PHẦN
NĂM
PHẠM
VI LỚN
NGÀY
HAI MƯƠI
Kyabje
Pabongka Rinpoche nói vài lời để chúng tôi phát khởi động
lực. Ngài trích dẫn những dòng này từ Những Đức Tính
Quý Báu:
Con
đường của chư Phật
Quá
khứ vị lai hiện tại,
Là
con đường sáu ba la mật không gì khác.
Nghĩa
là, chư Phật ba thời đã theo gót nhau không bao giờ chuyển
hướng khỏi những việc làm lục độ. Không có con đường
nào khác trong kinh giáo hay mật giáo, và những bản văn chúng
ta đang học cũng chỉ dạy một con đường ấy.
Khi
ấy Rinpoche kể lại những tiêu đề đã giảng. Và khởi tư
tiêu đề “Dạy một Pháp tu để áp dụng suốt đời,”
ngài ôn lại tài liệu về làm thế nào để chuyển nghịch
cảnh thành con đường giác ngộ.
Điều
này hoàn tất sự bàn luận về cách phát triển ước nguyện
đạt toàn giác.
b.
Phát tâm bồ đề qua nghi lễ thọ giới
Tôi
sẽ giảng dạy phần này về sau, nên bây giờ hãy gác lại
Nếu
bạn không có tâm bồ đề, thì dù bạn làm bất cứ pháp
thiền gì với hi vọng đạt thành Phật quả - dù là pháp
Đại Thủ ấn hay Dogchen, Trung đạo, hay các giai đoạn phát
sinh và thành tựu trong pháp quán chư thần v.v…- những việc
ấy cũng không làm bạn xích tới gần Phật quả chút nào.
Bạn lại còn không bao giờ vào được ngưỡng Đại thừa
bằng cách ấy. Bởi thế mọi người đều phải tập trung
vào việc thực hành tâm bồ đề. Với trí căn bản, đức
Phật đã nhìn thấy suốt được các pháp trong nhiều kiếp
và chưa từng thấy phương pháp nào tốt hơn, hay ngỏ nào
tốt hơn để đi vào đạo lộ.
c.
Những hoạt động cần làm sau khi dã phát bồ đề tâm
Sau
khi phát tâm bồ đề, bạn cần phải luyện tập vài loại
hoạt động. Phát bồ đề tâm mà thôi chưa đủ. Cũng như
một người đi đến Ấn Độ sẽ không đến được nếu
không đích thân khởi hành, bạn cũng thế, phải huấn luyện
về hạnh bồ tát. Bạn phải chứa nhóm cả hai loại tích
tập công đức và trí tuệ liên kế nhau để đạt thành cả
thân vật lý và thân trí tuệ (sắc thân và pháp thân) của
một vị Phật; bởi thế sự huấn luyện của bạn phải phối
hợp cả phương pháp lẫn trí tuệ. Những hành vi của người
con Phật đều phát xuất từ hai điều: phương pháp và trí
tuệ. Năm ba la mật đầu thuộc về phương pháp. Ba la mật
cuối hàm tuệ quán đặc biệt thuộc về trí tuệ.
2.3.3.
CÁCH HUẤN LUYỆN CÁC VIỆC CỦA CON PHẬT SAU KHI PHÁT TÂM BỒ
ĐỀ
Tôi
sẽ bàn tiêu đề này dưới hai mục: (1) làm thế nào để
luyện sáu ba la mật ngõ hầu làm cho tâm bạn thuần thục;
(2) làm thế nào để luyện về bốn cách thâu đệ tử (bốn
nhiếp pháp) để làm thuần tâm người khác.
a-
Phương thức chung để huấn luyện các hạnh của người con
Phật.
Có
sáu mục: 1. Bố thí; 2. trì giới; 3. nhẫn nhục; 4. tinh tấn;
5. thiền định; 6. trí tuệ.
a-1.1.
Bố thí
Bố
thí tự bản chất là ý muốn xả bỏ thân ta, tài sản ta
và những thiện đức căn bản của ta. Bố thí được phân
làm ba loại.
a-1.1.1.
Tài thí
Đây
là cách bố thí kể từ cho một muỗng bột ngũ cốc cho đến
hy sinh tánh mạng và thân thể cho người. Nếu bạn không thể
cho ra một cái gì, thì hãy tưởng tượng làm thế nào trong
quá khứ bạn được sinh làm Phạm vương, Đế thích, Chuyển
luân vương, vân vân. Vào thời ấy bạn rất giàu có, nhưng
vì bạn không thực hành bố thí nên không rút được tinh
hoa nào từ những tái sinh ấy, và chính điều này đã đưa
bạn đến tình trạng hiện nay. Lại nữa bạn phải thực
hành bố thí mà không mong cầu đền đáp hay quả báo dị
thục nào. Nếu sự bố thí của bạn có bồ đề tâm làm
động lực thì sự bố thí dù chỉ là một miếng ăn hay một
chút bột ngũ cốc cho ăn mày v.v… hay cho cả sâu kiến, cũng
là một sự thực hành bố thí chân thật và là một hành
vi của người con Phật. Bạn cũng nên làm thỏa mãn nhu cầu
của người nhận, vì quả báo sẽ không phải nhỏ.
Khi
chúng ta làm một cuộc cúng dường lớn để tỏ lòng tôn
kính tam bảo, chúng ta có cảm tưởng mình làm được nhiều
và cảm thấy rất hãnh diện. Đây không phải là một hình
thức bố thí vật chất và nghĩ rằng “Tôi đã bố thí nhiều
quá” hoặc “tôi đã cho không nhằm người.” Khi bạn xả
bỏ cái gì, hãy khởi động lực trước khi cho như sau đó:
điều ấy đang được thực hiện vì tất cả hữu tình như
những người mẹ của bạn. Lại nữa hãy làm những lời
nguyện mạnh mẽ. Dù hành vi bố thí là lớn hay nhỏ, đừng
hy vọng lợi lộc gì đền đáp do sự bố thí ấy, hoặc hy
vọng được kính trọng v.v…
a-1.1.2.
Pháp thí
Hình
thức bố thí này có thể là việc giảng dạy dù chỉ 4 câu
kệ cho người nào muốn nghe, nếu ta nói bài kệ với ý nghĩ
muốn đem lại lợi lạc cho người kia. Ngay cả khi bạn dạy
cho học trò một bài đọc, đó cũng gọi là bố thí pháp,
dù bạn không phải tu sĩ, không giảng nói từ một pháp tòa.
Pháp thí tốt hơn bất cứ hình thức bố thí nào. Lại nữa
sự học thuộc lòng hay nghiên cứu kinh điển cũng là một
hành vi pháp thí nếu bạn tưởng tượng xung quanh mình có
chư thiên hộ pháp và những hữu tình đang lắng nghe. Ngay
cả giun dế v, v… khi nghe những lời pháp cũng để lại những
dấu ấn trong dòng tâm thức chúng. Hãy nghĩ như vậy, ngay
cả khi bạn đến đọc kinh tại nhà thí chủ.
Bạn
phải rất cẩn thận khi đi vào xóm làng làm lễ. Đấng đạo
sư đầy từ mẫn của chúng ta giảng dạy các mật điển,
phương pháp đạt giác ngộ trong một đời. Nếu bạn trao
đổi điều này với tặng phẩm do tụng đọc, thế là bạn
đã bán pháp để lấy của cải vật chất. Điều này cũng
như lôi một ông vua từ trên ngai xuống đất và bắt ông
ta chùi nhà. Bởi thế hãy làm những nghi lễ ấy với động
lực chân chính.
Bố
thí pháp không chỉ có nghĩa là giảng dạy có bài bản. Nó
có thể là việc sử dụng buổi nói chuyện của bạn v.v…
như một phương tiện gián tiếp hay trực tiếp để hướng
dẫn người khác vào Phật pháp. Những người đã xuất gia
nên thực hành việc bố thí pháp là chính yếu, nhưng cũng
nên bố thí tài vật nếu không quá khó khăn. Kadampa Geshe Shawara
nghĩ như sau khi ông muốn nói chuyện với một nhóm tu sĩ:
“Tôi
sẽ không nói về những lợi lạc của sự bố thí, vì tôi
đã nói với các vị những lỗi lầm của chấp thủ.”
a-1.1.3.
Vô úy thí
Điều
này có nghĩa là sự phóng thích các tù nhân hay cứu người
chết đuối chẳng hạn. ngay cả việc cứu những chúng sinh
như giun khỏi hơi nóng mùa hè hay cơn lạnh mùa đông cũng
là một hình thức vô úy thí. Không cần phải đi thật xa
mới làm được hạnh “bố thí sự không sợ” này, bạn
có thể làm việc ấy con rận trên thân bạn. Cứu những côn
trùng khỏi chết đuối chẳng hạn là việc làm rất dễ.
Bạn chỉ cần đưa ra một ngón tay. Sự quán tưởng về bố
thí được tìm thấy trong chương nói về luyện tâm cũng là
một pháp thực hành bố thí.
Tác
phẩm Hành Bồ Tát Hạnh đề cập một cách căn bản để
thế nào là bố thí ba la mật:
Nếu
bố thí ba la mật
Là
trừ khử nghèo nàn của tất cả chúng sinh,
Thì
làm thế nào đức Phật, đấng che chở
Đã
hoàn thành được nó, khi ngay bây giờ
Vẫn
còn những chúng sinh đang thèm khát?
Nói
cách khác bố thí không có thể chỉ là xua tan cơn nghèo của
hữu tình; ngay cả Thanh văn, Duyên giác, A la hán cũng không
có được ba la mật này, mặc dầu họ hoàn toàn không có
tâm bỏn xẻn. Bố thí là một cái gì hơn thế nữa. Tác phẩm
Hành Bồ Tát Hạnh nói:
Người
ta bảo bố thí ba la mật
Là
tâm tưởng bố thí cho mọi chúng sinh
Tất
cả những sở nghiệp của bạn.
Như
vậy bố thí phải từ tự tâm.
Điều
này có nghĩa rằng bố thí ba la mật phát sinh do sự quen thuộc
với ý tưởng xả bỏ thân thể tài sản công đức và những
nghiệp báo của mình cho người khác; và điều này cũng có
nghĩa là cho những sự ấy từ đáy sâu tim bạn không một
chút keo kiệt, trong khi nghĩ những lợi lạc của sự tịnh
thí và những lỗi lầm của không xả bỏ.
Như
vậy điểm quan trọng ở đây là bạn nên tăng trưởng những
ý nghĩ về bố thí. Nếu người ăn xin đến xin ba tấm y của
bạn, mà bạn nghĩ, “Ta có nên xả chúng hay không” đó là
do bạn có thói quen bố thí. Cuối cùng bạn sẽ có thể hy
sinh cả thân thể mình, sau khi luyện tâm về mức độ thấp
hơn của sự bố thí. Khi bạn chưa đạt đến mức quen thuộc
như thế, thì hãy luôn luôn tăng trưởng những ý niệm về
bố thí.
Cách
tăng trưởng những ý niệm ấy như sau. Hãy quán các pháp
là vô thường. Khi chết, ta sẽ không đem theo được một
chút tài sản. Những vật ta để lại sẽ bi hư nát v.v…
Hãy đem chúng ban phát cho mọi người một cách chân thật
từ đáy lòng; khi ấy bạn sẽ ít có cơ hội vi phạm những
tiểu giới như tích trữ nhiều vật dụng. Đây là một ví
dụ về hạnh bố thí.
Nhưng
nghĩ tưởng chưa đủ, bạn phải thật sự xả bỏ càng nhiều
càng tốt. Bạn nên rộng rãi đối với hành khất, nhưng không
nên bố thí những vật kiếm được do tà mạn khi bạn không
có gì khác để cho.
