thì ngươi phải thấy kiến tinh của ta. Nếu nói ngươi thấy, ta thấy, cùng thấy là thấy được kiến tinh của ta. 

Vậy, ta chẳng thấy thì ngươi phải thấy chứ! Tại sao ngươi chẳng thấy? Vì cùng thấy cũng có kiến tinh, mà chẳng thấy đâu phải không có kiến tinh! Kiến tinh vẫn còn thì ngươi phải thấy chứ, nên Phật chứng tỏ cùng thấy không phải là kiến tinh của ta, chẳng thấy cũng không phải là kiến tinh của ta.

Nếu thấy được chỗ chẳng thấy của ta thì chẳng thấy cái tướng chẳng thấy (đã nói chẳng thấy rồi, nếu mà thấy được thì đã thấy rồi làm sao nói chẳng thấy); nếu không thấy chỗ chẳng thấy của ta, thì kiến tinh tất nhiên phi vật, sao lại chẳng phải ngươi? (Vì tất cả đều do ngươi thấy, những cái vật thì chẳng phải ngươi rồi. Do kiến tinh của ngươi thấy được vậy đó là ai?)

Nếu kiến tinh là vật thì vật cũng có tánh thấy, lúc ngươi thấy vật, vật cũng thấy ngươi (vì kiến tinh phi vật, Phật muốn nói rõ thêm, nếu kiến tinh là vật thì vật cũng có tánh thấy), thể tánh lẫn lộn thì ngươi và ta với tất cả thế gian chẳng thể an lập.

A Nan, nếu lúc ngươi thấy là ngươi chẳng phải ta thấy thì cái tánh thấy cùng khắp đó, không phải ngươi là ai? 
(Vì do ngươi thấy chứ không phải do ta thấy, thì chứng tỏ tánh thấy cùng khắp từ trên Sơ thiền cõi trời Tứ Thiên Vương, dưới đất hải lục trên không, núi  sông đất đai, tất cả đều thấy; những cái đó đều do kiến tinh thấy được, nó đã chẳng phải vật thì là ngươi rồi). 

Sao lại tự nghi chơn tánh của ngươi cho là chẳng chơn mà cầu sự thật nơi ta?

Lược giải:

Tại sao nói kiến tinh này là ngươi chẳng phải vật? Nếu kiến tinh là vật thì kiến tinh của ta ngươi cũng thấy được, nhưng sự thật thì kiến tinh của ta ngươi chẳng thể thấy. 

Nếu nói ta thấy ngươi thấy, lúc cùng thấy tức là thấy kiến tinh của ta, vậy thì lúc ta thấy, ngươi đã thấy được rồi, lúc ta chẳng thấy, ngươi cũng phải thấy được chứ, mà sự thật lại chẳng như thế. 

Nếu nói lúc thấy là dùng cái thấy để thấy, lúc chẳng thấy là dùng cái chẳng thấy để thấy, gọi là thấy chỗ chẳng thấy của ta, vậy đã chẳng tự thấy, lấy gì để thấy cái tướng chẳng thấy kia? Nếu cái tướng chẳng thấy kia cho ngươi thấy được, tức là tướng thấy, lại chẳng phải tướng chẳng thấy.

 Vậy biết: Chỗ chẳng thấy của ta, ngươi nhất định chẳng thể thấy được; lúc ta chẳng thấy, ngươi đã chẳng thể thấy được thì lúc cùng thấy cũng chẳng thể thấy, thấy và chẳng thấy đều chẳng thể chỉ ra kiến tinh, vậy kiến tinh của ta rõ ràng phi vật. Kiến tinh của ta phi vật thì kiến tinh của ngươi cũng là phi vật. 
Kiến tinh của ngươi đã phi vật thì chẳng thuộc nơi vật, làm sao chẳng phải ngươi? Đây là dùng cái nghĩa chẳng thể thấy để sáng tỏ kiến tinh phi vật. Nếu kiến tinh có thể thấy được thì kiến tinh cũng là vật vậy, làm sao được làm chủ vạn tượng mà an lập cõi thế gian? 

Giảng giải:

Lược giải này vừa giảng sơ qua, vì kiến tinh là cái thể tinh thần, cái thể tinh thần khắp cả hư không và khắp thời gian. Mặc dầu, bây giờ mình chưa chứng quả, cũng như A Nan lúc đó chưa chứng quả vô lậu, nhưng tánh thấy không giãm bớt. Mình là phàm phu, mà tánh thấy cũng bằng Phật vậy, không giảm bớt.

 Lúc đó, A Nan không thể chỉ ra kiến tinh thì không tin được là kiến tinh của ta. Phật mới dùng vật trước mắt để chứng tỏ, chỉ rõ kiến tinh là thể tinh thần không phải vật. Nếu nói ta thấy ngươi thấy, hai người cùng thấy là thấy được kiến tinh của ta. Vậy cùng thấy đã thấy được rồi, lúc không cùng thấy thì phải thấy được chứ! Lúc ta không thấy thì ngươi cũng phải thấy kiến tinh của ta, vì cùng khắp không gian thì không thể mất. 

Sự thật thì chẳng phải vậy, cho nên lúc cùng thấy cũng không thể thấy được kiến tinh của ta. Vậy chứng tỏ kiến tinh của ta là phi vật, chẳng phải vật thì ngươi rồi, vì các vật tượng đều do ngươi thấy thì chẳng phải ngươi là ai? Tại sao lại còn mê hoặc mà lại hỏi ta? 

Chánh văn:

-Bạch Thế Tôn! Nếu tánh thấy này chắc là con chứ chẳng phải ai khác, thì khi con và Như Lai xem cung điện của Tứ Thiên vương và cung trăng, tánh thấy này cùng khắp cõi Ta Bà, khi lui về tịnh xá, chỉ thấy vườn chùa, trước cửa giảng đường chỉ thấy hành lang. 

Thế Tôn, tánh thấy như vậy, bản thể vốn cùng khắp một cõi, nay ở trong phòng thì chỉ một phòng, vậy là do tánh thấy rút lớn thành nhỏ, hay do vách tường làm cho ngăn cách? Nay con chẳng biết nghĩa này thế nào, mong Phật từ bi giảng rõ. 

Phật bảo A Nan: 

-Tất cả sự vật lớn, nhỏ trong, ngoài trên thế gian đều thuộc về tiền trần, chẳng nên nói rằng cái thấy có co giãn, ví như trong khuôn vuông thấy có hư không vuông, ta lại hỏi ngươi: Hư không vuông ở trong khuôn vuông này là vuông nhất định hay chẳng nhất định? 

Nếu vuông nhất định, đặt lại khuôn tròn thì hư không ấy chẳng thể tròn; nếu chẳng nhất định thì trong khuôn vuông chẳng có hư không vuông. Ngươi nói chẳng biết nghĩa này thế nào, nghĩa tánh như thế, đâu còn thế nào nữa!

 A Nan, nếu muốn hiển bày chẳng có vuông tròn, chỉ cần trừ bỏ khuôn vuông, hư không vốn chẳng có hình thể vuông tròn, chớ nên nói "trừ bỏ tướng vuông của hư không" (khuôn dụ cho vọng thức phân biệt, hư không dụ cho bản tâm). 

-Cũng như ngươi hỏi: Khi vào phòng rút cái thấy cho nhỏ lại, vậy khi nhìn mặt trời thì phải kéo cái thấy cho bằng với mặt trời sao? Nếu xây vách tường làm cho cái thấy bị ngăn cách, vậy khi đục một lỗ nhỏ, sao chẳng thấy dấu tích nối liền của sự thấy? Nghĩa này chẳng đúng. 

Tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến nay, mê mình là vật, lạc mất bản tâm, tùy vật xoay chuyển, nên thấy lớn thấy nhỏ. Nếu chuyển được vật thì đồng với Như Lai, ngồi bất động đạo tràng, thân tâm tròn đầy sáng tỏ, gồm mười phương quốc độ trên đầu một mảy lông. 

-Bạch Thế Tôn! Nếu kiến tinh này là diệu tánh của con, thì diệu tánh nay ở ngay trước mắt; diệu tánh đã là con thì thân tâm con lại là vật gì? 

-Nếu nói thân tâm chẳng phải diệu tánh thì nay thân tâm thật hay phân biệt sự vật; nếu nói trước mắt đều là diệu tánh, thì cái kiến tinh kia sao lại chẳng phân biệt được thân con? 

-Nếu nói kiến tinh vô hình, mà có tự thể đồng như các vật, có cảm ứng mới sanh khởi sự dụng kia, thật là bản tâm của con thì phải cho con thấy ngay, vậy kiến tinh trước mắt là thật con, còn thân này thì chẳng phải con, thế thì kiến tinh đã ở bên ngoài thân, sao được gọi là diệu tánh của con? Có khác gì Như Lai trước kia đã hỏi gạn rằng: "Vật thấy được con"? Mong Phật từ bi khai thị cho kẻ chưa ngộ. 

Phật bảo A Nan: 

-Nay ngươi nói kiến tinh ở trước mắt ngươi, nghĩa này chẳng đúng. Nếu thật ở trước mắt ngươi mà ngươi thật thấy được, thì kiến tinh này đã có phương sở, chẳng phải không chỉ ra được. 

Nay ta cùng ngươi ngồi trong rừng Kỳ Đà, xem khắp rừng suối và điện đường, trên từ nhật nguyệt, dưới đến sông Hằng, ngươi hãy ở trước tòa Sư Tử của ta, dùng tay chỉ rõ đủ thứ tướng ấy, chỗ mát là rừng, sáng là mặt trời, ngăn ngại là vách, thông là hư không, cho đến cỏ cây, chỉ mành, lớn nhỏ dù khác, hễ có hình tướng thì đều chỉ ra được. 

Nếu kiến tinh thật ở trước mắt ngươi, thì ngươi phải dùng tay xác thật chỉ rõ cái nào là kiến tinh. A Nan nên biết, nếu hư không là kiến tinh thì cái nào là hư không? Nếu vật là kiến tinh thì cái nào là vật? Ngươi hãy ở nơi vạn tượng phân tích kỹ càng, chỉ cho ta xem cái kiến tinh sáng tỏ ấy, rõ ràng đồng như các vật, chẳng được lầm lẫn! 

A Nan nói: 

-Nay con ở giảng đường này; nhìn ra từ sông Hằng, trên đến nhật nguyệt, tùy nơi tay chỉ mắt nhìn, những gì chỉ được đều là vật chứ chẳng phải kiến tinh. Thế Tôn, như lời Phật vừa nói; chẳng những hàng hữu lậu sơ học Thanh Văn như chúng con, cho đến Bồ Tát, cũng chẳng thể ở nơi vạn tượng chỉ ra cái kiến tinh lìa tất cả vật riêng có tự tánh. 

Phật nói: 

-Đúng thế! Đúng thế! 

Phật lại bảo A Nan: 

-Như lời ngươi nói, chẳng có kiến tinh lìa tất cả vật riêng có tự tánh, vậy thì trong các vật mà ngươi chỉ, chẳng có cái nào là kiến tinh. Nay ta lại bảo ngươi: Ngươi và Như Lai ngồi trong rừng Kỳ Đà, xem từ rừng cây cho đến nhật nguyệt, đủ thứ hình tướng sai biệt, nhất định chẳng có kiến tinh cho ngươi chỉ, ngươi hãy phát minh nơi những vật kể trên cái nào chẳng phải kiến tinh? 

A Nan đáp: 

-Con xem khắp cả rừng Kỳ Đà, thật chẳng biết trong đó cái nào chẳng phải kiến tinh. Tại sao? Nếu cây chẳng phải kiến tinh thì sao lại thấy cây? Nếu cây là kiến tinh thì chẳng nên gọi là cây; như vậy cho đến nếu hư không chẳng phải kiến tinh thì sao lại thấy hư không? Nếu hư không là kiến tinh thì chẳng nên gọi là hư không. Con lại suy xét kỹ càng, phát minh trong vạn tượng không vật nào chẳng phải kiến tinh cả. 

Phật nói: 

-Đúng thế! Đúng thế! 

Bấy giờ, những người chưa đến bậc vô học trong chúng nghe Phật nói vậy, ngơ ngác chẳng hiểu đầu đuôi của nghĩa này, đánh mất lý lẽ đã hiểu biết từ xưa nay, bỗng nhiên cảm thấy run sợ, Như Lai biết họ băn khoăn lo sợ, sanh lòng thương xót, an ủi A Nan và đại chúng: 

-Các thiện nam tử, lời chơn thật của Vô Thượng Pháp Vương chaúng dối chẳng vọng, như sở như thuyết, chẳng phải như bốn thứ tà thuyết càn loạn bất tử của bọn Mạc Già Lê, các ngươi hãy suy xét kỹ, chớ nên làm mất lòng tự tin! 

Giảng giải: 

A Nan nghe Phật nói kiến tinh chẳng phải vật tức là ngươi. Nhưng thói quen đã lâu đời cho cái thấy là con mắt, nhưng sự thật tánh thấy không phải con mắt; tánh thấy là thể tinh thần, vì con mắt là vật chất có thể chỉ ra tánh thấy khắp không gian, nhưng A Nan vẫn còn nghi ngờ.

-Bạch Thế Tôn! Nếu tánh thấy này chắc là con, chứ chẳng phải khác thì con và Như Lai xem  cung điện của Tứ Thiên Vương và cung trăng, tánh thấy này cùng khắp các cõi Ta Bà, khi lui về tịnh xá chỉ thấy vườn chùa, trước cửa giảng đường chỉ thấy hành lang.

Thế Tôn, tánh thấy như vậy bản thể vốn cùng khắp một cõi, nay trong phòng thì chỉ thấy khắp 1 phòng, vậy là do tánh thấy có rút lớn thành nhỏ hay do vách tường làm cho ngăn cách? Nay con chẳng biết nghĩa này thế nào, mong Phật từ bi giảng rõ.

Phật bảo A Nan: 

Tất cả sự vật lớn nhỏ trong ngoài trên thế gian đều thuộc về tiền trần, chẳng nên nói rằng cái thấy có co giản, ví như trong khuôn vuông thấy có hư không vuông, ta lại hỏi ngươi: Hư không vuông ở trong khuôn vuông này là vuông nhất định hay chẳng nhất định? Nếu vuông nhất định đặt lại khuôn tròn thì hư không ấy chẳng thể tròn, nếu chẳng nhất định thì trong khuôn vuông chẳng có hư không vuông.
Như cái khuôn vuông này hư không vuông, có nhất định không? Nếu hư không vuông có nhất định, lập ra khuôn tròn thì hư không chẳng thể tròn; đã nói hư không ở khuôn vuông thì nói hư không vuông, còn hư không ở trong khuôn tròn thì nói hư không tròn. Vậy không có nhất định, như thế vuông tròn là do cái khuôn chứ không phải do hư không có vuông tròn. 

Cho nên, không bỏ hình dung của hư không, vì hư không đâu có vuông tròn mà phải trừ bỏ! Chỉ cần bỏ khuôn tròn vuông; hư không vốn không có vuông tròn, vậy vật tượng có sai biệt  là do vật tượng. Hư không dụ cho tánh thấy, khuôn vuông tròn dụ cho vật tượng.

Ngươi nói chẳng biết nghĩa này thế nào, nghĩa tánh như thế đâu còn thế nào nữa! A Nan, nếu muốn hiển bày chẳng có vuông tròn, chỉ cần trừ bỏ khuôn vuông tròn, hư không vốn chẳng có hình thể vuông tròn chớ nên nói: “Trừ bỏ tướng vuông tròn của hư không” (khuôn dụ cho vọng thức phân biệt, hư không dụ cho bản tâm).

Như ngươi hỏi:

-Khi vào phòng rút cái thấy cho nhỏ lại, vậy khi nhìn mặt trời thì phải kéo cái thấy cho bằng với mặt trời sao? Nếu xây vách tường làm cho cái thấy bị ngăn cách, vậy khi đục lỗ nhỏ, sao chẳng thấy dấu tích nối liền của sự thấy? 

Vì tánh thấy không phải vật, không thể rút lớn thành nhỏ, rút nhỏ thành lớn, nó luôn luôn khắp không gian. 
Nghĩa này chẳng đúng, tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến nay, mê mình là vật lạc mất bản tâm, tùy vật xoay chuyển, nên thấy lớn nhỏ. 

Bây giờ mình thấy có trước có sau, có lớn có nhỏ, đều do tập khí từ vô thỉ, mình mê là vật, rồi bị nó chuyển, làm lạc mất bản tâm, không nhìn bản tâm là mình, lại nhìn vật là mình thì mới có sự lớn nhỏ trong ngoài, có đủ thứ phân biệt. 

Nếu chuyển được vật thì đồng với Như Lai, ngồi bất động đạo tràng thân tâm tràn đầy sáng tỏ, gồm 10 phương quốc độ trên đầu 1 mảy lông. 

Vì bản thể Phật tánh khắp hư không thì đâu có trong ngoài lớn nhỏ, khắp không gian thì đâu có trước sau! Ở đây chỉ nói đến không gian chưa nói đến thời gian.

-Bạch Thế Tôn! Nếu kiến tinh này là diệu tánh của con, thì diệu tánh này ở ngay trước mặt, diệu tánh đã là con thì thân tâm con là vật gì? 

A Nan còn chưa tin được bản tâm, nói diệu tánh của con, nhưng mà con không có thấy được, còn thân tâm của con phân biệt được tất cả lớn nhỏ trong ngoài, nếu Phật nói tánh thấy là diệu tánh của con thì thân tâm của con là vật gì?

Nếu nói thân tâm chẳng phải diệu tánh thì nay thân tâm thật hay phân biệt sự vật, nếu nói trước mắt là diệu tánh (vì khắp hư không) thì kiến tinh kia sao chẳng phân biệt được thân con? 

Như A Nan nói diệu tánh của con, còn thân tâm này sao không phải là con? Vậy làm sao tin được?

Nếu nói kiến tinh vô hình, mà có tự thể đồng như các vật; có mới sanh khởi dụng kia thật là bản tâm của con, thì phải cho con thấy ngay. Vậy kiến tinh trước mắt là thật con, còn thân này thì chẳng phải con. 

Thế thì, kiến tinh ở bên ngoài thân, sao được gọi là diệu tánh của con? Có khác gì Như Lai trước kia có hỏi gạn rằng: Vật thấy được con? Mong Phật từ bi khai thị cho kẻ chưa ngộ.

Phật bảo A Nan:

-Nay ngươi nói kiến tinh ở trước mắt ngươi, nghĩa này chẳng đúng. Kiến tinh là thể tinh thần cùng khắp hư không, nếu nói ở trước mắt ngươi là không đúng; thật ở trước mắt ngươi mà ngươi thấy được thì kiến tinh này có phương sở, chẳng phải không chỉ ra được! 

Nay ta và ngươi ngồi trong rừng Kỳ Đà, xem khắp rừng suối và điện đường trên từ nhật nguyệt, dưới đến sông Hằng, ngươi hãy ở trước tòa sư tử của ta, dùng tay chỉ rõ đủ thứ tướng ấy, chỗ mát là rừng, sáng là mặt trời, ngăn ngại là vách, thông là hư không, cho đến cỏ cây chỉ mành, lớn nhỏ dù khác, hễ có đủ hình tướng thì đều chỉ ra được. 

Nếu kiến tinh thật ở trước mắt ngươi thì ngươi phải dùng tay xác thật chỉ rõ cái nào là kiến tinh. A Nan nên biết, nếu hư không là kiến tinh thì cái nào là hư không? Nếu vật là kiến tinh thì cái nào là vật? Ngươi hãy ở nơi vạn tượng phân tích kỹ càng, chỉ cho ta xem cái kiến tinh sáng tỏ ấy, rõ ràng đồng như các vật, chẳng được lầm lẫn!

Nếu nói kiến tinh trước mắt thì phải chỉ cái nào? Như cái tách, trái cây,… phải chỉ rõ như vật tượng trước mắt vậy.

A Nan nói:

-Nay con ở giảng đường này, nhìn xa từ sông Hằng, trên đến nhật nguyệt tùy nơi tay chỉ mắt nhìn, những gì chỉ được đều là vật chứ chẳng phải kiến tinh. Thế Tôn, như lời Phật vừa nói: Chẳng những hàng hữu lậu sơ học Thanh Văn như chúng con, cho đến Bồ Tát cũng chẳng thể ở nơi vạn tượng chỉ ra cái kiến tinh lìa tất cả vật riêng có tự tánh.

A Nan nói với Phật: Từ trên trời cho đến trên trái đất, cái nào chỉ được đều là vật, chứ chẳng phải kiến tinh, không những tụi con chưa chứng quả vô lậu, tức là còn hữu lậu, những Bồ Tát đã chứng quả vô lậu  cũng còn chỉ không ra, chẳng thể ở nơi kiến tinh lìa tất cả vật riêng có tự thể (tự tánh).

Phật nói: Đúng thế! Đúng thế!

Phật lại bảo A Nan: 

-Như lời ngươi nói, chẳng có kiến tinh lìa tất cả vật riêng có tự tánh, vậy thì trong các vật mà ngươi chỉ, chẳng có cái nào là kiến tinh. Nay ta lại bảo ngươi: Ngươi và Như Lai ngồi trong rừng Kỳ Đà xem từ rừng cây cho đến nhật nguyệt đủ thứ hình tướng sai biệt, nhất định chẳng có kiến tinh cho ngươi chỉ, ngươi hãy phát minh nơi những vật kể trên cái nào chẳng phải kiến tinh?

Hồi nãy ngươi chỉ được đều là vật, chẳng phải kiến tinh, Phật hỏi lại: Ngươi nói tất cả vật đều không phải là kiến tinh, ngươi hãy xem lại từ trên trời dưới đất, tất cả vật ngươi nói cái nào chẳng có kiến tinh thì ngươi hãy chỉ ra?

A Nan đáp:

-Con xem khắp cả rừng Kỳ Đà thật chẳng biết trong đó cái nào chẳng phải kiến tinh. Tại sao? Nếu cây chẳng phải kiến tinh thì sao lại thấy cây? Nếu cây là kiến tinh thì chẳng nên gọi là cây? 

Như cái tách này, nếu cái tách này chẳng phải kiến tinh thì làm sao thấy được cái tách? Nếu cái tách là kiến tinh thì không nên gọi là cái tách.

 Như vậy cho đến hư không chẳng phải kiến tinh thì sao lại thấy hư không? Nếu hư không là kiến tinh thì chẳng nên gọi là hư không (bởi vì hư không đã là kiến tinh rồi). Con lại suy xét kỹ càng, phát minh trong vạn tượng không vật nào chẳng phải kiến tinh cả. 

Đối với hồi nãy thì mâu thuẫn, vì nói tất cả vật chẳng phải kiến tinh, nhưng bây giờ tất cả chỗ nào đều là kiến tinh cả, bởi vì không có kiến tinh thì không thấy được, đã thấy được thì kiến tinh tiếp xúc với vật đó.

Phật nói: Đúng thế! Đúng thế !

Bây giờ, những người chưa đến bậc vô học trong chúng nghe Phật nói vậy ngơ ngác chẳng hiểu đầu đuôi của nghĩa này. 

Bởi vì mâu thuẫn, hồi nãy nói tất cả vật không phải kiến tinh, bây giờ nói tất cả vật đều là kiến tinh. Người đã chứng quả vô học thì biết được và người chưa chứng quả vô học thì ngơ ngác nghĩa này, đánh mất lý lẽ hiểu biết từ xưa nay. 

Vì lý lẽ hiểu biết từ xưa nay thấy bằng con mắt, con mắt thì chỉ được, vì ở trong thân; còn kiến tinh không ở trong thân, thành ra không hiểu được nghĩa này, lý lẽ hiểu biết từ  xưa đến nay bị lật đổ hết.

Bỗng nhiên cảm thấy run sợ. Như Lai biết họ băn khoăn lo sợ, sanh lòng thương xót an ủi A Nan và Đại chúng:

-Các thiện nam tử! Lời chân thật của Vô Thượng Pháp Vương chẳng dối chẳng vọng, như sở như thuyết, chẳng phải như bốn thứ tà thuyết càn loạn bất tử của bọn Mạc Già Lê, các ngươi hãy suy xét kỹ, chớ nên làm mất lòng tự tin!

Lược giải:

Tại sao ngơ ngác chẳng biết đầu đuôi của nghĩa này? Vì trước thì nói kiến tinh chẳng phải vật, sau lại nói kiến tinh đều là vật; trước nói diệu tánh hiện tiền, sau lại nói chẳng thể chỉ ra, nên ngơ ngác đánh mất lý lẽ đã hiểu biết từ xưa nay vậy. 

"Nói lời chơn thật, như sở như thuyết" v.v... tức ngũ ngữ trong Kinh Kim Cang. Phật thuyết chơn ngữ là nghĩa chung với nhị thừa (có sanh tử để diệt, có Niết Bàn để chứng); thật ngữ là nghĩa chung với Bồ Tát (nghĩa đại thừa, sanh tử và Niết Bàn đều như hoa đốm trên không); như ngữ là nghĩa chẳng chung với tam thừa (trí huệ chẳng thể suy lường, lời nói chẳng thể diễn tả); vô thật vô hư; vô hư nên bất cuoáng ngữ (chẳng dối), vô thật nên bất dị ngữ (thấy trước việc chưa đến gọi là Bất Dị). Ở đây chỉ dùng hai chữ "chẳng vọng" để bao gồm. 
Bà Sa Luận nói: Ngoại đạo chấp cõi trời thường trụ gọi là Bất tử, cho "chaúng đáp càn” được sanh cõi trời ấy, nếu thật chẳng biết mà đáp càn, sợ thành càn loạn, nên có ai hỏi thì đáp rằng "Lời bí mật chẳng nên nói hết", hoặc đáp chẳng định. Phật quở rằng: Họ thật là kẻ càn loạn vậy.

Giảng giải:

 Tại sao bậc hữu học nghe Phật thuyết pháp lại ngơ ngác chẳng biết đầu đuôi nghĩa này? Vì trước kia nói kiến tinh chẳng phải vật, sau lại nói kiến tinh đều là vật, thì mâu thuẫn; trước lại nói diệu tánh hiện tiền, sau lại nói không thể chỉ ra, nên ngơ ngác đánh mất lý lẽ đã hiểu biết từ xưa nay.

Nói lời chơn thật, như sở như thuyết tức ngũ ngữ trong kinh Kim Cang: 

Phật thuyết chơn ngữ là nghĩa chung Thanh Văn và Duyên Giác có tư tưởng chấp thật để phá, rồi có Niết Bàn để chứng. Thật ngữ là nghĩa chung với Bồ Tát không có tư tưởng chấp thật, sanh tử và Niết Bàn như hoa đốm trên hư không là Đại thừa. 

Như ngữ là nghĩa chẳng chung với tam thừa tức là Tiểu thừa, Trung thừa, Đại thừa, trí tuệ chẳng thể suy lường, lời nói chẳng thể diễn tả.

Vô thật vô hư gọi là bất cuống ngữ (chẳng dối), Vô thật nên bất dị ngữ (thấy việc chưa đến gọi là bất dị). Ở đây chỉ dùng hai chữ “chẳng vọng” để bao gồm.

Bà Sa Luận nói:  Ngoại đạo chấp cõi đời thường trụ gọi là bất tử. Cho “chẳng đáp càn” được sanh cõi trời ấy, nếu chẳng biết mà đáp càn, sợ thành càn loạn, nên có ai hỏi thì đáp rằng “lời bí mật chẳng nên nói hết” hoặc đáp chỉ định. Phật quở rằng: Họ thật kẻ càn làm loạn vậy.

Chánh văn: 

Lúc ấy, Pháp Vương Tử Văn Thù Sư Lợi thương xót tứ chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, chắp tay cung kính bạch Phật rằng: 

-Đại chúng trong Hội này chẳng ngộ hai nghĩa Thị, Phi Thị với Kiến Tinh và Sắc Không của Như Lai vừa hiển bày. Thế Tôn, những hiện tượng sắc không nơi trước mắt, nếu là kiến tinh thì phải chỉ ra được, nếu chẳng phải kiến tinh thì chẳng thể thấy. Nay chẳng biết nghĩa ấy do đâu, nên có kinh sợ chứ chẳng phải vì xưa kia thiện căn thiếu kém, mong Như Lai từ bi, phát minh những vật tượng và kiến tinh, trong đó chẳng có Thị và Phi Thị kia vốn là vật gì? 

Phật bảo Văn Thù và Đại Chúng: 

-Mười phương Như Lai và Đại Bồ Tát tự trụ nơi chánh định, thoát khỏi căn trần, kiến tinh (năng kiến) với sắc không (sở kiến), ý năng tưởng, tướng sở tưởng vốn chẳng thật có, cũng như hoa đốm trên không, vậy kiến tinh và sắc không vốn là diệu thể trong sạch sáng tỏ của Vô Thượng Bồ Đề, sao lại có Thị hay Phi Thị ở trong đó? Văn Thù, nay ta hỏi ngươi, như ngươi là Văn Thù, lại có Văn Thù nào Thị Văn Thù hay Phi Thị Văn Thù chăng? 

-Bạch Thế Tôn! Đúng thế, con là chơn Văn Thù, chẳng Thị Văn Thù. Tại sao? Nếu có Thị tức có hai Văn Thù, mà nay chẳng phải không có Văn Thù, trong đó thật chẳng có hai tướng Thị và Phi. 

Phật nói: 

-Bản kiến diệu minh với hư không và lục trần cũng đều như thế, vốn là chơn tâm sáng tỏ, tròn đầy trong sạch của Vô Thượng Bồ Đề, vọng thành sắc không và kiến văn, như đệ nhị nguyệt, vậy cái nào là Thị nguyệt, cái nào là Phi nguyệt? Văn Thù, chỉ một chơn nguyệt, trong đó vốn chẳng Thị nguyệt Phi nguyệt. Cho nên nay ngươi phát minh đủ thứ kiến tinh và cảnh trần, gọi là vọng tưởng, chẳng thể chỉ ra Thị hay Phi Thị. Vì giác tánh tinh diệu sáng suốt, nên khiến ngươi được vượt khỏi "chỉ và phi chỉ" vậy. 

A Nan bạch Phật rằng: 

-Đúng như Pháp Vương nói, Bản Giác khắp mười phương thế giới, trạm nhiên thường trụ, tánh chẳng sanh diệt. Vậy với cái chấp Minh Đế của bọn Sa Tỳ Ca La và những ngoại đạo nói có Chơn Ngã cùng khắp mười phương có gì sai biệt? Thế Tôn đã từng ở núi Lăng Già giảng dạy nghĩa này cho Đại Huệ rằng: "Bọn ngoại đạo thường nói tự nhiên, ta thuyết nhân duyên, chẳng phải cảnh giới của họ". 

Nay con xét thấy cái giác tánh tự nhiên này phi sanh phi diệt, xa lìa tất cả hư vọng điên đảo, hình như chẳng phải nhân duyên, vậy so với cái thuyết tự nhiên của bọn ngoại đạo như thế nào? Xin Phật khai thị để cho chúng con khỏi lọt vào bọn tà, được giác tánh chơn thật sáng tỏ của diệu tâm. 

Phật bảo A Nan: 

-Nay ta dùng phương tiện chơn thật như vậy khai thị cho ngươi, ngươi còn chưa ngộ, lại lầm cho là tự nhiên. A Nan, nếu chắc là tự nhiên thì tự phải xét rõ cái thể của tự nhiên, ngươi hãy quán xét trong bản kiến diệu minh này, lấy gì làm tự thể? Lấy sáng làm tự thể hay lấy tối làm tự thể? Lấy rỗng không làm tự thể hay lấy ngăn bít làm tự thể? Nếu sáng là tự thể thì chẳng thể thấy tối, nếu rỗng không là tự thể thì chẳng thể thấy ngăn bít, như vậy cho đến nếu lấy tướng tối làm tự thể, thì khi sáng, tánh thấy đã đoạn diệt, sao lại thấy sáng? 

A Nan nói: 

-Nếu bản tánh diệu kiến này chẳng phải tự nhiên, nay con phát minh là do nhân duyên sanh, nhưng tâm còn chưa rõ. Xin hỏi Như Lai: Nghĩa này như thế nào mới hợp với tánh nhân duyên? 

Phật bảo: 

-Ngươi nói nhân duyên, ta lại hỏi ngươi, nay ngươi nhân kiến tinh mà có tánh thấy hiện tiền, vậy cái thấy này nhân sáng có thấy hay nhân tối có thấy? Nhân rỗng không có thấy hay nhân ngăn bít có thấy? 

-A Nan, nếu nhân sáng có thấy thì chẳng thể thấy tối; nếu nhân tối có thấy thì chẳng thể thấy sáng. Như vậy cho đến nhân rỗng không, nhân ngăn bít, đều đồng như sáng tối. 

-Lại nữa, A Nan, kiến tinh này duyên sáng có thấy hay duyên tối có thấy? Duyên rỗng không có thấy hay duyên ngăn bít có thấy? 

-A Nan, nếu duyên rỗng không có thấy thì chẳng thể thấy ngăn bít; nếu duyên ngăn bít có thấy thì chẳng thể thấy rỗng không. Như vậy cho đến duyên sáng duyên tối, đều đồng như rỗng không và ngăn bít. 

-Nên biết cái bản giác diệu minh này phi nhân duyên, phi tự nhiên, phi bất tự nhiên. Vô Phi và Bất Phi, Vô Thị và Phi Thị, lìa tất cả tướng, là tất cả pháp. Nay ngươi sao lại ở trong đó dùng chấp tâm đuổi theo những danh tướng hí luận của thế gian, vọng khởi phân biệt, cũng như dùng tay nắm bắt hư không, chỉ tự lao nhọc, hư không làm sao cho ngươi bắt được? 

-Bạch Thế Tôn! Nếu bản kiến diệu minh phi nhân phi duyên, tại sao Thế Tôn thường nói với các Tỳ Kheo rằng: Tánh thấy gồm đủ bốn thứ nhân duyên, tức là nhân không, nhân sáng, nhân tâm, nhân mắt, vậy nghĩa này thế nào? 

Phật nói: 

-Ta thuyết những tướng nhân duyên của thế gian chẳng phải đệ nhất nghĩa. A Nan, ta lại hỏi ngươi: Người thế gian nói "tôi thấy", vậy cho thế nào gọi là thấy, thế nào gọi là chẳng thấy? 

A Nan đáp: 

-Người thế gian nhờ ánh sáng nhật nguyệt và đèn, thấy tất cả tướng gọi là thấy, nếu không có ba thứ ánh sáng này thì chẳng thể thấy. 

-A Nan, nếu lúc không sáng gọi là chẳng thấy, thì chẳng thể thấy tối, nếu thấy tối chỉ là không sáng thì sao gọi là chẳng thấy? 

-A Nan, nếu lúc tối chẳng thấy sáng gọi là chẳng thấy; mà lúc sáng chẳng thấy tối cũng phải gọi là chẳng thấy, vậy thì hai tướng sáng tối đều gọi là chẳng thấy. 

-Do hai tướng sáng tối tự đoạt mất nhau, chẳng phải tánh thấy của ngươi tạm thời không có. Vậy thì cả hai đều là thấy, sao nói chẳng thấy? 

-A Nan nên biết, trong lúc thấy sáng, kiến tinh chẳng phải sáng; trong lúc thấy tối, kiến tinh chẳng phải tối; trong lúc thấy rỗng không kiến tinh chẳng phải rỗng không; trong lúc thấy ngăn bít, kiến tinh chẳng phải ngăn bít, bốn thứ nghĩa này vốn saün như vậy. 

-Lại ngươi nên biết: Kiến kiến chi thời, kiến phi thị kiến, kiến do ly kiến, kiến bất năng cập, tại sao lại nói nhân duyên, tự nhiên và tướng hòa hợp? Hàng Thanh Văn như các ngươi trí kém tâm hẹp, chẳng thông đạt thật tướng trong sạch, nay ta dạy ngươi nên khéo suy tư, hãy siêng năng tinh tấn, thẳng vào diệu đạo Bồ Đề. 

Giảng giải:

Lúc ấy, pháp vương tử Văn Thù Sư Lợi thương xót tứ chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ chân Phật, chấp tay cung kính bạch Phật rằng:

-Đại chúng trong hội này, chẳng ngộ hai nghĩa Thị, Phi Thị với kiến tinh và sắc không của Như Lai vừa hiển bày. Thế Tôn, những hiện tượng sắc không nơi trước mắt, nếu là kiến tinh chỉ ra được, nếu chẳng phải kiến tinh thì chẳng thể thấy. 

Nay chẳng biết nghĩa đây do đâu, nên có kinh sợ chứ chẳng phải xưa kia thiện căn thiếu kém, mong Như Lai từ bi phát minh, những vật tượng và kiến tinh, trong đó chẳng có Thị và Phi Thị kia vốn là vật gì? 

Thị là đúng, Phi Thị là không đúng. Ở trên phân biệt: Kiến tinh là năng thấy, sắc không là sở thấy. Vì người đời cứ chấp cái thấy là con mắt, con mắt thì dính với thân mình, đã có thói quen từ lâu đời. 

Lại nói kiến tinh không phải con mắt, mà ở ngoài thân mình, cùng khắp không gian, thân mình cũng có và ngoài thân mình cũng có, nên người ta khó hiểu khó tin. 

Cho nên, không biết nghĩa đầu đuôi như thế nào? Không phải vì thiện căn thấp kém, Phật tánh của ai cũng đều như Phật. Mong Như Lai từ bi thuyết rõ những thị phi sắc không, kiến tinh để cho đại chúng được hiểu biết.

Phật bảo Văn Thù và đại chúng:

Mười phương Như Lai và đại Bồ Tát tự trụ nơi chánh định. 

Chánh định là tam muội, căn là lục căn, trần là lục trần. Chưa chứng quả còn phải bị lục căn lục trần bó buộc, chưa thoát được. Tất cả Bồ Tát và chư Phật luôn ở trong chánh định, không dính líu với căn trần, tức là thoát khỏi căn trần. 

Kiến tinh (năng kiến) với sắc không (sở kiến), ý năng tưởng, tướng sở tưởng vốn chẳng thật có, cũng như hoa đốm trên hư không.

Lục căn, lục trần đều do vọng tâm biến hiện. Tất cả thấy được núi sông đất đai, vũ trụ vạn vật, đều là do kiến bệnh mới thấy. Nếu không có kiến bệnh thì không thấy, như con mắt bệnh mới thấy hoa đốm trên  hư không. 

Vậy kiến tinh và sắc không vốn là diệu thể trong sạch sáng tỏ của Vô thượng Bồ Đề, sao lại có Thị và Phi Thị ở trong đó?

Thị là đúng, phi là sai, đúng sai là tương đối. Vô Thượng Bồ Đề là giác ngộ, là Phật tánh, là bất nhị không có tương đối thì không có đúng sai, cho nên không có Thị và Phi Thị ở trong đó.

Phật gọi Văn Thù: Nay ta hỏi ngươi, ngươi là Văn Thù, lại có Văn Thù nào Thị Văn Thù hay Phi Thị Văn Thù chăng? 

Bạch Thế Tôn! Đúng thế, con là chơn Văn Thù, chẳng Thị Văn Thù. Tại sao? Nếu có Thị tức là hai Văn Thù, mà nay chẳng phải không có Văn Thù, trong đó chẳng có hai tướng Thị và Phi. 

Phật nói:

-Bản kiến diệu minh với hư không và lục trần cũng đều như thế, vốn là chơn tâm sáng tỏ, tràn đầy trong sạch của Vô Thượng Bồ Đề, vọng thành sắc không và kiến văn như đệ nhị nguyệt.

Bản kiến tức là tự tánh, có sức thấy gọi là bản kiến, có sức nghe gọi là bản văn, có sức biết gọi là bản tri. Phàm có chữ bản đều là bản tâm, bản tánh, cũng gọi là Vô Thượng Bồ Đề. Tất cả đầy đủ trong sạch, vì do vọng tâm biến hiện thành có sắc không, sắc là vật chất, không là hư không. 

Kiến văn là lục căn tức là sự thấy nghe, như đệ nhị nguyệt không phải là đệ nhất nguyệt, đệ nhất nguyệt là bản tâm, là thực tế. Đệ nhị nguyệt biến hiện là vọng.

Vậy cái nào là Thị nguyệt, cái nào là Phi nguyệt? Văn Thù, chỉ có 1 chơn nguyệt, trong đó vốn không có Thị nguyệt và Phi nguyệt. Cho nên, nay ngươi phát minh đủ thứ kiến tinh và cảnh trần, gọi là vọng tưởng chẳng thể chỉ ra Thị và Phi thị.

Tất cả thấy cái này cái kia đều do con mắt bệnh như thấy hoa đóm trên hư không vậy, kiến tinh là bệnh nên mới thấy, không bệnh thì không thấy. Bởi vì những cái này đều do vọng tâm biến hiện. Một thức biến hiện là nhắm mắt chiêm bao, hai thức cùng biến hiện là mở mắt chiêm bao; có nhắm mắt chiêm bao, nên biết cảnh mở mắt chiêm bao. Tất cả kiến văn giác tri, lục căn tiếp xúc lục trần đều có cảnh mở mắt chiêm bao, mở mắt chiêm bao là do kiến bệnh mới có.

 Chỉ có mặt trăng chơn thật, không có mặt trăng đúng và không có mặt trăng sai, cũng như chỉ có 1 Văn Thù, chứ không có Văn Thù đúng và Văn Thù sai. Cho nên, gọi là vọng tưởng chẳng thể chỉ ra thị hay phi thị.

Vì giác tánh tinh diệu sáng suốt, nên khiến ngươi được vượt khỏi “chỉ” và “phi chỉ” vậy.

Bản thể tự tánh vốn là tinh diệu sáng suốt không có thể dùng lời nói để diễn tả được, nên khiến người ta vượt khỏi “chỉ” và “phi chỉ”.

 A Nan bạch Phật rằng: Đúng như pháp vương nói, bản giác khắp 10 phương thế giới, trạm nhiên thường trụ (không hoại) tánh không có sanh diệt (vô thỉ vô chung). 

Vậy với cái chấp Minh Đế của bọn Sa Tỳ Ca La những ngoại đạo nói có chơn ngã cùng khắp 10 phương có gì sai biệt? Thế Tôn đã từng ở núi Lăng Già giảng dạy nghĩa này cho Đại Huệ (đại diện đương cơ trong kinh Lăng Già) rằng: “Bọn ngoại đạo thường nói tự nhiên, ta thuyết nhân duyên, chẳng phải cảnh giới của họ”. 

Nay con xét thấy cái giác tánh tự nhiên này phi sanh phi diệt, xa lìa tất cả hư vọng điên đảo, hình như chẳng phải nhân duyên, vậy so với cái thuyết tự nhiên của bọn ngoại đạo như thế nào? Xin Phật khai thị để cho chúng con khỏi lọt vào bọn tà, được giác tánh chơn thật của diệu tâm.

Phật bảo A Nan:

-Nay ta dùng phương tiện chân thật như vậy để khai thị cho ngươi, ngươi còn chưa ngộ, lại lầm cho là tự nhiên. A Nan, nếu chắc là tự nhiên ngươi hãy xét rõ cái thể của tự nhiên, ngươi hãy quán xét trong bản kiến diệu minh này, lấy gì làm tự thể?

Vì kiến tinh phân biệt sáng, phân biệt tối, phân biệt rỗng không, phân biệt ngăn bít, 4 tướng này khác nhau, do kiến tinh mà phân biệt. Nếu ngươi nói tự nhiên thì phải có bản thể tự nhiên. Vậy lấy cái nào làm bản thể tự nhiên? Không có sáng thì tối, có vách tường thì ngăn bít, mở cửa ra thì thông. 

Nếu lấy sáng làm tự thể thì bản thể đã sáng rồi, làm sao tối được? Nếu lấy tối làm tự thể thì bản thể đã là tối rồi, làm sao sáng được? Bởi vì sáng với tối đoạt mất lẫn nhau. Lấy thông và nghẽn cũng vậy. Lấy rỗng không làm tự thể hay lấy ngăn bít làm tự thể, thì khi sáng, tánh thấy đã đoạn diệt, sao lại thấy sáng? (Lấy cái nào làm tự thể cũng không được).

A Nan nói:

-Nếu bản tánh diệu kiến này chẳng phải tự nhiên, nay con phát minh là do nhân duyên sanh, nhưng tâm con còn chưa rõ. Xin hỏi Như Lai nghĩa này như thế nào mới hợp với tánh nhân duyên? (Nói tự nhiên thì Phật bác không đúng thì A Nan lại nói nhân duyên).

Phật bảo:

-Ngươi nói nhân duyên, ta lại hỏi ngươi, nay ngươi nhận kiến tinh mà có tánh thấy hiện tiền, vậy cái thấy này nhân sáng có hay nhân tối có thấy? Nhân rỗng không có thấy hay nhân bít có thấy? 

Nhân kiến tinh mới thấy 4 tướng: Sáng, tối, rỗng không, ngăn bít. Nếu nói nhân duyên thì nhân sáng mới thấy, nhân tối mới thấy, nhân rỗng không có thấy hay nhân ngăn bít có thấy? Nếu nhân sáng có thấy thì không có tối, nhân rỗng không có thấy thì không có ngăn bít, hai cái kia cũng như vậy.

Lại nữa, A Nan kiến tinh này duyên sáng có thấy hay duyên tối có thấy? Duyên rỗng không có thấy hay duyên ngăn bít có thấy? 

Nói nhân nói duyên thì cũng vậy. Duyên là trợ duyên sanh ra cái thấy. Nếu duyên sáng có thấy thì không thấy tối. Duyên rỗng không có thấy thì không thấy ngăn bít, cũng như ở trên nói vậy.

Nên biết các bản giác diệu minh này phi nhân duyên, phi tự nhiên, phi bất tự nhiên. vô phi và bất phi, vô thị và phi thị, lìa tất cả tướng là tất cả pháp.

Tất cả tương đối đều không phải, tự tánh cùng khắp không gian và khắp thời gian, không có thể nói là 1, làm sao có tương đối, có đúng sai, có tự nhiên có nhân duyên, hay bất tự nhiên, bất nhân duyên đều là không phải. Lìa tất cả tướng là tất cả pháp, đó là nghĩa  vô sở trụ. Nếu dính vào tướng nào đều không phải.

Nay ngươi sao lại ở trong đó dùng chấp tâm đuổi theo các danh tướng, lý luận của thế gian.

 Lời nói và suy nghỉ của thế gian gọi thế lưu bố tưởng, phàm phu ở trong thế lưu bố tưởng sanh ra trước tưởng, tức cho là thật. Thế là thế gian, lưu là lưu hành, bố là phổ biến, tưởng là tư tưởng. 

Trong ngũ ấm thuộc tưởng ấm, vì có tưởng ấm nên có suy nghĩ sai lầm  mới cho là nhân duyên, tự nhiên… đó  là chấp tâm của thế gian biến hiện mới có những danh tướng hý luận. Như cái tách cho là cái tách chân thật, do ở trong mở mắt chiêm bao mới thấy.

 Vọng khởi phân biệt cũng như dùng tay nắm bắt hư không, chỉ tự lao nhọc, hư không làm sao cho ngươi bắt dược? 

 Lược giải: 

Hai chữ Kiến Kiến tức là bản kiến tự hiện, chẳng có năng kiến, sở kiến, Phật đã giải thích kỹ càng trong quyển nhì này; nếu có năng sở, đều là kiến bệnh đã thành từ vô thỉ, có năng kiến năng giác đều là bệnh. Vì bản kiến bản giác chẳng ở trong bệnh mới gọi là kiến kiến, tức là kiến tánh.

Tự tánh chẳng phải sở kiến, nên cũng chẳng có năng kiến để kiến tự tánh, vậy lúc kiến kiến (Kiến kiến chi thời), dù nói kiến nhưng chẳng phải là kiến (Kiến phi thị kiến), vì chẳng có năng kiến và sở kiến, cho nên nói kiến còn phải lìa kiến (kiến do ly kiến), vì Năng kiến chẳng thể thấy đến, nên nói Kiến bất năng cập. 

Giảng giải:

“Kiến kiến chi thời, kiến phi thị kiến, kiến do ly kiến kiến bất năng cập” là âm chữ Hán. Người giảng kinh Lăng Nghiêm thường lấy hai chữ kiến làm năng sở, có người lấy chữ “kiến trước” làm năng, chữ “kiến sau” làm sở. Có người lấy chữ “kiến sau” làm năng, chữ “kiến trước” làm sở. Nhưng theo ý trong kinh, không phải là năng sở, kiến kiến (kiến tánh) là bản kiến tự hiện. 

Kiến kiến” chẳng có năng kiến, chẳng có sở kiến, Phật giải thích rất kỹ trong quyển nhì; thường thường người đọc hay lướt qua, vì tập khí lâu đời chứa trong bụng có thành kiến sẵn. Cứ theo tư tưởng của mình chấp thật, không chú ý Phật nói trong kinh.

Trong đó nói có năng sở là kiến bệnh đã thành từ vô thỉ. Như con mắt bệnh mới thấy hoa đốm trên hư không, mình thấy vũ trụ vạn vật đã thành kiến bệnh từ vô thỉ, có năng kiến năng giác đều là bệnh. Bản kiến bản giác không bệnh gọi là kiến kiến, tức là tự tánh tự hiện không có năng sở. Vì tự tánh bất nhị, nên không có năng kiến sở kiến, năng giác sở giác.

Tự tánh chẳng phải sở kiến, thường thường người ta giải kiến tánh là kiến tự tánh, nên có năng kiến để kiến tự tánh. Nếu có năng kiến để kiến tự tánh thì tự tánh thành sở kiến. Tự tánh thành sở kiến không gọi là kiến tánh, chẳng có năng kiến để kiến tự tánh. Vì tự tánh không có năng sở, khắp không gian thời gian; kiến lập 1 còn không được, huống chi kiến lập 2 làm năng sở!

Vậy lúc kiến kiến (kiến chi thời), dù nói kiến chẳng phải là kiến; vì theo thế lưu bố tưởng, lời nói của thế gian nên mới nói là kiến. Theo thế gian nói có năng kiến thì phải có sở kiến, nhưng ở đây tuy nói là kiến, nhưng không phải là kiến, kiến chẳng phải là kiến (kiến phi thị kiến). Vì chẳng có năng kiến và sở kiến, cho nên kiến còn phải lìa kiến (kiến do ly kiến). 

Nếu trụ nơi kiến thì lọt vào trước tưởng, bậc Thánh chỉ có thế lưu bố tưởng, do người thế gian đã lưu hành phổ biến, nên bậc Thánh cũng phải nói là kiến. Nhưng không ở trong cái kiến này chấp là chân thật. Có kiến thật thì phải có năng kiến và sở kiến. 

Bởi vì, bản kiến khắp không gian thời gian, vô thỉ vô chung, vô sanh vô diệt, thành ra không thể thành lập cái kiến. Cho nên lúc thuyết pháp, tuy nói kiến còn phải lìa kiến. Nếu chấp thật kiến sanh ra trước tưởng gọi là điên đảo tưởng. Vì năng kiến chẳng thể thấy đến (kiến bất năng cập).
 
 

ML
01
02
03
04
05
06
07
08
09
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20

Liên Hệ:
Kinh Thủ Lăng Nghiêm Tông Thông, HT. Nhẫn Tế
Kinh Thủ Lăng Nghiêm, HT. Thích Duy Lực
Tổng Luận Kinh Lă ng Nghiêm Trưc Chỉ, HT. Thích Thiện Siêu
Pháp Tu Lăng Nghiêm Ðại Ðịnh, HT. Thích Huệ Hưng
Phép Tu Lăng Nghiêm Ðại Ðịnh

 
c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap