PHẦN
BA
NỀN
TẢNG CỦA ĐẠO LỘ
NGÀY
THỨ CHÍN
(Kyabje
Pabongka Rinpoche cho một câu chuyện ngắn để giúp cho chúng
tôi khởi động lực, trích dẫn đức Atìsha vô song):
Có
nhiều chứng cứ tỏ rằng cuộc đời ngắn ngủi,
Nhưng
ta không biết rõ nó kéo dài bao nhiêu năm;
Hãy
rút ra từ đấy những gì đáng ưa nhất
Như
con ngỗng chúa tách sữa từ nước.
Ngài
nhắc lại những tiêu đề đã bàn và ôn lại vắn tắt đề
tài phụng sự bậc thầy.
1.2.4.
TẬN TỤY VỚI THẦY BẰNG VIỆC LÀM
Trong
Trang Nghiêm Kinh có câu:
Hãy
nương tựa bậc thầy
Bằng
cách dâng quà biếu,
Bằng
cách phục vụ thầy
Và
bằng cách tu tập.
Nói
cách khác có ba cấp bực tận tụy với thầy bằng việc làm:
bực hạ là quà biếu, bực trung là hầu hạ và bực thượng
là tu hành. Chẳng hạn, khi học trò nương tựa thầy, họ
thực hành cả ba bực; bởi vậy cách thờ thầy cho đúng là
đạo sư du già. Nếu sự nương tựa bậc thầy được căn
cứ trên liên hệ cá nhân, thì bạn không cần tìm pháp quán
nào để tu tập đạo sư du già. Khi bạn không ở bên cạnh
thầy, thì bạn phải phát sinh phép quán ruộng phước, làm
lễ tắm rửa và khẩn cầu, lạy, dâng cúng, v.v…
Cách
tốt nhất để làm hài lòng vị hướng đạo tâm linh là hiến
dâng thầy sự thực hành lời ông chỉ giáo. Mklarepa nói:
Con
không có tài sản hay quà cáp để dâng,
Sự
tu tập của con đền đáp công ơn sư phụ
Con
thực hành pháp dũng mãnh không kể gian nan;
Đấy
là quà con dâng hiến bậc thầy như cha lành.
Cả
hai truyền thống về Lời Đức Văn Thù, bản ngắn của hệ
phái Phương Nam và bản dài của Hệ phái Trung Ương, đều
dạy rằng sự tận tụy bằng hành vi là thuộc về nghi thức
chuẩn bị thứ tư. Trong bản văn này sự thờ kính bậc đạo
sư bằng ý nghĩ được dạy vào cuối nghi thức chuẩn bị
thứ ba.
Theo
bản văn này, khi bạn ở chỗ không có thầy, thì nên thờ
thầy qua hành vi bằng cách làm ba nghi lễ chuẩn bị đầu
là triệu thỉnh bậc thầy và ruộng phước, rồi dâng cúng
các ngài, v.v… Bằng cách ấy, bạn làm cho thầy hài lòng
do những quà dâng hiến vật chất.
Bạn
sái tịnh mặt đất như trên (xem Ngày Thứ Năm, trang…); rồi
triệu thỉnh năng lực của chân lý. Quán mặt đất thành
lưu ly với những kim cương chùy kẽ bằng vàng, có vẻ như
nổi bậc lên, nhưng nếu sờ vào thì lún xuống.
Trong
hệ phái Trung Ương, ở giữa mặt đất ấy có một lâu đài
hình vuông có bốn mặt không có tiền đình nên giống như
lâu đài trong mandala Phật Dược Sư. Tòa lâu đài thực khổng
lồ, ở chính giữa có bốn sân thượng ở trên một cái bệ
lớn được nâng bởi những con sư tử - như một cái tháp
không có phần trên.
Quán
sân thượng thứ nhất (cao nhất) có ba tòa sư tử ở phía
sau sân thượng, trên tòa giữa an tọa Đức Thích Ca, trên
tòa bên phải của ngài là Đức Di Lặc và bên trái là Đức
Văn Thù. Những bậc đạo sư Hệ Phái Hành Vi Quảng Đại
và Hệ Phái Tri Kiến Sâu Xa ngồi đằng sau hai vị này. Phần
trước của sân thượng có ba tòa sư tử. Atìsha, Nagtso vị
dịch giả, và Dromtoenpa ngồi trên những tòa này.
Trên
sân thượng thứ hai có một nhóm ba tòa sư tử. Đức Tsongkapa
Đấng Chiến thắng ngồi trên tòa chính giữa, Sherab Senge bên
phải, Gedun Drub (vị Đức Dalai Lama đầu tiên) bên trái.
Trên
sân thượng thứ ba có một nhóm ba tòa sư tử. Đức Đức
Dalai Lama đệ ngũ đại an tọa ở tòa chính giữa, bên phải
ngài là Jinpa Gyatso bên trái là Jampa Choedaen, một bậc thầy
thực sáng chói.
Trên
sân thượng thứ tư vị bổn sư của bạn ngồi ở tòa giữa.
Bản văn nói hai bậc thầy an tọa những đại đệ tử của
thầy, nhưng theo chỉ giáo khẩu quyết thì sư phụ của thầy
an tọa bên phải, và tổ sư của thầy bên trái.
Những
thầy khác của bạn ngồi trên những tấm bồ đoàn bằng
lụa.
Một
truyền thống cho tất cả những vị thầy trong ba tạng ngồi
ở trên ba mặt còn lại của sân thượng; chư Phật, Bồ tát,
Thanh văn, Duyên giác, Hộ pháp v.v… ngồi phía sau.
Theo
một truyền thống khác, bạn quán những bậc thầy trong các
Hệ Phái Hành Động Quảng Đại và Tri Kiến Sâu Xa an tọa
theo thứ tự, bên phải và trái là “nhóm ba” bậc thầy.
Quán những bậc thầy hệ phái về Luật tạng và thầy về
Kinh tạng ở phía sau sân thượng. Bạn không phải quán những
vị thần bảo hộ, v.v…
Nếu
bạn muốn làm pháp thiền quán này, thì chỉ cần nghĩ tưởng
những nhân vật ấy đang hiện tiền, dù bạn không thể trông
thấy họ. Những hình ảnh ở những phần phía sau của sân
thượng cũng không bị sư tử tòa (của những nhóm ba bậc
thầy ở trước) che lấp; những vị ở đằng sau cũng hướng
mặt về phía bạn.
Nhà
tắm có bốn lối vào. Bên trong có một bộ tòa đầy đủ
cho ruộng phước. Không có ao tắm, nền ở chính giữa được
nâng cao. Sự cầu nguyện gồm bảy thành phần và những gì
còn lại cũng như trước.
Hệ
phái Phương Nam thì khác hẳn. Quán trước mặt là một tòa
nhà lớn nâng đỡ bảy sân thượng; giống như bảo tháp phái
Kadampa. Những sân này làm bằng bảy thứ quý báu. (xem chi
tiết trong bài tụng). Những sư tử (nâng đỡ tòa lớn) đứng
trên nền đất. Trước sư tử tòa này xây ba cầu thang. Sân
trên hết có một tấm đệm hay vải lót lưng tương tự những
đệm lót lưng nơi những tòa ngồi của những lạt ma cao cấp,
hai góc trên có hoa văn hình lưỡi câu. Tấm đệm được trang
trí bằng những chạm trỗ bằng báu vật. Mỗi sân cũng có
những cầu thang nhỏ bằng vàng dẫn xuống các cạnh của
những sân dưới và đưa đến những cầu thang khác ở trước
sư tử tòa.
Đỉnh
của tấm đệm lót có hình cong như vòm cung lồi lên ở giữa,
trên đó có một cái chóp bằng vàng treo tràng phan chiến thắng
ở hai bên. Giữa sân thượng cao nhất có một pháp tòa với
chỗ dựa lưng dành cho đức Thích Ca, được nâng bởi sáu
con vật - rồng, kim sí điểu, v.v… - biểu trưng sáu ba la
mật. Có năm cái gối bằng gấm thêu trên pháp tòa của Đức
Thích Ca. Đức Di Lặc ngồi bên phải, Văn Thù ngồi bên trái,
trên những tòa ngồi mỗi tòa có ba gối; những tòa này không
có sư tử nâng. Bậc thầy của bạn ngồi trước mặt các
ngài trong dáng điệu thường ngày, có hai gối, và không cần
tòa. Sư phụ của thầy ngồi bên phải thầy, sư tổ ngồi
bên trái. Những vị này chỉ ngồi trên một cái gối. Những
bậc thầy còn sống của bạn thì ngồi giữa chiếu. Phần
giữa của sân thượng để trống chừa lối đi.
Thầy
của bạn trong dáng điệu thường ngày, tay phải bắt ấn
thuyết pháp, tay trái cầm một quyển kinh từng tờ rời kiểu
Tây Tạng đang nằm trong cái bao của nó với một cái đánh
dấu trang hoàng bằng năm lớp lụa.
