THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học   Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn  Index Tác-Giả

 
 
 
 
 
c
GIẢNG KINH LĂNG NGHIÊM
Hoà Thượng Thích Duy Lực
Thích Đồng Thường Lập Thành Văn Tự
ML
01
02
03
04
05
06
07
08
09
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
KINH THỦ LĂNG NGHIÊM
Quyển 1

Chánh văn: 

Tôi nghe như vầy: Lúc bấy giờ tại tịnh xá Kỳ Hoàn thành Thất La Phiệt, Đức Phật và chúng Đại Tỳ Kheo một ngàn hai trăm năm mươi vị, đều là Đại A La Hán, đã ra khỏi luân hồi, đầy đủ oai nghi, giúp Phật hoằng pháp nơi các quốc độ, trì giới thanh tịnh, làm mô phạm cho tam giới, ứng hiện vô số thân, hóa độ chúng sanh đến cùng tột vị lai ra khỏi trần lao. Hàng đệ tử được phó chúc trụ trì Phật pháp gồm có: Đại Trí Xá lợi Phất, Ma Ha Mục Kiền Liên, Ma Ha Câu Si La, Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử, Tu Bồ Đề, Ưu Ba Ni Sa Đà v. v... là bậc thượng thủ, và có vô số Bích Chi với môn đồ đồng đến nơi Phật cùng các Tỳ Kheo mãn hạ tự tứ. Khi ấy, mười phương Bồ Tát tuân theo lời Phật sẽ cầu Mật nghĩa, hỏi đạo để quyết nghi.

Giảng giải:

Khi Phật còn tại thế chưa có kinh, sau khi Phật nhập diệt, hàng đệ tử của Phật nhóm lại kết tập, tôn giả A Nan nói ra, vì trí nhớ của tôn giả A Nan rất hay. Trong hàng đại chúng 500 vị A La Hán nghe qua  nếu chỗ nào không đồng ý thì lên tiếng. Nếu bằng lòng thì im lặng, cho nên tôn giả A Nan nói câu đầu tiên là: “Tôi nghe như vầy”.

Lúc bấy giờ, tại tịnh xá Kỳ Hoàn, thành Thất La Phiệt, Đức Phật và đại chúng 1.250 vị A La Hán. Các vị A La Hán đã giải thoát phần đoạn sinh tử. Sinh tử gồm có 2 thứ: Phần đoạn sinh tử và biến dịch sinh tử.

Phàm tu tập chứng quả A La Hán thì được lìa phần đoạn sinh tử, không còn luân hồi trong lục đạo. Nhưng vẫn còn nửa đường chưa đến cứu cánh quả Phật, nên còn biến dịch sinh tử. Có nghĩa là họ còn tiến lên quả Bích Chi Phật.

Bích Chi Phật là độc giác, thời không có Phật, họ tu quán 12 nhân duyên chứng quả Duyên Giác.

Phật hoằng pháp đến đâu đều có 1.250 vị A La Hán đi theo hộ trì. Trì giới thanh tịnh làm mô phạm cho tam giới. Giới Tỳ Kheo là giới Tiểu thừa, còn giới Bồ Tát là giới Đại thừa. Tỳ Kheo chứng quả A La Hán, không có thọ giới Bồ Tát. 250 giới của Tỳ Kheo là giới căn bản. Giới Tiểu thừa của Thanh Văn là giữ thân không phạm, giới Đại thừa của Bồ Tát thì giữ ý không phạm. Ví dụ giới trộm cắp của Tỳ Kheo, nếu tay chưa đụng lấy cái tách thì chưa phạm, khi lấy cái tách rời khỏi chỗ mới phạm giới. Giới Bồ Tát khởi ý niệm muốn ăn cắp là phạm.

