PHẦN
MỘT
NHỮNG
CHUẨN BỊ SƠ KHỞI
NGÀY
THỨ NHẤT
Kyabje
Rinpoche, một bậc tướng quân Chánh pháp vô tỷ, đã nói ít
lời chuẩn bi cho chúng ta có những động lực thích đáng
khi đón nhận những lời giảng dạy tiếp theo. Ngài nói:
Ðức
Tsongkapa bậc đại nhân, bậc Tướng quân chánh pháp của cả
ba cõi, đã nói:
Thân
thể vật lý thuận lợi này
Có
giá trị hơn cả viên ngọc như ý.
Bạn
chỉ được nó một lần mà thôi.
Khó
thay được thân người, dễ thay bị mất nó,
Nó
như một làn chớp giữa bầu trời.
Hãy
quán tưởng điều ấy, rồi bạn sẽ thấy
Mọi
hoạt động thế gian chỉ như trấu bị thổi bay
Và
bạn phải nỗ lực ngày đêm
để
rút ra được một ít tinh hoa từ đời sống bạn
Tôi
một ẩn sĩ du già đã tu tập như thế;
Và
bạn, người khát khao giải thoát, cũng nên làm như vậy.
Từ
thời gian vô thủy, chúng ta đã mang không biết bao nhiêu thân
xác cho đến ngày nay, nhưng ta đã không rút tỉa được một
tinh túy nào từ những thân xác ấy. Không có một kiểu khổ
đau nào mà ta chưa từng nếm trải, cũng không có một kiểu
hạnh phúc nào mà ta chưa từng thưởng thức. Nhưng dù ta đã
có bao nhiêu xác thân đi nữa, ta cũng đã không rút tỉa được
chút tinh hoa nào từ nơi chúng. Bây giờ ta đã có được may
mắn mang thân người, thì ta nên làm cái gì để rút tỉa
ít tinh hoa từ đó. Nếu không suy nghĩ chín chắn, thì ta không
cho thân người quý báu này có tầm quan trọng chút nào, ta
cũng không tiếc nuối gì khi lãng phí cơ may được sinh làm
người. Có lẽ nếu bị mất tiền, chúng ta sẽ tiếc nuối
nhiều hơn. Thế mà cái thân người ta đang đang có lại vô
vàn quý báu hơn bất cứ viên ngọc như ý nào cả.
Nếu
bạn phải lau chùi một viên bảo châu như ý bằng cách mỗi
ngày rửa ba lần, đánh bóng ba lần, rồi đặt trên đỉnh
một cái tràng phan của sự chiến thắng, bạn sẽ có được
dễ dàng tất cả những sự tốt đẹp của thế gian như đồ
ăn mặc ở, vân vân. Bạn có thể được hàng trăm, hàng ngàn,
hàng trăm ngàn viên ngọc như thế, nhưng chúng không thể đem
lại cho bạn dù chỉ một điều nhỏ nhất trong những điều
bạn có thể thành tựu được nhờ mang thân người trong đời
này; bởi vì bạn không thể sử dụng những bảo châu ấy
để che chở mình khỏi tái sanh vào các đọa xứ trong đời
sau. Nhưng với thân người hiện tại của bạn, bạn có thể
tự đề phòng cho khỏi sa đọa vào các cõi xấu ác. Hơn nữa,
nếu bạn muốn tái sinh làm Phạm Vương, Ðế Thích, vân vân,
bạn cũng có thể làm được điều ấy nhờ thân người hiện
tại. Nếu bạn muốn đi đến những cõi tịnh như cõi trời
Thắng lạc (Abhirati), cõi Cực lạc (Sukhàvati) cõi Ðâu suất
(Tushita), bạn cũng có thể làm được, nhờ cái thân người
hiện tại của bạn. Nhưng chưa hết đâu, bởi vì bạn còn
có thể đạt đến những trạng thái giải thoát giác ngộ
nhờ thân này. Ðiều bạn cần làm là, hãy tóm lấy cơ hội.
Ðiều quan trọng hơn cả là nhờ thân tái sinh hiện tại mà
bạn có thể đạt tới địa vị Kim cuong trì (hợp nhất giữa
thân như huyễn với đại lạc) trong vòng đời ngắn ngủi,
ngay trong thời đại suy đồi này; một kết quả thông thường
phải mất tới ba a tăng kỳ kiếp mới thành tựu được.
Như vậy, được tái sinh làm người còn giá trị hơn cả
ngàn tỷ viên ngọc quý.
Nếu
bạn lãng phí cuộc đời này mà bạn đã có được, thì điều
ấy còn đáng tiếc hơn là nếu bạn mất đi ngàn viên ngọc
báu. Không có sự mất mát nào lớn hơn sự mất mát này;
không có sự mù quáng nào hơn sự mù quáng này, không có sự
lầm lạc nào hơn sự lầm lạc này. Shantideva có nói:
Không
có sự mê lầm nào tệ hơn
Nếu
không sử dụng thân này để tu tập
Sau
khi đã được thân người như một cơ may hiếm có
Không
có sự mù quáng nào lớn hơn thế nữa.
Bởi
thế bạn phải nỗ lực rút tỉa một ít tinh túy từ cuộc
đời này ngay bây giờ. Dù thế nào đi nữa, chắc chắn bạn
sẽ phải chết, và bạn không biết được lúc nào thì cái
chết đến với mình.
Hiện
tại chúng ta đang theo học Pháp, nhưng trong vòng một trăm
năm nữa, không ai trong chúng ta còn sống sót. Trong quá khứ,
bậc Ðạo sư của chúng ta là Ðức Phật, nhờ đã tích lũy
công đức và trí tuệ trải vô số kiếp mà được thân Kim
cương bất hoại. Tuy thế, đối với con mắt phàm thì ngay
cả Ngài cũng đã nhập niết bàn. Sau Ngài có nhiều học giả,
luận sư, dịch giả và những bậc hiền trí ở Ấn cũng nhưng
Tây Tạng, nhưng tất cả các vị ấy cũng đều đã từ giả
cuộc đời này. Không còn gì về họ ngoài ra danh hiệu và
những gì mà người ta còn nói về họ. Tóm lại là bạn không
thể đưa ra một ví dụ nào chứng minh vẫn còn có người
được cái chết buông tha. Thế thì làm sao riêng bạn có thể
sống hoài không chết? Bạn không hy vọng gì thoát khỏi chết.
Không
những chắc chắn bạn phải chết, mà bạn còn không biết
chắc lúc nào thì cái chết đến với bạn. Bạn không biết
chắc năm tới bạn còn sống trong thân xác này không, còn
mang ba y tỷ kheo không nữa. Vào ngày này năm sau, có thể rằng
các bạn đã tái sinh thành một con thú mang lông đội sừng
cũng nên. Hoặc các bạn cũng có thể tái sinh làm một ngạ
quỷ, phải sống mà không kiếm được một chút gì để ăn,
cũng không tìm được một giọt nước uống. Hoặc các bạn
cũng có thể tái sinh vào địa ngục, phải chịu đựng những
nỗi khổ nóng, lạnh, bị luộc trong nước sôi hay thiêu trong
lửa đỏ.
Tâm
bạn vẫn tiếp tục sau khi chết, nên nó phải chấp nhận
tái sinh. Chỉ có hai con đường luân chuyển cho tái sinh, đó
là đường đi lên các cõi cao và đường đi xuống các đọa
xứ. Nếu bạn tái sinh vào Ðịa ngục vô gián, thì bạn phải
ở đấy với một thân thể tràn khắp hỏa ngục, không khác
gì với hỏa ngục ấy, trong những địa ngục nhẹ hơn, như
Ðịa ngục Sống Lại liên tục, thì bạn chết đi sống lại
mỗi ngày hàng trăm lần, liên tục chịu những cực hình.
Làm sao có thể chịu đựng điều ấy khi mà bàn tay bị bỏng
một chút bạn đã không chịu nổi? Ấy vậy mà ta sẽ phải
đau đớn như thế đấy, hệt như thân thể hiện tại của
ta phải chịu đựng cơn nóng bức. Chúng ta có thể tự hỏi,
“Phải chăng khi vào đấy sẽ dễ chịu đựng hơn, nỗi đau
đớn không nhiều như ta tưởng?”nhưng không phải thế đâu.
Nếu
tái sinh làm ngạ quỷ, bạn sẽ không kiếm được một giọt
nước trải qua nhiều năm. Bây giờ bạn thấy khó chịu nổi
một kỳ nhập thất nhịn đói, thì làm sao bạn chịu nổi
tái sinh làm ngạ quỷ? Còn tái sinh làm súc sinh, chẳng hạn
làm con chó. Bạn hãy xem kỷ những chỗ chó thường ở, cách
chúng kiếm ăn, hoặc loại thực phẩm mà chó thường tìm
được. Bạn có nghĩ rằng bạn chịu nổi kiểu sống như
vậy không? Bạn có thể nghĩ rằng, các đọa xứ thật quá
xa vời quá. Nhưng kỳ thực, sở dĩ bạn thấy mình còn xa
xôi với các đọa xứ, chỉ là vì bạn đang còn thở được.
Nếu
không suy xét kỹ, thì chúng ta không bao giời ngờ rằng mình
có thể đang đi đến các đọa xứ. Chúng ta có thể nghĩ
rằng chúng ta có phần nào tuân giữ giới luật, tụng kinh
hàng ngày, không vi phạm tội lỗi nào trầm trọng như giết
người cướp của. Phiền một nỗi là, ta đã không nhìn sự
việc một cách thích đáng. Nghĩ kỹ lai mới thấy rằng ta
không có tự do để chọn lựa mình có đi xuống những cõi
tái sinh thấp hay không. Ðiều này được định đoạt bởi
nghiệp lực của chúng ta. Trong dòng tâm thức của chúng ta,
có những nghiệp xấu tốt lẫn lộn. Vào lúc ta chết, thứ
nào mạnh hơn trong hai thứ này, sẽ được châm ngòi bằng
tham ái và chấp thủ. khi nhìn lại dòng tâm thức của ta xem
thói nào mạnh hơn, ta sẽ thấy rằng khuynh hướng bất thiện
thắng lướt. Mức độ mạnh yếu được định đoạt bở
năng lực của động lực hành động, bởi việc làm, và bởi
bước cuối cùng. Như vậy, mặc dù ta có thể nghĩ là mình
chỉ làm những điều ác nhỏ nhặt không đáng kể, song kỳ
thực sức mạnh của nó rất lớn lao.
Ta
hãy lấy ví dụ. Giả sử bạn la rầy đệ tử. Bạn bị thúc
đẩy bởi cơn hằn học (động lực), còn việc làm là, bạn
sử dụng những từ ngữ gay gắt nhất làm sao cho họ phải
đau đớn. Về giai đoạn cuối là, bạn cảm thấy kiêu hãnh
và bản ngã căng phồng lên, thấy mình quan trọng. Ba phần
này - động lực, việc làm, bước cuối - thật làtoàn vẹn,
không thể nào toàn hảo hơn thế! Hoặc giảkhi bạn giết
một con rận. Ðộng lực của bạn là sự thù ghét mãnh liệt.
Bạn lăn tròn nó giữa hai ngón tay, hành hạ nó một hồi lâu,
rồi cuối cùng mới giết nó. Bước cuối cùng trở nên cao
ngạo, cảm thấy mình làm như vậy có lý lắm. Thói ác đã
trở thành cường liệt qua ba giai đoạn ấy.