Những
bậc thầy thuộc Hệ Phái Hành Vi Quảng Đại ngồi bên phải
Đức Di Lặc, và Hệ Phái Tri Kiến Sâu Xa ngồi bên trái Đức
Văn Thù. Truyền thống Kadampa Lam-rim tiếp tục cuối Hệ Phái
Hành Vi Quảng Đại, và một biểu tượng quan trọng là chỗ
ngồi cuối của hệ phái được để trống. Những vị thầy
của bạn không ở trên sân đầu tiên thì sẽ chiếm sân thứ
hai và ba.
Truyền
thống Kadampa Chỉ giáo ngồi một dãy trên sân thứ tư, Chaen
Ngawa ngồi giữa. Chư Bồ tát ngồi trên sân thứ năm. Chư
Phật ngồi ở góc trái và phải của bốn sân đầu tiên.
Thanh văn ngồi trên sân thứ sáu. Hộ pháp trên sân thứ bảy.
Đây
là một truyền thống thuộc kinh điển, nên bạn không quán
những bậc thầy thuộc Hệ Phái Hành Động Dâng Hiến. Nếu
bạn muốn để cả những vị này vào, thì hãy tưởng tượng
họ ở dạng vô hình.
Hai
hệ phái Lời Đức Văn Thù đều thuộc truyền thống Kinh
tạng, bởi thế bạn không được quán những thực thể dấn
thân hành động, mà chỉ triệu thỉnh họ đến như khách
tham quan. Lấy ví dụ: trước khi mời khách ăn ngồi vào bàn,
thì ta phải sắp chỗ sẵn cho họ. Bởi thế bạn dâng hiến
đồ cúng và thỉnh các thực thể trí tuệ ngồi vào nơi dành
sẵn. Bạn mời các ngài, và cách bạn quán họ đang đi đến
bạn “giống như cách Phật và tùy tùng đến Magadhabhadrì.”
(Khi
ấy Kyabje Pabongka Rinpoche kể chuyện ấy và bàn chi tiết cách
thực hành này.)
Kế
tiếp bạn tắm rửa thân các ngài. Khác cái nhà tắm trên
kia, nhà này có bốn cửa kính ở mỗi phương hướng. Không
có ao tắm giữa, nhưng có nhiều bình chứa nước. Trần nhà
có hệ thống xà ngang và một cái lọng treo lủng lẳng những
bao hoạc hoặc bình đựng hương bột có những lỗ thông.
Trong lễ tắm, tưởng tượng nước tự tuôn ra từ những
bình chứa. Những vị thầy tu trong ruộng phước xuống tắm
từng nhóm ba người, ngồi vào chổ như trên trong nhà tắm,
và y phục họ thoát ra dưới dạng những tia sáng màu vàng.
Còn lại cũng như đã nói trên.
Có
thể bạn không có thì giờ để quán đầy đủ những bình
nước, v.v… Thực ra không phải luôn luôn bạn cần phải
làm lễ tắm trong phần nghi thức chuẩn bị; dù chỉnh thỉnh
thoảng làm một lần cũng sẽ trừ được chướng ngại, cấu
uế trong tâm vân vân. Phần còn lại của lễ tắm giống như
phần tôi nói trong Con Đường Nhanh (Ngày Thứ Năm).
Khi
giảng dạy chỉ một bài Lời Đức Văn Thù mà thôi, thì ở
điểm này nên nói trong khi thực hành, không nên giải tán
phép quán ruộng phước. Chẳng hạn, khi bạn đang tụng đọc
nhiều lần nghi thức chuẩn bị, thì không nên tụng Căn Bản
Của Mọi Thiện Đức của Tsongkapa trong phần cuối thời hành
trì. Nếu bạn chưa giải tán ruộng phước, thì hãy dừng
lại một lúc để dâng đầy thức cúng dường, trước khi
tụng tiếp bản nghi thức. Nếu bạn đã giải tán ruộng phước,
thì chỉ làm lễ gồm bảy thành phần, làm đi làm lại vài
lần như vậy.
Ngày
nay bạn nên làm nghi thức chuẩn bị theo bản Trang Hoàng Yết
Hầu Những Người May Mắn, hơn là bản Lời Đức Văn Thù,
vì bản trước là một chỉ dẫn đặc biệt sâu xa và có
năng lực gia trì hơn bất cứ bản nào khác.
1.3.
PHẢI LÀM GÌ TRONG PHẦN CUỐI THỜI THIỀN QUÁN
Cúôi
thời thiền về một đề mục Lam-rim đặc biệt, hãy tụng
thần chú danh hiệu Đức Thích Ca Mâu Ni, cầu nguyện và hồi
hướng công đức.
2.
PHẢI LÀM GÌ GIỮA NHỮNG THỜI THIỀN QUÁN
Không
có thời gian nào mà không phải hoặc là thời thiền quán,
hoặc là thời khoảng trung gian giữa các thời thiền. Điều
cốt yếu là sử dụng đúng cách thời khắc trung gian này.
Nếu bạn luyện tâm trong thời thiền rồi để cho tâm trở
nên tán loạn giữa hai thời thiền, nó sẽ tác hại đến
thời thiền kế tiếp của bạn. Nhưng nếu thời khoản trung
gian này tiến hành tốt đẹp, thì việc tái sinh thân người
may mắn của bạn mới đem lại ý nghĩa. Vì thế mà trong sự
giảng dạy cũng như trước tác của ngài, đức Tsongkapa thường
đặt nặng khoản thời gian giữa các thời thiền cũng như
chính thời thiền quán.
Ta
hãy lấy ngay đề mục đặc biệt này làm ví dụ. Giữa các
thời quán tưởng, bạn nên đọc những chuyện kể trong các
luận sớ về lòng hiếu kính đối với bậc thầy, chẳng
hạn về cách Nàropa đối với Tilopa, Milarepa đối với Marpa,
Dromtoenpa đối với Lama Setsuen và Atìsha. Người ta bảo, trí
tuệ bạn sẽ lung lay nếu đọc những loại sách khác, chẳng
hạn những loại sách làm cho bạn tăng thêm hận thù. Vậy
muốn tăng trưởng trí tuệ thì đừng nên đọc những sách
ấy.
Muốn
cho vọng tưởng khỏi khởi lên giữa các thời, ta phải tự
chế ngự đến độ không sử dụng giác quan theo kiểu có
thể phát sinh tâm tán loạn. Vì chúng ta chưa đạt đến trình
độ này, nên cần phải tinh tấn trong mọi thời khắc với
ba căn môn (thân khẩu ý) của mình, và dù cho trông thấy cái
gì hấp dẫn, cũng đừng để cho tâm bị lạc hướng.
Bạn
nên đọc chương “Về sự duy trì tinh tấn” trong tác phẩm
Shantideva nhan đề Hành Bồ Tát Hạnh để biết thêm chi tiết.
Cốt tủy của chương này là:
Hãy
luôn luôn quán xét
Trạng
thái thân và tâm
Bản
chất của tinh tấn
Là
tên lính đi tuần.
Nghĩa
là cốt yếu phải duy trì sự tinh tấn.
Bạn
phải làm những hoạt động của ba cửa - những cử động
của thân bạn, những lời nói, và dòng tư tưởng đi qua tâm
thức bạn - trong lúc quán xét kỹ những đề tài này. Giả
sử một phòng chỉ có hai cửa ra vào, thì nhờ canh chừng
hai cửa này mà bạn ngăn trộm khỏi lọt vào phòng. Cũng vậy,
nếu bạn giữ gìn ba cửa thân lời ý, và không từ bỏ chánh
niệm, tức là bạn đóng cái cửa phạm vào điều quấy.
Có
câu chuyện về geshe Baen Gung-gael. (CT.- Một hôm trong chùa có
lễ dâng cúng sữa cho một hội chúng rất đông chư tăng.
Geshe Baen ở trong số những vị cuối cùng được phục vụ.
Ông bắt gặp mình ganh tị với những người đã nhận phần
sữa, nên khi người ta đưa sữa đến nơi ông, ông từ chối
và la lên trước sự ngạc nhiên của mọi người. “Tôi là
kẻ trộm!”. Chúng ta cũng phải canh chừng giống như vậy.
Nếu
tâm ta cứ mãi lang thang, ta dễ gặp sự tình như sau xảy đến
cho chính mình. Có một người quyết định được một cái
tên là Gawa Dragpa để đặt cho con trai, ông sung sướng nhảy
múa và chết tức khắc, trước khi đứa bé chào đời.
Atìsha
dạy: “Hãy kiểm soát lời lẽ của ngươi khi tụ hội; kiểm
soát tư tưởng ngươi khi ở một mình.” Chúng ta thường
phạm tội khi tâm tán loạn không chánh niệm; vào lúc ấy
ta không có ý thức đấy là tội lỗi. Trong khi ngồi nói chuyện
chẳng hạn, ta có thể lơ đểnh giết một con rận, nhưng
nếu tinh tấn và ý thức ta sẽ không làm chuyện ấy vì nghĩ
đấy là tội lỗi. Cũng vậy khi ở giữa đám đông bè bạn,
đang nói đủ thứ vấn đề, ta cũng nên dùng phần ý thức
để kiểm soát, tự hỏi: “Tôi sắp nói cái gì đây?” Nếu
thấy mình sắp nói những lời gay gắt phù phiếm thì nên
ngậm miệng lại. Khi ở một mình, ta hãy kiểm soát bằng
cách tự hỏi, “Ta đang nhớ chuyện gì?” Ta nên duy trì chánh
niệm và tinh tấn với ý nghĩ: “Nếu ta quên giữ ý, ta sẽ
không ý thức ngay tư duy đã khởi lên. Bởi thế ta đừng
quên giữ ý.”
Geshe
Karag Gomchung có lần viết bốn hàng hiệu dán lên bốn vách
xung quanh phòng mình: “Không nghĩ tán loạn!” Chúng ta thì
khác, đại loại, chúng ta chỉ thích những khẩu hiệu này:
“Ta cần có nhiều tiền càng tốt!”
Thời
gian giữa các thời thiền vô cùng quan trọng, ngay cả trong
thời kỳ nhập thất. Bạn có thể có một tảng đá bên cạnh
cửa vào phòng để chứng tỏ mình đang nhập thất (xem Ngày
Thứ Tư, trang…), và ở tuốt trên một đỉnh núi tuyết phủ,
mà tâm bạn vẫn lang thang. Bậc tôn sư tôi dạy, “Bất cứ
ai nhập thất cũng phải để tâm nhập thất luôn, nghĩa là
có chánh niệm tinh tấn.” Luôn luôn làm mọi sự kèm theo
tinh tấn chánh niệm, đấy là phương tiện khéo để chấm
dứt vọng tưởng.
Milarepa
nói rằng những việc tầm thường của thế tục có thể
tác dụng như những quyển sách của bạn. Nói cách khác, mọi
sự bạn tiếp tục phải kích động tâm thương xót, từ bỏ,
vân vân, ở nơi bạn. Ví dụ Drubkang Geleg Gyatso trông thấy
một con kiến bị ong chích mà khởi niềm xác tín đối với
luật nhân quả.
Khi
đi vào chợ ta thường phát sinh những vọng tưởng như lòng
tham luyến; tội lỗi theo liền bước ta đi. Đến lúc trở
về nhà là ta đã mang một bao đầy tội lỗi trên lưng. Nhưng
nếu ta có tâm phân tích đúng pháp, và đi chợ có đem theo
chánh niệm và tinh tấn, thì việc đi chợ có thể là một
liều kích thích tối thượng cho chúng ta và thực chứng vô
thường. Ta phải chuyển mọi sự việc tầm thường thành
một kích kích thích tố để thực hành Pháp theo cách ấy.
Kyabje
Pabongka Rinpoche nói về thức ăn và cách ăn. Ngài cũng nói
đến việc cúng dường hằng ngày những bánh lễ cho ngạ
quỷ. Bản văn bàn kỹ việc này gọi là Thời Khóa Hàng Ngày,
và chúng ta nên theo đó. Ngài nói đến lợi ích lớn và những
con quạ ăn bánh ấy có thể có được.)
B.
TRÌNH TỰ TU TẬP BẠN PHẢI THEO SAU KHI ĐÃ NƯƠNG TỰA MỘT
BẬC THẦY.
Có
hai tiêu đề chính: (1) kích thích để rút tỉa tinh hoa của
việc có được thân người thuận lợi. (2) Làm sao để rút
tỉa tinh hoa ấy.
1.
KÍCH THÍCH ĐỂ RÚT TỈA TINH HOA CỦA SỰ TÁI SINH THUẬN LỢI.
Kích
thích này do nghĩ đến những lợi ích lớn của thân người
tái sinh làm người, và sự khó khăn được làm người. Có
hai tiêu đề phụ: (1) một thảo luận ngắn để thuyết phục
bạn; (2) giảng dạy sơ lược cách tu.
1.1.
MỘT THẢO LUẬN NGẮN ĐỂ THUYẾT PHỤC
Hai
tiêu đề sau cùng này lập thành một biểu đồ áp dụng cho
tất cả đề mục thiền kế tiếp; đây là cách truyền thống
để phối hợp tài liệu giảng dạy chính thức với tài liệu
rút từ những buổi “nói chuyện thân mật.” Bạn nên thay
thế mỗi đề tài thiền, - như đề tài tôi sẽ bàn dưới
các tiêu đề nói trên - bằng tiêu đề làm sao để theo phần
chính của thời thiền. Bạn phải làm những gì tôi giải
thích trong phần nói về sự tận tụy với bậc thầy hướng
đạo; nối đề tài thiền ấy vào phần cuối của nghi thức
chuẩn bị, rồi tiếp theo bằng phần cuối của thời thiền
vân vân.
Chúng
ta thấy không có gì sai quấy khi mở miệng nói chuyện phiếm
suốt ngày, chính là ta không suy nghĩ về những lợi ích lớn
và sự hiếm hoi có được thân người. Sự suy nghĩ về những
điều này sẽ là một kích thích tố mạnh mẽ cho ta thực
hành diệu pháp.
Khi
bạn nghĩ về những lợi ích lớn và sự hiếm hoi của việc
tái sinh làm người, thì tự nhiên bạn cảm thấy hạnh phúc,
và khi bạn nghĩ đến sự chết là vô thường, thì tự nhiên
bạn cảm thấy buồn rầu.
Ở
đây có ba tiêu đề: (1) nhận ra sự tái sinh may mắn là được
làm người; (2) nghĩ đến những lợi ích lớn của việc ấy;
(3) Nghĩ đến sự khó khăn có được thân người.
1.1.1.
NHẬN RA SỰ TÁI SINH MAY MẮN LÀ ĐƯỢC LÀM NGƯỜI
Có
hai phần: (1) những điều ta đã thoát khỏi: (2) những điều
ta có được.
a.
Những điều ta thoát khỏi.
Bạn
phải nhận ra được rằng thân người là thuận lợi thì
bạn mới có thể rút tỉa được tinh hoa từ đấy. Những
tảng đá lót lò sưởi của bạn có thể làm bằng vàng song
nếu bạn không biết thì bạn cũng vẫn nghèo khó. Bạn còn
thấy được những điều mình đã thoát được, đó là tám
chướng ngại cho sự tu tập (tám nạn).
Tám
nạn ấy được đề cập trong bức thư của Long Thụ:
Có
tà kiến, làm súc sinh,
Làm
quỷ đói, sinh vào địa ngục,
Thiếu
Phật pháp vì sinh nơi biên địa, mọi rợ man di
Ngu
si câm điếc, hoặc làm trời trường thọ;
Tái
sinh làm hạng nào thì trong tám hạng ấy
Đều
là những chướng nạn không thuận lợi.
Bạn
đã có được một hoàn cảnh tiện nghi
Thoát
khỏi tám nạn ấy, thì hãy nỗ lực
Đừng
bao giờ rơi lại vào những cảnh này.
Có
bốn cảnh huống không thuận lợi trong loài phi nhân (địa
ngục, quỷ đói, súc sinh, trời trường thọ) và bốn cảnh
ở trong loài người (tà kiến, biên địa, mọi rợ man ri,
và đui điếc câm ngọng).
Bốn
trạng huống phi nhân bất tiện là như sau: Địa ngục không
tiện cho việc tu tập Pháp, vì những nỗi khổ quá nóng hoặc
quá lạnh. Nếu ai đặt một cục than hầm trên đầu bạn
mà buộc bạn phải thiền quán trong lúc đó, thì sự đau đớn
sẽ làm cho bạn muốn bắt đầu hành thiền cũng không thể
được. Nếu bây giờ bị sanh vào địa ngục, ta sẽ thấy
trăm ngàn lần đau khổ hơn một con chuột bị đặt trên vỉ
sắt nung đỏ; khi ấy ta hoàn toàn không thể nào thực hành
Pháp, ngay cả đến một chữ Pháp ta cũng không thể nghe được,
tâm ta khi ấy chỉ cảm thấy tràn ngập thống khổ. Vậy ta
phải thấy mình may phước không bị sinh vào địa ngục.
Tái
sinh làm ngạ quỷ thì không thuận lợi cho việc tu tập Pháp
vì quá đói khát. Ví dụ khi ta đang bị cơn đói dữ dội
mà thầy bảo ta phải tu tập thiền thì ta chỉ khát khao được
đồ ăn thức uống mà thôi. Vậy tái sinh làm ngạ quỷ cũng
không thuận lợi cho việc tu hành. Thực may mắn thay ta đã
không bị sinh làm ngạ quỷ!
Tái
sinh làm súc sinh không lợi cho việc học Pháp, vì súc sinh
ngu tối, bị vô minh ám chướng. Ví dụ nếu ta bảo một con
chó hay lừa rằng: “hãy niệm một chuỗi om mani padme hum thì
ngươi sẽ được giác ngộ” nó sẽ không hiểu gì ráo. Và
nếu súc sinh chỉ một âm của câu thần chú cũng không biết,
thì làm sao học hiểu các pháp khác được? Vậy, súc sinh
thì chỉ sinh ra để chịu những kiểu đau khổ riêng của
chúng, và điều ấy không lợi ích gì cho việc học pháp.
May phước thay ta không bị sinh vào loài ấy.
Bây
giờ, mỗi khi nói “may thay” là ta liên tưởng đến một
món tiền mình đã kiếm được, nhưng điều ấy chưa thực
sự là may mắn. Khi nhìn những thú vật như chó, lừa, ta chớ
nên xem chúng như những con con vật gợi tò mò; mà nên suy
nghĩ, “May thay mình không phải như chúng nó!”
Những
vị trời trường thọ là như sau: được sinh vào cõi sắc
và vô sắc là một trong những quả báo tốt nhất bạn có
thể có, tuy nhiên khi những vị trời được sinh vào những
cõi ấy họ nghĩ, “Ta đã được tái sinh làm một vị trời,”
và khi họ rời khỏi tái sinh ấy, họ nghĩ, “ta đang rời
khỏi tái sinh làm trời.” Trong thời gian còn lại trên cõi
trời thì họ chỉ có mê mẩn trong trạng thái nhất tâm tịnh
chỉ tới nỗi họ giống như đang ngủ một giấc dài - họ
lãng phí toàn thể cuộc tái sinh của mình bằng cái cách hoàn
toàn vô nghĩa như thế. Tác phẩm Trình độ Thanh Văn của
Vô Trước cho ta biết những vị trời trong những cõi trời
khác có thể có vài bản năng lớn lao về đức hạnh, nhưng
thông thường họ dùng toàn thời gian để hưởng lạc thú,
nên cũng không nhận được Pháp. Jìvaka Kumarabhrta lúc còn
làm người là một y vương và là đồ đệ của tôn giả
Xá Lợi Phất. Mỗi khi ông cưỡi voi đi ra ngoài gặp tôn giả,
ông lập tức xuống voi không chút ngần ngại. Về sau khi được
tái sanh lên cõi trời, tôn giả lên ấy để thuyết pháp cho
ông. Nhưng ông quá mắc bận các thiện lạc đến nỗi ông
chỉ dơ một ngón tay lên chào rồi tiếp tục vui chơi, không
để cho tôn giả có cơ hội nào mà dạy pháp được. Đấy,
ở cõi trời là như vậy, chư thiên tuyệt đối không nghĩ
đến chuyện học Pháp, hay chuyện từ bỏ xả ly. Họ chỉ
có những tiếng trống, những con chim thần, v.v… nói cho họ
nghe diệu pháp; nhưng không có những bậc thầy như chúng ta
để chỉ giáo cho họ một cách chi tiết.
Bốn
tình huống bất lợi trong loài người như sau. Nếu bạn sinh
trong một nơi mà đức Phật chưa từng đặt chân đến, bạn
sẽ không biết làm gì để thực hành Pháp, và cho dù có thực
hành, bạn cũng không biết cách làm cho đúng. Ta sẽ làm sao
nếu bị rơi vào những tình huống ấy? May thay ta đã không
bị như vậy!
Ngay
dù bạn sinh vào chỗ trung ương, nơi có Phật pháp lưu hành,
mà nếu bạn làm người ngu đần vì bị trạng thái tinh thần
bất túc, làm kẻ câm điếc không nói được, thì bạn cũng
không thể hiểu được mục đích thực sự đằng sau lời
Pháp, hoặc chỉ làm theo dáng điệu mà không hiểu gì nên
không thể tu tập đúng cách.
Làm
người tà kiến là chướng ngại lớn nhất cho sự hiểu pháp
- đó là lý do đức Long Thụ đề cập trở ngại này trước
tiên. Thật là điều vô phúc nhất nếu bây giờ bạn làm
người Hồi giáo chẳng hạn, vì bạn sẽ không bao giời có
được công đức căn bản của việc đọc tụng dù chỉ là
một xâu chuỗi câu om mani pade hum, dù bạn có sống thật lâu.
Vậy,
chúng ta đã xoay sở có được tám điều thuận lợi là giải
thoát khỏi tám nạn kể trên mặc dù thực sự rất khó mà
thành tựu cả tám điều ấy một cách triệt để. Đấy là
lý do ta nói là may mắn: Còn gì may mắn hơn có được tám
điều rất khó được ấy?
b.
Những điều ta có được.
Có
mười điều: năm thuộc cá nhân, năm liên hệ đến người
khác.
b-1.
Năm điều thuộc cá nhân.
Quyển
Trình Độ Thanh Văn nói:
Làm
người, sinh chỗ trung ương;
Các
căn đầy đủ; không năm tội ngịch;
Và
có lòng tin kiên cố.
Điều
ta có được thứ nhất là được làm người. Cõi người
thù thắng hơn các nẽo luân hồi khác vì có tiềm năng thực
hành các pháp tu có lợi cho những đời sau. Hiện tại đương
nhiên chúng ta là những con người - song điều này dường
như chưa giúp gì cho ta cả.
Được
sinh vào chỗ trung ương có nghĩa là, vào thời mạt pháp, ở
một nơi ít nhất có đủ tứ chúng tăng già. Các căn đầy
đủ, nghĩa là sanh ra có đủ các giác quan. Lại nữa, những
người có hai căn, người không có nam căn, vân vân, đều
không đủ tư cách thọ giới biệt giải thoát (pratimoksha).
Vậy, vì bạn không sinh làm những hạng người như vậy, nên
bạn chỉ là “có đầy đủ các căn.” Không phạm tội ngũ
nghịch là, người ta sẽ không đắc quả A la hán trong đời
này được nếu đã phạm những tội ấy. Chúng ta cũng không
rơi vào trường hợp này. Lòng tin kiên cố được giải là
tin vào giới luật, nhưng ở đây phải là tin cả ba tạng
và tin pháp Lam-rim.
Người
ta phải bản thân có đủ năm điều ấy, nên gọi là “thuộc
cá nhân.”
b-2.
Năm điều kiên hệ người khác.
Một
đức Phật ra đời và giảng Pháp;
Giáo
lý còn đó và được người tin theo;
Nhưng
người khác thường có lòng yêu mến trong tâm khảm.
Ở
một thế giới không có Phật xuất hiện thì cũng sẽ không
có Pháp. Nếu có Phật xuất hiện, nhưng ta lại chết trước
khi Ngài giảng Pháp thì cũng lại vô ích. Hai điều kiện này
nói một cách chặt chẽ thì quả ta không hội đủ, nhưng
những bậc thầy chúng ta đang còn để thay Phật, nên có thể
nói ta cũng có hai sự này.
Những
giáo lý phải được giữ trong hai trạng thái chưa suy đồi
và người nào thực hành sẽ đắc đạo lộ chân thực của
bậc thánh. Hiện tại thời gian năm ngàn năm truyền thừa
giáo Phật chưa chấm dứt. Tuy nhiên, mặc dù giáo lý còn được
truyền, mà quả của giáo lý chỉ được nẩy sinh trong dòng
tâm thức của riêng bạn, nếu bạn có triển khai thực chứng
đi sâu vào những lời dạy. Như những tu sĩ phái Kadam ngày
xưa nói, thì điều này chưa xảy ra: chúng ta không có giáo
lý trong dòng tâm thức của mình, bởi thế đừng nên để
cho phần giáo lý ta có được phải tiêu mất. Nghĩa là giáo
lý Phật vẫn lưu hành rộng rãi bên ngoài, song nếu nó chết
đi trong dòng tâm thức của bạn, thì như vậy là phần riêng
bạn về giáo lý đã mất.
Không
những giáo lý Phật phải tồn tại, mà nó còn phải được
bảo trì nguyên vẹn mới được. Trong tất cả những giáo
điều của các tông phái Ấn Độ và những giáo lý của Phật
giáo Tây Tạng tiền và hậu kỳ, những giáo lý quý nhất
là vô cấu là những pháp phối hợp được tri kiến thuần
tịnh và những pháp tu của cả kinh giáo lẫn mật giáo, chẳng
hạn giáo lý của đức Tsongkapa nhà cải cách, hiện thân của
Bồ tát Văn Thù vị Hộ trì pháp, những giáo lý thuần tịnh
như vàng ròng. Giáo lý ấy thịnh hành khắp Tây Tạng, và
bạn đã được gặp. Điều ấy xảy đến cho bạn là chuyện
hy hữu nhất trong những điều hy hữu. Giáo lý của đức
Tsongkapa về kinh điển và mật điển hùng hồn hơn bất cứ
thời nào trước đấy. Tagtsang dịch gia nổi tiếng, lúc về
già mới thấy được những nét đặc thù của giáo lý ấy
đánh trúng chỗ. Còn nhiều lời ca tụng tương tự, nhưng
nếu phải nói cho bạn nghe một cách chi tiết tại sao giáo
lý về kinh mật ấy lại thù thắng hơn mọi giáo lý khác,
thì tôi phải bỏ cả mấy ngày để nói cũng không hết. Một
lần một người Mông Cổ tặng đức Panchen Lama một món quà,
và được báo cho biết ông ta sẽ tái sinh làm người. Điều
này cũng sẽ xảy ra nếu ông ta cầu nguyện được gặp giáo
lý Phật. Ai biết được cái gì sẽ xảy đến nếu ông ta
đã cầu nguyện phải được giáo lý của Tsongkapa!
Bạn
đã gặp được giáo lý như thế, và không chỉ thế mà thôi:
điều có được thứ tư cũng thành tựu - giáo lý đang được
theo - bởi vì không bị hoàn cảnh nào khác làm chướng ngại,
bạn dễ dàng từ bỏ đời sống thế tục mà xuất gia. Thực
sự “nền giáo lý đang được theo” có nghĩa rằng bạn
có thể thấy rõ những người chứng bốn quả Thanh văn là
Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, A la hán. Vậy điều có được
thứ tư liên hệ đến người khác, - như được bàn trong
Trình Độ Thanh Văn - thì chỉ áp dụng cho những người như
tỳ kheo Udayì, chứ không phải cho người như Long Thụ chẳng
hạn. Vào thời “giáo lý tuệ giác” (thời kỳ đầu của
nền giáo lý) những người đã đắc bốn quả thường nêu
gương cho chúng tăng; ngày nay, những công hạnh của bậc thánh
cũng nêu gương cho ta, bởi thế sự kiện này dùng làm thay
thế cho sự đáp ứng điều có được thứ tư.
Điều
có được thứ năm liên hệ đến người khác - rằng con người
nói chung phải yêu mến cha mẹ tận đáy tim; có nghĩa là những
thí chủ cung cấp những điều kiện thuận lợi cho việc học
Pháp, và người ta nói chung đều có tâm tốt. Vậy điều
này cũng được hội đủ. Thật vô cùng khó được cả 18
lợi ích này, thế mà ta có đủ cả. Đó là nhờ trong đời
quá khứ ta đã cầu nguyện đúng cách; chúng ta cầu mong có
được mười điều và đừng bị rơi vào tám nạn. Vậy bây
giờ ta đã thoát khỏi tám nạn và được mười điều tốt
lành.
1.2.1.
NGHĨ VỀ NHỮNG LỢI ÍCH LỚN CỦA THÂN NGƯỜI
Có
ba tiêu đề: (1) lợi ích ngắn hạn; (2) lợi ích dài hạn;
(3) nghĩ sơ lược về một sát na của thân người có thể
rất lợi lạc như thế nào.
1.2.1.
NHỮNG LỢI ÍCH NGẮN HẠN CỦA THÂN NGƯỜI
Bất
kể cõi nào bạn muốn hưởng và cõi thấy nào bạn muốn
tránh, bạn cũng chỉ có thể thành công nhờ sử dụng tốt
cuộc đời hiện tại của mình lúc làm người. Muốn tái
sinh vào thượng giới bạn phải tu tập như sau: muốn giàu
có bạn phải tu bố thí, muốn có nhiều quyến thuộc tùy
tùng bạn phải thực hành nhẫn nhục. Tất cả điều này
thực hành ngay trong đời hiện tại. Bạn có thể tự hỏi,
“Làm sao tôi có thể tái sinh cao như làm trời, người, giàu
có, hạnh phúc?” nhưng điều chắc chắn là bạn có thể
làm được chỉ cần có tu.
Nếu
muốn sinh làm trời Phạm Vương, Đế Thích, hay Chuyển luân
vương, bạn cũng có thể toại ý. Nếu bạn muốn tái sinh
có tám điều tốt lành do nghiệp quả (xem Ngày Mười Ba, trang…)
hay một tái sinh thù thắng với bảy thiện đức, hoặc một
tái sinh có thân vật lý thích hợp để tu tập bốn cỗ xe
Tối thượng thừa (bốn hạng mật điển), bạn có thể thành
tựu ước muốn ấy.
Với
tái sinh làm người này, bạn còn có thể thành tựu những
nhân tố để sinh vào các cõi tịnh độ như cõi Cực lạc,
Shambala vân vân. Longdoel Lama đã làm cho thân người may mắn
của mình có ý nghĩa bằng cách tu hành trong một am thất;
ông không mấy quan tâm đến chuyện ăn dù chỉ một bát bột
lúa mạch. Ông tu để tích lũy công đức mong tái sinh làm
vua xứ Sahmbala. Sau khi phát nguyện như vậy, ông nghĩ cần
phải cúng dường đức Panchen Lama, và hỏi ngài, “Con có
sẽ đạt mục đích không?”
Đức
Panchen Lama hiểu ông muốn nói gì, nên trả lời: “Ông lạt
ma già này quả là tham lam. Ông sẽ đạt mục đích.”
1.2.2.
LỢI ÍCH CỦA THÂN NGƯỜI TRÊN PHƯƠNG DIỆN TUYỆT ĐỐI
Muốn
đạt giải thoát, bạn phải đào luyện con đường ba môn
học tăng thượng mà đầu tiên là giới. Hãy lấy ví dụ
giới Biệt giải thoát của tỳ kheo. Bạn phải đào luyện
từ sự từ bỏ để phát triển hoặc in sâu những giới ấy
vào dòng tâm thức. Thật khó tu tập những pháp như từ bỏ
trong các cõi khác, ví dụ cõi trời vân vân. Như dân ở xứ
Kuru thuộc đại lục phía bắc (Bắc Cu lô châu) không thích
hợp với những giới này. Còn về con người ở ba đại lục
khác, ở Nam Thiệm bộ châu hay Diêm Phù đề, là thích hợp
nhất cho giới từ bỏ này.
Người
ta phát tâm bồ đề mạnh nhất trong thân tái sinh làm người.
Thư Gửi một đệ tử của Chandragomin nói:
Con
người thành tựu bồ đề tâm mạnh nhất;
Trời
và rồng không thành tựu được điều này;
A tu
la, thần kim sí điểu cũng không được,
Những
người mang tri kiến (?) hay loài bò sát.
Về
những giới thuộc mật điển cũng thế.
Thân
người cũng là tái sinh có nhiều khả năng nhất để đạt
đến toàn tri. Ngay của một kẻ sơ cơ trong thân người cũng
có thể nhờ đạo lộ kim cang thừa mà đạt giác ngộ trong
một đời duy nhất, ngay trong một thân này. Điều ấy là
do người ta phải tạo nghiệp để có được cái thân thể
gồm sáu thành phần vật lý (lục căn) và được sinh ra từ
bào thai người trong Nam thiệm bộ châu. Nay chúng ta đã có
được thân tái sinh như thế.
Ta
nên cầu cho có được một tái sinh như vậy trở lại; ngay
cả những vị Bồ tát ở cõi Cực lạc cũng cầu sinh vào
ở lục địa này. Chúng ta không thể tìm một tái sinh nào
tốt
hơn tái sinh hiện tại này - chỉ ngoại trừ những người
không được sinh làm nam nhi.
Pho
tượng Đức Thích Ca ở Chùa Lhasa được nói là có một viên
ngọc ước nơi đầu gối. Có những người kinh hành quanh
tượng mà cầu: “Cho con cầu gì được nấy.” Thật là
những lời cầu xin vụn vặt tầm thường. Nếu bạn có hàng
trăm ngàn viên ngọc ước, mà biến một vài viên thành gối
dựa, thì chúng cũng không giúp bạn thoát khỏi các đọa xứ
khi bạn chết. Nhưng nhờ thân tái sinh này, bạn có thể thành
đạt mục tiêu tối hậu lớn lao như tôi đã nói trên kia.
Tái sinh hiện tại của bạn còn lợi ích cho những đời sau
của bạn hơn là có một viên ngọc ước trong một ngày hay
cả trăm năm, bởi vì nhờ nó mà bạn có thể đạt được
hạnh phúc vĩnh cửu.
Mỗi
người chúng ta đã nhận được tái sinh như Milarepa, chỉ
trừ cái điều là ta không tu tập Pháp. Về tái sinh thì giữa
chúng ta với Milarepa không có gì hơn kém nhau về phẩm chất.
Chẳng hạn ta có thể hiểu Milarepa và Long vương thì có khác;
Long vương có từng đống ngọc ước và mang nhiều trang sức
bằng châu báu trên đầu; nhưng vẫn không khỏi tái sinh làm
súc sinh, chứ khoan nói tới chuyện tích lũy nhân tố để
đạt đến giác ngộ. Milarepa nghèo đến nỗi không có lúa
mạch để ăn, nhưng nhờ có được thân tái sinh làm người
thuận lợi nên đã đạt giác ngộ ngay trong một đời này.
Những
tư tưởng như vậy đem lại ý nghĩa cho sự tái sinh làm người
thuận lợi này; Mahàyogi bảo Gesh Chaen Ngawa rằng chỉ cần
tu tập bằng cách nghĩ tưởng như thế cũng đã quá đủ.
Bởi
thế được tái sinh làm thân người thuận lợi là việc rất
khó được. Thật là điều đáng hỗ thẹn xiết bao nếu nó
không được sử dụng một cách đầy ý nghĩa; như thế chẳng
khác nào một người nghèo tìm ra một túi đầy vàng mà chỉ
tiêu xài được vài phân rồi mất hết.
1.2.3.
DÙ CHỈ MỘT SÁT NA CỦA ĐỜI NÀY CŨNG CÓ THỂ LỢI ÍCH TỐI
ĐA
Văn
học không giải rõ tiêu đề này phụ vào hai tiêu đề trước,
nhưng giáo lý truyền khẩu thì như sau.
Tái
sinh này có thêm một lợi ích lớn là “nắm giữ lợi lạc
lớn lao từng ngày, từng sát na”, bạn sẽ tạo vô số nhân
giải thoát và toàn tri nếu bạn không lãng phí thời gian đốt
cháy một nén hương, mà trái lại sử dụng nó để nỗ lực
tích lũy công đức hay thanh lọc chướng ngại. Thật sai lầm
khi ta không tiếc đã lãng phí tái sinh làm người thuận lợi
này, mà lại tiếc rằng lãng phí mất một ít tiền. Bồ tát
Mã Minh nói: “Như kẻ lái buôn đã đến hòn đảo châu ngọc
mà lại trở về hai bàn tay không.” Nói cách khác, người
lái buôn đến một hòn đảo vàng bạc, đã không được gì
mà lại vướng vào nợ nần rồi về tay không. Chúng ta chỉ
được tái sinh làm người thuận lợi một lần. Thực không
có gì đáng tiếc hơn nếu ta không tu tập mà chỉ tích lũy
tội nghiệp rồi đi xuống các đọa xứ.
1.3.1.
NGHĨ VỀ TẠI SAO THÂN NGƯỜI KHÓ ĐƯỢC.
Sự
tái sinh làm thân người của bạn, một điều có thể hết
sức lợi lạc, là điều vô cùng khó khăn để đạt được:
bạn không luôn luôn nhận được thân ấy. Nếu thân người
dễ có, thì bạn có thể để nó trôi qua không cần sử dụng
nó một cách đầy ý nghĩa, để khi được nó lại lần khác,
bạn chỉ cần sử dụng tái sinh mối một cách ý nghĩa là
đủ. Nhưng kỳ thực, thân người mà bạn có được là do
nhiều nhân và duyên. Bạn khá may mắn nhờ công đức và sự
cầu nguyện mà bạn đã làm. Thật rất khó để có được
điều giống như vậy trong tương lai.
Có
lần khi một Lạt ma Mông Cổ đang giảng về việc này, một
người Trung Quốc bảo: “Ông Lạt ma này chưa bao giờ đi
đến Trung Quốc; ở đấy người thiếu khối gì!” Điều
này hoàn toàn sai lạc. Mặc dù nói chung có rất nhiều người,
nhưng điều ấy có ích gì cho bạn khi bạn đi xuống các đọa
xứ? Bất kể thế giới bên ngoài có bao nhiều con người
hay không có, bạn phải nhìn bằng cách suy luận để biết
bạn có hay không trong dòng tâm thức, tất cả những nhân
tố cần thiết để được tái sinh thuận lợi. Khi ấy bạn
có thể nói mình sẽ được hay không được một tái sinh
như thế trong tương lai. Chẳng hạn trong thế giới bên ngoài
tất cả mùa gặt về thu như lúa mì, lúa mạch, vân vân, đều
là kết quả của sự trồng trọt về mùa xuân, hơn nữa bạn
sẽ không được một đóa hoa nào trong chậu nếu trước đấy
bạn không trồng hoa. Muốn nhận được tái sinh thân người
cũng thế, bạn phải tạo nhiều nhân duyên để việc ấy
xảy ra.
Thông
thường muốn có được tái sinh cao ở thượng giới như làm
trời chẳng hạn, người ta phải tuân theo một vài hình thức
về giới. Theo Long Thụ, muốn được tái sinh làm người,
cần có những nhân như là “bố thí đem lại tại sản, giữ
giới đem lại hạnh phúc…” Kinh Bát Nhã nói:
“Nhờ
giới người ta từ bỏ được 8 nạn và khỏi rơi vào loài
súc sinh. Khi ấy người ta sẽ luôn luôn nhận được tái sinh
may mắn.”
Từ
đấy ta biết rằng căn bản là giới thanh tịnh, những đức
khác chỉ phụ giúp vào. Người ta bảo rằng bạn cũng nên
gieo duyên bằng cách làm cho những cầu nguyện kiên trì, hoặc
sống một đời không bị lòng tham lam ô nhiễm. Nếu bạn
không giữ giới mà thực hành bố thí thì bạn sẽ tái sinh
làm loài rồng. Nếu bạn giữ giới mà không bố thí, bạn
tái sinh vào người nghèo vân vân.
Chúng
ta không tự xét nên mới tuyên bố rằng mình có đạo đức
trong trắng hoàn toàn, nhưng một vị geshe Mông Cổ nói: “khi
bạn giữ giới thì bạn không biết luật. Bạn biết luật
khi bạn không còn giới.”
Nếu
phân tích kỹ thì ta thấy rằng hiếm khi chúng ta giữ một
loại giới cho viên mãn. Những tư tưởng chúng ta chỉ là
vọng tưởng, những hành vi chúng ta chỉ là tội lỗi. Nếu
chúng ta không biết cả đến bản kê những điều vi phạm
và những sự hủy phạm nhỏ nhặt đối với những giới
Mật Tông, giới Bồ tát vân vân, cho đúng, thì làm sao chúng
ta nói đến chuyện giữ giới?
Hy
vọng có được hậu quả là tái sinh làm người trong khi bạn
không gây nhân để có được quả ấy, thì cũng giống như
hy vọng gặt lúa vào mùa thu khi bạn trồng những giống cây
độc vào mùa xuân.
Trong
quyển Hành Bồ tát Hạnh Sahntideva nói:
Nếu
tội lỗi trong một sát na
Sẽ
làm người đọa vào ngục Vô gián nhiều kiếp.
Thì
làm sao có thể nói rằng
Người
ta sẽ đi lên các thượng giới.
Khi
đã tích lũy tội lỗi từ khởi thủy của luân hồi.
Nói
cách khác, nếu chỉ một tội lỗi cũng đủ đưa bạn xuống
các cõi thấp như vậy, thì bạn không còn hy vọng gì đạt
đến cõi cao khi bạn nhận xét rằng dòng tâm thức của bạn
có cả đống tội lỗi tích lũy từ vô thỉ như một kho chứa
của vua.
Chúng
ta có thể nghĩ, “phải chăng đời tương lai của tôi sẽ
không lỗi lầm nhờ sự tử tế của những bậc thầy tôi?”
nhưng nếu chúng ta không thực hành pháp, thì ta sẽ phá hủy
mọi sự mà bậc thầy đã đem lại cho chúng ta, cũng như Phật
không thể cứu Đề Bà Đạt Đa khỏi rơi vào địa ngục.
Nếu
bạn có được sự tái sinh tốt đẹp này mà bạn chỉ nhận
được một lần, rồi lại còn muốn có được một tái sinh
thân người thuận lợi khác để sử dụng nó một cách lợi
ích hơn, thì cũng như một người nghèo tìm được một khối
vàng rồi ném nó xuống sông mà nghĩ, “nếu có một khối
vàng khác tôi sẽ sử dụng.”
Thật
khó đọc kinh cầu nguyện mà không mong mỏi một lợi lạc
thuộc đời này khi chúng ta cầu nguyện trước pho tượng
Đức Thích Ca Mâu Ni trong chùa Lasha, thì chúng ta chỉ cầu
xin cho được sống lâu không bệnh, may mắn. Như trong Hành
Bồ tát Hạnh nói:
Nói
cách khác, thông thường và chắc chắn là
Vì
những hành vi như thế này
Tôi
sẽ không có được thân người;
Nếu
tôi không có được thân người
Tôi
sẽ tạo toàn điều ác, không một điều lành.
Chúng
ta sẽ không thực hành một cách thích đáng trong tái sinh này,
và nếu điều này xảy ra thì chúng ta sẽ rơi vào các đọa
xứ; trong đời tái sinh ấy chúng ta lại chỉ tạo những nhân
để tái sinh vào đọa xứ nữa, và thế lang thang bất tận
trong các cõi ấy. Chúng ta sẽ không có được một dức tính
nào như lòng tin, trí tuệ hay sự từ bỏ; sự tái sinh sẽ
làm cho chúng ta phạm vào các nghiệp phi phước hành như là
tham lam, hận thù, kiêu mạn - tất cả mọi chuyện đưa chúng
ta đến đọa xứ. Chúng ta có thể hiểu được điều này
chẳng hạn bằng cách nhìn những con chó.
Một
khi bạn đã tái sinh vào các đọa xứ, thì càng khó khăn để
đạt giác ngộ hơn là trong thân tái sinh hiện tại này. Có
được thân người trong hiện tại cũng giống như đã mang
nó lên đến đỉnh núi từ chặng giữa này bạn có thể leo
cao hơn, nhưng nếu không thể đi lên thêm nữa thì bạn không
được để cho tảng đá rớt xuống, khi ấy sẽ càng khó
khăn vài bạn sẽ lại leo lên từ chân núi. Cũng tương tự,
nếu trong đời này bạn không đạt được thực chứng vào
các đạo lộ cao như giải thoát và toàn tri, thì ít nhất
cũng đừng rơi vào các cõi thấp. Bạn không nên dùng tái
sinh thân người thuận lợi này, vì một khi bạn rớt xuống,
thì bạn sẽ lang thang từ các đọa xứ này đến đọa xứ
khác hầu như không còn cơ hội thoát ra. Khi bạn sai đường,
bạn càng ngày càng lạc ra khỏi chánh đạo; bởi thế mà
bạn không được sử dụng đời tái sinh hiện tại để đi
sai đường. Nhưng đừng bảo rằng quá muộn: nếu bạn đã
già, thì bạn đừng lười biếng, và rồi mọi việc sẽ tốt
đẹp. Như trường hợp gia chủ Shrijata (xem Ngay Mười Bốn,
trang…)
1.3.2.
MỘT VÀI ẨN DỤ VỀ SỰ KHÓ ĐƯỢC THÂN NGƯỜI.
Geshe
Potowa nói: “cỏ trên mái nhà, cổ rùa…” điều này có
nghĩa như sau:
Những
tái sinh vào các cõi cao cũng thông thường như cỏ mọc trên
sườn núi; nhưng tái sinh lmà người mà thoát khỏi 8 nạn
và có đầy đủ mười điều tốt lành là chuyện vô cùng
hiếm hoi - cũng hiếm như cỏ mọc trên mái nhà.
Còn
cổ con rùa có nghĩa như sau. Giả sử có một cái tròng bằng
vàng nổi trên biển theo gió thổi. Cái tròng chỉ có một
cái lỗ; trong biển chỉ có con rùa mù 100 năm mới thò đầu
lên mặt nước một lần. Cái đầu con rùa rất khó có dịp
chui qua cái tròng ấy. Chúng ta cũng thế đang ở trong biển
lớn sanh tử; do năng lực của vọng tưởng mê si, con mắt
tuệ của chúng ta bị mù, và chúng ta phải lang thang từ chốn
này đến chốn khác trong các đọa xứ và tình cờ do luật
xác suất ta được tái sinh làm người. Nhưng thế giới thì
bao la, có vô lượng thế giới của bốn phương tám hướng;
ta kko thể biết nó trong nơi nào trong các thế giới ấy có
giáo lý Phật, hoặc ở nơi nào nèn giáo lý sắp lan đến.
Giáo lý giống như cái tròng bằng vàng, và sự gặp gỡ được
giáo lý ấy cũng vô cùng hy hữu tương tự như cổ con rùa
lúc trồi lên mặt biển mà chui cổ lọt được vào cái tròng
vàng ấy.
Nếu
con rùa mãi mãi bơi lội trên mặt biển thì có lẽ thỉnh
thoảng nó cũng gặp được cái tròng; nhưng nếu nó chỉ trồi
lên một lần sau 100 năm, thì nó chỉ gặp được cái tròng
một lần. Như trọng ẩn dụ ấy, nếu chúng ta luôn luôn nhận
được thân người thì chúng ta có thể gặp được giáo lý
Phật bất cứ nơi nào giáo lý ấy đang lưu hành. nhưng đây
không phải vậy: chỉ thỉnh thoảng chúng ta mới có được
một hai lần tái sinh làm người.
Nếu
cái tròng vàng cứ ở yên một chỗ, thì dù sau một thời
gian dài khi con rùa nổi lên nó không nổi cùng một chỗ, nhưng
ít nhất nó cũng có cơ hội nó gặp đúng chỗ và nhờ vậy
gặp được tròng. Nhưng sự thực không phải vậy: cái tròng
di chuyển khắp mười phương trên mặt biển khổng lồ. Như
ví dụ, nếu giáo lý của Phật luôn luôn ở trong cùng một
thế giới, thì có lẽ chúng ta sẽ gặp được giáo lý trong
vài lần tái sinh làm người. Nhưng chúng ta không thể đảm
bảo giáo lý Phật sẽ ở mãi một thế giới ấy và dù ở
một chỗ hay di chuyển, giáo lý ấy cũng chỉ lưu hành thời
gian rất ngắn.
Người
ta không thể nói rằng cái tròng và con rùa không bao giờ gặp
gỡ, nhưng thật sự rất gần giống như vậy. Có được thân
người thuận lợi lại là điều hy hữu hơn thế nữa, nhưng
nói vậy không có nghĩa là chuyện ấy không thể xảy ra trước
khi chấm dứt vòng luân hồi.
Những
yếu tố trong ẩn dụ này có nghĩa như sau. Biển lớn là tình
huống sinh tử; con rùa là chúng ta; mù là về minh; cái tròng
vàng là giáo lý Phật, vân vân. Lối giải thích này về sự
quán tưởng thân người khó được tương truyền là một
giáo lý khẩu truyền khẩu từ đức Drubkang Geleg Gyatso.
Lại
nữa tác phẩm Ẩn Dụ của Geshe Potowa nói: “con trai của
Loding…” Drom Loding có một đứa con trai có tài đoán được
chỗ nào có vàng. Đứa bé này di cùng với vài người bạn
trong một chuyến buôn, những người địa phương nghe được
tiếng tăm của nó và nói: “Ôi ước gì tôi là con trai của
Loding! Ước gì tôi biết cách đoán ra chỗ nào có vàng. Đứa
bé nghe lọt lọt những lời ấy, nhưng vẫn tiếp tục đi
buôn. Chỉ về sau nó mới quyết định đi tìm chỗ có vàng.
Chúng ta cũng thế, đã được mtọ tái sinh tốt đẹp đến
nỗi chư Bồ tát ở cõi Cực lạc cũng chi cầu nguyện được
như thế. Nhưng thật đáng tiếc biết bao nếu sau khi đã được
như vậy mà chúng ta lại không tận dụng thân tái sinh tốt
đẹp này.
Geshe
Potowa nói: “Và con cá của người Tsang…” là như sau. Có
lần một người ở vùng Tsang đi đến tỉnh Trung ương ăn
một thứ cá nào đó. Nhưng khi nuốt vào cổ y không chịu
được sắp nôn ra. Y nghĩ, “Thật uổng biết mấy nếu mửa
hết đồ ăn ngon này!” và buộc chặt cái cần cổ lại.
Nếu bạn tiếc rẽ phải mửa một thức ăn ngon, thì lại
càng tiếc biết bao nếu không lợi dụng tái sinh tốt đẹp
rất hiếm hoi mà bạn chỉ có được một lần trong muôn ngàn
kiếp.
Geshe
Potowa lại nói về “Con giun quỳ lạy…” Thật là một điều
nghe rất vô lý khi có một con giun lại có thể trồi lên mặt
đất và quỳ lạy đức Phật. Cũng vô lý như vậy là những
con giun như chúng ta trồi lên các đọa xứ, mang hình người,
và lại còn đường học Pháp và thiền quán.
Hãy
nghĩ về những ẩn dụ để thấy thân người thuận lợi
của ta thật hi hữu xiết bao, và vô cùng khó được.
1.3.3.
BẢN CHẤT SỰ KHÓ KHĂN DỂ ĐẠT ĐƯỢC THÂN NGƯỜI
Có
nhiều hữu tình làm bất thiện, ít người làm điều lành.
Khi những hữu tình từ bỏ thân xác tại các thượng giới
và hạ giới, phần đông đi xuống các đọa xứ. Bởi thế
rất ít người đi lên các cõi cao sau khi xả báo thân từ
hai cõi cao và thấp. Nhưng Phật dạy trong giáo lý căn bản
về Luật học rằng, những chúng sinh đi từ cõi cao xuống
cõi thấp hoặc từ cõi thấp xuống cõi thấp hơn, , thì giống
như bụi trên mặt đất bao la. Số chúng sinh đi từ cõi thấp
lên cõi cao hoặc từ cõi cao lên cõi cao hơn nữa, thì giống
như bụi ở đầu ngón tay. Trong sáu nẽo luân hồi, thông thường
có ít chúng sinh làm người, ngạ quỷ ít dân hơn địa ngục,
súc sanh còn ít nữa, và trong lúc súc sinh thì loài ở đất
ít hơn biển. Có thể lấy hình ảnh này để ví dụ: hàng
trăm triệu con ruồi con muỗi mới có thể chiếm không gian
của mười con người. Có rất nhiều chúng sinh trong cõi trung
ấm: nhiều tới nỗi giống như hàng trăm ngàn con ruồi tụ
lại quanh thi thể một con ngựa, hay cả trăm con ngựa.
Ngay
cả trong những tái sinh làm người, thật vô cùng hiếm hoi
để được sinh vào những kiếp có ánh sáng của chứng ngộ,
nghĩa là có chư Phật xuất hiện. Mỗi thời kiếp có ánh
sáng lại cách nhau hàng chục ngàn thời kiếp tối tăm. Ngay
trong mỗi thời kiếp chia làm hai mươi bốn thời kỳ: thành,
trụ, hoại và không. Có sáu mươi tiểu kiếp trong đó chư
Phật không xuất hiện, chỉ còn hai mươi tiểu kiếp “trụ”
là có thể có Phật xuất hiện. Trong hai mươi tiểu kiếp
này, cũng có những thời gian không thể có Phật xuất hiện,
đó là thời gian đầu và cuối của hai mươi tiểu kiếp,
khi mạng sống con người vô lượng, hoặc tuổi thọ đang
tăng. Phật chỉ xuất hiện vào thời “kiếp giảm”nghĩa
làtuổi thọ con người trên đà giảm dần.
Hãy
nói về thời gian hiện tại của sự sinh ra của chúng ta trên
đại lục phương nam. Chư Phật xuất hiện trong mười tám
tiểu kiếp trung gian khi thọ mạng con người tuân theo một
mẫu mực có tính cách chu kỳ. Chúng ta có thể sinh nhằm một
thời mà đức Phật trước đấy đối với mắt phàm đã
nhập Niết bàn, giáo lý Ngài đã tận diệt. Sinh vào lúc đó
thì cũng chẳng khác gì sinh nhằm một thời đại tối đen.
Nhưng chúng ta đã không sinh nhằm một thời đại như vậy.
Tương truyền sau khi diệu pháp diệt mất, còn 4,9 tỉ năm
nữa Phật Di Lặc mới xuất hiện; thế nhưng chúng ta cũng
không bị rơi vào thời đại hắc ám này; giáo lý Phật vẫn
còn tồn tại và chúng ta lại sinh ra ở lục địa phương
nam nơi có Phật pháp lưu hành. chúng ta lại sinh ra trong những
nước hiếm hoi của châu lục này nơi mà nền giáo lý đang
lan rộng. Những nước Tây Tạng và Mông cổ thuộc thành phần
thiểu số. Chúng ta được sinh ra tại Tây Tạng, một trong
những nền tảng cho phép giáo lý được thịnh hành. nhưng
đây là một ví dụ về những gì xảy ra tại Tây Tạng. Gushri
Kaelzang (người Mông Cổ) có lần nói:
“Khi
tôi đi đến tu viện Tashikyil ở Amdo, có nhiều ngàn tu sĩ.
Trong số này, khoẳng năm trăm là tiến sĩ Phật học, năm
trăm là người buôn bán, còn năm trăm không thuộc hạng nào…”
Trong
một gia đình có thể có mười anh em, nhưng chỉ hai ba người
vào tu viện. Và ngay trong số những người đã vào tu viện.
Và ngay trong số những người đã vào tu viện, những người
thực sự thuần túy tu tập bằng cách thực hành pháp Lam-rim
rất hiếm hoi nhất. Nhưng dù sao, chúng ta cũng không bị sinh
vào một nơi không có tự do để tu tập.
Theo
chỉ giáo khẩu truyền của tôn sư tôi, tái sinh làm người
thuận lợi rất khó được là bởi vì khó thành tựu được
thân ấy, vì tự bản chất đấy là một cái gì khó tạo,
và vì theo pháp tính xác xuất thì tỉ số tái sinh làm người
rất thấp.
(Khi
ấy Kyabje Pabongka Rinpoche bàn làm thế nào để suy nghĩ về
ba lý do ấy.)
Tái
sinh mà ta đã có được này có thể hoàn thành những ước
nguyện tha thiết nhất của ta, dù tốt hay xấu, chúng ta đang
ở lằn ranh giữa các cõi cao và các đọa xứ. Chúng ta đừng
đặt hi vọng vào điều gì khác. Chúng ta có tự do để chọn
lựa, nên đừng lầm lẫn về con đường nào đưa đến hạnh
phúc, đường nào đi đến khổ đau. Nếu chúng ta lầm lẫn,
thì lỗi lầm không phải có thể điều chỉnh lại trong một
hai ngày, mà nó sẽ làm hỏng tất cả những hi vọng về tái
sinh tốt trong tương lai.
Thật
tốt biết bao khi bạn chưa phải chết. Bây giờ bạn chỉ
còn sống trên đời này một thời gian: hai năm, ba năm hoặc
bao nhiêu cũng được. Nếu điều này không làm động lực
thúc đẩy bạn khổ hạnh ngày đêm để tu tập diệu pháp,
thì hãy nghĩ: “Ta có dám trở lui về các đọa xứ chăng?”
Điều
cốt yếu là đừng lãng phí tái sinh may mắn này của chúng
ta; một tái sinh quý báu ta chỉ được có một lần, một
tái sinh vô giá làm bằng mười tám điều hy hữu. Giả sử
một người đi buôn đi đến một đảo châu báu, mà thay hốt
về những đá quý lại chỉ dùng thời gian mà ca hát múa nhảy,
vân vân, lại còn mắc nợ những bạn hàng khác một món tiền
lớn. Còn gì điên khùng hơn khi cuối cùng phải trở về tay
không? bây giờ bạn có thể thu nhặt những châu báu giải
thoát và toàn tri. Không gì mù quáng hơn, ngu ngốc hơn nếu
không lấy những châu báu ấy, mà lại tạo nhân duyên để
đi xuống các đọa xứ. Shànideva nói:
Không
có sự tự lừa dối nào tệ hơn
Sau
khi được một cơ may như thế
Mà
không dùng nó vào những mục tiêu tốt đẹp
Không
gì mù quáng hơn thế!
Bạn
phải rút tỉa được vài tinh hoa từ tái sinh tốt đẹp bạn
đã được - và chỉ cần được tái sinh làm người là bạn
có thể rút tỉa tinh hoa ấy. Bạn tích lũy công đức và thanh
lọc bản thân trong một thời gian ít nhất cũng bằng g để
uống một tách trà. Bạn có thể giác ngộ ngay trong một đời
này trong thân này, nếu bạn tu tập tốt nhất. Nếu không,
bạn cũng có thể giải thoát, mà nếu điều này cũng không
được, thì bạn hãy rán ít nhất là đừng để mình di xuống
các đọa xứ. Kinh Tam muội vương nói:
Nhưng
bệnh nhân không chịu uống
Thứ
thuốc quý báu có thể chữa lành,
Thì
đừng trách lương y
Lỗi
không ở lương y
Đúng
hơn bệnh nhân mới đáng trách
Cũng
thế những người đã thụ giới trong giáo pháp này,
Có
thể biết rành Mười sức mạnh
Những
tầng thiền định và mười lực
Nhưng
họ không nỗ lực chính đáng để thiền
Làm
sao niết bàn phát sinh không cần tinh tấn?
Tôi
đã giảng dạy Pháp cho bạn
Nhưng
nếu bạn không sử dụng những gì đã học
Thì
cũng như bệnh nhân cứ để thuốc trong hộp
Mà
nghĩ rằng, “Cái này không thể chữa bệnh tôi.”
Hành
bồ tát Hạnh nói:
Hãy
xử dụng những pháp này với cả toàn thân
Chỉ
nói suông không thành tựu được gì
Liệu
người ốm làm sao khỏi được
Bằng
cách đọc toa thuốc nhiều lần?
Nói
cách khác, bậc thầy có thể dạy cho bạn đúng con đường
đưa đến giải thoát và toàn trí, như nếu bạn không thực
hành, thì bạn cũng giống như người bệnh không dùng thuốc
mà lương y đa cho trong toa, do vậy không thể khỏi bệnh được.
Điều hoàn toàn tùy thuộc nơi bạn, là bạn có thực hành
chỉ giáo của bậc thầy hay không. Bạn phải cố gắng hội
nhập Pháp vào đời sống mình cho đến cuối cùng.
Bây
giờ tôi sẽ ôn lại những gì đã nói, và dạy cách vắn
tắt để thực hành theo pháp này. Hãy khẩn cầu với hình
ảnh bậc thầy mà bạn quán trên đỉnh đầu mình. Rồi thiền
quán theo các tiêu đề đã dẫn. Tiêu chuẩn để biết bạn
có thực chứng đề mục này không, là như sau. Geshe Potowa
nói:
Làm
sao bạn có thể
Lãng
phí một cách vui vẻ đời mình
Khi
bạn đã hiểu tái sinh làm người rất khó?
Đức
Tsongkapa nói:
Nếu
bạn biết nó thực khó được,
Thì
không thể nào sống đời trung bình.
Nếu
bạn thấy những lợi lạc của nó
Thì
bạn sẽ tiếc nếu để nó thành vô nghĩa.
Nếu
bạn nghĩ về cái chết
Bạn
sẽ làm những chuẩn bị cho đời sau
Nếu
bạn nghĩ về nhân và quả
Thì
bạn chấm dứt sống cẩu thả.
Như
Gampopa thiền giả vĩ đại đã nói, dấu hiệu chứng tỏ bạn
đã thực chứng về chân lý “thân người lợi lạc” và
rất khó có, là như khi bị gai đâm vào bắp vế bạn cũng
không dừng lại để rút nó ra, mà vẫn tiếp tục thiền quán.