Nếu giới Tỳ Kheo giết lầm người thì tội nhẹ, và giết người ấy không chết thì tội đó cũng nhẹ; giới Đại thừa khởi niệm lên là phạm. Cho nên, giới Bồ Tát không cho nuôi mèo, vì mèo hay bắt chuột, lại cho nuôi trâu bò nhưng phải làm phép tịnh thí; nghĩa là người nuôi không có quyền cho hay bán, tại cho người ta có thể giết nó, vậy phải nuôi nó đến già chết.

Tam giới  giới gồm có: Dục Giới, Sắc Giới, Vô Sắc Giới.

Con người và con vật trên mặt đất đều sống trong Dục Giới. Cõi trời có 6 lớp Dục Giới sống trong hư không. Dục Giới có xác thân nam nữ. Sắc Giới tuy có xác thân, nhưng không do dâm dục mà ra. Vô Sắc Giới không có xác thân chấp A lại da thức là ta, có cõi trời Tứ Không cao nhất thọ mạng đến 8 muôn đại kiếp, thấp là 4 muôn đại kiếp, thấp nữa là 2 muôn đại kiếp. Mặc dầu, họ hưởng hết 8 muôn đại kiếp, hết phước báo rồi phải bị luân hồi sinh tử, như Uất Đầu Lam Phất hết tuổi thọ 8 muôn đại kiếp rồi cũng bị đọa con chồn bay. 

Theo trong này không kể các vị Bồ Tát, chỉ có 1.250 vị A La Hán. Nhưng ở đây nêu ra các bậc thượng thủ như: Đại Trí Xá Lợi Phất, Ma Ha Mục Kiền Liên, Ma Ha Câu Si La, Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử, Tu Bồ Đề, Ưu Ba Ni Sa Đà,… (đây chỉ dịch âm) là các bậc thượng thủ và Bích Chi Phật rất nhiều, với môn đồ đồng đến nơi Phật cùng với các Tỳ Kheo mãn hạ tự tứ.

Tại sao gọi là mãn hạ tự tứ?

Theo luật Tỳ Kheo phải kiết hạ 90 ngày cấm túc không được ra ngoài. Mùa hạ ở Ấn Độ nóng nực, phái nữ hay mặc quần áo đơn sơ, và sâu bọ thường ra ngoài đường, ấy là nguyên do chư Tăng kiết hạ, trong 90 ngày không đi khất thực, Phật tử đem vật thực lại tịnh xá cúng dường.

Như các chùa ở Việt-Nam cho Phật tử đăng ký cúng dường cơm chư Tăng trong mùa hạ. Vào 3 ngày cuối hạ tự tứ là tự kiểm điểm bản thân mình có phạm giới không? Và thưa trước đại chúng rằng: “Có ai thấy tôi phạm giới không? Có ai nghe tôi phạm giới không? Hoặc có nghi tôi phạm giới không? Xin các vị ra trước đại chúng nói ra để cử tội”.

Khi ấy 10 phương chư Bồ Tát tuân theo chư Phật cầu mật nghĩa, hỏi đạo để quyết nghi. Nghĩa là khi giải hạ ở đại chúng cầu Phật thuyết pháp giải quyết những việc nghi ngờ.

Chánh văn:       

Bấy giờ, Như Lai trải tòa ngồi yên vì đại chúng trong Hội khai thị pháp chưa từng có, nghĩa lý thâm sâu, diệu âm thuyết pháp vang khắp mười phương thế giới, hằng sa Bồ Tát đều đến tụ hoïp, trong đó Văn Thù Sư Lợi là bậc Thượng thủ.

Khi ấy, vua Ba Tư Nặc nhân ngày giỗ của phụ vương làm lễ trai tăng, sắm đủ các món ăn quý báu, đích thân đến thỉnh Phật và chư Đại Bồ Tát vào cung thọ trai. Trong thành còn có nhiều trưởng giả, cư sĩ khác cũng cùng ngày thiết lễ trai tăng, thỉnh Phật đến thọ cúng dường. Phật sai Văn Thù dẫn đầu chư Bồ Tát và A La Hán, chia thành nhiều nhóm, ứng lời mời đến thọ trai nơi các trai chủ. Chỉ có A Nan được vị khác mời riêng, đi xa chưa về, không kịp cùng dự với tăng chúng.

Giảng giải:

Mỗi lần Phật thuyết pháp đều do vấn đáp mà thành kinh. Phật trải tòa ngồi yên vì đại chúng khai thị pháp chưa từng có, chưa nghe chưa hiểu, nên nói nghĩa lý thâm sâu. Tiếng thuyết pháp của Phật gọi là diệu âm, khi thuyết pháp vang khắp 10 phương thế giới, không phải ở trong hội Lăng Nghiêm. Hằng sa Bồ Tát đều đến tụ hội, trong đó có Văn Thù Sư Lợi là bậc thượng thủ. 

Kinh này có là do vua Ba Tư Nặc nhân ngày giỗ phụ vương, mà làm lễ trai tăng sắm  sửa các món ăn quý báu, đích thân đến thỉnh Phật và chư đại Bồ Tát vào cung thọ trai.

Cùng một ngày đó, các trưởng giả đều thỉnh Phật đi thọ trai, nên Phật phải chia ra nhiều nhóm ứng lời mời đi đến thọ trai nơi các trai chủ, chỉ có tôn giả A Nan được vị khác mời riêng đi xa chưa về không kịp dự với Tăng chúng.

Chánh văn:

Lúc ấy, trên đường trở về, một mình A Nan chẳng có thượng tọa và A Xà Lê cùng đi, ngày đó lại không ai mời đi cúng dường, trong tâm mong cầu gặp được vị trai chủ sau cùng. Trước kia, A Nan đã từng nghe Phật quở Tu Bồ Đề và Đại Ca Diếp, là bậc A La Hán, mà người chuyên chọn khất thực nhà giàu, người chuyên chọn khất thực nhà nghèo, tâm chẳng bình đẳng, quyết tuân theo pháp bình đẳng bất nhị của Như Lai, để tránh mọi sự chê bai và nghi hoặc, trong tâm cho rằng: Đối với trai chủ, chẳng kể quý tộc hay hèn hạ, thức ăn dơ sạch, phát tâm từ bi để thành tựu cho tất cả chúng sanh đều được gieo trồng vô lượng công đức. Vừa nghĩ như vậy, tay ôm bình bát, đi từng nhà dọc theo đường phố, oai nghi nghiêm chỉnh, đúng pháp khất thực

Giảng giải:

Thường thường đi 2 người trở lên, nhưng lúc đó chỉ 1 mình tôn giả A Nan đi về chẳng có Thượng tọa, A xà lê cùng đi. Ở Việt Nam cách xưng hô các vị Tăng bậc thấp gọi là Đại đức trên là Thượng tọa và trên nữa là Hòa thượng. 

Theo giới luật Tỳ Kheo khi thọ giới mỗi năm kiết hạ được 1 tuổi hạ. Được 9 hạ gọi là Hạ tọa, được 10 hạ gọi là Trung tọa. Từ 20 hạ đến 29 hạ gọi là Thượng tọa, 30 hạ sắp lên gọi là Trưởng lão, nhưng ở Việt Nam không có Hạ tọa, Trung tọa.

Thượng tọa gọi là thân giáo sư, trong giới luật nói “Hòa thượng là thầy bổn sư của mình, phải gần gủi 10 năm học hỏi. Đủ 10 năm mới đủ tư cách làm thầy nhận đệ tử”, nhưng bây giờ không phải vậy.

Ngày đó, không ai mời cúng dường, A Nan mong cầu gặp được trai chủ sau cùng, trước kia A Nan  từng nghe Phật quở Tu Bồ Đề và Đại Ca Diếp là bậc A La Hán, một người chuyên khất thực nhà giàu, một người chuyên khất thực nhà nghèo, tâm chẳng bình đẳng.

Theo phép khất thực không phân biệt giàu nghèo, cầm cây tích trượng từ nhà này sang nhà kia, đứng trước cửa rung cây tích trượng để Phật tử biết cúng dường; chỉ đi trong 7 nhà, nếu không cúng cũng phải đi về. Thật ra chỉ 1 nhà cúng là đủ ăn, nếu có dư phải chia cho người khác, không được để dành cho ngày mai. Đồ ăn khất thực phải chia làm 2 phần, 1 phần dành cho buổi sáng, 1 phần dành cho buổi trưa.

Vậy, phải đi khất thực từ con đường nào? Đi con đường nào cũng được, đi gần chỗ ở của mình. Theo truyền thống Phật tử Thái Lan đều có tinh thần cúng dường, nếu không cúng cảm thấy khó chịu. 

Lý do đi khất thực nhà nghèo vì họ không làm phước nên tạo cho họ làm phước; đi khất thực nhà giàu vì họ hay làm tội nên tạo cho họ làm phước nhiều hơn làm tội, khi chết sẽ đầu thai bên phước báo. 

Ở trên là lý do phân biệt không tốt, A Nan suy nghỉ mình sẽ khất thực bình đẳng không phân biệt giàu nghèo, nên bị chú thuật của Ma Đăng Già mê hoặc.

Chánh văn:

 Lúc A Nan đang khất thực đi ngang nhà dâm, bị nàng huyễn thuật Ma Đăng Già dùng tà chú Phạm Thiên của ngoại đạo tóc vàng nhiếp vào nhà dâm, vuốt ve cám dỗ, sắp bị hoại giới thể. 

Phật đã biết trước việc này, thọ trai xong, liền về, vua và đại thần, trưởng giả cư sĩ, đều đi theo Phật, xin nghe pháp yếu. 

Bấy giờ, đảnh đầu Thế Tôn phóng ra hào quang bách bửu vô úy, trong hào quang nở ra bửu liên hoa ngàn cánh, trên đó có hóa thân Phật ngồi kiết già thuyết thần chú, sai Văn Thù đem chú đến cứu hộ, tà chú tiêu diệt, dắt A Nan và Ma Đăng Già về nơi Phật ở. 

Giảng giải:

Lúc ấy, A Nan đang khất thực đi ngang nhà dâm, bị nàng Ma Đăng Già dùng chú thuật  ngoại đạo nhiếp vào nhà dâm, rồi vuốt ve cám dỗ. Vì A Nan có tâm phân biệt như trên đã nói, nên tâm không được định, thần chú của Ma Đăng Già mê hoặc. 

Phật đã biết trước việc này, khi thọ trai xong, vua cùng đại thần và đại chúng đợi nghe Phật thuyết pháp. Ngay đó trên đỉnh đầu Phật phóng hào quang có nghìn cánh bông sen, trong bông sen có Phật ngồi kiết già thuyết thần chú, rồi Phật sai Văn Thù  đem thần chú đến cứu hộ A Nan, dắt A Nan và Ma Đăng Già về nơi Phật ở.

Chánh văn:     

A Nan gặp Phật, đảnh lễ rơi lệ, hối hận xưa nay chỉ ham học rộng nghe nhiều, chưa tròn đạo lực, nay ân cần thỉnh hỏi Như Lai về phương tiện đầu tiên của ba thứ thiền quán: Sa Ma Tha (1), Tam Ma (2) và Thiền Na (3), mà mười phương Như Lai đã tu được thành chánh giác. Khi đó có hằng sa Bồ Tát và các bậc Đại A La Hán, Bích Chi Phật nơi mười phương đều xin cùng nghe, im lặng ngồi yên để lãnh thọ pháp yếu của Phật. 

Khi ấy, Thế Tôn giơ tay dịu dàng rờ đầu A Nan, nói với A Nan và đại chúng: 

- Có pháp Tam Ma Đề, gọi là Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Vương, bao hàm vạn hạnh, là đường lối vi diệu trang nghiêm, cũng là pháp môn đưa đến giải thoát cuối cùng của mười phương Như Lai, nay ngươi hãy chú ý nghe.

Giảng giải:

Lúc ấy, A Nan gặp Phật đảnh lễ rơi lệ hối hận ngày xưa chỉ học rộng nghe nhiều, A Nan có tánh nhớ hay, chê người không bình đẳng cũng do học rộng nghe nhiều, nhưng không trọng đạo lực, nên bị Ma Đăng Già mê hoặc. Vì vậy, thỉnh Phật nói về phương pháp tu để tròn đạo lực, Phật dạy 3 thứ thiền quán: - Sa ma tha - Tam ma bát đề - Thiền na.

-Sa ma tha tiếng phạn dịch là cực tịnh, giống như chỉ quán tông Thiên Thai là không quán.

-Tam ma bát đề giống như chỉ quán tông Thiên Thai là giả quán.

-Thiền na giống như chỉ quán tông Thiên Thai là trung quán.

10 phương Như Lai đều do 3 thiền quán này tu thành chánh giác. Thiền tông không theo 3 thiền quán này. Cho nên, kinh Viên Giác nói: “Trừ ra người đó ngộ” (Thiền tông).

Khi đó có hằng sa Bồ Tát và các đại A La Hán, Bích Chi Phật nơi 10 phương đều xin lắng nghe. Phật giơ tay dịu dàng rờ đầu A Nan nói A Nan và đại chúng rằng:

-Có pháp tam ma đề gọi là Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Vương, tức là tự tánh khắp không gian và thời gian. Muốn kiến tánh phải y theo pháp môn này để tu, trong đó bao hàm vạn hạnh là đường lối vi diệu trang nghiêm, cũng là pháp môn đưa đến giải thoát cuối cùng của 10 phương Như Lai, nay các ngươi hãy chú ý lắng nghe.

Chánh văn:       

A Nan đảnh lễ, kính vâng lời Phật dạy. 

Phật bảo A Nan: 

-Ngươi và ta là anh em, cùng một giống nòi, chẳng biết lúc mới phát tâm, ở nơi pháp ta, ngươi thấy tướng thù thắng gì liền xả ân ái sâu nặng của thế gian? 

A Nan bạch Phật: 

-Con thấy ba mươi hai tướng thù thắng tuyệt diệu của Như Lai, hình thể trong sáng như lưu ly, thường tự nghĩ tướng này chẳng phải do dục ái sanh ra. Tại sao? Vì dục ái ô nhiễm xấu xí, cấu kết tinh huyết nhơ bẩn chẳng thể sanh ra diệu tướng quang minh, thanh tịnh thù thắng như thế, do đó nên khâm mộ theo Phật xuất gia. 

Phật nói: 

-Lành thay! A Nan, các ngươi nên biết, tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến nay, sanh tử liên tục, chỉ vì chẳng biết chơn tâm thường trụ, thể tánh trong sạch sáng tỏ, lại nương theo vọng tưởng, vọng tưởng chẳng chơn nên có luân hồi. Mười phương chư Phật cùng một đạo lìa khỏi sanh tử đều do trực tâm, vì tâm hạnh và lời nói ngay thẳng, như thế từ đầu đến cuối, cho đến các ngôi bậc, ở khoảng giữa chẳng có các tướng quanh co. 

-Nay ngươi muốn tham cứu vô thượng Bồ Đề, phát minh chơn tánh, hãy trực tâm mà trả lời câu hỏi của ta. A Nan, nay ta hỏi ngươi: Lúc ngươi phát tâm duyên theo ba mươi hai tướng của Như Lai, lấy gì để thấy? Ai biết sự ham thích? 

Giảng giải:

A Nan đảnh lễ nghe lời Phật dạy, Phật bảo A Nan: Ta và ngươi là anh em chú bác cùng một giống nòi, chẳng biết ngươi thế nào mà phát tâm xả bỏ ân ái nhiều kiếp sâu nặng để xuất gia?

A Nan bạch Phật: Con thấy 32 tướng tuyệt diệu thù thắng của Như Lai hình thể trong sạch như lưu ly, thường nghĩ trong tâm tướng này  không phải do dục ái  mà sanh ra. Người thường do dục ái sinh ra, còn tướng Phật không phải do dục ái sinh ra. Tại sao? Vì dục ái là tinh huyết nhơ bẩn không thể sinh ra diệu tướng quang minh thanh tịnh thù thắng như thế! Do đó hâm mộ 32 tướng thù thắng theo Phật xuất gia.

Phật nói:

Tốt lắm! Các ngươi từ vô thỉ đến nay sanh lão bệnh tử liên tục, chỉ vì chẳng biết chơn tâm thường trụ thể tánh trong sạch sáng tỏ, lại nương theo vọng tưởng chẳng chân thật nên có luân hồi. Mười phương chư Phật cùng một đạo lìa khỏi sanh tử đều do trực tâm, vì tâm hạnh và lời nói ngay thẳng như thế, từ đầu đến cuối cho đến các ngôi bậc.

Các ngôi bậc này chỉ cho 57 ngôi bậc: Càn Huệ Địa, Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Tứ Gia Hạnh, Thập Địa, Đẳng Giác và Diệu Giác, ở trong khoảng giữa không có các tướng quanh co. 

Nay ngươi muốn tham cứu  vô thượng Bồ Đề phát minh chơn tánh (tự tánh, Phật tánh) thì phải trực tâm trả lời câu hỏi của ta. Phật hỏi A Nan: Ngươi phát tâm duyên theo 32 tướng của Như Lai lấy gì để thấy? Ai biết sự ham thích?

Chánh văn:      

-Bạch Thế Tôn, dùng tâm và mắt của con thấy tướng thù thắng của Như Lai, sanh lòng ham thích nên phát tâm, nguyện xả bỏ sanh tử. 

Phật bảo: 

-Như ngươi vừa nói, sự ham thích do nơi tâm và mắt. Nếu chẳng biết tâm và mắt ở đâu thì chẳng thể hàng phục được trần lao; ví như đất nước có giặc, vua sai binh dẹp trừ, binh lính tất phải biết sào huyệt của giặc. Khiến ngươi bị luân chuyển ấy là lỗi tại tâm và mắt. Ta hỏi ngươi: Tâm và mắt của ngươi hiện đang ở đâu? 

Giảng giải:

A Nan bạch Phật: Con dùng tâm và mắt của con để nhìn thấy Như Lai, nên sanh lòng ham thích mà phát tâm nguyện bỏ sanh tử.

Phật bảo: Như ngươi vừa nói sự ham thích do tâm và mắt, nếu không biết tâm và mắt ở đâu thì chẳng hàng phục trần lao?

Cuộc sống hàng ngày lục căn tiếp xúc với lục trần sanh ra phiền não gọi là trần lao. Ví như đất nước có giặc, vua sai binh lính dẹp trừ, binh lính tất phải biết sào huyệt của giặc; khiến ngươi bị luân chuyển ấy là bởi tâm và mắt, ta hỏi ngươi tâm và mắt của ngươi hiện đang ở chỗ nào?
 
 

ML
01
02
03
04
05
06
07
08
09
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20

Liên Hệ:
Kinh Thủ Lăng Nghiêm Tông Thông, HT. Nhẫn Tế
Kinh Thủ Lăng Nghiêm, HT. Thích Duy Lực
Tổng Luận Kinh Lă ng Nghiêm Trưc Chỉ, HT. Thích Thiện Siêu
Pháp Tu Lăng Nghiêm Ðại Ðịnh, HT. Thích Huệ Hưng
Phép Tu Lăng Nghiêm Ðại Ðịnh

 
c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap