Chánh
văn:
BẢY
CHỖ GẠN HỎI TÌM TÂM
Phá
chấp tâm ở trong thân
-Bạch
Thế Tôn! Tất cả mười loại chúng sanh trên thế gian đều
cho tâm thức ở trong thân. Nay con nhận được mắt con ở
trên mặt con và tâm thức ở trong thân, như mắt Thanh Liên
Hoa của Như Lai ở trên mặt Như Lai vậy.
Phật
bảo:
-A
Nan! Nay ngươi ngồi trong giảng đường của Như Lai, nhìn thấy
rừng Kỳ Đà ở chỗ nào?
-Bạch
Thế Tôn! Giảng đường rộng rãi thanh tịnh này trong vườn
Cấp Cô Độc, còn rừng Kỳ Đà thì ở ngoài giảng đường.
-A
Nan! Bây giờ ngươi ở trong giảng đường trước tiên thấy
gì?
-Bạch
Thế Tôn! Con ở trong giảng đường trước thấy Như Lai, sau
thấy đại chúng, rồi nhìn ra ngoài mới thấy rừng cây.
-A
Nan! Ngươi thấy rừng cây, do nhân nào được thấy?
-Bạch
Thế Tôn! Vì cửa sổ giảng đường mở trống nên con ở
trong thấy suốt bên ngoài.
Phật
bảo A Nan:
-Như
ngươi vừa nói, thân ở trong giảng đường, nhờ cửa mở
trống nên thấy rừng cây; mà có chúng sanh nào ở trong giảng
đường chẳng thấy Như Lai, lại thấy rừng cây bên ngoài
chăng?
-Bạch
Thế Tôn! Ở trong giảng đường chẳng thấy Như Lai, lại
thấy rừng cây bên ngoài thì chẳng đúng.
-A
Nan! Ngươi cũng như vậy, linh tâm của ngươi tất cả sáng
tỏ, nếu tâm sáng tỏ hiện tiền của ngươi thật ở trong
thân thì trước tiên phải thấy rõ trong thân. Vậy có chúng
sanh nào trước thấy trong thân rồi sau mới thấy vật bên
ngoài chăng? Dẫu chẳng thấy được tim, gan, tỳ, vị, thì
các chỗ: Móng ra, tóc dài, gân chuyển cũng phải thấy chứ,
sao lại chẳng thấy? Nếu trong thân còn chẳng thấy thì làm
sao thấy vật bên ngoài? Cho nên ngươi nói "Cái tâm giác tri
trụ ở trong thân" là chẳng đúng. (Tự tánh bất nhị, vốn
chẳng có nghĩa đúng và chẳng đúng, chỉ vì trị bệnh chấp
thật nên nói chẳng đúng).
Giảng
giải:
Bảy
chỗ gạn hỏi tìm tâm, ban đầu A Nan chấp tâm ở trong thân.
-Bạch
Thế Tôn, tất cả 10 loại chúng sanh trên thế gian đều cho
tâm thức ở trong thân. Nay con nhận được mắt con ở trên
mặt con và tâm thức ở trong thân, như mắt thanh liên hoa của
Như Lai cũng ở trên mặt Như Lai vậy.
Phật
bảo A Nan: Nay ngươi ngồi trong giảng đường của Như Lai,
nhìn thấy rừng Kỳ Đà ở chỗ nào?
-Bạch
Thế Tôn, giảng đường rộng rải thanh tịnh này ở trong
vườn Cấp Cô Độc, còn rừng Kỳ Đà thì ở ngoài giảng
đường.
-A
Nan, bây giờ ngươi ở trong giảng đường trước tiên thấy
gì?
-Bạch
Thế Tôn, con ở trong giảng đường trước thấy Như Lai sau
thấy đại chúng rồi nhìn ra ngoài mới thấy rừng cây.
-A
Nan, ngươi thấy rừng cây do nhân nào được thấy?
- Bạch
Thế Tôn, vì cửa sổ giảng đường mở trống nên con thấy
suốt bên ngoài.
Phật
bảo A Nan:
-Như
ngươi vừa nói, thân ở trong giảng đường, nhờ cửa mở
trống nên thấy rừng cây, mà có chúng sanh nào ở trong giảng
đường chẳng thấy Như Lai, lại thấy rừng cây bên ngoài
chăng?
-Bạch
Thế Tôn ở trong giảng đường chẳng thấy Như Lai lại
thấy rừng cây bên ngoài thì chẳng đúng.
-A
Nan, ngươi cũng như vậy, linh tâm của ngươi tất cả sáng
tỏ, nếu tâm sáng tỏ hiện tiền của ngươi ở trong thân
thì trước tiên phải thấy rõ trong thân. Vậy có chúng sanh
nào trước thấy trong thân rồi sau mới thấy vật bên ngoài
không? Dẫu chẳng thấy được tim gan tỳ vị thì các chỗ
móng ra, tóc dài gân chuyển cũng phải thấy chứ, sao lại
chẳng thấy? Nếu trong thân chẳng thấy làm sao thấy được
bên ngoài? Cho nên, ngươi nói “cái tâm giác tri trụ ở trong
thân” là chẳng đúng (tự tánh bất nhị chẳng có nghĩa
đúng và nghĩa chẳng đúng, chỉ vì trị bịnh chấp thật
nên nói chẳng đúng).
Chánh
văn:
Phá
chấp tâm ở ngoài thân
A Nan
cúi đầu bạch Phật:
-Con
nghe lời dạy của Như Lai, ngộ được tâm con thật ở ngoài
thân. Tại sao? Ví như đèn thắp trong phòng thì trước phải
chiếu sáng trong phòng, rồi sau mới từ cửa rọi ra ngoài
sân. Tất cả chúng sanh chẳng thấy trong thân, chỉ thấy ngoài
thân, cũng như ngọn đèn ở ngoài phòng chẳng thể chiếu
sáng trong phòng, nghĩa này rõ ràng, chẳng còn nghi ngờ, vậy
so với nghĩa lý rốt ráo của Phật chẳng sai ư?
Phật
bảo A Nan:
-Các
Tỳ Kheo vừa theo ta khất thực trong thành rồi trở về rừng
Kỳ Đà. Ta đã thọ trai xong, ngươi thử nghĩ, trong số Tỳ
Kheo, chỉ một người ăn mà các vị khác được no chăng?
-Bạch
Thế Tôn! Không ạ! Tại sao? Dù các Tỳ Kheo đều là bậc
A La Hán, nhưng cơ thể chẳng đồng, đâu thể một người
ăn mà khiến cả chúng đều no.
-A
Nan! Nếu tâm giác tri của ngươi thật ở ngoài thân thì trong
ngoài khác nhau, chẳng có liên quan, hễ tâm biết thì thân
chẳng biết, thân biết thì tâm chẳng biết. Nay ta đưa tay
cho ngươi xem, trong lúc mắt thấy, tâm ngươi biết được
chăng?
-Bạch
Thế Tôn! Vâng biết.
-A
Nan! Nếu thân và tâm cùng biết một lượt thì sao lại nói
tâm ở ngoài thân? Nên biết, ngươi nói "tâm giác tri trụ
ở ngoài thân" là chẳng đúng.
Giảng
giải:
Phá
chấp tâm ở ngoài thân.
A Nan
cúi đầu bạch Phật:
-Con
nghe lời dạy của Như Lai, ngộ được tâm con thật ở ngoài
thân. Tại sao? Ví như đèn thắp sáng trong phòng thì trước
hết phải chiếu sáng trong phòng, rồi sau mới từ cửa soi
ra ngoài sân, tất cả chúng sanh chẳng thấy trong thân, chỉ
thấy ngoài thân, cũng như ngọn đèn ở ngoài phòng chẳng
thể chiếu sáng trong phòng, nghĩa này rõ ràng chẳng còn nghi
ngờ. Vậy so với nghĩa lý rốt ráo của Phật chẳng
sai ư?
Phật
bảo A Nan:
-Các
Tỳ Kheo vừa theo ta khất thực trong thành, rồi trở về rừng
Kỳ Đà. Ta đã thọ trai xong, ngươi thử nghĩ trong số các
Tỳ Kheo chỉ 1 người ăn mà các vị khác được no chăng?
-Bạch
Thế Tôn, không ạ, tại sao? Các Tỳ Kheo đều là bậc A La
Hán nhưng cơ thể chẳng đồng, đâu thể 1 người ăn mà khiến
cả chúng đều no.
-A
Nan, nếu tâm giác tri của ngươi thật ở ngoài thân thì trong
ngoài khác nhau, chẳng có liên quan, hễ tâm biết thì thân
chẳng biết, thân biết thì tâm chẳng biết. Nay ta đưa tay
cho ngươi xem trong lúc mắt thấy tâm ngươi biết được chăng?
-Bạch
Thế Tôn, vâng biết.
-A
Nan, nếu thân và tâm cùng biết một lượt thì sao lại nói
tâm ở ngoài thân? Nên biết, ngươi nói tâm giác tri trụ ở
ngoài thân là chẳng đúng.
Chánh
văn:
Phá
chấp tâm ẩn núp sau con mắt.
-Bạch
Thế Tôn! Như lời Phật dạy, chẳng thấy bên trong nên chẳng
ở trong thân; thân tâm cùng biết một lượt chẳng thể rời
nhau nên chẳng ở ngoài thân, nay con thiết nghĩ tâm ở một
chỗ.
-Ở
chỗ nào?
-Tâm
giác tri này đã chẳng biết trong mà thấy bên ngoài, theo con
nghĩ là nó ẩn núp sau con mắt. Ví như có người lấy chén
lưu ly úp vào hai mắt (ngày nay có thể nói là đeo kính), tuy
có vật úp ở ngoài mà chẳng ngại nhãn căn, tùy sự thấy
liền phân biệt được. Tâm giác tri của con chẳng thấy bên
trong vì ở nơi con mắt, thấy rõ ràng bên ngoài vì ẩn núp
sau con mắt.
Phật
bảo A Nan:
-Theo
lời ngươi nói, tâm núp sau con mắt như con mắt núp sau chén
lưu ly, vậy thì lúc thấy núi sông, mắt thấy chén lưu ly
chăng?
- Bạch
Thế Tôn! Thật thấy chén lưu ly.
-A
Nan, con mắt núp sau chén lưu ly thì thấy được chén lưu ly;
còn tâm núp sau con mắt sao chẳng thấy mắt? Dù cho là thấy
mắt, mắt tức là cảnh, cảnh làm sao thấy cảnh? Nếu chẳng
thấy mắt thì ngươi nói
"Tâm
giác tri ẩn núp sau con mắt" là chẳng đúng.
Giảng
giải:
Phá
chấp tâm ẩn sau con mắt.
-Bạch
Thế Tôn, như lời Phật dạy chẳng thấy bên trong nên chẳng
thấy ở trong thân, thân tâm cùng biết chẳng thể rời nhau
nên chẳng ở ngoài thân nay con thiết nghĩ tâm ở một chỗ.
-Ở
chỗ nào?
-Tâm
giác tri này đã chẳng biết trong mà thấy bên ngoài, theo con
nghĩ nó ẩn sau con mắt, ví như có người lấy chén lưu ly
úp vào 2 con mắt (ngày nay có thể nói là đeo kính) tuy có
vật úp ở ngoài mà chẳng ngại nhãn căn, tùy sự thấy liền
phân biệt được. Tâm giác tri của con chẳng thấy bên trong
vì ở nơi con mắt thấy rõ ràng bên ngoài vì ẩn núp sau con
mắt.
Phật
bảo A Nan:
-Theo
lời ngươi nói tâm núp sau con mắt như con mắt núp sau
chén lưu ly vậy thì lúc thấy núi sông mắt thấy chén lưu
ly chăng?
-Bạch
Thế Tôn! Thật thấy chén lưu ly.
-A
Nan, con mắt núp sau chén lưu ly thì thấy được chén lưu ly,
còn tâm núp sau con mắt sao chẳng thấy mắt. Dù cho là thấy
mắt, mắt tức là cảnh, cảnh làm sao thấy cảnh? Nếu chẳng
thấy mắt thì ngươi nói
“tâm
giác tri ẩn sau con mắt” là chẳng đúng.
Chánh
văn:
Phá
chấp nhắm mắt thấy tối là thấy trong thân.
-Bạch
Thế Tôn! Nay con lại thiết nghĩ rằng, thân thể của chúng
sanh, tạng phủ ở trong, khiếu huyệt (ngũ căn) ở ngoài, nơi
tạng thì tối, nơi khiếu thì sáng. Nay con ở trước mặt
Phật, mở mắt thấy sáng gọi là thấy bên ngoài, nhắm mắt
thấy tối gọi là thấy trong thân, nghĩa này thế nào?
Phật
bảo A Nan:
-Khi
ngươi nhắm mắt thấy tối, cái cảnh tối ấy là đối với
mắt hay chẳng đối với mắt?
-Nếu
đối với mắt thì tối ở trước mắt, tức ở ngoài thân,
sao nói ở trong thân? Giả sử cho tối là trong thân thì lúc
trong phòng tối chẳng có ánh sáng, những gì trong phòng tối
đều là tạng phủ của ngươi sao?
-Nếu
chẳng đối với mắt thì làm sao được thấy? Nếu lìa sự
thấy bên ngoài, thành lập sự thấy đối vào trong, khi nhắm
mắt thấy tối gọi là thấy trong thân; vậy khi mở mắt thấy
sáng sao chẳng thấy mặt?
-Lại,
nếu chẳng thấy mặt thì cái nghĩa "con mắt đối vào trong"
chẳng thể thành lập: Nếu thấy mặt thì tâm giác tri và
nhãn căn đều ở tại hư không, làm sao nói ở trong?
-Lại,
nếu ở ngoài hư không thì chẳng phải thân ngươi, tức hiện
nay Như Lai thấy mặt ngươi cũng là thân ngươi sao? Vậy mắt
ngươi thấy biết thì thân ngươi chẳng biết. Nếu ngươi
cho thân và mắt cùng biết một lượt, thì phải có hai cái
biết, tức một thân ngươi phải thành hai Phật! Nên biết
ngươi nói "thấy tối gọi là thấy trong thân" là chẳng đúng.
Giảng
giải:
(Lược
qua)
Chánh
văn:
Phá
chấp sự suy nghĩ là tâm.
-Con
đã từng nghe Phật khai thị chúng rằng: Tâm sanh nên các pháp
sanh, pháp sanh nên các tâm sanh. Nay con suy nghĩ, chính cái suy
nghĩ ấy là tâm của con; tùy sự suy nghĩ tâm liền có, cũng
chẳng ở trong, ngoài và chính giữa.
-A
Nan, ngươi nói pháp sanh nên các tâm sanh, tùy sự suy nghĩ tâm
liền có. Tâm chẳng có tự thể thì chẳng thể suy nghĩ; nếu
chẳng có tự thể mà suy nghĩ được thì vô căn phải thấy
được vô trần, nghĩa này chẳng đúng.
Nếu
có tự thể thì ngươi thử dùng tay tự búng thân mình xem,
cái tâm biết của ngươi là từ trong thân ra hay từ bên ngoài
ra? Nếu từ bên trong ra thì phải thấy trong thân; nếu từ
bên ngoài ra thì trước tiên phải thấy mặt.
-Mắt
chủ sự thấy, tâm chủ sự biết, tâm không phải như mắt,
nói tâm thấy là chẳng đúng nghĩa.
Phật
bảo A Nan:
-Nếu
thấy là con mắt thì ngươi ở trong phòng, cửa biết thấy
chăng? (phòng dụ cho thân, cửa dụ cho mắt). Như kẻ đã chết
con mắt vẫn còn, lẽ ra phải thấy được vật; nếu thấy
được vật thì sao gọi là chết?
-Lại,
tâm hay biết của ngươi nếu thật có tự thể, là một thể
hay nhiều thể? Nay nơi thân ngươi, tâm cùng khắp cơ thể
hay chẳng cùng khắp?
-Nếu
nói một thể, khi tay ngươi búng một chi, lẽ ra tứ chi đều
biết, nếu đều biết thì chỗ búng chẳng có, nếu có chỗ
búng thì chẳng phải một thể. Nếu như nhiều thể thì thành
nhiều người, vậy thể nào là của ngươi?
-Nếu
nói khắp cả cơ thể thì đồng như sự búng kể trên, nếu
chẳng khắp thì khi ngươi rờ đầu và chân, đầu có biết
chân phải không biết, nhưng hiện nay ngươi lại chẳng phải
như vậy. Nên biết ngươi nói: "Tùy sự suy nghĩ tâm liền
có" là chẳng đúng.
Giảng
giải:
Phá
chấp sự suy nghĩ là tâm.
(Suy
nghỉ phải có tự thể để suy nghĩ).
-Con
đã từng nghe Phật khai thị tứ chúng rằng: Tâm sanh nên các
pháp sanh, pháp sanh nên các tâm sanh. Nay con suy nghĩ ấy là
tâm của con, tùy sự suy nghĩ tâm liền có, cũng chẳng ở
trong, ngoài và chính giữa.
Tâm
suy nghĩ không có hình tướng mình thấy vật là sở thấy,
có sở thấy nên có năng thấy. Tâm có sở biết, suy ra có
năng biết là tự thể của tâm.
Nói
là tâm sanh nên có các pháp sanh, bây giờ quý vị ở đây
tâm nhớ chuyện nhà, như cái tủ, quần áo,… tâm nghĩ thì
các cảnh hiện ra gọi là tâm sanh cảnh. Cảnh trước mắt
thì cảnh sanh tâm, như thấy cành hoa này đẹp, cành hoa đẹp
thì tâm mình cho hoa đẹp gọi là cảnh sanh tâm. Tâm sanh cảnh
hay cảnh sanh tâm mà tự thể của tâm là gì? Ở chỗ
nào?
Phật
bảo A Nan: Ngươi nói các pháp sanh nên các tâm sanh, tùy
sự suy nghĩ của tâm liền có, tâm chẳng có tự thể thì
chẳng thể suy nghĩ. Nói có con mắt thì phải có tự thể
con mắt, nói tự thể của tâm thì phải có tự thể mới
suy nghĩ được, nếu tâm không có tự thể làm sao suy nghĩ
được? Cho nên, Phật nói tâm chẳng có tự thể thì không
có suy nghĩ.
Nếu
chẳng có tự thể mà suy nghĩ được thì khỏi cần căn cũng
suy nghĩ được. Tức vô căn cũng có căn, không có trần thì
cũng có trần, như không có nhãn căn và không có cái tách
vẫn thấy được cái tách (vô trần, vô căn thấy được
vô trần). Cái này có trần như mặt kiến, bình hoa trước
mắt, có trần do nhãn căn thấy. Nếu tự thể thấy không
cần căn trần. Cho nên, nói vô căn thấy được vô trần,
nghĩa này không đúng.
Nếu
có tự thể thì ngươi thử dùng tay tự búng thân mình xem,
cái tâm biết của ngươi là từ trong thân ra hay từ bên ngoài
ra?
Dùng
tay búng thì tâm biết có sự búng, tâm biết có sự búng thì
ở trong thân ra hay bên ngoài ra? Vừa rồi nói ở trong không
đúng, ở ngoài cũng không đúng, vậy ở đâu?
A
Nan đáp: Mắt chủ sự thấy, tâm chủ sự biết, tâm
không phải như mắt, nói tâm thấy là chẳng đúng nghĩa.
Phật
bảo A Nan: Nếu thấy là con mắt thì ngươi ở trong phòng,
cửa biết thấy chăng? (phòng dụ cho thân, cửa dụ cho mắt).
Như kẻ đã chết con mắt vẫn còn, lẽ ra phải thấy được
vật, nếu thấy được vật sao gọi là chết?
Lại,
tâm hay biết của ngươi nếu thật có tự thể là một thể
hay nhiều thể? Nay nơi thân ngươi, tâm cùng khắp cơ thể
hay chẳng cùng khắp. Nếu nói một thể, khi tay ngươi búng
một chi, lẽ ra tứ chi đều biết, nếu đều biết thì chỗ
búng chẳng có, nếu có chỉ búng thì chẳng phải một thể.
Nếu như nhiều thể thì thành nhiều người, vậy thể nào
là của ngươi?
Nếu
nói khắp cơ thể thì đồng sự búng nói trên, nếu chẳng
cùng khắp thì khi ngươi rờ đầu và chân, đầu có biết
chân phải không biết nhưng hiện nay ngươi chẳng phải như
vậy. Nên biết ngươi nói “tùy sự suy nghĩ tâm liền có”
là chẳng đúng.
Chánh
văn:
Phá
chấp tâm ở chính giữa.
-Bạch
Thế Tôn! Khi Phật với Văn Thù và các Pháp Vương Tử luận
về thật tướng, con cũng nghe Phật nói tâm chẳng ở trong
cũng chẳng ở ngoài. Theo như con nghĩ, vì chẳng biết trong
nên chẳng phải ở trong, thân tâm cùng biết một lượt nên
chẳng phải ở ngoài, nay cùng biết một lượt mà chẳng thấy
bên trong, tất phải ở giữa.
-Ngươi
nói "ở giữa" thì cái chính giữa ấy phải rõ ràng, chẳng
phải không chỗ. Theo ngươi suy xét, giữa ở chỗ nào? Ở
nơi xứ (12 xứ, gồm cả lục căn, lục trần) hay ở nơi thân?
-Nếu
ở nơi thân, nơi ngoài da thì chẳng phải là giữa; ở giữa
thì đồng như ở trong. Nếu ở nơi xứ, là có thể nêu ra
hay chẳng thể nêu ra? Nếu chẳng thể nêu ra thì đồng như
không có; nếu có thể nêu ra lại chẳng định được chỗ
nào. Tại sao? Ví như có người cắm cây nêu làm chính giữa,
nhìn từ phương Đông thì cho cây nêu ở phương Tây, nhìn
từ phương Nam thì cho cây nêu ở phương Bắc, cái thể giữa
được nêu ra đã lẫn lộn thì tâm cũng thành rối loạn,
chẳng rõ ở đâu.
A Nan
thưa:
-Con
nói "chính giữa" chẳng phải hai thứ này. Như Thế Tôn nói:
Nhãn căn và sắc trần duyên nhau sanh ra nhãn thức. Nhãn căn
phân biệt, sắc trần vô tri, thức sanh nơi giữa, tức là
tâm vậy.
Phật
bảo:
-Nếu
tâm ngươi ở giữa căn trần, vậy tâm thể này gồm cả hai
hay chẳng gồm? Nếu gồm cả hai thì vật và thể xen lộn,
vật thì vô tri, thể thì có biết, thành hai thứ đối địch,
lấy gì làm giữa? Nếu lìa biết (căn) và không biết (trần)
thì chẳng có thể tánh, vậy lấy tướng nào làm chính giữa?
Nên biết ngươi nói "Tâm ở chính giữa" là chẳng đúng.
Giảng
giải:
Phá
chấp tâm ở chặn giữa.
-Bạch
Thế Tôn! Khi Phật nói với Văn Thù và các Pháp Vương Tử
luận về thật tướng, con cũng nghe Phật nói tâm chẳng ở
trong cũng chẳng ở ngoài. Theo như con nghĩ vì chẳng biết
trong nên chẳng phải ở trong thân, tâm cùng biết một lượt
nên chẳng phải ở ngoài, nay cùng biết một lượt mà chẳng
thấy bên trong tất phải ở giữa.
-Ngươi
nói ở giữa thì cái ở giữa đó phải rõ ràng, chẳng phải
không chỗ, theo ngươi suy xét gữa ở chỗ nào? Ở nơi xứ
(gồm cả lục căn lục trần) hay ở nơi thân?
Nếu
ở nơi thân là ngoài da thì chẳng phải là giữa, ở
giữa đồng như ở trong. Nếu ở nơi xứ là có thể nêu ra
hay chẳng thể nêu ra? Nếu chẳng thể nêu ra thì đồng như
không có, nếu có thể nêu ra lại chẳng định được chỗ
nào, tại sao? Ví như có người cầm cây nêu làm chính giữa
nhìn ở phương Đông thì cho cây nêu ở phương Tây, nhìn từ
phương Nam thì cho cây nêu ở phương Bắc. Cái thể giữa nêu
ra đã lẫn lôïn thì tâm cũng thành rối loạn chẳng rõ ở
đâu.
A Nan
thưa:
-Con
nói chính giữa chẳng phải 2 thứ này. Như Thế
Tôn nói, nhãn căn và sắc trần duyên nhau sanh ra nhãn thức,
nhãn căn phân biệt sắc trần vô tri thức sanh vô giữa tức
là tâm vậy.
Phật
bảo:
-Nếu
tâm ở giữa căn trần, vậy tâm thể này gồm cả 2 hay chẳng
gồm? Nếu gồm cả hai thì vật và thể xen lộn, vật thì
vô tri, thể thì có thành 2 thứ đối địch, lấy gì làm giữa?
Nếu lìa biết (căn) và không biết (trần) thì chẳng có thể
tánh, vậy lấy tướng nào làm chính giữa? Nên biết ngươi
nói tâm ở chính giữa là chẳng đúng.
Chánh
văn:
Phá
chấp "tất cả vô trước" là tâm.
-Bạch
Thế Tôn! Khi xưa con thấy Phật với bốn đại đệ tử (Mục
Kiền Liên, Tu Bồ Đề, Phú Lâu Na và Xá Lợi Phất) cùng chuyển
pháp luân, thường nói "cái tâm giác tri chẳng ở trong, chẳng
ở ngoài, cũng chẳng ở giữa, chẳng ở chỗ nào cả, tất
cả vô trước gọi là tâm". Vậy con vô trước, được gọi
là tâm chăng?
Phật
bảo A Nan:
-Ngươi
nói cái tâm giác tri chẳng ở chỗ nào cả, vậy như các loài
bay trên hư không, ở dưới nước và trên bờ, gọi là tất
cả vật tượng nơi thế gian mà ngươi vô trước đó, là
có hay không? Không thì đồng như lông rùa sừng thỏ, nói
gì vô trước? Nếu có sự vô trước thì chẳng thể gọi
là không. Không tướng mới không, chẳng không thì có tướng,
tâm đã chấp có tướng, thì còn nói gì vô trước? Nên biết,
nói "Tất cả vô trước gọi là tâm giác tri" là chẳng đúng.
Giảng
giải:
Cuối
cùng A Nan chấp “tất cả vô trước là tâm”.
-Bạch
Thế Tôn! Khi xưa con thấy Phật với bốn đại đệ tử (Mục
Kiền Liên, Tu Bồ Đề, Phú Lâu Na, và Xá Lợi Phất) cùng
chuyển pháp luân, thường nói “cái tâm giác tri chẳng ở
trong, chẳng ở ngoài, cũng chẳng ở khoảng giữa, chẳng ở
chỗ nào cả, tất cả vô trước gọi là tâm”, vậy con vô
trước được gọi là tâm chăng?
Phật
bảo A Nan:
-Ngươi
nói cái tâm giác tri chẳng ở chỗ nào cả, như các loài bay
trên hư không, ở dưới nước và trên bờ, gọi là tất cả
vật tượng nơi thế gian mà ngươi vô trước đó có hay không?
Không thì đồng như lông rùa sừng thỏ, nói gì vô trứơc?
Nếu có sự vô trước thì chẳng thể gọi là không, không
tướng mới không, chẳng không thì có tướng, tâm đã chấp
có tướng thì còn nói gì vô trước? Nên biết nói “tất
cả vô trước là tâm giác tri” là chẳng đúng.
* Giảng
chữ: “vô trước”.
-Đã
có cái tánh mà nói tâm không có chấp trước, nếu không có
cái tánh thì lấy gì vô trước? Trống rỗng không có đối
tượng để mình vô trước. Có vật tượng đã là trước
rồi (chấp có) thì làm sao nói là vô trước được, cho nên
nói tâm vô trước là không đúng.
Lược
giải:
Ở
đây nêu ra bảy chỗ gạn hỏi, ý Phật là muốn đưa A Nan
thẳng đến chỗ tự ngộ, lời Phật chẳng phải chơn lý.
Phật chỉ dùng thuốc giả để trị bịnh giả của A Nan.
Tại sao nói là bệnh giả? Vì những kiến chấp của A Nan
vốn chẳng thật. Tại sao nói thuốc giả? Vì lời phá chấp
của Phật cũng chẳng thật.
Cũng
như A Nan nói tâm ở trong thân, ở ngoài thân, cho đến nói
vô trước là tâm, kỳ thật không phải có chỗ chẳng đúng
hay chẳng sai, vì chấp nhất định ở một chỗ, nên Phật
nói chẳng đúng. Nếu bệnh chấp chưa hết thì có thể nêu
ra vô số chỗ, chứ đâu phải chỉ có bảy chỗ ư? Nếu bệnh
chấp đã hết thì một chỗ cũng chẳng có, nói gì đến bảy
chỗ!
Tự
tánh vốn bất nhị, nếu chấp theo lời Phật, cho "thật chẳng
ở trong" là nhị, cho "thật chẳng ở ngoài" cũng là nhị,
cho đến bất cứ có ở một chỗ nào, hay chẳng ở một chỗ
nào đều là nhị. Tại sao? Vì nếu có ở một chỗ này thì
những chỗ kia không có, chỗ có chỗ không tức là nhị. Nên
Phật nói: Phàm hữu ngôn thuyết, giai phi thật nghĩa (Phàm
có lời nói đều chẳng phải nghĩa thật).
Giảng
giải:
Vì
A Nan chấp chỗ này thì Phật phá chỗ này, chấp chỗ kia thì
Phật phá chỗ kia, là phá tâm chấp của A Nan, chứ không phải
lời phá chấp của Phật là chân lý.
A Nan
chấp ở trong thì Phật phá không phải ở trong thân. A Nan
chấp ở ngoài thân thì Phật phá không phải ở ngoài thân.
Nhưng chấp chẳng phải trong thân là chân lý là không đúng,
chẳng phải ở ngoài thân là chân lý cũng không đúng.
Ấy
là dùng để phá chấp của A Nan, chứ không phải là chân
lý. Nếu không phải ở trong thân thì tự tánh không cùng khắp,
chẳng phải ở ngoài thân thì tự tánh cũng không cùng khắp.
Vì tự tránh cùng khắp, chỉ thấy có chỗ là không đúng,
chấp không có chỗ cũng không đúng.
Cho
nên, phàm có nổi ý niệm cho là đều không đúng, không phải
lời của Phật phá chấp là đúng, lời của Phật dùng để
phá chấp không phải là chân lý.
Chánh
văn:
Lúc
ấy, Như Lai từ chữ vạn trước ngực phóng ra hào quang, rực
rỡ trăm ngàn màu sắc, đồng thời chiếu khắp mười phương
vô số quốc độ Phật, soi khắp đỉnh đầu tất cả Như
Lai trong mười phương bửu sát, rồi xoay về soi cả đầu
A Nan cùng đại chúng, bảo A Nan rằng:
-Nay
ta vì ngươi dựng đại pháp tràng, khiến mười phương chúng
sanh đều được diệu tâm sáng tỏ, pháp nhãn thanh tịnh.
A Nan, trước ngươi trả lời thấy nắm tay chói sáng, vậy
cái nắm tay này do đâu mà có?
Làm
sao thành nắm tay? Ngươi lấy gì để thấy?
A Nan
đáp:
-Do
tánh thanh tịnh sáng ngời như núi báu của thân Phật sanh
ra hào quang, ngón tay Phật co nắm lại thành nắm tay, chính
mắt con thấy tướng nắm tay vậy.
Phật
bảo A Nan:
-Hôm
nay ta nói thật cho nghe: Những người có trí cũng phải nhờ
thí dụ mới được khai ngộ. A Nan, ví như tay của ta, nếu
chẳng có cánh tay thì chẳng thành nắm tay của ta, nếu chẳng
có con mắt ngươi thì chẳng thành sự thấy của ngươi. Vậy
lấy nhãn căn của ngươi so với nắm tay của ta, hai nghĩa
giống nhau chăng?
-Bạch
Thế Tôn! Vâng giống. Nếu chẳng có con mắt thì chẳng thành
sự thấy của con, vậy đem nhãn căn của con so với nắm tay
của Như Lai, hai nghĩa giống nhau.
Phật
bảo A Nan:
-Ngươi
nói giống nhau, nghĩa này chẳng đúng. Tại sao? Như người
không có cánh tay thì tuyệt nhiên chẳng có nắm tay, nhưng
người không có mắt thì chẳng phải không thấy. Vì sao? Ngươi
thử hỏi người mù có thấy gì chăng? Người ấy ắt sẽ
trả lời: "Nay trước mắt tôi chỉ thấy tối đen, chẳng
còn thấy gì khác". Xét theo nghĩa này thì tiền trần tự tối,
sự thấy đâu có giảm bớt!
Giảng
giải:
Đoạn
này Phật muốn chứng tỏ sự thấy không phải là con mắt.
Con mắt giống như cây đèn để hiển hiện sắc tướng.
Lúc
ấy, Như Lai từ chữ VẠN trước ngực phóng ra hào quang rực
rở trăm ngàn màu sắc, đồng thời chiếu khắp mười phương
vô số quốc độ Phật, soi khắp đỉnh đầu tất cả Như
Lai trong 10 phương bửu sát, rồi quay về soi cả đầu A Nan
cùng đại chúng, bảo A Nan rằng:
-Đây
Phật muốn thuyết đại kinh, tức là triệu chứng Phật muốn
thuyết pháp bất khả tư nghì, cho nên phóng hào quang tất
cả các quốc độ Như Lai và đại chúng trong hội.
-Nay
ta vì ngươi dựng pháp tràng, khiến 10 phương chúng sanh đều
được diệu tâm sáng tỏ, pháp nhãn thanh tịnh A Nan trước
ngươi trả lời thấy tay chói sáng, vậy cái nắm tay này do
đâu mà có? Làm sao thành nắm tay? Ngươi lấy gì để thấy?
A Nan
đáp:
-Do
tánh thanh tịnh sáng ngời như núi báu của thân
Phật co nắm lại thành nắm tay chính mắt con thấy tướng
nắm tay vậy.
Phật
bảo A Nan:
-Hôm
nay ta nói thật cho nghe, những người có trí cũng phải nhờ
thí dụ mới được khai ngộ. A Nan, ví như nắm tay ta nếu
không có cánh tay thì chẳng thành nắm tay, nếu chẳng có con
mắt ngươi thì chẳng thành sự thấy của ngươi. Vậy lấy
nhãn căn của ngươi so với nắm tay của ta, hai nghĩa
này có giống nhau chăng?
-Bạch
Thế Tôn! Vâng giống, nếu chẳng có con mắt thì chẳng thành
sự thấy của con, vậy đem nhãn căn của con so với nắm tay
của Như Lai, hai nghĩa giống nhau.
Phật
bảo A Nan:
-Ngươi
nói giống nhau, nghĩa này chẳng đúng. Tại sao? Như người
không có cánh tay thì tuyệt nhiên chẳng có nắm tay, như người
không có mắt thì chẳng phải không thấy. Vì sao? Ngươi thử
hỏi người mù có thấy gì không? Người ấy chắc sẽ trả
lời “nay trước mắt tôi chỉ thấy màu đen chẳng còn thấy
gì khác”. Xét theo nghĩa này thì tiền trần tự tối sự
thấy đâu có giãm bớt.
Tiền
trần, tiền là trước mắt, trần là bụi. Tức là để ví
dụ sắc, thinh, hương, vị, xúc, 5 thứ này thuộc về tiền
trần.
Ngũ
căn: Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân.
Ngũ
thức: Nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức và thân
thức để phân biệt tiền trần.
Thức
thứ 6 là ý căn để phân biệt pháp trần, pháp trần không
phải đối trước mắt. Cho nên không phải là tiền trần,
tức là ở xa thấy, quá khứ có thể thấy, vị lai cũng có
thể thấy, không bị không gian, thời gian hạn chế gọi là
pháp trần.
Hỏi:
Thế
gian tướng thường trụ là cái gì đã xảy ra rồi thì nó
trụ ngay ở sát na đó, nên Phật có huệ nhãn thấy tất cả
quá khứ xảy ra y thời lúc đó có phải không?
Đáp:
Không
những quá khứ vị lai cũng vậy, cũng như người chứng quả
A La Hán thấy được 80.000 kiếp trước và thấy được 80.000
kiếp sau.
Hỏi:
Người
tu hành cái nghiệp thay đổi thì việc xảy ra trong tương lai
phải thay đổi, sao lại thấy y như lúc trước?
Đáp:
Lúc
chưa thay đổi cũng như lúc thấy thay đổi, chỉ lúc thấy
đó thôi; một giờ sau thay đổi thì một giờ sau thấy khác.
Hiện nay, thấy nhiều giỏ trái cây, một giờ sau bưng bớt
1 giỏ thấy thiếu 1 giỏ thì cũng thấy vậy. Tức là thay
đổi thấy theo thay đổi.
Hỏi:
Theo
sự thấy người ta, có quyết tâm tu hành thì sự thấy có
thay đổi chứ?
Đáp:
Phải
rồi, nó có khác nhau, tới chừng khác nhau mới thấy
khác nhau, bây giờ thấy của cô chưa có chứng quả A La Hán,
rồi 1 năm sau thấy cô chứng quả A La Hán.
Hỏi:
Thí
dụ ngài Xá lợi phất là A La Hán, ngài nhìn 1 người nào
đó thấy được 80.000 kiếp của ông kia, ông kia có tu hành
hay không thì ông ấy tự chuyển, như vậy có khác hay không?
Đáp:
Thì
nó khác, nhưng ngôi pháp nào trụ theo ngôi pháp đó thì mỗi
sát na nó khác, bây giờ sát na này ông chưa có nổi niệm
muốn tu hành thì những kiếp sau nó khác, nếu đã nổi niệm
tu hành thì nó đã thay đổi.
-Như
vậy ngài thấy có phải cố định không?
-Không
phải nhất định thấy việc đó theo sát na.
-Theo
sự thấy có nhất định xảy ra không?
-Không
có nhất định xảy ra, tức là cũng có thể xảy ra.
-Nó
sẽ không theo đúng như 1 + 2 = 3, 2 + 3 = 5, nó không sẽ theo
như vậy, như người đã làm ác thì tương lai sẽ làm thiện?
-Phải,
đúng vậy, tùy theo mỗi người, sát na đó thì đúng.
Hỏi:
Thế
gian tướng thường trụ vì nó không thay đổi phải không?
Đáp:
-Người
thấy đó không thay đổi, nhưng sát na thứ nhì không có không
thay đổi.
-Chuyện
qua rồi có thay đổi không?
-Chuyện
qua rồi không thay đổi.
Phật
bảo A Nan:
-Ngươi
thử hỏi người mù trước mắt có thấy gì không? Người
ấy chắc sẽ trả lời: “Nay trước mắt tôi chỉ thấy đen
tối, chẳng còn thấy gì khác”. Xét theo nghĩa này thì tiền
trần tự tối, chứ không có tánh thấy, tánh thấy không có
giãm bớt.
A Nan
hỏi:
Những
người mù trước mắt chỉ thấy đen tối sao gọi là thấy?
Phật
bảo A Nan:
Người
mù không có mắt chỉ thấy tối đen, so với người có mắt
ở trong phòng tối cũng chỉ thấy tối đen, 2 thứ tối
đen ấy có khác hay chẳng khác?
-Bạch
Thế Tôn! Thật chẳng có khác.
-A
Nan, nếu người không có mắt, thấy toàn tối đen, thình lình
được mắt sáng liền thấy các sắc tướng trước mắt,
gọi là “mắt thấy”. Người ở trong phòng tối cũng thấy
toàn tối đen, bỗng nhiên được đèn sáng thấy các sắc
tướng trước mắt thì gọi là “đèn thấy” phải không?
Nếu đèn thấy thì chẳng được gọi là đèn, lại đèn thấy
thì có dính dáng gì đến người? Vậy biết đèn chỉ có
tác dụng hiển hiện sắc tướng, sự thấy là tâm chẳng
phải mắt.
Trong
này nói là tâm, tức là chỉ tánh thấy.
Liên
Hệ:
Kinh
Thủ Lăng Nghiêm Tông Thông, HT. Nhẫn Tế
Kinh
Thủ Lăng Nghiêm, HT. Thích Duy Lực
Tổng
Luận Kinh Lă ng Nghiêm Trưc Chỉ, HT. Thích Thiện Siêu
Pháp
Tu Lăng Nghiêm Ðại Ðịnh, HT. Thích Huệ Hưng
Phép
Tu Lăng Nghiêm Ðại Ðịnh
