THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học   Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn  Index Tác-Giả

 
 
 
 
 
c
GIẢNG KINH LĂNG NGHIÊM
Hoà Thượng Thích Duy Lực
Thích Đồng Thường Lập Thành Văn Tự
ML
01
02
03
04
05
06
07
08
09
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
Chánh văn:

A Nan và đại chúng dù nghe lời Phật nói vậy, miệng tuy im lặng, nhưng tâm vẫn chưa ngộ, mong được giảng rõ thêm, nên thành tâm chắp tay, đợi Phật dạy bảo. 

Bấy giờ, Thế Tôn duỗi cánh tay sáng ngời, mở năm ngón tay, bảo A Nan và đại chúng: 

-Lúc ta mới thành đạo nơi Lộc Viên, có nói với năm vị Tỳ Kheo và tứ chúng rằng: Tất cả chúng sanh chẳng thành Bồ-Đề và chứng quả A La Hán, đều tại lầm theo phiền não khách trần. Lúc đó, các ngươi do đâu được khai ngộ, nay chứng thánh quả? 

Khi ấy, Kiều Trần Như đứng dậy bạch Phật: 

-Con là bậc trưởng lão trong chúng được gọi là hiểu rộng biết nhiều, vì ngộ hai chữ Khách Trần nên được chứng quả. Thế Tôn, ví như người đi đường vào nghỉ ở khách sạn, ăn ngủ xong rồi lên đường đi tiếp, chẳng thể ở lại, còn người chủ thì cư trú tại đó, chẳng cần đi đâu. Vậy chẳng trụ là khách, trụ gọi là chủ, nên lấy sự "chẳng trụ" làm nghĩa chữ Khách. 

-Cũng như mưa mới tạnh, ánh sáng mặt trời rọi qua kẽ hở, thấy rõ tướng bụi trần lăng xăng nơi hư không. Trần thì lay động. Hư không tịch nhiên. Vậy tịch lặng gọi là không, lay động gọi là trần, nên lấy sự "lay động" làm nghĩa chữ Trần. 

Phật nói:  

-Đúng thế! 

Giảng giải:

-A Nan và đại chúng dù nghe lời Phật nói vậy, miệng tuy im lặng nhưng tâm vẫn chưa ngộ, mong được giảng rõ thêm nên thành tâm chấp tay đợi Phật dạy bảo.

Bây giờ, Thế Tôn duỗi cánh tay sáng ngời mở năm ngón tay, bảo A Nan và đại chúng:

-Lúc ta mới thành đạo nơi Lộc Viên có nói với 5 vị Tỳ Kheo và tứ chúng rằng: Tất cả chúng sanh chẳng thành Bồ Đề và chứng quả A La Hán đều lầm theo phiền não khách trần. Lúc đó các ngươi do đâu  được khai ngộ, nay chứng quả thánh?

Khi ấy, Kiều Trần Na đứng dậy bạch Phật: Con là bậc trưởng lão trong chúng được gọi hiểu rộng biết nhiều, vì ngộ 2 chữ “khách trần” nên được chứng quả. Thế Tôn! Ví như người đi đường vào nghỉ ở khách sạn, ăn ngủ xong rồi lên đường đi tiếp, chẳng thể ở lại, còn người chủ thì cư trú tại đó, chẳng cần đi đâu. Vậy chẳng trụ là khách, trụ gọi là chủ, nên lấy sự chẳng trụ làm nghĩa chữ  “khách”.

Cũng như mưa mới tạnh, ánh sáng mặt trời rọi qua kẻ hở, thấy rõ tướng bụi trần lăng xăng nơi hư không. Trần lay động, hư không tịch nhiên. Vậy tịch lặng gọi  là không, lay động gọi là trần, nên lấy sự “lay động” làm nghĩa chữ “trần”.

Phật nói: Đúng thế!

Chánh văn:

Tức thời Như Lai ở trong đại chúng co năm ngón tay, nắm rồi lại mở, mở rồi lại nắm, hỏi A Nan: 

- Nay ngươi thấy gì? 

A Nan đáp: 

-Con thấy bàn tay của Như Lai lúc mở lúc nắm. 

Phật bảo A Nan: 

-Ngươi thấy tay ta mở nắm, là tay ta có mở có nắm, hay cái thấy của ngươi có mở có nắm? 

A Nan đáp: 

-Bàn tay của Như Lai tự mở nắm, chứ chẳng phải tánh thấy của con có mở nắm. 

Phật hỏi:  

-Cái nào động, cái nào tịnh? 

A Nan đáp: 

-Tay Phật chẳng trụ, tánh thấy của con tịnh còn chẳng có, làm sao có động! (Bản kiến bất nhị, động tịnh đều chẳng nhiễm). 

Phật nói:  

-Đúng thế! 

Liền đó, Như Lai từ trong bàn tay phóng ra một tia hào quang rọi bên phải A Nan. A Nan liền quay đầu nhìn bên phải, Phật lại phóng một tia hào quang rọi bên trái A Nan, A Nan lại quay đầu nhìn bên trái, 

Phật bảo A Nan: 

-Đầu ngươi vì sao lại lay động? 

A Nan đáp: 

-Con thấy Như Lai phóng hào quang đến hai bên cạnh con, nên theo đó nhìn qua nhìn lại, đầu tự lay động. 

-A Nan, ngươi nhìn theo hào quang lay động là đầu ngươi động hay cái thấy động? 

-Bạch Thế Tôn! Đầu con tự động, tánh thấy của con ngưng còn chẳng có, nói gì lay động! (Bản kiến không đối đãi, động và chẳng động đều chẳng dính dáng). 

Phật nói:  

-Đúng thế! 

Do đó, Phật bảo đại chúng rằng: 

-Nếu chúng sanh cho "lay động" là trần, "chẳng trụ" là khách, các ngươi hãy xem, như A Nan đầu tự lay động mà tánh thấy chẳng động; lại tay ta tự mở nắm mà tánh thấy chẳng mở nắm. Vậy sao các ngươi hiện nay lại cho động là thân, cho động là cảnh, từ đầu đến cuối niệm niệm sanh diệt, lạc mất chơn tánh, hành theo điên đảo. Vì tâm tánh chẳng chơn, nhận vật làm mình, tự trôi lăn theo dòng sanh tử, cam chịu luân hồi. 

Giảng giải:

Tức thời, Như Lai ở trong đại chúng co năm ngón tay nắm rồi lại mở, mở rồi lại nắm, hỏi A Nan: 

-Nay ngươi thấy gì?

A Nan đáp:

-Con thấy bàn tay của Như Lai lúc mở lúc nắm.

Phật bảo A Nan:

Ngươi thấy tay ta mở nắm là tay ta có mở nắm hay cái thấy của ngươi có mở nắm?

A Nan đáp:

Bàn tay của Như Lai tự mở nắm, chứ chẳng phải tánh thấy của con có mở nắm.

Phật hỏi:

Cái nào động cái nào tịnh?

A Nan đáp:

Tay Phật chẳng trụ, tánh thấy của con tịnh còn chẳng có làm sao có động? (Bản kiến bất nhị, động tịnh đều chẳng nhiễm).

Phật nói:

Đúng thế!

Liền đó, Như Lai từ trong lòng bàn tay phóng ra một tia hào quang rọi bên phải A Nan. A Nan liền quay đầu nhìn bên phải, Phật lại phóng một tia hào quang rọi bên trái A Nan, A Nan lại quay đầu nhìn bên trái. Phật bảo A Nan: 

Đầu ngươi vì sao lại lay động?

A Nan đáp:

Con thấy Như Lai phóng hào quang đến hai bên cạnh con, con theo đó nhìn qua nhìn lại, đầu tự lay động.

A Nan, ngươi nhìn theo hào quang lay động là đầu ngươi động hay cái thấy động?

Bạch Thế Tôn! Đầu con tự động tánh thấy của con ngưng còn chẳng có nói gì lay động! (Bản kiến không đối đãi, động và chẳng động đều chẳng dính dáng).

Phật nói: Đúng thế!

Do đó Phật bảo đại chúng rằng: Nếu chúng sanh cho “lay động” là trần, “chẳng trụ” là khách, các ngươi hãy xem như A Nan đầu tự lay động mà tánh thấy chẳng động, lại tay ta tự mở nắm mà tánh thấy chẳng mở nắm. 

Vậy sao các ngươi hiện nay lại cho động là thân, cho động là cảnh, tức là cho thân là ta, cho cảnh là ta thấy, từ đầu đến cuối niệm niệm sanh diệt, sanh diệt đâu phải ta! Cái chân thật ta là không sanh diệt, tồn tại vĩnh viễn! 

Nếu sau này diệt mất thì ta ở đâu? Vậy ai tu chứng? Tu chứng để làm gì? Nhưng mọi người đều cho động là ta, cho cảnh là ta thì niệm sanh diệt lạc mất chân tánh thành theo điên đảo. Chân tánh của ta không nhìn nhận, mà lại nhìn nhận giả tạm thay đổi, sau này sẽ biến mất cho là ta, mới gọi là điên đảo.

Vì tâm tánh chẳng chơn, nhận giặc là mình, thân tâm sau này sẽ biến thành đất, biến thành tro mà bây giờ nhận tro là mình, cái này là vật đồng với mấy cái kia, như nhà cửa xe cộ cũng là vật, thân mình cũng là vật; nếu ở trong tự tánh thì mọi vật đều bằng nhau. 

Cái nhà sau này biến mất, thân sau này cũng biến mất. Còn chân thật của ta không biến mất, tồn tại vĩnh viễn. Không nhìn nhận cái tồn tại vĩnh viễn là ta, mà nhìn nhận cái sau này biến mất là ta thì rất điên đảo. Vì vậy, mới tự trôi lăn trong vòng sanh tử cam chịu luân hồi.

Ghi chú:

-Sa ma tha là tiếng Phạn (Aán Độ) là một thứ thiền định rất cực thịnh, đồng như không quán tông Thiên Thai.

-Tam ma đề còn gọi là Tam ma bát đề là thứ thiền quán tác dụng biến hóa đồng như giả quán tông Thiên Thai.

Kinh Viên Giác hình dung Sa ma tha như gương soi vật, nó cực tịnh như người nam đến thì hiện người nam, người nữ đến hiện hình nữ, người già đến hiện người già, người nhỏ đến hiện người nhỏ. 

Nhưng cái gương không lay động chút nào, tất cả đều hiện trong đó. Hiện trạng đó động nhưng bản thể của gương không động, nó cực tịnh thì tự tánh của mình cũng vậy. 

-Tam ma đề có dụng biến hóa đồng như giả quán, tất cả vật do lục căn cảm giác thấy nghe được đều là biến hóa; cũng là một biến hóa của dụng tự tánh mình, gọi tam ma đề.

-Thiền na là thiền định tịch diệt, không hình tướng, nhưng có biến hóa là những tướng giả như các đồ vật, không có số lượng, lìa năng sở đối đãi gần như trung quán. Kinh Viên Giác ví dụ nó như ẩn trong chuông trống. Mình thấy không có hình tướng, số lượng, nhưng đánh chuông thì tiếng phát ra. Trong chuông trống không hình tướng là tướng tịch diệt. Nhưng không phải hoàn toàn không có. Nếu không có tại sao khi đánh thì tiếng phát ra không bị chuông hạn chế! Tới chỗ xa cũng nghe được. Không chẳng phải không, giả cũng không phải giả, cho nên gọi là trung quán.

Tự tánh của mình khi nào dùng thì tự động ra, không dùng thì không thấy gì cả.

Ba thứ thiền quán này ghi trong kinh Lăng Nghiêm, Viên Giác, tu của tông Thiên Thai  là không quán, giả quán, trung quán.

-Bản thức, bản tâm, bản giác, bản kiến, bản văn, bản tri,… đều là biệt danh của tự tánh. 

-Tự tánh của mình có sự chân thật gọi là thật tướng tồn tại vĩnh viễn, không bao giờ có sự biến đổi, nhưng dụng tùy cảnh biến đổi. Như gương soi cảnh tượng, nếu cảnh đổi thì theo đó biến đổi; biến đổi không phải bản thể biến đổi mà cái dụng biến đổi. Cái dụng của mỗi người là lục căn, bản thể của lục căn là bản thức phân biệt. Nói chung là bản thức, nói riêng là bản kiến, bản văn.

-Bản kiến là phân biệt cái thấy.

-Bản văn là phân biệt cái nghe.

-Bản giác là phân biệt cái giác. 

Cảm giác có 4 thứ: Kiến, văn, giác, tri. 

-Nhãn thức là chủ sự thấy. 

-Nhĩ thức là chủ sự nghe. 

-Tỷ thức, thiệt thức và thân thức thì chủ sự giác, gọi là bản giác. 

-Ý thức chủ sự biết gọi là bản tri.

Đều là biệt danh của tự tánh tồn tại vĩnh viễn, không biến mất. Sau đây kinh Lăng Nghiêm diễn tả tánh thức không lay động, không  biến mất là bản kiến, còn mấy cái kia cũng vậy.

Theo đúng pháp môn thực hành mới gọi là tu hành, như tu Tổ Sư thiền phải theo đúng pháp môn Tổ Sư thiền, tu Tịnh Độ phải theo đúng pháp môn Tịnh Độ. Phải đúng theo pháp môn của Phật dạy để thực hành, có tu mới có chứng gọi là tu hành. Tu không có chứng sao gọi là tu hành! Vì không đúng pháp môn của Phật dạy, nói tu hành không đúng.

Chánh văn:  

Lúc bấy giờ, A Nan và đại chúng nghe lời Phật dạy, thân tâm thư thái, nghĩ mình từ vô thỉ đến nay, lạc mất bản tâm, lầm nhận bóng phân biệt của nhân duyên căn trần, hôm nay khai ngộ, như đứa bé khát sữa bỗng được gặp mẹ, chắp tay lễ Phật, mong được nghe Như Lai hiển bày chỗ chơn vọng hư thật của thân tâm, phát minh hai tánh sanh diệt và chẳng sanh diệt ngay trước mắt. 

Khi ấy, vua Ba Tư Nặc đứng dậy bạch Phật: 

-Xưa kia con chưa được nghe lời dạy của Phật, thấy bọn ngoại đạo Ca Chiên Diên (chấp các pháp cũng có cũng không) và Tỳ La Chi Tử (chấp mãn kiếp tự nhiên đắc đạo), đều nói thân này sau khi chết đoạn diệt gọi là Niết Bàn. Nay dù gặp Phật nhưng vẫn còn hồ nghi, chẳng biết làm thế nào mới được chứng tỏ chỗ chẳng sanh diệt của tâm này, hiện nay hàng hữu lậu trong chúng đều mong cùng nghe. 

Phật nói với vua: 

-Thân ông ở đây, nay ta hỏi ông, cái nhục thân này là đồng như kim cang, thường trụ chẳng hoại hay có biến diệt? 

-Bạch Thế Tôn! Cái thân vô thường biến hoại của con dù chưa từng diệt, nhưng con xét thấy trước mắt niệm niệm dời đổi, mãi mãi không thôi, dần dần tiêu mòn, như lửa thành tro, sự tiêu mòn chẳng ngừng, nên biết chắc chắn thân này rồi sẽ diệt mất. 

Phật nói: 

-Đúng thế, đại vương! Tuổi tác của ông nay đã già yếu, vậy mặt mày so với thuở nhỏ như thế nào? 

-Bạch Thế Tôn! Xưa con còn nhỏ, da thịt mơn mởn, đến khi trưởng thành, khí huyết sung túc, nay thì tuổi già, ngày thêm suy yếu, hình sắc khô gầy, tinh thần mệt mỏi, tóc bạc mặt nhăn, sự sống chẳng còn bao lâu nữa, làm sao so bằng lúc trẻ mạnh! 

Phật nói: 

-Hình thể của ông đâu phải bỗng nhiên biến hoại! 

-Bạch Thế Tôn! Sự biến hóa âm thầm dời đổi, con thật chẳng hay, mùa đông mùa hạ thấm thoát trôi qua, dần dần đến thế này. Tại sao? Khi hai mươi tuổi, dù gọi là trẻ, nhưng mặt mày đã già hơn lúc lên mười, khi ba mươi tuổi lại sút hơn lúc hai mươi, đến nay đã sáu mươi hai, so với lúc năm mươi thì suy yếu hơn nhiều. Thế Tôn, con cảm thấy sự dời đổi âm thầm trôi chảy theo kỳ hạn mười năm, nhưng nếu suy xét tỉ mỉ thì cái biến đổi ấy đâu phải từng 10 năm! Thật ra thì mỗi năm mỗi đổi, cho đến mỗi tháng, mỗi ngày, mỗi giờ, trong mỗi sát na niệm niệm biến đổi chẳng ngừng, nên biết thân này chung quy biến diệt vậy.

Giảng giải: 

Lúc bấy giờ, A Nan và đại chúng nghe lời Phật dạy, thân tâm thư thái nghĩ mình từ vô thỉ đến nay lạc mất bản tâm, lầm nhận bóng phân biệt của nhân duyên căn trần. 

Bản tánh là tự tánh (Phật tánh) không hình tướng số lượng, nhưng chân thật của ta tồn tại vĩnh viễn. Bây giờ mình lạc mất bản tâm, lại lầm nhận bóng phân biệt, như các căn… phân biệt cái này cái kia, cho là tánh của ta thấy nghe biết. Những cái đó là hình bóng phân biệt, không phải chân thật của ta. 

Hôm nay được khai ngộ, như đưa bé khát sữa bỗng được gặp mẹ, chắp tay lễ Phật mong được nghe Như Lai hiển bày chỗ chơn vọng hư thật của thân tâm phát minh hai tánh sanh diệt ngay trước mắt.

Khi ấy vua Ba Tư Nặc đứng dậy bạch Phật:

-Xưa kia con chưa được nghe lời Phật dạy thấy bọn ngoại đạo Ca Chiên Diên (chấp các pháp cũng có cũng không) và Từ La Chi Tử (chấp mãn kiếp tự nhiên đắc đạo) đều nói thân này sau khi chết đoạn diệt gọi là Niết Bàn. Nay dù gặp Phật nhưng vẫn còn hồ nghi, chẳng biết làm thế nào mới chứng tỏ chỗ chẳng sanh diệt của tâm này, hiện nay hàng hữu lậu trong chúng đều mong cùng nghe.

Phật nói với vua:

-Thân ông ở đây, nay ta hỏi ông cái nhục thân này đồng như kim cang thường trụ bất hoại hay có biến diệt?

-Bạch Thế Tôn, thân con rốt cuộc phải biến diệt. 

Phật hỏi:

-Ông chưa từng diệt sao biết phải diệt?

-Bạch Thế Tôn! Cái thân vô thường biến hoại của con dù chưa từng diệt, nhưng con xét thấy trước mắt niệm niệm dời đổi mãi mãi không thôi, dần dần tiêu mòn như lửa thành tro, sự tiêu mòn chẳng ngừng, nên biết thân này rồi sẽ diệt mất. 

Phật nói:

-Đúng thế! Đại vương tuổi tác của ông nay đã già yếu, vậy mặt mày so với tuổi nhỏ như thế nào?

-Bạch Thế Tôn! Xưa con còn nhỏ da thịt mơn mởn, đến khi trưởng thành khí huyết sung túc, nay tuổi già ngày thêm suy yếu, hình sắc khô gầy, tinh thần mệt mỏi, tóc bạc mặt nhăn, sự sống chẳng còn bao lâu nữa, làm sao so bằng lúc trẻ mạnh!

Phật nói:

-Hình thể của ông đâu phải bỗng nhiên biến hoại.

-Bạch Thế Tôn! Sự biến hóa âm thầm dời đổi, con thật chẳng hay, mùa đông mùa hạ thấm thoát trôi qua, dần dần đến thế này. Tại sao? Khi hai mươi tuổi dù gọi là trẻ, nhưng mặt mày đã già hơn lúc lên 10 tuổi. Khi 30 tuổi lại sút hơn lúc 20. Đến nay đã 60 so với lúc 50 thì suy yếu hơn nhiều. 

Thế Tôn, con cảm thấy âm thầm trôi chảy theo kỳ hạn 10 năm, nhưng nếu suy xét tỉ mỉ thì cái biến đổi ấy đâu phải từng 10 năm! Thật ra, mỗi năm mỗi đổi, cho đến mỗi tháng mỗi ngày, mỗi giờ trong mỗi sát na, niệm niệm biến đổi chẳng ngừng, nên biết thân này chung quy biến diệt vậy.

Chánh văn:  

Phật nói: 

-Ông thấy biến hóa dời đổi chẳng ngừng, ngộ biết phải diệt. Vậy trong lúc diệt, ông còn biết trong thân có cái gì chẳng diệt chăng? 

Vua Ba Tư Nặc chắp tay bạch Phật: 

-Con thật chẳng biết! 

Phật nói: 

-Nay ta chỉ cho ông cái tánh chẳng sanh diệt. Đại Vương, ông thấy nước sông Hằng hồi mấy tuổi? 

Vua đáp: 

-Lúc lên ba, mẹ con dắt đi yết lễ thần Tỳ Bà Thiên, đi qua sông này, khi ấy đã biết sông Hằng. 

Phật nói: 

-Như lời ông nói, lúc hai mươi tuổi thì sút hơn lúc lên mười, cho đến sáu mươi niệm niệm dời đổi theo từng ngày giờ. Vậy khi ông ba tuổi thấy nước sông, rồi đến năm mười ba, thấy nước sông, tánh thấy như thế nào? 

Vua đáp: 

-Tánh thấy cũng giống như khi ba tuổi, cho đến năm nay đã sáu mươi hai cũng chẳng có khác. (Bản kiến vốn chẳng sanh diệt biến đổi). 

Phật nói: 

-Nay ông tự than đã già, mặt ông chắc phải nhăn hơn lúc trẻ, vậy hiện nay thấy sông Hằng với lúc nhỏ thấy sông Hằng, cái tánh thấy có già trẻ gì chăng? 

-Bạch Thế Tôn! Không ạ! 

Phật nói: 

-Mặt ông dù nhăn mà cái tánh của kiến tinh (năng thấy) chưa từng nhăn, có nhăn là biến, chẳng nhăn thì bất biến; biến ắt phải diệt, bất biến vốn chẳng sanh diệt. Vậy lấy gì để thọ nhận sanh tử cho ông? Mà còn đem tà thuyết của bọn Mạt Già Lê kia, cho là thân này sau khi chết đoạn diệt! 

Vua nghe Phật dạy, tin biết Bổn Kiến thật chẳng đoạn diệt, bỏ thân này sẽ được thân khác, nên cùng đại chúng vui mừng được pháp chưa từng có. Ngay đó, A Nan liền từ chỗ ngồi đứng dậy chắp tay đảnh lễ, quỳ gối bạch Phật: 

-Bạch Thế Tôn! Nếu cái tánh thấy nghe này thật chẳng sanh diệt, sao Thế Tôn lại nói chúng con lạc mất chơn tánh, hành theo điên đảo? Xin Phật từ bi, rửa sạch trần cấu cho chúng con. 

Tức thời, Như Lai duỗi cánh tay sắc vàng, ngón tay chỉ xuống, bảo với A Nan: 

-Nay ngươi thấy tay ta là chánh hay đảo? 

A Nan đáp: 

-Chúng sanh thế gian cho đây là đảo, mà con thì chẳng biết thế nào chánh, thế nào đảo. 

Phật bảo A Nan: 

-Nếu người thế gian cho đây là đảo thì lấy gì làm chánh? 

A Nan đáp: 

-Như Lai đưa cánh tay chỉ lên trời gọi là chánh. 

Phật liền giơ cánh tay lên, bảo rằng: 

-Theo tánh thấy là chánh, theo cảnh trần là đảo; tánh thấy chẳng có chánh, đảo, cảnh trần mới có chánh, đảo, nay chẳng theo tánh thấy mà duyên theo cảnh trần, đã là một lớp điên đảo. Lại, theo lý lẽ thường, cánh tay chỉ xuống thuận theo thân là chánh, cánh tay chỉ lên nghịch với thân là đảo; nay người thế gian đầu đuôi đổi nhau, cho thuận là đảo, cho nghịch là chánh, thành điên đảo bội phần. Vậy đem thân ngươi so với pháp thân thanh tịnh của Như Lai thì được biết rõ, thân Như Lai gọi là Chánh Biến Tri, thân các ngươi gọi là tánh điên đảo. Ngươi hãy quán xét kỹ giữa thân ngươi và thân Phật, cái cho là điên đảo ấy, ở chỗ nào gọi là điên đảo?

Giảng giải:

Phật hỏi:

-Mấy tuổi ông thấy sông Hằng?

Vua đáp:

-Ba tuổi thấy sông Hằng

Phật nói:

-Như lời ông nói lúc 20 tuổi thì sút hơn 10 tuổi, cho đến 60 tuổi niệm niệm thay đổi theo từng ngày giờ. Biết cái thân ông sẽ biến mất vậy, khi ông 3 tuổi thấy nước sông rồi đến 13 tuổi thấy nước sông như thế nào?

Vua đáp:

-Tánh thấy khi 13 tuổi cũng giống lúc 3 tuổi, đến năm nay 62 tuổi cũng chẳng có khác.

 Tức là cái thân từ nhỏ biến thành già, cứ biến đổi hoài, còn tánh thấy lúc 3 tuổi đến bây giờ chẳng khác (bản kiến vốn chẳng sanh diệt biến đổi). 

Tánh thấy không hình tướng, không số lượng, không lay động. Theo luật định cái nào có lay động thì biến đổi, nếu có biến đổi thì phải  tiêu mất, còn cái nào không lay động thì không biến đổi, không biến đổi thì không mất. 

Ở trên Phật dùng tay nắm buông để chứng tỏ tay nắm buông thì lay động, còn tánh thấy không lay động thì không biến đổi. Cho nên, 3 tuổi thấy sông Hằng đến 62 tuổi thấy sông Hằng, tánh thấy không biến đổi, không biến đổi thì không mất.

Phật nói:

-Nay ông tự than đã già, mặt ông chắc phải nhăn hơn lúc trẻ; vậy hiện nay thấy sông Hằng với lúc nhỏ thấy sông Hằng, tánh thấy có già trẻ gì chăng?

-Bạch Thế Tôn! Không ạ! Mặt mũi có già trẻ còn tánh thấy đâu có già trẻ!

Phật nói:

-Mặt ông dù nhăn mà tánh thấy (kiến tinh) chưa từng nhăn, có nhăn là biến, chẳng nhăn thì bất biến, biến ắt phải diệt, bất biến vốn chẳng sanh diệt, vậy lấy gì để thọ sanh tử cho ông?

Thân này có sanh tử, còn tánh thấy làm sao có sanh tử được? Mà đem tà thuyết của bọn ngoại đạo cho là thân này sau khi chết đoạn diệt, ấy là không đúng.

Vua nghe Phật dạy, tin biết bổn kiến thật chẳng đoạn diệt, bỏ thân này sẽ được thân khác chưa từng có.

Ngay đó, A Nan liền từ chỗ ngồi đứng dậy chấp tay đảnh lễ quỳ gối bạch Phật:

-Bạch Thế Tôn! Nếu cái thấy nghe này thật chẳng sanh diệt, sao Thế Tôn lại nói chúng con lạc mất chơn tánh hành theo điên đảo? Xin Phật từ bi rửa sạch trần cấu cho chúng con.

A Nan nghe đến chỗ này chưa rõ, nói tánh thấy tánh nghe là bất kiến, bản văn không biến đổi, không mất. Không mất tại sao Thế Tôn nói chúng con lại mất chơn tánh? Xin Phật từ bi rửa sạch trần cấu vì không hiểu, như gương dính bụi (trần cấu). 

Tức thời, Như Lai duỗi cánh tay sắc vàng ngón tay chỉ xuống bảo với A Nan:

Nay ngươi thấy tay ta  là chánh hay đảo? 

A Nan đáp: 

Chúng sanh thế gian cho đây là đảo mà con thì chẳng biết thế nào là chánh, thế nào là đảo?

Phật bảo A Nan:

Nếu người thế gian cho đây là đảo thì lấy gì làm chánh?

 A Nan đáp: 

-Như Lai đưa cánh tay chỉ lên trời gọi là chánh.

 Vậy chứng tỏ phân biệt cánh tay chỉ lên chỉ xuống cho là chánh và đảo, không phải phân biệt bản kiến với cánh tay. Ban đầu chỉ xuống cho đảo là đúng. Nhưng chỉ lên cho chánh là phân biệt với cánh tay rồi. 

Chứ không phân biệt bản kiến với cánh tay.

Phật liền giơ cánh tay lên bảo rằng:

Theo tánh thấy là chánh, theo cảnh trần là đảo, tánh thấy tồn tại vĩnh viễn mới là chánh. Cánh tay lay động nên điên đảo, đó là cảnh trần. Tánh thấy chẳng có chánh đảo, nay chẳng theo tánh thấy mà duyên theo cảnh trần, đã là một lớp điên đảo. 

Lại theo lý lẽ thường cánh tay chỉ xuống thuận theo thân là chánh, cánh tay chỉ lên nghịch với thân là đảo; nay người thế gian đầu đuôi đổi nhau cho thuận là đảo cho nghịch là chánh, thành điên đảo bội phần. 

Vậy đem thân ngươi so với pháp thân thanh tịnh của Như Lai thì được biết rõ. Thân của Như Lai gọi là chánh biến tri (một trong mười hiệu Phật), Còn thân của các ngươi gọi là tánh điên đảo. Vì cái thân phải bị biến đổi tiêu mất. Ngươi phải quán xét kỹ giữa thân ngươi và thân Phật (đây là nói pháp thân của Phật), cái cho điên đảo ấy ở chỗ nào gọi là điên đảo?

Lược giải: 

Thanh tịnh pháp thân tức diệu tâm sáng tỏ chơn thật (gốc), kiến văn giác tri tức là vật do diệu tâm hiện ra (ngọn); về gốc là chánh, theo ngọn là đảo, ví như bọt nổi nơi biển, nhận biển là chánh, nhận bọt là đảo. Phật hỏi A Nan: Ngươi thấy tay ta là chánh hay đảo? Khi đó A Nan nên ở nơi tánh thấy của mình trực ngộ thế nào chánh, thế nào đảo, chẳng nên nơi tay Như Lai cho là chánh, là đảo.

 Cũng như Tu Bồ Đề tĩnh tọa trong hang, chẳng nhờ căn thức được thấy Pháp thân Như Lai, gọi là Chánh Biến Tri. Dùng mắt A Nan để thấy tay Như Lai, lại ở nơi tay phân biệt chánh hay đảo, ấy là duyên theo lục thức, bỏ gốc theo ngọn, đã lìa ngôi chánh nên gọi là tánh điên đảo. 

Giảng giải:

Thanh tịnh pháp thân là diệu tâm sánh tỏ chân thật tức là Phật tánh cũng gọi tự tánh (gốc). Kiến văn giác tri là lục căn nhận biết do diệu tâm hiện ra (ngọn). 

Bởi vì có diệu tâm nên có kiến văn giác tri, nhưng kiến văn giác tri biến đổi sanh diệt. Diệu tâm sáng tỏ không sanh diệt, không biến đổi gọi là gốc, còn biến đổi sanh diệt gọi là ngọn. Vì gốc gọi là chánh, theo ngọn gọi là đảo. 

Ví như bọt nổi trên biển, nhận biển là chánh, biển là bản thể sanh ra bọt thì bọt là đảo. Cũng như thân này là bọt, bản tánh tự tánh là biển; do tự tánh nên có thân này sanh ra, tự tánh là gốc thân này là ngọn.
Phật hỏi A Nan:

Tay ta chánh hay đảo? Tay ta ở trên thân này dù tay chỉ lên chỉ xuống đều là đảo vì thân này vốn là đảo. Khi đó A Nan nên ở nơi tánh thấy của mình trực ngộ cái nào là chánh cái nào là đảo mới đúng! Mà bỏ bản kiến lại ở nơi thân phân biệt chánh đảo thật là điên đảo.

Như Tu Bồ Đề chẳng nhờ căn thức mà thấy được pháp thân của Như Lai mới là chánh biến tri. A Nan dùng mắt để thấy cánh tay của Như Lai đưa lên đưa xuống, lại ở nơi cánh tay phân biệt chánh hay đảo, ấy là duyên theo lục thức, bỏ gốc theo nhọn, đã lìa ngôi chánh gọi là tánh điên đảo.

Chánh văn: 

Khi ấy A Nan và đại chúng ngẩn ngơ nhìn Phật không nháy mắt, chẳng biết chỗ thân tâm điên đảo, Phật mở lòng từ bi thương xót A Nan và đại chúng, phát hải triều âm bảo khắp trong Hội rằng: 

-Các thiện nam tử! Ta thường nói: Các duyên tâm và sắc với các tâm sở (buồn, vui, yêu, ghét v. v...) các pháp sở duyên (cảnh trần) đều do tâm biến hiện, thân tâm của ngươi cũng là vật do diệu tâm hiện ra, vậy sao các ngươi lại lạc mất cái bản tánh vốn tròn đầy sáng tỏ của diệu tâm, nhận lầm cái mê (vọng tâm) nơi ngộ (diệu tâm) cho là tâm tánh, bèn mê diệu minh (diệu tâm sáng tỏ) trở thành vô minh, từ vô minh biến thành ngoan không, vô minh là năng biến, ngoan không là sở biến, năng sở hòa hợp biến ra tứ đại, là ngoại sắc của y báo, sắc lẫn lộn với tâm vọng tưởng thành có chúng sanh, là nội sắc của chánh báo, tưởng (vọng tưởng), tướng (vọng sắc) làm thân, nhiếp trì thân tâm là thức thứ tám, tụ duyên lay động bên trong là thức thứ bảy, dong ruổi theo cảnh bên ngoài là thức thứ sáu, từ vô minh biến khởi vọng duyên vọng trần, mà nhận tướng nhiễu loạn lăng xăng này, mê muội cho là tự tâm ở trong sắc thân, chẳng biết sắc thân, núi sông, đất đai cho đến hư không đều là vật do diệu tâm biến hiện, ví như bỏ cả trăm ngàn biển lớn, chỉ nhận một bọt nước cho đó là bao gồm tất cả nước biển, cũng như các ngươi, tự bỏ Bản Kiến, lại ở nơi tay ta phân biệt chánh, đảo, thật là mê lại thêm mê. Như Lai nói là kẻ đáng thương xót vậy. 

A Nan thọ nhận lòng từ bi dạy bảo thâm sâu của Phật, rơi lệ chắp tay bạch Phật rằng: 

-Con dù được nghe diệu âm, ngộ biết chỗ bản lai thường trụ viên mãn của diệu tâm mà con hiện nay dùng tâm phan duyên nghe tiếng thuyết pháp của Phật, dẫu ngộ được tâm này, nhưng chưa dám cho là bản tâm, mong Phật thương xót khai thị diệu pháp, nhổ trừ gốc nghi ngờ của con, để được đến đạo vô thượng. 

Phật bảo A Nan: 

-Các ngươi nay còn dùng tâm phan duyên để nghe pháp, vậy pháp này cũng là duyên, chẳng hợp pháp tánh. Cũng như có người dùng tay chỉ mặt trăng cho người khác xem, người ấy nên nhờ ngón tay để thấy mặt trăng; nếu nhìn ngón tay cho là mặt trăng thì chẳng những bỏ mất mặt trăng, cũng chẳng biết ngón tay. 

Tại sao? Vì cho ngón tay là mặt trăng, chẳng những không biết ngón tay, lại cũng chẳng phân biệt được sáng tối. Tại sao? Vì cho cái bản thể của ngón tay là tánh sáng của mặt trăng, chẳng rõ được hai tướng sáng tối vậy. Các ngươi cũng thế, nếu dùng ý thức phân biệt tiếng thuyết pháp của ta, cho là tâm của các ngươi, thì tâm này phải lìa sự phân biệt âm thanh, riêng có tánh phân biệt. 

Ví như người đi đường ở lại khách sạn, nghỉ tạm rồi đi, chẳng được thường trú, còn người giám đốc khách sạn thì khỏi đi đâu cả, nên gọi là chủ. Nay cũng như thế, nếu là chơn tâm (chủ) của ngươi thì khỏi cần đi đâu, sao lại lìa âm thanh chẳng có tự thể của tánh phân biệt? 

Thế thì, cái tâm phân biệt âm thanh dung mạo này, lìa các sắc tướng chẳng có tự thể của tánh phân biệt cho đến sự phân biệt cũng chẳng có, phi sắc phi không, mà bọn ngoại đạo Câu Xá Ly mê muội cho là Minh Đế (thần ngã). Nếu lìa các pháp nhân duyên chẳng có tự thể của tánh phân biệt thì tâm tánh các ngươi đều có chỗ trả về, lấy gì làm chủ? 

Giảng giải: 

Khi ấy, A Nan và đại chúng ngẩn ngơ nhìn Phật không nháy mắt, chẳng biết chỗ thân tâm điên đảo, Phật mở lòng từ bi thương xót A Nan và đại chúng, phát hải triều âm khắp bảo trong hội nghe rằng: 

Vì trước kia A Nan hỏi Phật: Bản kiến, bản văn chân thật tồn tại vĩnh viễn, tại sao nói lạc mất? Nhưng không nhìn nhận bản thể tồn tại vĩnh viễn là năng, mà lại nhận cái sở. Cho nên mới gọi là lạc mất.

Phật nói: Các thiện nam tử! Ta thường nói các duyên tâm và sắc với các tâm sở (buồn vui yêu ghét…). 

Buồn vui yêu ghét là do tâm cảm giác, cảm giác buồn, cảm giác vui, cảm giác yêu và cảm giác ghét gọi là tâm sở. Còn cái năng của bản thể tâm vốn không có buồn vui yêu ghét, tại mình nhìn nhận ở ngoài cho là mình. 

Ví dụ: 

Hai chân đâu có dính cứt sình, vì đi con đường cứt sình làm dính đôi chân; rồi cho con đường cứt sình của mình là sai lầm. 

Buồn vui yêu ghét là ở ngoài tâm mình, tâm mình đâu có buồn vui yêu ghét, tại mình cứ nhận cái đó. Cái tâm không có buồn vui yêu ghét, cái cảnh của tâm mới có buồn vui yêu ghét. 

Các pháp sở duyên (cảnh trần) đều do tâm biến hiện, thân tâm của ngươi cũng là vật do diệu tâm biến hiện ra; vậy sao các ngươi lại lạc mất bản tánh vốn tròn đầy sáng tỏ của diệu tâm, cho sự buồn vui yêu ghét cho là mình; nhận lầm cái mê (vọng tâm) nơi ngộ (diệu tâm) cho là tâm tánh, bèn mê diệu minh (diệu tâm sáng tỏ) trở thành vô minh. 

Vì vô minh nên có buồn vui yêu ghét, từ vô minh biến thành ngoan không, vô minh là năng biến, ngoan không là sở biến (ngoan không là không có tri giác), năng sở hòa hợp mới biến ra địa thủy hỏa phong, là ngoài sắc của y báo (tất cả vũ trụ vạn vật để con người dùng gọi là y báo), thân tâm gọi là chánh báo. 

Sắc lẫn lộn với tâm vọng tưởng thành có chúng sanh là nơi sắc của chánh báo, tưởng là vọng tưởng, tướng là vọng sắc. Có tưởng ấm suy nghĩ có nhớ có quên ấy là vọng tưởng, vọng tưởng mới suy nghĩ cái tướng như cái này là tướng trái cây, đây là tướng bánh trung thu, tướng cái tách. Nhưng đều là vọng sắc (sắc là vật chất), thân này là vật chất cũng là vọng sắc, nhưng mà tướng thân này cho là thân để nhiếp trì thân tâm này là thức thứ tám.

Thân tâm mình có thức thứ 8 nhiếp trì thì sống hàng ngày từ nhỏ đến lớn và khi chết thì nó lìa khỏi thân sau cùng. Thức thứ 8 ngộ là chơn tâm, mê không phân biệt thiện ác là kho tàng chứa thiện ác. Do thức thứ 7 chấp thức thứ 8 là ta.

Phụ duyên lay động bên trong là thức thứ 7. Tại sao lay động? Vì ngày đêm suy nghĩ hoài, suy nghỉ cái gì? Suy nghỉ thức thứ 8 là ta, là muốn yêu cái Ta, làm cho Ta phải hơn người khác. Đem chủng tử thiện ác vô ra trong kho tàng, gọi là truyền tống thức. Chủng tử chín mùi thì nó đem ra cho thức thứ 6 và 5 thức trước để thi hành, khi giác ngộ thì chuyển thức thứ 7 thành bình đẳng tánh trí (không còn ngã).

Rong ruổi theo cảnh bên ngoài là thức thứ 6, từ vô minh biến khởi vọng duyên vọng trần, mà nhận tướng nhiễu loạn lăng xăng này, mê muội cho là tự tâm ở trong sắc thân, nhưng chẳng biết núi sông đất đai, cho đến hư không đều là vật do diệu tâm biến hiện. Ví như bỏ cả trăm ngàn biển lớn chỉ nhận một bọt nước, cho đó là bao gồm tất cả nước biển.

Biển giác là bản thể của ta, còn cái bọt ở trên nước do biển sanh ra.

-Tại  sao diệu tâm biến hiện?
-Vì chấp nên có biến hiện.
-Tại sao lại có chấp?
-Không phải tự nhiên chấp, ở đây đến khi ngộ rồi mới biết.

Ở sau này có nói, vốn không có vọng, không lay động làm sao nổi lên lay động được! Nổi lên vọng là vô minh, cũng như cái gương đâu có biến người già người trẻ, người nam người nữ, đâu có sanh ra! Sự thật mình thấy có người già, người trẻ, người nam, người nữ, hình tướng rõ ràng. Nhưng nó không dính dáng đến tấm gương, tấm gương đó là Ta.

Vọng không có lý do, có lý do không phải vọng, như nhận bọt nước cho là biển. Như các ngươi tự bỏ bản kiến lại ở tay ta phân biệt chánh đảo, thật mê lại thêm mê. Cho nên Như Lai nói là kẻ đáng thương xót vậy.

A Nan nghe thọ nhận lòng từ bi dạy bảo thâm sâu của Phật, rơi lệ chấp tay bạch Phật rằng:

-Con dù được nghe diệu âm ngộ biết chỗ bản lai thường trụ viên mãn của diệu tâm mà con hiện nay dùng tâm phan duyên nghe tiếng thuyết pháp của Phật, dẫu ngộ được tâm này, nhưng chưa dám cho là bản tâm, mong Phật thương xót khai thị diệu pháp, nhổ trừ gốc nghi ngờ của con để được đến đạo vô thượng.

Phật bảo A Nan:

-Các ngươi còn dùng tâm phan duyên để nghe pháp, vậy pháp này cũng là duyên, chẳng hợp pháp tánh. Cũng như có người dùng tay chỉ mặt trăng cho người khác xem, người ấy nên nhờ ngón tay để thấy mặt trăng, nếu nhìn ngón tay cho là mặt trăng, chẳng những không biết ngón tay, lại cũng chẳng phân biệt được sáng tối. Tại sao? Vì cho bản thể của tay là ánh sáng  của mặt trăng, chẳng rõ được 2 tướng sáng tối vậy. 

Các ngươi cũng thế, nếu dùng tâm phan duyên phân biệt tiếng thuyết pháp của ta, cho là của các ngươi thì tâm này phải lìa sự phân biệt âm thanh, riêng có tánh phân biệt. 

Phân biệt âm thanh phải có tánh phân biệt, bởi vì âm thanh là sanh diệt, ngoài âm thanh phải  có tánh phân biệt tồn tại vĩnh viễn mới biết được sanh diệt. 

Nếu theo cái sinh diệt mất, làm sao biết được cái sinh diệt? Cũng như tất cả khoa học nhận biết đều do bộ óc nhận biết, sau này bộ  óc chết rồi, cái biết chứa trong bộ óc cũng theo bộ óc mà diệt luôn. 

Phải có cái gì không diệt! Mới biết được xưa kia đã biết mới tồn tại được. Nếu theo bộ óc diệt thì những cái biết của bộ óc đâu có giá trị? Phân biệt này là bộ óc phân biệt, không phải tự thể chơn tâm.

Nếu tâm này chơn thật thì phải lìa sự phân biệt âm thanh riêng có tánh phân biệt, phân biệt âm thanh là tiếng thuyết pháp của Phật hay là tiếng của người khác, cái phân biệt này là cái phân biệt của bộ óc (tâm phan duyên).

Hỏi:

Còn mình hiểu pháp đó là cái gì?

Đáp:

Đó là tâm phan duyên, không phải lìa tâm phan duyên, có tâm phân biệt tồn tại vĩnh viễn không theo trần tiêu diệt, không theo tánh phân biệt biến mất. Tánh phân biệt của bộ óc, sau này sẽ biến mất thì cái hiểu biết đó cũng biến mất.

Hỏi: 

Kiếp này con hiểu Phật pháp, nếu con chết thì cái hiểu đó có ghi vô trong tạng thức để kiếp sau con nối tiếp không?

Đáp: 

Cái đó có bản thể không biến mất.

Hỏi: 

Nếu hiểu Phật pháp kiếp này, sau khi chết theo đó biến mất thì kiếp sau lấy gì tu?

Đáp: 

Hạt giống Bát Nhã có sẵn ở trong tạng thức, không phải do nghe thuyết pháp mà sanh ra, cái đó là tâm phan duyên. 

Hỏi: 

Đến Niết Bàn là 10 bước, con chưa bước hết thì chết, kiếp sau con tiếp tục bước nữa không?

Đáp: 

Có tiếp tục, nhưng chỉ rửa bớt trần cấu, không phải thêm vô cái ghi nhớ; như tấm gương bớt bụi, rồi kiếp sau tiếp tục lau chùi, không phải chứa hình ảnh nam nữ trong đó. Bởi vì, bản kiến không có những cái buồn vui yêu ghét nhiễu loạn. Do nghe pháp mới tẩy rửa sạch được buồn vui yêu ghét.

Hỏi: 

Kiếp trước ông tú tài là con gái làm những bài thơ, sau ông tú tài cũng làm những bài thơ giống như kiếp trước của ông, vậy hiện tượng đó ra sao?

Đáp: 

Chuyện luân hồi là vọng, còn bây giờ nói chuyện phát hiện chơn tâm. Luân hồi là chiêm bao, từ chiêm bao này qua chiêm bao kia. Do tâm phan duyên nhân quả trong chiêm bao, không dính líu với bản thể chân thật của mình. Trong bản thể chơn thật là tẩy đi cảnh chiêm bao.

Cho nên, tâm của các ngươi thì tâm này phải lìa sự phân biệt âm thanh, riêng có tánh phân biệt mới là bản thể của ta. Ví như người đi đường ở lại khách sạn nghỉ tạm rồi đi, chẳng được thường trụ, còn người giám đốc khỏi đi đâu cả nên gọi là chủ. 

Bây giờ mình nghe pháp để nhận chủ chứ không nhận khách, sao lại lìa âm thanh chẳng có tự thể của tánh phân biệt? Thế thì, cái tâm phân biệt âm thanh dung mạo này, lìa các sắc tướng chẳng có tự thể của tánh phân biệt, cho đến sự phân biệt cũng chẳng có, phi sắc phi không mà bọn ngoại đạo Câu Xá Ly mê muội cho là Minh Đế (thần ngã).

Nếu lìa các pháp nhân duyên chẳng có tự thể của tánh phân biệt thì tâm tánh các ngươi đều có chỗ trở về, lấy gì làm chủ?
 
 

ML
01
02
03
04
05
06
07
08
09
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20

Liên Hệ:
Kinh Thủ Lăng Nghiêm Tông Thông, HT. Nhẫn Tế
Kinh Thủ Lăng Nghiêm, HT. Thích Duy Lực
Tổng Luận Kinh Lă ng Nghiêm Trưc Chỉ, HT. Thích Thiện Siêu
Pháp Tu Lăng Nghiêm Ðại Ðịnh, HT. Thích Huệ Hưng
Phép Tu Lăng Nghiêm Ðại Ðịnh

 
c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap