KINH
THỦ LĂNG NGHIÊM
Quyển
1
Chánh
văn:
Tôi
nghe như vầy: Lúc bấy giờ tại tịnh xá Kỳ Hoàn thành Thất
La Phiệt, Đức Phật và chúng Đại Tỳ Kheo một ngàn hai trăm
năm mươi vị, đều là Đại A La Hán, đã ra khỏi luân hồi,
đầy đủ oai nghi, giúp Phật hoằng pháp nơi các quốc độ,
trì giới thanh tịnh, làm mô phạm cho tam giới, ứng hiện
vô số thân, hóa độ chúng sanh đến cùng tột vị lai ra khỏi
trần lao. Hàng đệ tử được phó chúc trụ trì Phật pháp
gồm có: Đại Trí Xá lợi Phất, Ma Ha Mục Kiền Liên, Ma Ha
Câu Si La, Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử, Tu Bồ Đề, Ưu Ba Ni Sa
Đà v. v... là bậc thượng thủ, và có vô số Bích Chi với
môn đồ đồng đến nơi Phật cùng các Tỳ Kheo mãn hạ tự
tứ. Khi ấy, mười phương Bồ Tát tuân theo lời Phật sẽ
cầu Mật nghĩa, hỏi đạo để quyết nghi.
Giảng
giải:
Khi
Phật còn tại thế chưa có kinh, sau khi Phật nhập diệt, hàng
đệ tử của Phật nhóm lại kết tập, tôn giả A Nan nói
ra, vì trí nhớ của tôn giả A Nan rất hay. Trong hàng đại
chúng 500 vị A La Hán nghe qua nếu chỗ nào không đồng
ý thì lên tiếng. Nếu bằng lòng thì im lặng, cho nên tôn
giả A Nan nói câu đầu tiên là: “Tôi nghe như vầy”.
Lúc
bấy giờ, tại tịnh xá Kỳ Hoàn, thành Thất La Phiệt, Đức
Phật và đại chúng 1.250 vị A La Hán. Các vị A La Hán đã
giải thoát phần đoạn sinh tử. Sinh tử gồm có 2 thứ: Phần
đoạn sinh tử và biến dịch sinh tử.
Phàm
tu tập chứng quả A La Hán thì được lìa phần đoạn sinh
tử, không còn luân hồi trong lục đạo. Nhưng vẫn còn nửa
đường chưa đến cứu cánh quả Phật, nên còn biến dịch
sinh tử. Có nghĩa là họ còn tiến lên quả Bích Chi Phật.
Bích
Chi Phật là độc giác, thời không có Phật, họ tu quán 12
nhân duyên chứng quả Duyên Giác.
Phật
hoằng pháp đến đâu đều có 1.250 vị A La Hán đi theo hộ
trì. Trì giới thanh tịnh làm mô phạm cho tam giới. Giới Tỳ
Kheo là giới Tiểu thừa, còn giới Bồ Tát là giới Đại
thừa. Tỳ Kheo chứng quả A La Hán, không có thọ giới Bồ
Tát. 250 giới của Tỳ Kheo là giới căn bản. Giới Tiểu thừa
của Thanh Văn là giữ thân không phạm, giới Đại thừa của
Bồ Tát thì giữ ý không phạm. Ví dụ giới trộm cắp của
Tỳ Kheo, nếu tay chưa đụng lấy cái tách thì chưa phạm,
khi lấy cái tách rời khỏi chỗ mới phạm giới. Giới Bồ
Tát khởi ý niệm muốn ăn cắp là phạm.
Nếu
giới Tỳ Kheo giết lầm người thì tội nhẹ, và giết người
ấy không chết thì tội đó cũng nhẹ; giới Đại thừa khởi
niệm lên là phạm. Cho nên, giới Bồ Tát không cho nuôi mèo,
vì mèo hay bắt chuột, lại cho nuôi trâu bò nhưng phải làm
phép tịnh thí; nghĩa là người nuôi không có quyền cho hay
bán, tại cho người ta có thể giết nó, vậy phải nuôi nó
đến già chết.
Tam
giới giới gồm có: Dục Giới, Sắc Giới, Vô Sắc Giới.
Con
người và con vật trên mặt đất đều sống trong Dục Giới.
Cõi trời có 6 lớp Dục Giới sống trong hư không. Dục Giới
có xác thân nam nữ. Sắc Giới tuy có xác thân, nhưng không
do dâm dục mà ra. Vô Sắc Giới không có xác thân chấp A lại
da thức là ta, có cõi trời Tứ Không cao nhất thọ mạng đến
8 muôn đại kiếp, thấp là 4 muôn đại kiếp, thấp nữa là
2 muôn đại kiếp. Mặc dầu, họ hưởng hết 8 muôn đại
kiếp, hết phước báo rồi phải bị luân hồi sinh tử, như
Uất Đầu Lam Phất hết tuổi thọ 8 muôn đại kiếp rồi
cũng bị đọa con chồn bay.
Theo
trong này không kể các vị Bồ Tát, chỉ có 1.250 vị A La Hán.
Nhưng ở đây nêu ra các bậc thượng thủ như: Đại Trí Xá
Lợi Phất, Ma Ha Mục Kiền Liên, Ma Ha Câu Si La, Phú Lâu Na
Di Đa La Ni Tử, Tu Bồ Đề, Ưu Ba Ni Sa Đà,… (đây chỉ dịch
âm) là các bậc thượng thủ và Bích Chi Phật rất nhiều,
với môn đồ đồng đến nơi Phật cùng với các Tỳ Kheo
mãn hạ tự tứ.
Tại
sao gọi là mãn hạ tự tứ?
Theo
luật Tỳ Kheo phải kiết hạ 90 ngày cấm túc không được
ra ngoài. Mùa hạ ở Ấn Độ nóng nực, phái nữ hay mặc quần
áo đơn sơ, và sâu bọ thường ra ngoài đường, ấy là nguyên
do chư Tăng kiết hạ, trong 90 ngày không đi khất thực, Phật
tử đem vật thực lại tịnh xá cúng dường.
Như
các chùa ở Việt-Nam cho Phật tử đăng ký cúng dường cơm
chư Tăng trong mùa hạ. Vào 3 ngày cuối hạ tự tứ là tự
kiểm điểm bản thân mình có phạm giới không? Và thưa trước
đại chúng rằng: “Có ai thấy tôi phạm giới không? Có ai
nghe tôi phạm giới không? Hoặc có nghi tôi phạm giới không?
Xin các vị ra trước đại chúng nói ra để cử tội”.
Khi
ấy 10 phương chư Bồ Tát tuân theo chư Phật cầu mật nghĩa,
hỏi đạo để quyết nghi. Nghĩa là khi giải hạ ở đại
chúng cầu Phật thuyết pháp giải quyết những việc nghi ngờ.
Chánh
văn:
Bấy
giờ, Như Lai trải tòa ngồi yên vì đại chúng trong Hội khai
thị pháp chưa từng có, nghĩa lý thâm sâu, diệu âm thuyết
pháp vang khắp mười phương thế giới, hằng sa Bồ Tát đều
đến tụ hoïp, trong đó Văn Thù Sư Lợi là bậc Thượng thủ.
Khi
ấy, vua Ba Tư Nặc nhân ngày giỗ của phụ vương làm lễ
trai tăng, sắm đủ các món ăn quý báu, đích thân đến thỉnh
Phật và chư Đại Bồ Tát vào cung thọ trai. Trong thành còn
có nhiều trưởng giả, cư sĩ khác cũng cùng ngày thiết lễ
trai tăng, thỉnh Phật đến thọ cúng dường. Phật sai Văn
Thù dẫn đầu chư Bồ Tát và A La Hán, chia thành nhiều nhóm,
ứng lời mời đến thọ trai nơi các trai chủ. Chỉ có A Nan
được vị khác mời riêng, đi xa chưa về, không kịp cùng
dự với tăng chúng.
Giảng
giải:
Mỗi
lần Phật thuyết pháp đều do vấn đáp mà thành kinh. Phật
trải tòa ngồi yên vì đại chúng khai thị pháp chưa từng
có, chưa nghe chưa hiểu, nên nói nghĩa lý thâm sâu. Tiếng
thuyết pháp của Phật gọi là diệu âm, khi thuyết pháp vang
khắp 10 phương thế giới, không phải ở trong hội Lăng Nghiêm.
Hằng sa Bồ Tát đều đến tụ hội, trong đó có Văn Thù
Sư Lợi là bậc thượng thủ.
Kinh
này có là do vua Ba Tư Nặc nhân ngày giỗ phụ vương, mà làm
lễ trai tăng sắm sửa các món ăn quý báu, đích thân
đến thỉnh Phật và chư đại Bồ Tát vào cung thọ trai.
Cùng
một ngày đó, các trưởng giả đều thỉnh Phật đi thọ
trai, nên Phật phải chia ra nhiều nhóm ứng lời mời đi đến
thọ trai nơi các trai chủ, chỉ có tôn giả A Nan được vị
khác mời riêng đi xa chưa về không kịp dự với Tăng chúng.
Chánh
văn:
Lúc
ấy, trên đường trở về, một mình A Nan chẳng có thượng
tọa và A Xà Lê cùng đi, ngày đó lại không ai mời đi cúng
dường, trong tâm mong cầu gặp được vị trai chủ sau cùng.
Trước kia, A Nan đã từng nghe Phật quở Tu Bồ Đề và Đại
Ca Diếp, là bậc A La Hán, mà người chuyên chọn khất thực
nhà giàu, người chuyên chọn khất thực nhà nghèo, tâm chẳng
bình đẳng, quyết tuân theo pháp bình đẳng bất nhị của
Như Lai, để tránh mọi sự chê bai và nghi hoặc, trong tâm
cho rằng: Đối với trai chủ, chẳng kể quý tộc hay hèn hạ,
thức ăn dơ sạch, phát tâm từ bi để thành tựu cho tất
cả chúng sanh đều được gieo trồng vô lượng công đức.
Vừa nghĩ như vậy, tay ôm bình bát, đi từng nhà dọc theo
đường phố, oai nghi nghiêm chỉnh, đúng pháp khất thực.
Giảng
giải:
Thường
thường đi 2 người trở lên, nhưng lúc đó chỉ 1 mình tôn
giả A Nan đi về chẳng có Thượng tọa, A xà lê cùng đi.
Ở Việt Nam cách xưng hô các vị Tăng bậc thấp gọi là Đại
đức trên là Thượng tọa và trên nữa là Hòa thượng.
Theo
giới luật Tỳ Kheo khi thọ giới mỗi năm kiết hạ được
1 tuổi hạ. Được 9 hạ gọi là Hạ tọa, được 10 hạ gọi
là Trung tọa. Từ 20 hạ đến 29 hạ gọi là Thượng tọa,
30 hạ sắp lên gọi là Trưởng lão, nhưng ở Việt Nam không
có Hạ tọa, Trung tọa.
Thượng
tọa gọi là thân giáo sư, trong giới luật nói “Hòa thượng
là thầy bổn sư của mình, phải gần gủi 10 năm học hỏi.
Đủ 10 năm mới đủ tư cách làm thầy nhận đệ tử”, nhưng
bây giờ không phải vậy.
Ngày
đó, không ai mời cúng dường, A Nan mong cầu gặp được trai
chủ sau cùng, trước kia A Nan từng nghe Phật quở Tu Bồ
Đề và Đại Ca Diếp là bậc A La Hán, một người chuyên
khất thực nhà giàu, một người chuyên khất thực nhà nghèo,
tâm chẳng bình đẳng.
Theo
phép khất thực không phân biệt giàu nghèo, cầm cây tích
trượng từ nhà này sang nhà kia, đứng trước cửa rung cây
tích trượng để Phật tử biết cúng dường; chỉ đi trong
7 nhà, nếu không cúng cũng phải đi về. Thật ra chỉ 1 nhà
cúng là đủ ăn, nếu có dư phải chia cho người khác, không
được để dành cho ngày mai. Đồ ăn khất thực phải chia
làm 2 phần, 1 phần dành cho buổi sáng, 1 phần dành cho buổi
trưa.
Vậy,
phải đi khất thực từ con đường nào? Đi con đường nào
cũng được, đi gần chỗ ở của mình. Theo truyền thống
Phật tử Thái Lan đều có tinh thần cúng dường, nếu không
cúng cảm thấy khó chịu.
Lý
do đi khất thực nhà nghèo vì họ không làm phước nên tạo
cho họ làm phước; đi khất thực nhà giàu vì họ hay làm
tội nên tạo cho họ làm phước nhiều hơn làm tội, khi chết
sẽ đầu thai bên phước báo.
Ở
trên là lý do phân biệt không tốt, A Nan suy nghỉ mình sẽ
khất thực bình đẳng không phân biệt giàu nghèo, nên bị
chú thuật của Ma Đăng Già mê hoặc.
Chánh
văn:
Lúc
A Nan đang khất thực đi ngang nhà dâm, bị nàng huyễn thuật
Ma Đăng Già dùng tà chú Phạm Thiên của ngoại đạo tóc vàng
nhiếp vào nhà dâm, vuốt ve cám dỗ, sắp bị hoại giới thể.
Phật
đã biết trước việc này, thọ trai xong, liền về, vua và
đại thần, trưởng giả cư sĩ, đều đi theo Phật, xin nghe
pháp yếu.
Bấy
giờ, đảnh đầu Thế Tôn phóng ra hào quang bách bửu vô úy,
trong hào quang nở ra bửu liên hoa ngàn cánh, trên đó có hóa
thân Phật ngồi kiết già thuyết thần chú, sai Văn Thù đem
chú đến cứu hộ, tà chú tiêu diệt, dắt A Nan và Ma Đăng
Già về nơi Phật ở.
Giảng
giải:
Lúc
ấy, A Nan đang khất thực đi ngang nhà dâm, bị nàng Ma Đăng
Già dùng chú thuật ngoại đạo nhiếp vào nhà dâm, rồi
vuốt ve cám dỗ. Vì A Nan có tâm phân biệt như trên đã nói,
nên tâm không được định, thần chú của Ma Đăng Già mê
hoặc.
Phật
đã biết trước việc này, khi thọ trai xong, vua cùng đại
thần và đại chúng đợi nghe Phật thuyết pháp. Ngay đó trên
đỉnh đầu Phật phóng hào quang có nghìn cánh bông sen, trong
bông sen có Phật ngồi kiết già thuyết thần chú, rồi Phật
sai Văn Thù đem thần chú đến cứu hộ A Nan, dắt A Nan
và Ma Đăng Già về nơi Phật ở.
Chánh
văn:
A Nan
gặp Phật, đảnh lễ rơi lệ, hối hận xưa nay chỉ ham học
rộng nghe nhiều, chưa tròn đạo lực, nay ân cần thỉnh hỏi
Như Lai về phương tiện đầu tiên của ba thứ thiền quán:
Sa Ma Tha (1), Tam Ma (2) và Thiền Na (3), mà mười phương Như
Lai đã tu được thành chánh giác. Khi đó có hằng sa Bồ Tát
và các bậc Đại A La Hán, Bích Chi Phật nơi mười phương
đều xin cùng nghe, im lặng ngồi yên để lãnh thọ pháp yếu
của Phật.
Khi
ấy, Thế Tôn giơ tay dịu dàng rờ đầu A Nan, nói với A Nan
và đại chúng:
- Có
pháp Tam Ma Đề, gọi là Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm
Vương, bao hàm vạn hạnh, là đường lối vi diệu trang nghiêm,
cũng là pháp môn đưa đến giải thoát cuối cùng của mười
phương Như Lai, nay ngươi hãy chú ý nghe.
Giảng
giải:
Lúc
ấy, A Nan gặp Phật đảnh lễ rơi lệ hối hận ngày xưa
chỉ học rộng nghe nhiều, A Nan có tánh nhớ hay, chê người
không bình đẳng cũng do học rộng nghe nhiều, nhưng không
trọng đạo lực, nên bị Ma Đăng Già mê hoặc. Vì vậy, thỉnh
Phật nói về phương pháp tu để tròn đạo lực, Phật dạy
3 thứ thiền quán: - Sa ma tha - Tam ma bát đề - Thiền na.
-Sa
ma tha tiếng phạn dịch là cực tịnh, giống như chỉ quán
tông Thiên Thai là không quán.
-Tam
ma bát đề giống như chỉ quán tông Thiên Thai là giả quán.
-Thiền
na giống như chỉ quán tông Thiên Thai là trung quán.
10
phương Như Lai đều do 3 thiền quán này tu thành chánh giác.
Thiền tông không theo 3 thiền quán này. Cho nên, kinh Viên Giác
nói: “Trừ ra người đó ngộ” (Thiền tông).
Khi
đó có hằng sa Bồ Tát và các đại A La Hán, Bích Chi Phật
nơi 10 phương đều xin lắng nghe. Phật giơ tay dịu dàng rờ
đầu A Nan nói A Nan và đại chúng rằng:
-Có
pháp tam ma đề gọi là Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm
Vương, tức là tự tánh khắp không gian và thời gian. Muốn
kiến tánh phải y theo pháp môn này để tu, trong đó bao hàm
vạn hạnh là đường lối vi diệu trang nghiêm, cũng là pháp
môn đưa đến giải thoát cuối cùng của 10 phương Như Lai,
nay các ngươi hãy chú ý lắng nghe.
Chánh
văn:
A Nan
đảnh lễ, kính vâng lời Phật dạy.
Phật
bảo A Nan:
-Ngươi
và ta là anh em, cùng một giống nòi, chẳng biết lúc mới
phát tâm, ở nơi pháp ta, ngươi thấy tướng thù thắng gì
liền xả ân ái sâu nặng của thế gian?
A Nan
bạch Phật:
-Con
thấy ba mươi hai tướng thù thắng tuyệt diệu của Như Lai,
hình thể trong sáng như lưu ly, thường tự nghĩ tướng này
chẳng phải do dục ái sanh ra. Tại sao? Vì dục ái ô nhiễm
xấu xí, cấu kết tinh huyết nhơ bẩn chẳng thể sanh ra diệu
tướng quang minh, thanh tịnh thù thắng như thế, do đó nên
khâm mộ theo Phật xuất gia.
Phật
nói:
-Lành
thay! A Nan, các ngươi nên biết, tất cả chúng sanh từ vô
thỉ đến nay, sanh tử liên tục, chỉ vì chẳng biết chơn
tâm thường trụ, thể tánh trong sạch sáng tỏ, lại nương
theo vọng tưởng, vọng tưởng chẳng chơn nên có luân hồi.
Mười phương chư Phật cùng một đạo lìa khỏi sanh tử đều
do trực tâm, vì tâm hạnh và lời nói ngay thẳng, như thế
từ đầu đến cuối, cho đến các ngôi bậc, ở khoảng giữa
chẳng có các tướng quanh co.
-Nay
ngươi muốn tham cứu vô thượng Bồ Đề, phát minh chơn tánh,
hãy trực tâm mà trả lời câu hỏi của ta. A Nan, nay ta hỏi
ngươi: Lúc ngươi phát tâm duyên theo ba mươi hai tướng của
Như Lai, lấy gì để thấy? Ai biết sự ham thích?
Giảng
giải:
A Nan
đảnh lễ nghe lời Phật dạy, Phật bảo A Nan: Ta và ngươi
là anh em chú bác cùng một giống nòi, chẳng biết ngươi thế
nào mà phát tâm xả bỏ ân ái nhiều kiếp sâu nặng để
xuất gia?
A Nan
bạch Phật: Con thấy 32 tướng tuyệt diệu thù thắng của
Như Lai hình thể trong sạch như lưu ly, thường nghĩ trong tâm
tướng này không phải do dục ái mà sanh ra. Người
thường do dục ái sinh ra, còn tướng Phật không phải do dục
ái sinh ra. Tại sao? Vì dục ái là tinh huyết nhơ bẩn không
thể sinh ra diệu tướng quang minh thanh tịnh thù thắng như
thế! Do đó hâm mộ 32 tướng thù thắng theo Phật xuất gia.
Phật
nói:
Tốt
lắm! Các ngươi từ vô thỉ đến nay sanh lão bệnh tử liên
tục, chỉ vì chẳng biết chơn tâm thường trụ thể tánh
trong sạch sáng tỏ, lại nương theo vọng tưởng chẳng chân
thật nên có luân hồi. Mười phương chư Phật cùng một đạo
lìa khỏi sanh tử đều do trực tâm, vì tâm hạnh và lời
nói ngay thẳng như thế, từ đầu đến cuối cho đến các
ngôi bậc.
Các
ngôi bậc này chỉ cho 57 ngôi bậc: Càn Huệ Địa, Thập Tín,
Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Tứ Gia Hạnh, Thập
Địa, Đẳng Giác và Diệu Giác, ở trong khoảng giữa không
có các tướng quanh co.
Nay
ngươi muốn tham cứu vô thượng Bồ Đề phát minh chơn
tánh (tự tánh, Phật tánh) thì phải trực tâm trả lời câu
hỏi của ta. Phật hỏi A Nan: Ngươi phát tâm duyên theo 32 tướng
của Như Lai lấy gì để thấy? Ai biết sự ham thích?
Chánh
văn:
-Bạch
Thế Tôn, dùng tâm và mắt của con thấy tướng thù thắng
của Như Lai, sanh lòng ham thích nên phát tâm, nguyện xả bỏ
sanh tử.
Phật
bảo:
-Như
ngươi vừa nói, sự ham thích do nơi tâm và mắt. Nếu chẳng
biết tâm và mắt ở đâu thì chẳng thể hàng phục được
trần lao; ví như đất nước có giặc, vua sai binh dẹp trừ,
binh lính tất phải biết sào huyệt của giặc. Khiến ngươi
bị luân chuyển ấy là lỗi tại tâm và mắt. Ta hỏi ngươi:
Tâm và mắt của ngươi hiện đang ở đâu?
Giảng
giải:
A Nan
bạch Phật: Con dùng tâm và mắt của con để nhìn thấy Như
Lai, nên sanh lòng ham thích mà phát tâm nguyện bỏ sanh tử.
Phật
bảo: Như ngươi vừa nói sự ham thích do tâm và mắt, nếu
không biết tâm và mắt ở đâu thì chẳng hàng phục trần
lao?
Cuộc
sống hàng ngày lục căn tiếp xúc với lục trần sanh ra phiền
não gọi là trần lao. Ví như đất nước có giặc, vua sai
binh lính dẹp trừ, binh lính tất phải biết sào huyệt của
giặc; khiến ngươi bị luân chuyển ấy là bởi tâm và mắt,
ta hỏi ngươi tâm và mắt của ngươi hiện đang ở chỗ nào?
Liên
Hệ:
Kinh
Thủ Lăng Nghiêm Tông Thông, HT. Nhẫn Tế
Kinh
Thủ Lăng Nghiêm, HT. Thích Duy Lực
Tổng
Luận Kinh Lă ng Nghiêm Trưc Chỉ, HT. Thích Thiện Siêu
Pháp
Tu Lăng Nghiêm Ðại Ðịnh, HT. Thích Huệ Hưng
Phép
Tu Lăng Nghiêm Ðại Ðịnh