Tóm
lại, ba la mật đầu tiên phải là sự tu tập chính của cư
sĩ. Có câu:
Thí
giới nhẫn là dành cho đa số
Đức
Như Lai dạy ba pháp này cho cư sĩ.
Thực
không nên cho thân thể của bạn chẳng hạn. Đừng bố thí
thân xác trong khi bạn còn ở địa vị đang tập quen hạnh
bố thí và đang tăng trưởng những ý tưởng về bố thí.
Chỉ về sau mới nên xả bỏ thân thể khi chuyện ấy đã
trở nên dễ dàng đối với bạn như chuyện cho một đĩa
rau.
Có
những vật không nên xả bỏ. Đừng thực hành bố thí với
vài vật đặc biệt không được phép cho vì người nhận,
vì thời gian, vì vật thí, v.v… Nếu người cho là xuất gia
thì không nên đem cho ba y của mình v.v… Người xuất gia thì
không được cúng dường thức ăn sau ngọ. Bạn không nên
bố thí thức ăn bất tịnh như tỏi hành cho những người
bà la môn vì họ giữ giới không ăn những thứ này. Bạn
cũng không nên đem sách cho những người chỉ muốn tranh cãi,
hoặc cho khí giới, độc dược cho những người có thể tự
sát. Bạn không nên dạy mật điển cho một pháp khí không
thích hợp hoặc bao che cho kẻ phạm tội nếu bạn chắc chắn
y sẽ làm hại đến hữu tình hoặc cho nền giáo lý v.v…
Sẽ
là một tà kiến nếu nghĩ rằng hạnh bố thí không có quả
báo. Cũng sẽ ít lợi lạc nếu bạn chỉ giúp đỡ một hữu
tình mà bỏ qua nhu cầu của những hữu tình khác. Hãy luyện
mình không bị ô nhiễm vì những việc như trên, và như sau:
bị tà kiến thúc đẩy giết súc vật để cúng tế, khinh
thường kẻ khác, có hành vi cạnh tranh, tự thổi phồng mình,
ham danh, cảm thấy hối hận, chủ bại, hoặc hành động có
tính cách bè phái.
Shantideva
nói đến 3 điều: bố thí, che chở, và làm cho thanh tịnh.
Nói cách khác, bạn tăng trưởng những ý tưởng về bố thí
thân mạng, nhưng khi chưa đến thời gian để làm việc ấy,
thì bạn phải che chở thân mình khỏi những hoàn cảnh tác
hại và giữ nó thanh tịnh bằng cách không sử dụng nó một
cách bất thiện. Bản văn còn bàn đến một điều thứ tư
là bạn nên hoàn tất những nguyên nhân đưa đến tái sinh
như thế này, để trong những kiếp sau bạn sẽ có tám đức
do quả dị thục, đó là sự tăng trưởng.
Lại
còn có một nhóm bốn khác nữa: xả bỏ tài sản của bạn
và tăng trưỏng ý tưởng về bố thí; che chở bản thân cho
đến khi xứng đáng nhận của cúng dường của người khác;
giữ mình trong sạch bằng cách không để ô nhiễm vì tà hạnh
hay tội lỗi; tăng trưởng phạm vi bố thí để bạn có được
vật để cho trong đời tái sinh.
Một
nhóm khác là: xả bỏ thiện hành của bạn cho hữu tình một
cách chân thành tự tâm khảm; che chở đức hạnh của bạn
khỏi bị phá hủy vì giận dữ; sự trong sạch do không bị
ô nhiễm vì hành động bất tịnh, nhưng mong được hạnh
phúc trong đời này, hay chỉ muốn tránh tái sinh vào đọa
xứ; tăng trưởng ý thức vui mừng của bạn v.v… Bản văn
này bàn đến bốn nhóm bốn. Bạn phải tu tập theo cách đề
ra trong bản văn này.
a-1.2.
Sự thực hành giới Ba la mật
Hành
Bồ Tát Hạnh nói:
Người
ta bảo giới ba la mật
Là
đạt được sự từ bỏ một vài tư tưởng.
Nghĩa
là lật ngược những ý tưởng hại người cùng với căn
bản của những ý tưởng ấy (là tham, sân, v.v…-DG), chuyển
thành tư tưởng từ bỏ những hành vi như vậy. Sự hoàn toàn
quen thuộc với sự từ bỏ này trở thành trì giới ba la mật.
Có
ba loại giới.
a-1.2.1.
Giới chế ngự những hành vi bất thiện
Một
ví dụ về giới này là ba loại lời nguyện. Tác phẩm Ngọn
Đèn Soi Đường nói:
Những
người giữ một trong bảy loại
Giới
biệt giải thoát
Luôn
luôn có thể giữ được giới khác
Họ
có cơ may thọ giới bồ tát
Người
khác thì không.
Mới
nhìn qua, điều này có vẻ như nói rằng bạn cần phải có
giới biệt giải thoát mới có thể thọ giới bồ tát. Nhưng
điều này cũng có nghĩa là, theo Mật tông, những người xứng
đáng thực hành mật điển nhất là tăng ni là những người
tốt nhất để được huấn luyện thành bồ tát, song điều
này không bao gồm tất cả mọi trường hợp: có những trời
rồng có thể thọ giới bồ tát nhưng lại không được thọ
giới Biệt giải thoát.
Trong
trường hợp ấy bạn phải làm gì? Khi bạn có giới Biệt
giải thoát và có thể theo đuổi học giới của bồ tát,
thì bạn phải nhân ra những giới luật về từ bỏ và tự
chế phù hợp với giới Biệt giải thoát. Nếu bạn không
có giới, bạn hãy xem sự tự chế là từ bỏ và ngăn chừa
mười bất thiện. Giới bồ tát là một thực thể khác với
giới Biệt giải thoát và cũng khác với giới từ bỏ 10 bất
thiện trong dòng tâm thức của Bồ tát.
a-1.2.2.
Giới tích tập tất cả điều lành
Giới
này có nghĩa nỗ lực với ba cửa thân ngữ ý đến thực
hành mọi điều thiện kèm với bồ đề tâm. Những điều
này bao gồm sự cúng dường, lễ bái, tôn kính, phục vụ
những vị đáng cúng dường; học hỏi, quán tưởng, thiền
định, giảng dạy hay lắng nghe. Tóm lại, đó là tất cả
những công việc thuộc sáu hạnh ba la mật được thực hành
để làm thuần thục dòng tâm thức của bạn và của hữu
tình.
Tất
cả công việc của những người con Phật đều thuộc về
ba loại giới này. Nói chung toàn thể Lam-rim là để tăng trưởng
ba loại giới này (dứt ác, làm lành và lợi ích chúng sinh).
a-1.2.3.
Giới làm lợi ích cho chúng sinh.
Giới
này gồm có bốn cách để thâu thập đệ tử hay Bốn nhiếp
pháp (xem ngày 23) v.v…
Còn
có 11 cách để làm việc cho hữu tình: 1. Giúp những người
khó nhọc và đau khổ, 2. Giúp những người không biết phương
pháp chính đáng; 3. Giúp người bằng cách làm lợi lạc cho
họ; 4. Giúp người bị nguy hiểm đe dọa; 5. Giúp người bị
khốn đốn bần cùng; 6. Giúp người đao đào thoát; 7. Giúp
người không nhà; 8. Giúp người không gặp kẻ đồng tâm;
9. Giúp những người đi đúng đường; 10. Giúp những người
đi sai đường; 11. Giúp tất cả những hạng người trên bằng
thần thông.
Chúng
ta có thể thực hành 10 mục trong số trên, chỉ trừ mục
làm việc bằng thần thông. Tóm lại giới này bao gồm tất
cả hành vi bằng thân lời ý có động lực là những tư tưởng
muốn làm lợi ích người khác.
Bạn
phải theo những giới như từ bỏ mười điều ác ngay cả
khi bạn chưa thọ giới Biệt giải thoát. Bạn tu tập 6 ba
la mật để làm thuần thục dòng tâm thức; ba loại giới
trên đây (thuật ngữ gọi là Tam tự tịnh giới - DG) sẽ
huấn luyện cho bạn làm những việc lợi người.
a-1.3.
Làm thế nào để huấn luyện hạnh nhẫn nhục
Nhẫn
nhục tự bản chất là tâm không bị dao động bởi bất cứ
điều hại nào được gieo rắc cho mình hay bởi sự lo lắng
vì đau khổ. Hành Bồ Tát Hạnh nói:
Chúng
sinh cang cường khó hàng phục hết
Vì
chúng nhiều như hư không
Nhưng
người nhẫn nhục không nản chí,
Mà
chỉ bị tư tưởng giận dữ đánh bại;
Nếu
điều này xảy ra
Thì
cũng như thất bại về tay tất cả mọi người.
Nói
cách khác, nhẫn nhục bị cơn giận dữ đánh bại. Nhẫn nhục
dễ bị đe dọa vì sân nhất. Sahntideva nói:
Không
có tội lỗi nào bằng hận thù
Không
có khổ hạnh nào bằng nhẫn nhục
Có
ba loại nhẫn.
a-1.3.1.
Nhẫn: bình tĩnh trước những người tấn công
Khi
những người khác như kẻ thù hại bạn, hãy kiên nhẫn đừng
nỗi giận. Hãy ý thức những lỗi lầm của giận dữ, đấy
là điều bất thiện tệ nhất. Người ta nói rằng mỗi khi
bạn nỗi giận, bạn phá hũy những công đức căn bản trong
một ngàn kiếp. Khi ta hiểu rõ những tai hại của giận dữ
thì ta sẽ luôn luôn muốn kiên trì thực tập thiền định
về nhẫn nhục. Bạn không thể biết ai là bồ tát. Nếu bạn
nổi sân với một Bồ tát mà bồ đề tâm của bạn yếu
hơn, thì bạn phá hủy công đức 100 kiếp. Nếu bản thân
bạn không phải là Bồ tát và người bạn sân giận lại
là Bồ tát, thì bạn pháhủy công đức 1000 kiếp. Điều này
nói trong tác phẩm Hành Trung Đạo và Hành Bồ Tát Hạnh. Vậy
những lỗi lầm quả thật nặng nề.
Bạn
phải đào luyện sự nhẫn nhục, nhưng hãy làm việc này trước
khi bạn nỗi tâm sân - Một khi bạn nỗi sân thì đã quá muộn.
Bạn phải kiên nhẫn và nghĩ về những khuyết điểm của
giận dữ. Nếu không bạn sẽ làm cho mọi người và cả chính
bạn phải khổ sở. Ngoài hậu quả mà cơn giận gây trên
người khác, nó còn có thể đẩy bạn đến chỗ tự sát,
v.v… Cơn giận có hậu quả là làm cho bạn có nhiều kẻ
thù.
Bạn
có thể nghĩ rằng “Tất cả những điều này đúng thật,
nhưng làm sao tôi có thể nhẫn nhục khi có quá nhiều đối
tượng gây giận dữ?” Tác phẩm Hành Bồ Tát Hạnh nói:
Làm
sao bạn tìm đủ da thuộc
Để
lót khắp mặt đất?
Nhưng
có được cái đế giày bằng da
Thì
cũng như lót da toàn mặt đất.
Hãy
xem thử bạn có thể hoàn toàn hàng phục kẻ thù hay không.
Bạn sẽ thấy rằng mình không bao giờ thiếu kẻ thù hay hàng
phục được tất cả kẻ thù cho đến khi không còn hữu tình
nào trên mặt đất. Nhưng nếu bạn hàng phục cơn giận của
mình thì bạn sẽ không có một kẻ thù nào cả, và điều
ấy cũng như là hàng phục tất cả kẻ thù.
Một
khi bạn đã hoàn toàn hiểu Đạo sư rằng những loại nhẫn
nhục được xếp hạng theo bản chất của chúng, và những
lỗi lầm của giận dữ v.v… thì bạn có còn để cho toàn
thân bạn bị cơn giận tóm lấy hay không? Một lần có vị
lạt ma cố gắng can đệ tử của mình và một tên trộm đang
đánh nhau. Ngài không thành công, người đệ tử cứ đánh
người kia. Vị Lạt ma đặt ngón tay lên mũi đệ tử và nói:
“Nhẫn nhục, nhẫn nhục” tức thì người đệ tử nhớ
lại mình đã mất sự nhẫn nhục. Khi cơn giận đã làm công
việc của nói rồi thì có ích gì để giả vờ nhẫn nhục.
Lúc
đầu có thể khó thực hành nhẫn nhục; chỉ về sau, khi đã
quen nhờ thiền định ta mới có được nhẫn nhục. Có những
lý do tại sao không nên giận dữ với người nào làm hại
mình. Chẳng hạn có người đánh vào đầu bạn bằng một
con roi. Hãy nghĩ như sau để ngăn bạn đừng giận dữ: “Nếu
tôi giận với cái khí cụ thực sự gây ra đau đớn thì đáng
lẽ tôi nên giận dữ con roi, nhưng con roi nó không có năng
lực, nó chỉ được sử dụng.” Con người đánh bạn cũng
không có năng lực. Anh ta bị trói buộc bởi những vọng tưởng
ở trong anh. Tất cả đều đi đến một điều: Sự việc
bạn cư xử sai lầm là yếu tố trực tiếp nhất cho việc
bạn bị đánh bằng roi. Tuy nhiên căn bản chính là ác nghiệp
bạn đã gây nên như đánh người ta trong quá khứ v.v… Bởi
thế khi việc này là quả báo thuần thục của nghiệp bạn
đã làm, thì bạn nên giận ai?
Tác
phẩm Bốn Trăm Bài Kệ nói:
Đấng
Mâu ni có thể thấy được vọng tưởng
Những
người có vọng tưởng thì không thấy
Nói
cách khác một bệnh nhân điên có thể đánh vào y sĩ hoặc
một người con trai điên đánh cha, nhưng y sĩ và người cha
không giận bệnh nhân hay người con, mà trái lại cố gắng
để chữa khỏi bệnh điên. Những người làm hại bạn cũng
thế, như đã bị điên vì vọng tưởng. Họ không phải là
những tác nhân có tự do, nên bạn không nên giận họ. Thay
vì thế bạn phải cố gắng dùng vài phương tiện để diệt
trừ vọng tưởng cho họ. Nếu lửa làm bỏng tay bạn thì
chính là lỗi tại bạn đã động vào lửa. Không nên giận
lửa. Cũng thế lỗi của bạn là đã khiêu khích người kia,
nên thật không đúng để giận anh ta. Vì hữu tình bản chất
là vọng tưởng, nên thật sai khi giận họ cũng như khi thật
sai lầm khi giận lửa mỗi lúc bạn bị bỏng, vì bản chất
của lửa là làm bỏng da. Nhưng bạn vẫn nghĩ rằng: “Có
thể bản chất của chúng như vậy, nhưng tôi giận chúng vì
chúng làm một điều bất ngờ đối với tôi.” Nếu thế
thì cũng nên giận bầu trời khi thình lình nổi giông bão,
nhưng điều ấy thật vô ích. Như vậy, thật sai lầm khi ta
giận những người như thế. Khi bạn bị đánh, bị lăng nhục
v.v… hậu quả là bạn bị đau khổ về thể xác hoặc tinh
thần, thì đừng đáp lại sự sai quấy, vì điều ấy sẽ
tạo nhân cho bạn tái sinh vào những đọa xứ. Ngược lại
bạn nên áp dụng những biện pháp chữa trị cơn giận dữ
của mình và hãy nhẫn nhục. Tác phẩm Hành Bồ Tát Hạnh
nói:
Hiện
tại tôi không chịu nỗi đau khổ;
Thế
mà giận dữ lại là nhân của địa ngục,
Thì
tại sao không dứt trừ giận dữ?
Sự
nhẫn nhục bằng cách bình thản trước những người tấn
công (Nại oán hại nhẫn) là điều mà bạn đào luyện đối
với những người thường làm hại mình, chứ không phải
những người thường giúp mình. Vậy càng có nhiều người
muốn hại bạn, thì bạn càng có cơ hội thực hiện hạnh
nhẫn nhục. Bởi thế bạn phải nghĩ rằng những người này
làm cho bạn tăng thêm hạnh nhẫn nhục. Atìsha thường được
một người hề của vua Asangavyaya theo hầu, y là một người
rất khó chịu. Khi người ta yêu cầu Atìsha bỏ người hầu
ấy, ngài trả lời: “Có anh ta thì hạnh nhẫn nhục của
tôi mới có cơ hội phát triển toàn vẹn.”
Tóm
lại, hãy nghĩ: “Nếu những Thanh văn chuyên tự lợi mà còn
không tức giận khi gặp những kẻ nghịch, huống gì tôi là
người đã thề theo Đại thừa.” Bạn cần phải học câu
chuyện về tiên nhẫn nhục.
(CT.
Một trong những tiền kiếp của Phật Thích Ca khi còn làm
Bồ tát. Ngài làm một vị tiên nhân tu hạnh nhẫn nhục, bị
một ông vua chặt hết tay chân trong một cơn ghen tức, nhưng
Ngài vẫn giữ thái độ bình thản.)
a-1.3.2.
Nhẫn nhục trong sự chấp nhận đau khổ
(kham
thọ khổ nhẫn)
Không
những bạn cần phải có thái độ không bám víu hạnh phúc,
mà bạn còn nên xem đau khổ như một kiểu trang hoàng, và
sử dụng đau khổ như một phương thuốc; như trong chương
trước nói về các pháp luyện tâm. Mõi khi bạn bị đau khổ
trong lúc tu khổ hạnh, hoặc bị đau ốm, hoặc bị kẻ thù
quấy rối, hoặc gặp ác mộng - hãy chuyển tất cả thành
những pháp giúp bạn tu tập. Hãy nghĩ rằng chúng sẽ làm
tiêu bớt ác nghiệp của bạn, tăng trưởng tâm từ bi nơi
bạn, khiến bạn nghĩ về những lỗi lầm của sinh tử v.v…
và hãy nhẫn nhục. Khi bạn gặp đau khổ, hay nghĩ như sau:
“Nỗi khổ này sẽ thay thế cho nỗi khổ mà tôi đáng lẽ
phải trải qua trong các đọa xứ. “Điều này sẽ làm cho
bạn sung sướng. Giả sử một người sắp bị hành hìnhh
nhưng sau đó lại chỉ bị chặt tay, thì y phải cảm thấy
sung sướng vì thoát chết. Cũng như người ta có thể chịu
đựng nỗi khổ của sự chảy máu hay nhúng nước nóng để
làm lắng dịu một con bệnh. Thế nên khi bạn tu hành gặp
khó khăn thì hãy nghĩ: “Tốt, điều này sẽ thay thế cho
các nỗi khổ ở các đọa xứ.” Và lúc ấy, hãy nhớ đến
những lợi ích của đau khổ. Tác phẩm Hành Bồ Tát Hạnh
nói:
Đức
tính của khổ đau là
Nó
tẩy trừ kiêu mạn,
Nó
làm ta phát tâm đại bi
Đối
với những hữu tình trong sinh tử,
Làm
ta tránh tội lỗi, và vui vì điều lành.
Lại
nữa bạn phải chấp nhận khổ đau, và tạo cho mình một
trạng huống để có thể tăng trưởng những việc lành. Hãy
làm những việc như thực hành hỷ túc và ít muốn. Khi thực
hành những pháp khổ hạnh này hãy nghĩ như sau: “Vì đã
xuất gia, tôi không nên mong đợi chổ ở tốt, thực phẩm
ngon, áo quần đẹp. Như vậy tôi hy vọng có thể luyện mình
trong 4 việc thích hợp với bậc thánh, như hài lòng với những
vật kém phẩm chất về ăn, mặc, ở, bệnh.” Nếu không
làm như vậy, bạn sẽ muốn ăn ngon, muốn giàu có, và luôn
luôn tìm cách tăng gia của cải. Bạn sẽ không nghĩ gì vè
Pháp, không vượt qua những thứ vô nghĩa của đời người.
Có
lần một người buôn gỗ nghe bậc Đạo sư nói: “Kho tàng
chôn dấu đã tìm ra, thì nó liền nhiễm đầy độc tố. Chất
độc ấy thực mạnh!” Về sau anh ta tìm được một kho tàng
và đâm ra giàu có. Vua bắt phải khai nguyên nhân sự phát
phú này, anh ta nói dối và bị hành quyết. Thương gia kêu
lên: “Quả thực nó liền nhiễm độc rất nhanh. Chất độc
này thật mạnh!” Vua hỏi lý do, và thương gia kể câu chuyện.
Tài
sản cũng là một chất độc. Nếu những người tu chúng ta
ít muốn biết đủ, thì mọi sự sẽ tốt cho ta. Khi đức
Tsongkapa từ giả vùng Jadrael, ngài và các đệ tử có rất
ít của cải. Nhưng họ ít nhu cầu và hài lòng với những
gì mình có. Thực phẩm y phục không làm hại cho sự tu tập
của họ. Cũng thế bạn nên hài lòng với những gì mình sở
hữu, vì những thứ ấy tương xứng với công đức của bạn.
Hãy kham nhẫn khi gặp điều khó chịu như bị chỉ trích v.v…
Hãy chấp nhận đau khổ trong các hoạt động bình thường
như phải ngồi thẳng lưng v.v… Hãy chấp nhận những đau
khổ vì bảo trì chính pháp như cúng dường tam bảo v.v…
Hãy chấp nhận đau khổ vì phải từ bỏ dục lạc, từ bỏ
khoe khoang. Có sao hay vậy, dù bạn có thể xấu xí, áo quần
tồi v.v… Hãy chấp nhận đau khổ vì thực hành giới hạn
cho đến khi mỏi mòn. Hãy chấp nhận đau khổ do việc lợi
lạc hữu tình như khi tu nhẫn nhục, khi cứu người khỏi
chết v.v… hãy chấp nhận đau khổ của sự sống chật vật
sau khi từ bỏ những phương tiện tăng gia tài sản bằng nghề
buôn bán trồng trọt. Vân vân.
Như
vậy, sự nhẫn nhục bằng cách chấp nhận khổ đau là một
đề tài rộng lớn.
a-1.3.3.
Sự nhẫn nhục để có được bảo đảm về pháp (pháp nhẫn)
Lam-rim
Con Đường Nhanh nói chi tiết về điểm này. Bạn được bồ
đề về Pháp bằng cách: (1) thiền định về những điểm
then chốt của giới; (2) tập thay đổi lối hành xử nhờ
học và tụng kinh; (3) phân tích ý nghĩa những thiện đức
của Tam Bảo, ý nghĩa những mục tiêu giác ngộ của bạn,
con đường đưa đến mục tiêu ấy, ý nghĩa của vô ngã và
ý nghĩa của ba tạng giáo lý sâu rộng… Hoặc nếu nói về
Lam-rim thì bảo đảm về Pháp là hiểu rõ ý nghĩa những danh
từ trong Lam-rim này chẳng hạn. Loại nhẫn nhục này giống
như sự thấu đạt có được nhờ tranh luận.
Hình
thức nhẫn nhục đầu tiên (nhẫn khi bị tấn công - nại
oán hại nhẫn. DG) thì chỉ luyện được khi bạn bị những
đối thủ khiêu khích. Hai hình thức còn lại (kham thọ khổ
nhẫn và pháp nhẫn) phải được thực hành luôn luôn. Bạn
phải nhẫn nhục trong sự học pháp, chẳng hạn bất kể buổi
học có kéo dài bao lâu, hãy lắng nghe với sự nhất tâm,
suy tư ý nghĩa. Hãy thận trọng về cách hành xử khi bạn
tham gia những buổi thảo luận: Hãy chịu đựng đói khát.
Tâm bạn hãy chuyên nhất khi học bài hay tụng kinh. Hai loại
nhẫn nhục sau cùng áp dụng khi bạn đi vào làng để làm
lễ trong nhà người.
a-1.4.
Tinh tấn
Tinh
tấn có nghĩa là vui thích trong bất cứ thiện hành nào.
Bản
chất của tinh tấn là vui về điều thiện. Đó là cách tốt
nhất để hành thiện đến chỗ viên mãn. Trang nghiêm kinh
nói:
Tinh
tấn là tốt nhất
Trong
tất cả đức hạnh
Nếu
đào luyện tinh tấn
Về
sau sẽ thành công.
Nhờ
tinh tấn, ta đến
Những
cảnh giới thù thắng,
Được
cả hai thần thông
Thế
tục và siêu thế
Nhờ
tinh tấn ta đạt
Những
mục tiêu thế gian
Được
thanh tịnh, giải thoát
Khỏi
thân kiến sai lầm
Xem
“ngã” là thân xác.
Nhờ
tinh tấn ta sẽ
Đạt
vô thượng bồ đề.
Bản
văn trên đây nói rằng tinh tấn là đức hạnh tốt nhất;
mọi sự đều phát sinh từ đó kể cả quả Phật. Tác phẩm
Hành Bồ Tát Hạnh nói:
Mọi
đức tính đều phát xuất từ tinh tấn.
Vậy
bạn đừng cư xử như một con lừa ương ngạnh đứng dậm
chân khi bạn phải tụng đọc v.v… Bạn phải khởi sự những
hoạt động này một cách thích thú vì được làm thiện hành.
Hãy tập quen với điều này từ từ; và tăng dần khi sự
tinh tấn của bạn gia tăng.
Có
ba loại lười biếng ngăn che sự tinh tấn.
a-1.4.1.
Lười biếng do thiếu hăng hái
Điều
này có nghĩa là bạn mất cơ hội hành thiện vì luôn luôn
triển hạn. Bạn liên tục hẹn rày hẹn mai vì không nhiệt
tâm trong công việc. Cách đối trị cần thiết là phải quán
cái chết là vô thường, hoặc quán thân người khó được.
a-1.4.2.
Lười biếng do khao khát những tầm cầu xấu xa
Đây
là sự tầm cầu thuộc thế tục, lăn xả vào chúng, và vào
những ác hành vì bạn chưa biết chán. Điển hình của ác
hành này là ham được cung kính, ham tụ hội, ham nói chuyện
phù phiếm, canh tác, buôn bán, may dệt v.v… những việc ấy
không được gọi là tinh tấn mà gọi là chấp thủ. Hành
Bồ Tát Hạnh nói về cách điều trị như sau:
Nhân
của hạnh phúc là diệu pháp.
Nhưng
bạn lại lăn xả vào những nhân khổ
Và
từ bỏ hạnh phúc tối thượng.
Tại
sao vui trong sự tàn mạt?
Nói
cách khác, sự tầm cầu sinh tử là chuyện không có thực
chất mà chỉ gây đau khổ. Hãy nghĩ như thế thì bạn sẽ
bỏ được hình thức lười biếng này.
a-1.4.3.
Lười biếng vì chủ bại
Đây
là hình thức chủ bại thâm căn cố đế. Những điển hình
của sự chủ bại này là những ý tưởng như sau: “Làm sao
một người như tôi có thể đạt thành quả Phật ?” hoặc:
“Làm sao tôi có thể làm việc cho tất cả hữu tình?” hoặc
“Làm sao một người như tôi lại có thể hy sinh thân thể,
tay chân?” Thay vì thế bạn hãy nghĩ: “Tôi sẽ kiên nhẫn
dù có phải dành suốt cả đời để tập luyện chỉ một
đề mục thiền quán như quán thân người khó được.” Hoặc,
hãy nghĩ: “Tôi có thể tinh tấn với những tầm cầu thế
tục như kinh doanh buôn bán, tôi có thể kiên nhẫn biết bao
để có được một lợi lộc nhỏ! Nếu tôi đã có thể làm
được những điều ấy, thì tôi cũng có thể tinh tấn siêng
năng để đạt giác ngộ.”
Hành
Bồ Tát Hạnh nói:
Đừng
trì hoãn và nói:
“Làm
sao tôi giác ngộ?”
Chư
Phật luôn nói đúng
Đã
nói thật như sau:
Sâu
bọ, ruồi nhặng, ong
Nếu
kiên trì có thể
Đạt
Phật quả khó đạt!
Huống
là người như tôi
Đã
được sinh làm thân người,
Biết
được điều lợi, hại.
Nếu
tôi không từ bỏ
Những
phận sự bồ tát
Thì
sao không giác ngộ?
Nghĩa
là hãy nghĩ: “Đấng đạo sư của chúng ta, người luôn luôn
nói sự thật, đã dạy rằng ngay cả ruồi cũng có thể thành
Phật. Một người như tôi đã được sinh làm người. Tôi
biết nói và không thiếu khả năng hiểu biết. Vậy thì sao
tôi lại không thể giác ngộ? Đương nhiên là tôi có thể!
Bạn
có khi nghĩ: “Dĩ nhiên là được, nhưng tôi không thể thực
hành những khổ hạnh như bố thí đầu, tay chân.”
Hành
Bồ Tát Hạnh nói:
Khi
tôi nói “Tôi sợ phải bố thí tay chân tôi”
Thì
tôi chưa phân tích cái gì nặng cái gì nhẹ.
Dù
tôi mù, sự sợ hãi của tôi cũng sẽ chấm dứt
Đức
Phật đấng cứu thế gian,
Lúc
đầu thực hành bố thí
Bằng
cách cho những dĩa rau v.v…
Khi
tôi xem ngay cả thân tôi
Cũng
không giá trị gì hơn đậu luộc,
Thì
tôi có thể hy sinh máu thịt v.v…
Có
gì khó khăn đâu?
Nói
cách khác, sau khi khởi đầu thiền quán ở mức độ thấp,
về sau bạn sẽ xem nhẹ việc bố thí đầu, tay chân, cũng
như khi bạn cho một dĩa rau. Khi đã đến trình độ ấy thì
bạn sẽ vui mừng khi làm một sự hy sinh, không thấy gì khó.
Có
thể bạn nghĩ : “Chư Phật có vô lượng đức tính, và những
đức này sẽ rất khó thành tựu. “Hãy quán tưởng rằng
bạn chắc chắn có thể thành tựu nếu bạn tập luyện, bởi
vì đạo lộ được sử dụng có thể thành tựu những đức
tính ấy thật vô cùng sâu xa và rộng lớn.
Nhưng
bạn cũng có thể cãi: “Sẽ rất khó cho tôi nếu phải vì
tất cả chúng sinh mà đi xuống các đọa xứ chẳng hạn.”
Hành
Bồ Tát Hạnh nói:
Vì
từ bỏ tội lỗi,
Bạn
sẽ không khổ đau.
Vì
có được thiện xảo,
Bạn
không thiếu may mắn.
Nói
cách khác, bạn sẽ ở trong địa ngục vô gián vì tất cả
hữu tình, nhưng vì bạn đã từ bỏ ác nghiệp tội lỗi,
nên bạn sẽ không đau khổ cũng không thiếu hạnh phúc, vì
có câu nói: “Ta không thể gặp điều gì nếu đã không tạo
nghiệp để gặp nó.” Bởi thế bạn nên nghĩ rằng: “Ở
địa ngục tôi sẽ không khổ, xuống địa ngục khi ấy cũng
không khác gì lên tịnh độ.”
Có
3 loại tinh tấn
a-1.4.4.
Tinh tấn như áo giáp
Cúng
dường Đạo Sư nói:
Xin
cho con hoàn toàn tinh tấn
Dù
phải ở trong địa ngục Vô gián
Trong
vô lượng kiếp
Vì
lợi ích cho mỗi hữu tình
Xin
tâm đại bi của con không lay chuyển
Mong
con nỗ lực đạt vô thượng bồ đề.
Nói
cách khác, hãy tập luyện để nghĩ rằng bạn có thể chịu
đựng vì phải ở trong địa ngục vô gián hàng trăm ngàn
kiếp vì một hữu tình. Trong mật tông, bạn phải đi vào
mật điển với ý nghĩ: “Về phần tôi, tôi sẽ chịu đựng
được điều này, nhưng hữu tình vẫn còn trong sinh tử trong
một thời gian dài.” Ước mong của bạn là giải cứu tất
cả hữu tình càng sớm càng tốt khỏi những đau khổ của
họ, như một bà mẹ mong cứu con chết đuối.
Trong
chương này “Tinh tấn như áo giáp,” bạn huấn luyện ý
nghĩ rằng mình có thể vì chúng sinh mà đi xuống địa ngục
vô gián. Hãy so sánh điều này với Phạm Vi Trung Bình trong
đó bạn phát sinh ý muốn thoát ly sinh tử. Bạn có thể nghĩ
ở đây có sự mâu thuẩn, nhưng không. Bồ tát cũng sợ bị
sinh vào đọa xứ do năng lực của nghiệp và vọng tưởng.
Nếu bồ tát bị đọa kiểu ấy, thì họ còn không cứu nổi
chính mình, làm sao lợi lạc cho người khác. Bồ tát luôn
luôn huấn luyện tâm bồ đề và có được sự dũng cảm
không sợ cho chính mình; nhưng sẵn sàng tái sinh do năng lực
của đại bi và cầu nguyện. Họ sẽ không đau khổ khi tái
sinh ở đấy, cũng không chút nào lo sợ. Sự luyện tập này
được gọi là “tinh tấn như áo giáp”: bạn đương đầu
với những khó khăn vì muốn ích lợi cho hữu tình vào thời
đại suy đồi, khi con người không còn thực hành những pháp
ấy.
a-1.4.5.
Tinh tấn tích lũy thiện hành
Sự
tinh tấn này là tích lũy công đức, thanh lọc bản thân, cúng
dường, tinh tấn trong việc thực hành sáu ba la mật.
a-1.4.6.
Tinh tấn làm việc cho tất cả hữu tình.
Một
ví dụ về sự tinh tấn này là tinh tấn trong việc thực tập
bốn cách thâu nhận đệ tử (bốn nhiếp pháp: bố thí, ái
ngữ, lợi hành, đồng sự- DG). Đấy là một sự tập luyện
giống như “Giới nhiêu ích hữu tình.”
Bạn
có thể xem hai loại tinh tấn sau cùng, hai loại giới và nhẫn
sau cùng là giống nhau, nhưng hãy để chúng tách rời: đừng
lẫn lộn chúng mặc dù bạn thích thú, bạn thực hành, và
mong mỏi từ bỏ những yếu tố ngược lại liên quan đến
một căn bản duy nhất.
Chẳng
hạn nếu bạn thiền quán một thời về giai đoạn phát sinh
(liên hệ đến mật điển Tối thượng Du già) kèm với sự
phát sinh tâm bồ đề, thì tức là bạn đang thực hành của
6 pháp ba la mật.
Khi
ấy Pabongka Rinpoche chỉ giới thiệu hai ba la mật cuối cùng
là thiền định và trí tuệ. Ngài nói rằng ngài sẽ bàn đến
hai pháp này một cách chi tiết trong nhưng phần giảng dạy
kế tiếp.