Chúng
ta cứ tưởng đức độ của mình lớn lắm, song kỳ thực
nó yếu xìu. Nếu thiện tính nơi ta thực mãnh liệt, thì ba
giai đoạn của việc lành - động lực - việc làm, bước
cuối tức phần hồi hướng công đức - phải được thực
hiện một cách thuần tịnh. Ngược lại sự thanh tịnh là
những công đức “do ta làm.” Trước tiên, có động lực
thúc đẩy ta hành thiện. Tôi nghĩ hiếm khi chúng ta làm việc
lành vì khao khát có được một tái sinh tốt hơn - chỉ một
động lực tối thiểu như thế còn không có, nói gì đến
động lực tốt nhất, tức bồ đề tâm hướng đến giác
ngộ, hay tốt nhì là sự từ bỏ. Ngay từ đầu, chúng ta thường
ao ước thành tựu những nguyện vọng liên hệ đến chuyện
ăn, mặc ở trong đời này mà thôi. Bất cứ lời nguyện nào
ta làm để được mục đích ấy quả thực là tội lỗi.
Còn về phần chính hành động, thì mọi việc làm của ta
còn có tính cách chiếu lệ; chẳng hạn niệm một chuỗi OM
MAI PADME HUM ta cũng không chuyên chú cho hết chuỗi. Hoặc ta
ngũ gục hoặc ta suy nghĩ mông lung. Thật khó mà tập trung
dù chỉ trong thời gian đọc một lần câu thần chú Một trăm
vị chư thiên ở cõi Ðâu suất. Và khi đến giai đoạn hồi
hướng, thì ta lại thụt lui, hướng những ước nguyện ta
về cuộc đời này. Bởi thế, mặc dù chúng ta tưởng mình
làm công đức lớn, kỳ thực những công đức ấy rất yếu
ớt.
Ðôi
khi chúng ta không làm công việc một cách thích đáng; khi khác
ta lại bỏ qua những động lực và bước cuối; và có những
lúc chúng ta không thực hiện một giai đoạn nào trong ba giai
đoạn ấy một cách thích đáng cả. Bởi thế chỉ có nghiệp
bất thiện trong dòng tâm thức của chúng ta là rất cường
liệt mà thôi; chính nó là yếu tố duy nhất có thể làm được
khởi động khi ta chết. Và nếu đấy là điều thực sự
xảy ra thì chúng ta chỉ còn nước tái sinh vào các đọa xứ,
đó là cái chắc. Chúng ta lại bảo, các thầy của chúng ta
có khả năng bói toán, ta sẽ xin thầy tiên đoán xem ta sẽ
tái sinh về cõi nào. Chúng ta cảm thấy nhẹ nhõm nếu được
thầy tiên đoán sẽ có tái sinh tốt đẹp, và đâm ra lo sợ
nếu thầy bảo là xấu lắm. Nhưng làm sao ta có thể đặt
tin tưởng vào những chuyện bói khoa ấy? Chúng ta không cần
bói bằng xúc xắc, coi thầy, hay xem thiên văn lý số để
biết đời sau ta sẽ đi về đâu. Ðấng Ðạo Sư đầy từ
mẫn của chúng ta đã tiên đoán cho ta trong Kinh tạng, và ta
cũng được nhiều bậc hiền trí uyên bác ở Ấn cũng như
Tây Tạng, chỉ bảo cho biết. Chẳng hạn bậc thánh Long Thụ
(Nagarjuan) đã nói trong phẩm Chuỗi ngọc quý rằng:
Từ
bất thiện, phát sinh mọi đau khổ và tất cả các đọa xứ.
Từ
đức hạnh phát sinh mọi cõi cao và những tái sinh đầy phúc
lạc.
Chúng
ta không thể chắc chắn về những chuyện như kiếp sau mình
sẽ đi về đâu. Nhưng bậc Ðạo Sư của chúng ta đã thấy
rõ và đã giảng dạy một cách không lầm lẫn. Chúng ta chỉ
có thể tin được nhờ suy luận, và ta nên tin tưởng sự
công bố chân chính của đức Phật về vấn đề này.
Bởi
thế, nếu điều chắc chắn là ta sẽ bị đọa, thì ngay từ
giờ phút này ta phải tìm phương thế gì ngăn chuyện ấy
khỏi xảy đến. Nếu thực tình muốn thoát khỏi các đọa
xứ, chúng ta phải tìm một chỗ nương tựa che chở cho ta.
Như một kẻ tử tội sẽ tìm sự bảo bọc của một quan
chức có ảnh hưởng lớn để thoát khỏi tử hình. Nếu ta
bị nhiễm ô vì nghiệp ác không thể dung thứ, những tội
lỗi ta đã làm thì ta có nguy cơ chịu sự trừng phạt của
luật nhân quả nghiệp báo và đi đến các đọa xứ. Ta nên
tìm chốn nương tựa là Ba ngôi Báu Phật, Pháp, Tăng, vì chỉ
có ba ngôi báu này mới có thể che chở chúng ta khỏi rơi
vào đọa xứ. Nhưng tìm nơi nương tựa mà thôi thì chưa đủ,
ta phải thay đổi cách hành xử của mình cho hợp với giáo
lý về sự quy y. Nếu chư Phật có thể xóa hết tội lỗi
nghiệp chướng của chúng ta chẳng hạn bằng cách lấy nước
rưới đầu, hay đưa tay dắt dẫn, thì các ngài đã làm vậy
từ khuya rồi, chúng ta đâu có còn khổ tới bây giờ. Không,
các ngài không thể làm chuyện ấy được. Ðấng Ðạo Sư
giảng Pháp, nhưng chính chúng ta phải thay đổi cách hành xử
đúng theo luật nhân quả mới được. Một bản kinh có nói:
Chư
Phật không rửa sạch tội lỗi
Không
đưa tay ban phép
Ðể
cho hữu tình bớt khổ đau
Không
trao sự chứng ngộ chân như của ngài cho kẻ khác.
Ngài
giải thoát cho con người bằng giáo lý chân như.
Ðến
đây bạn có thể nghĩ, “Tôi sẽ tìm trú ẩn trong ba ngôi
báu để khỏi sa vào đọa xứ, và sẽ áp dụng những phương
pháp để khỏi đọa xứ. Tôi sẽ thay đổi cách hành xử
để phù hợp với luật nhân quả.” Ðấy là bạn đã khởi
lên một động lực ở trình độ Lam-rim thuộc Phạm vi Nhỏ.
Tuy
nhiên, có phải chỉ cần giải thoát khỏi đọa xứ mà thôi
chăng? Chưa đủ. Cùng lắm là bạn sẽ leo lên được các
cõi trên chừng một hai kiếp, rồi lại rớt trở lại vào
những đọa xứ, nơi mà nghiệp ác bắt kịp bạn. Vậy đấy
không phải là giải pháp tối hậu, bạn không thể tin cậy
vào nó. Quả thế, chúng ta đã bao nhiêu kiếp từng được
sinh vào các cõi trời, rồi sau đó lại rơi vào các đọa
xứ. Bây giờ chắc chắn ta cũng sẽ lâm vào tình trạng tương
tự. Trong những kiếp quá khứ, ta đã từng là Phạm vương,
Ðế thích sống trong những cung trời. Ðiều này đã nhiều
lần xảy ra, tuy thế chúng ta lại phải từ giả những cõi
ấy mà quằn quại trên giường sắt nóng của địa ngục.
Chuyện này cũng đã từng nhiều phen tái diễn. Ở các cung
trời, chúng ta thưởng thức vị cam lồ của chư thiên; rồi
khi rời khỏi cõi ấy, chúng ta phải uống nước đồng sôi
trong địa ngục. Chúng ta đã từng hưởng lạc thú với những
tiên ông tiên bà, rồi phải sống trong địa ngục vói ngưu
đầu ngục tốt vây quanh. Chúng ta được sinh làm vua Chuyển
luân cái quản hàng trăm thần dân, rồi lại tái sinh làm những
tôi tớ nô tì hạng bét như cỡi lừa và giữ trâu. Có lúc
ta được sinh làm thần mặt trời, thần mặt trăng, thân thể
chúng ta tỏa ra nhiều ánh sáng tới nổi ta chiếu sáng khắp
bốn châu lục địa. Rồi chúng ta tái sinh dưới đáy đại
dương, khoảng giữa các châu lục, nơi hoàn toàn tối tăm
tới nỗi ngay đến chân tay của ta, ta cũng không nhìn thấy
được. Ðại loại như thế. Dù bạn có thành tựu được
bao nhiêu phúc lạc thế gian, điều ấy thực không đáng tin
cậy, không có một thực chất nào.
Chúng
ta đã kinh qua không biết bao nhiêu là nỗi khổ, nhưng bao lâu
chưa thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử, thì chúng ta vẫn còn
phải chịu đựng dài dài, nhiều khổ đau hơn nữa. Nếu đem
chất đống lại một nơi tất cả những phân uế và những
thứ dơ dáy mà chúng ta đã ăn trong bao đời kiếp làm thân
súc sinh, thì cái đống phân uế ấy có thể là cao hơn núi
Tu di, vua các dãy núi. Ấy vậy mà ta còn phải ăn nhiều phân
dơ hơn thế nữa, nếu ta chưa thoát khỏi luân hồi. Nếu đem
tất cả những cái đầu của ta bị kẻ thù chặt trong kiếp
quá khứ mà chất đống lại, thì cái núi đầu ấy còn cao
hơn cõi Phạm thiên. Tuy thế nếu ta không chấm dứt vòng luân
hồi sinh tử của ta, thì ta còn phải mất nhiều đầu hơn
nữa. Trong những tái sinh của ta ở địa ngục trong quá khứ,
nước đồng sôi mà ta đã bị uống đem gom lại còn nhiều
hơn nước bốn biển, nhưng ta còn phải uống nhiều hơn nếu
ta chưa thoát khỏi luân hồi. Nghĩ đến việc cứ phải lang
thang mãi không mục đích vì chưa thoát khỏi vòng luân hồi
sinh tử, ai mà không lo sầu thống thiết.
Ngay
cả khi được tái sinh làm chư thiên hay loài người cũng chưa
hẵn thoát khỏi bản chất của khổ đau. Loài người có cái
khổ sinh, già, bệnh, chết, xa lìa những gì ta thân yêu, gần
gũi những gì ta khó chịu, mong cầu gì cũng không được toại
ý. Loài trời tu la cũng có nỗi khổ bị thương tật què quặt
trong khi đánh trận, và luôn luôn khổ vì lòng ganh ghét ray
rứt tâm can. Tái sinh ở những cõi trời Dục giới thì có
nỗi khổ là, khi năm tướng suy xuất hiện là thấy cái chết
gần kề. Chư thiên hai cõi trên (sắc và vô sắc) không có
nỗi khổ nào hiện rõ. Tuy thế tự bản chất, họ vẫn ở
trong tầm của cái khổ liên hệ đến mọi pháp hữu vi, bởi
vì họ chưa đạt đến trình độ tự tại để duy trì trạng
thái của mình. Cuối cùng họ sẽ rớt xuống cõi dưới, vậy
nên họ cũng không thoát khỏi khổ.
Nói
tóm, bao lâu bạn chưa vĩnh viễn ra khỏi kiếp luân hồi, thì
bạn vẫn chưa thoát khỏi bản chất của khổ. Bởi thế cần
phải dứt khoát tự giải thoát mình ra khỏi luân hồi, và
bạn phải làm chuyện ấy ngay trong đời sống này của bạn.
Thường
chúng ta nói: “Tôi không thể tu kiếp này được.” Và cầu
nguyện cho kiếp sau. Nhưng ta có thể làm việc ấy ngay trong
đời này. Chúng ta đã được thân người thuận lợi, đây
là hình thể vật lý thuận lợi nhất cho việc thực hành
chánh pháp. Chúng ta đã gặp được nhiều duyên lành, gặp
Giáo lý của Phật, vân vân. Vậy nếu chúng ta không thể đạt
giải thoát ngay bây giờ, thì đến khi nào mới đạt?
Như
vậy, bạn có thể nghĩ, dù có sao đi nữa ta phải nhất quyết
phải thoát khỏi sinh tử luân hồi. Và giải thoát chỉ có
thể thực hiện nhờ ba vô lậu học. Vì thế, ta sẽ tu học
ba môn ấy để giải thoát ra khỏi biển trầm luân rộng lớn
này. Ðấy là bạn đã khởi một động lực tu tâm Lam-rim
thuộc trình độ phạm vi Trung bình.
Nhưng
cả đến cách khởi tâm này cũng chưa đủ, nếu bạn đã
đạt quả chứng Thanh văn, hay Ðộc giác cho riêng mình, bạn
cũng chưa hoàn tất những chu cầu của chính bạn, và hầu
như chưa có một chút gì lợi ích cho người khác. Ấy bởi
vì bạn chưa từ bỏ một vài điều cần phải từ bỏ, như
là những chướng ngại che lấp trí giác toàn vẹn và bốn
nguyên nhân của vô minh. Chuyện này cũng giống như phải lội
qua sông hai lần: mặc dù có thể bạn đã đạt tất cả quả
vị tu hành lên A la hán quả trong đạo lộ thanh văn thừa,
khi ấy bạn vẫn còn phải phát bồ đề tâm và tu tập các
pháp tu căn bản của một Pháp vương tử, khởi đầu tự
đạo lộ tích tập công đức của đại thừa. Giống như
là khi gia nhập một tu viện, bạn phải tu tập từ địa vị
một người phụ bếp trở lên cho đến khi thành tu viện trưởng.
Rồi khi gia nhập một tu viện khác, bạn lại phải trở lui
về phục vụ trong nhà bếp như cũ.
Chandragomin
viết trong bức Thư Gửi Một Ðệ Tử:
Họ
như những bà con đang mắc kẹt trong biển luân hồi
Bị
rơi vào luồng sóng dữ giữa đại dương;
Vì
trải qua nhiều phen sống chết và tái sinh
Nên
bạn không nhận ra họ, và bạn làm ngơ.
Bởi
thế, bạn thật tệ, nếu chỉ lo thoát lấy mình.
Nói
cách khác, mặc dù chúng ta không thể nhìn nhận được nhau,
kỳ thực không có một chúng sinh nào không từng là mẹ của
bạn. Vì bạn đã trải qua vô số kiếp tái sinh, nên bạn
cũng đã có vô số mẹ. Và lòng thương yêu mà những bà mẹ
trong quá khứ trút lên bạn cũng không khác gì lòng thương
mà bà mẹ hiện tại dành cho bạn. Không một mảy may khác
biệt giữa sự tử tế của mẹ bạn và sự tử tế của
mỗi hữu tình.
Tuy
nhiên, có lẽ bạn nghĩ, “tất cả hữu tình không phải mẹ
tôi. Nếu họ là mẹ dtôi, thì tôi phải nhìn nhận ra ngay
chứ. Thế mà tôi không nhận ra.” Nhưng điều có thể xảy
ra là, ngay trong đời hiện tại, cũng có người không nhận
ra mẹ mình. Vậy, không thể chỉ vì “không nhận ra” mà
bạn có thể bảo là không phải mẹ. Có những người nghĩ
rằng, “Mẹ trong các đời trước đã thuộc về quá khứ.
Thật không nên nói rằng hiện tại họ vẫn còn là những
bà mẹ nhân từ của ta.” Nhưng sự tử tế của những bà
mẹ trong quá khứ với những bà mẹ hiện tại đối với
bạn thực không có khác nhau chút nào cả. Lòng tử tế vẫn
là một, dù bạn nhận một viên ngọc từ người nào năm
ngoái hay năm nay. Thời gian của hành vi không làm cho mức độ
của lòng tốt ấy có thay đổi. Vậy thì, mọi hữu tình đều
có lòng từ mẫn đối với bạn.
Bạn
có thể nỡ nào làm ngơ những bà mẹ từ mẫn của mình đang
bị chìm đắm trong biển sinh tử, mà chỉ cầu giải thoát
cho riêng mình? Ðiều ấy cũng chẳng khác nào những đứa
trẻ đứng trên bờ mà nhảy múa ca hát trong khi mọi người
rất thân của chúng, ví dụ mẹ chúng, đã rớt vào một ngọn
thủy triều trên biển. Lượn sóng đang cuồn cuộn ra khơi,
bà mẹ đang hãi hùng kêu cứu, vậy mà bọn trẻ hoàn toàn
bỏ mặc bà. Còn gì tàn nhẫn hơn, đánh khinh hơn thế? Những
đợt sóng đại dương được gọi là xoáy nước; điều kinh
khủng nhất là khi một con thuyền, chiếc bè hay vật gì khác
bị lọt vào đấy, thì chắc chắn nó sẽ bị cuốn hút và
chìm nghỉm. Bây giờ bạn dường như không có chút liên hệ
nào với mọi hữu tình, những người đã rơi vào xoáy nước
trên biển khổ luân hồi. Nhưng kỳ thực, họ đều là những
bà mẹ từ bi của bạn, bạn phải báo đáp lòng thương của
họ. Ðem thức ăn cho kẻ đói, thức uống cho người khát,
tài sản cho người nghèo, thỏa mãn nhu cầu của họ, là bạn
trả được ân đức phần nào của họ, nhưng kỳ thực điều
ấy không lợi lạc bao nhiêu. Cách hay nhất để trả ơn là
làm sao cho họ được hưởng mọi hạnh phúc, thoát khỏi mọi
đau khổ. Không cách đền đáp nào tốt hơn thế.
Với
những tư duy trên, bạn có thể khởi lên ý nghĩ, “Mong sao
cho những hữu tình này có đủ mọi thứ an lạc.” Ðấy
gọi là phát triển tâm từ. Bạn cũng nghĩ, “Mong sao họ
thoát khỏi mọi đau khổ” đấy là phát triển tâm bi. Bạn
có thể phát tâm vị tha khi bạn nghĩ: “Tôi và chỉ mình
tôi phải gánh lấy trách nhiệm thực hiện hai mục tiêu ấy.
Tôi sẽ làm việc cho hai cứu cánh ấy.”
Nhưng,
bạn có thể làm những việc ấy ngay từ bây giờ không? Bạn
không thể cứu tất cả khổ ban tất cả vui dù cho chỉ một
người, nói gì đến tất cả hữu tình. Vậy thì ai có thể?
Chư vị Bồ tát trú trong các địa vị thanh tịnh, và các
bậc Thanh văn hay Duyên giác có thể lợi lạc hữu tình phần
nào, nhưng họ chỉ làm được một ít những gì mà chư Phật
có thể làm. Mỗi tia sáng phát từ thân Phật có năng lực
đưa vô lượng hữu tình đến trình độ thuần thục, ngay
cả đến giải thoát. Chư Phật hóa ra nhiều thân xuất hiện
trước mỗi hữu tình. Những thân hình ấy ứng hợp với
tính tình, khả năng, ước nguyện và bản năng của các hữu
tình ấy. Chư Phật giảng dạy Pháp cho hữu tình bằng chính
ngữ ngôn của chúng. Ðây là sơ lược vài khả năng của
Phật. Bởi thế chư Phật là những đấng Vô tỉ trong cách
các ngài làm việc lợi lạc cho hữu tình.
Chúng
ta có thể thành tựu Phật quả không? Có thể, và muốn đạt
quả Phật ta phải có một thân tái sanh thuận lợi. Chúng
ta đã được một loại thân tái sanh rất đặc biệt được
sinh ra từ bào thai người ở lục địa phương Nam (Nam thiệm
bộ châu), ta lại có được sáu giác quan. Ta chỉ còn cần
phải lợi dụng cơ hội này đẻ thành tưu Kim cuong trì trong
một đời này. Ta dã có được tái sinh thân thuận lợi. Phương
tiện để đạt Phật quả là Pháp tối thượng thừa, và
giáo lý của Tsongkapa, đấng Chiến thắng thứ hai (sau Phật),
về cỗ xe này thật là toàn hảo. Những lời giảng dạy vô
cấu của ngài phối hợp vừa kinh giáo vừa mật giáo. Chúng
ta đã được gặp giáo lý như thế.
Tóm
lại, chúng ta đã gặp mọi điều kiện thuận lợi, lại không
bị một chướng ngại nào. Chúng ta chỉ có thể đi lạc do
không nỗ lực đạt thành Phật quả. Không phải là chúng
ta sẽ luôn luôn có được thân tái sanh lành mạnh như thế
này, luôn luôn gặp được giáo lý như thế này. Có người
bảo, “Nay là thời mạt pháp, chúng ta thật đã gặp thời
xấu ác.” Nhưng kể từ dòng luân hồi vô thỉ đến nay,
ta chưa từng bao giời trải qua một thời gian có nhiều tiềm
năng lợi lạc cho ta hơn bây giờ. Không thể có thời nào
tốt hơn. Ta chỉ gặp được hoàn cảnh như thế này một
lần thôi. Bởi vậy, ta phải tu tập hướng đến một quả
Phật, dù bất cứ gì xảy đến.
Như
thế, điều này phải làm bạn phát nguyện: “Tôi sẽ làm
mọi sự có thể làm để đạt mục tiêu là sự giác ngộ
tối thượng, vì tất cả hữu tình.” Ý nghĩ ấy khơi dậy
tâm bồ đề, và như thế là bạn đã khởi động lực tu
tập của bạn theo Phạm vi Rộng lớn của Lam-rim. Bạn đã
phát tâm bồ đề nếu bạn thực tình cảm nghiệm ý tưởng
ấy một cách tự nhiên không có một gượng ép nào trong tâm
bạn
Bạn
phải thực hành để đạt thành Phật quả ấy. Và bạn cần
thiết phải thực hành như thế nào để thành công. Nhiều
người muốn tu nhưng không biết tu cách nào nên đi đến một
chõ vắng nào đó, tụng vài câu thần chú, lập ít lời cầu
nguyện, ngay cả cố tìm cách chứng được một vài tầng
trong chín tầng thiền chứng, nhưng ngoài ra họ không biết
làm gì khác. Bạn phải nghiên cứu học hỏi những giáo lý
không lỗi lầm, những giáo lý không bỏ sót một chuyện gì
trong việc thực hành pháp, thì bạn mới biết được phải
làm những gì. Và vua của những giáo lý ấy chính là Lam-rim
mô tả những bước đường đi đến giác ngộ. Bởi thế
bạn phải khởi lên một động lực như sau: “Tôi sẽ chú
ý lắng nghe Lam-rim, rồi thực hành theo đấy.”
Thông
thường, cần yếu là phải khởi đầu mọi sự tu tập bằng
một trong những đọng lực nói trên. Nhưng quan trọng hơn
nữa, khi bạn nghe giảng về Lam-rim thì những động lực trên
chưa đủ. Ít nhất bạn phải bạn phải lắng nghe kèm với
một tâm bồ đề gượng ép. Với người đã kinh nghiệm sự
phát bồ đề tâm, họ có thể nhớ nghĩ một công thức ngắn
gọn như “Vì tất cả chúng sinh” là đủ. Tuy nhiên, điều
này không đủ chuyển hóa nội tâm một người sơ cơ. Nếu
bạn nghĩ về Lam-rim, khởi từ sự khó khăn muôn vàn để
có được thân người thuận lợi, khi ấy tâm bạn sẽ quay
về bồ đề tâm. Ðiều này không phải chỉ áp dụng cho việc
nghe Lam-rim mà thôi. Những tu sĩ phái Gelugpa chúng tôi mỗi
khi tham dự một pháp hội nào, như lễ quán đảnh, lễ khẩu
truyền, giảng kinh, hay bất cứ gì khác, chúng tôi thường
ôn lại tất cả giai đoạn Lam-rim kể như chuẩn bị để
có một động lực đúng. Ngay cả những thời cầu nguyện
ngắn cũng phải bao gồm cả ba phạm vi của Lam-rim. Ðây là
nét đặc sắc nhất của giáo lý thuộc phái Kadampas ngày xưa
và của chúng tôi ngày nay những người thuộc phái Kadampas
mới. Bậc tôn sư của tôi đã nói điều này nhiều lần.
Các bạn nào muốn nhận trách nhiệm bảo trì nền giáo lý
này thì cần phải học tập theo cách ấy. (Tuy nhiên, khi làm
lễ quán dảnh cầu sống lâu thì người ta có lệ không nói
về vô thường -chết-, vân vân, vì đấy là điềm gở: chỉ
nói đến sự được sinh làm thân người thuận lợi này rất
khó.)
Có
những người tham dự một thời Pháp mà nghĩ rằng: “Tôi
thật may phước được học giáo lý này, nhưng tôi không thể
thực hành được. “Có người đi nghe vì bắt chước: “Nếu
bạn đi thì tôi cũng đi với cho vui.” Không ai đi nghe pháp
để kiếm sống bằng cách đi làm lễ cho các gia chủ. Nhưng
việc này có xảy ra với những giáo lý khác, chẳng hạn những
phép quán đảnh chính yếu. Khi bạn theo học những giáo lý
này, có thể bạn nghĩ mình sẽ có được khả năng tụng
thần chú để trừ tà đuổi quỷ, hoặc chữa bệnh, hàng
phục ma, có tài sản, có quyền lực, vân vân. Có những người,
dù đã học bao nhiều giáo lý Phật, cũng vẫn xem Pháp của
ngài như là cái vốn để làm ăn; họ trông giống như những
người sắp đi Mông Cổ để đi kinh doanh buôn bán. Những
người như thế đã tích lũy vô số tội nghiệp bằng phương
tiện Pháp của Phật. Ðức Phật, đấng Ðạo sư của chúng
ta, bàn đến những phương tiện để đạt giải thoát và
toàn trí. Khai thác lợi dụng những giáo lý ấy vì những
mục tiêu thế tục thì chẳng khác nào ép một ông vua đang
ngồi trên ngai xuống chùi nhà.
Bởi
thế, nếu bạn tình cờ dường như cũng có những động lực
xấu xa tương tự, thì hãy xua đuổi chúng đi; hô triệu một
cái tâm bồ đề bất đắc dĩ nỗi lên đi cũng được, rồi
nghe pháp. Thôi, chừng ấy cũng đủ để kết thúc phần khởi
động lực cho đúng.
Sau
đây sẽ là phần chính của giáo lý.
Trước
hết, Pháp mà bạn sắp tu tập phải là do Phật nói ra, và
do những bậc thánh Ấn Ðộ giảng giải. Sự tu tập của
bạn phải là pháp tu mà từ đó những bậc hiền trí vĩ đại
đã rút tỉa được những tuệ giác và thực chứng; nếu
không, một sự giảng dạy có thể được gọi là “sâu xa”
mặc dù nó không do Phật thuyết và các bậc học giả hiền
trí chưa từng biết tới. Nếu bạn quán tưởng về những
thứ giảng dạy kiểu đó thì bạn có nguy cơ sẽ đạt một
vài kết quả mà từ trước chưa có ai từng đạt, kể cả
chư Phật cũng chưa từng đạt tới! Bởi thế bạn phải xét
kỹ cái Pháp mà bạn sẽ dùng làm pháp tu của bạn. Sakya Pandit
nói:
Khi
bạn kinh doanh buôn bán
Như
lái ngựa, buôn châu báu, vân vân
Bạn
nghi vấn đủ điều
Và
khám xét mọi mặt
Tôi
đã thấy bạn cần mẫn làm sao
Với
những việc vặt vãnh của đời này
Những
đời tương lai bạn tốt hay xấu
Ðều
tùy thuộc Pháp vi diệu
Ấy
vậy mà bạn xử sự với Pháp ấy
Như
con chó ngồn ngấu đồ ăn:
Bạn
thành kính đón lấy bất cứ gì gặp được
Mà
không xem trước cho kỹ để biết nó chánh hay tà.
Khi
ta mua một con ngựa chảng hạn, ta khám xét nhiều thứ, trước
hết là coi bói, và đi hỏi một lô người ngoài. Lấy ví
dụ một tu sĩ thông thường khi đi mua một ấm nấu trà. Ông
xem xét lại màu sắc, trọng lượng, hình dáng nó thật nhiều
lần; sao cho bảo đảm là nó không bị nước, v.v... làm hỏng,
và hỏi ý kiến nhiều người. Tuy vậy, nếu không may gặp
cái bình xấu thì bất quá cũng chỉ ảnh hưởng đến vài
tách trà mà thôi.
Bạn
tra tầm rất kỹ về những chuyện như thế, mặc dù nó chỉ
có giá trị nhất thời. Thế mà bạn dường như không tra
tầm chú thời gian nào cái Pháp mà bạn phải tu tập, mặc
dù điều này là căn bản cho những hy vọng tái sinh của bạn
trong tương lai. Ðấy là cách một con chó nuốt trọng thực
phẩm vào bụng. Thật sai lầm biết bao! Nếu bạn sai lầm
ở bước này, tức là bạn đã tàn hại những hy vọng về
đời tương lai của bạn. Bởi thế, bạn cần phải xét kỹ
Pháp mà bạn định tu tập, trước khi khởi công tu hành.
Nếu
bạn xét Pháp hiện tại của chúng ta là Lam-rim, bạn sẽ thấy
Pháp ấy là tuyệt hảo trong tất cả các pháp. Tính sâu sắc
kỳ diệu của mật tông đều xuất xứ từ Lam-rim. Nếu bạn
không khai triển ba nồng cốt của đạo lộ (sự từ bỏ,
bồ đề tâm và chánh kiến về Tánh không) trong dòng tâm thức
bạn, thì bạn không thể giác ngộ ngay trong một đời. Tôi
đã nghe nhiều giáo lý được cho là sâu sắc, phát xuất từ
tri kiến hay từ những mật điển, những giáo lý được nói
là đem lại các năng lực thần thông biến hóa - so với những
giáo lý ấy thì quả thực ba điều nòng cốt của đạo lộ
không có vẻ gì là một giáo lý hấp dẫn đặc biệt cho lắm.
Pháp
Lam-rim không phải do Rinpoche (Tsongkapa) sáng chế, hay Atisha đặt
ra. Hệ truyền thừa của nó bắt nguồn từ chính đức Phật
đáng Toàn giác, và chỉ từ nơi Ngài mà thôi nhưng khi bạn
hiểu ra rằng có một pháp được gọi là Lam-rim trong khi các
pháp khác không có tên gọi ấy, bạn sẽ thấy rằng tất
cả mọi kinh điển đều là Lam-rim. Bộ kinh tôn quý Bát nhã
Ba la mật là bộ kinh tối thượng trong tất cả kinh điển
của đấng Ðạo sư chúng ta. Trong kinh ấy Ngài dạy rõ phần
thâm thúy nói về những giai đoạn trên đạo lộ đưa đến
trí bát nhã (thực chứng tánh không) mà là cốt lõi của tám
muôn bốn gnà pháp; Ngài cũng ám chỉ cái phần rộng rãi của
Lam-rim trong những phương pháp của chư Phật. Vậy, đây là
nguồn gốc của hệ truyền thừa. Phần rộng rãi này được
truyền cho đệ tử trước tiên của Phật là Di Lặc (Maitreya),
Di Lặc truyền cho Vô Trước (Asanga). Phần sâu xa của Lam-rim
truyền cho Văn Thù (Manjusri) đến Long Thụ (Nàgàrjuna). Ðấy
là cách mà truyền thống Lam-rim được tách làm hai - pháp
Sâu và pháp Rộng.
Ðể
làm sáng tỏ Lam-rim, Di Lặc đã soạn Năm bộ luận, Vô Trước
viết “Năm luận về các trình tự”, Long Thụ viết Sáu
luận, vân vân. Như vậy các hệ phái Lam-rim Sâu và Rộng đã
truyền xuống cho bậc thánh vô tỉ là Atisha. Ngài nhận hệ
phái Rộng từ Suvarnadvìi, và hệ phái Sâu từ Vikyakokila; ngài
phối hợp hai hệ phái thành một dòng. Ngài còn kế thừa
hệ phái Những Hành Ðộng Uy Mãnh Nhất mà Shantideva hấp thụ
của Văn Thù, cùng những hệ phái về mật chú, vân vân. Như
thế, những hệ phái mà ngài thừa kế bao gồm cả kinh giáo
lẫn mật giáo.
Atisha
soạn tác phẩm “Ngọn đèn soi đường Giác ngộ” tại Tây
Tạng. Tác phẩm này phối hợp những điểm then chốt trong
toàn bộ giáo lý. Những lời giảng dạy về sau được mang
tên “Lam-rim”. Từ thời Atisha, những hệ phái liên hệ tri
kiến sâu xa và hành động rộng rãi đã phối hợp thành một
dòng duy nhất. Những dòng này lại tách làm ba hệ phái vào
thời đại của phái Kadampa: hệ phái Cổ điển, hệ phái
Những Giai đoạn của Ðạo lộ, và hệ phái Chỉ giáo (Instruction.)
Mỗi hệ phái tập trung vào một khía cạnh khác nhau. Về sau,
Je Tsongkapa hấp thụ cả ba hệ phái này từ Namkha Gyaeltsaen
ở Lhodrag, vị này là một học giả uyên bác, và từ Chekyab
Zangpo, tu viện trưởng của tu viện Dragor. Từ thời ấy trở
đi, truyền thống trở lại thành một phái duy nhất.
Ðức
Je Tsongkapa vĩ đại đã làm lễ cầu nguyện với những bậc
tiền bối trong hệ truyền thừa của ngài bên tảng đá hình
sư tử tại Retreng về phía bắc Lhasa. Pho tượng trình bày
bậc thánh với chiếc đầu nghiêng về một phía. Mỗi khi
ngài cầu xin trước pho tượng này, ngài liền thấy được
những linh ảnh của tất cả những bậc thầy của hệ phái
Lam-rim cùng ngài đàm luận về Pháp. Lại nữa, ngài còn thấy
những linh ảnh của Atisha, Dromtoenpa, Potowa và Sharawa trong suốt
một tháng trời. Ba linh ảnh sau cuối cùng tan thành một với
linh ảnh Atishaz, vị này đặt tay trên đầu ngài Tsongkapa mà
nói: “Hãy giảng dạy giáo lý này đi, ta sẽ giúp ngươi.”
Ðiều này có nghĩa rằng chính Atisha đã xui khiến Tsongkapa
viết tác phẩm Những Giai Ðoạn Chính Của Con Ðường Tu Tập.
Tsongkapa hoàn tất tác phẩm này đến cuối phần nói về tịnh
chỉ. Ðại sĩ Văn Thù (Manjusri) yêu cầu ngài hoàn tất tác
phẩm, kết quả là ngài viết thêm chương nói về Tuệ quán
đặc biệt. Vậy, ta phải ý thức rằng sách này là một kho
tàng của nhiều phép mầu hộ niệm, cho dù ta không biết được
những người nào khác dã yêu cầu ngài soạn sách. Ðiều
này được ám chỉ trong đoạn bắt đầu: “Nhờ những phép
mầu kỳ lạ của các Ðấng Chiến thắng và những Pháp tử
của các ngài...”
Về
sau, ngài soạn tác phẩm Những Giai Ðoạn Giữa Của Ðạo
Lộ để tóm tắt cốt tủy của vấn đề là không được
nói đến trong Những Giai Ðoạn Chính Của Ðường Tu. Tác
phẩm này phần lớn bàn về hệ phái khẩu truyền trực tiếp
và những hệ phái giảng kinh cổ xưa hơn; cả hai Lam-rim này
được cho là bổ túc lẫn nhau với những điểm then chốt
khác nhau rút từ những lời dạy truyền khẩu.
Có
lẽ bạn không biết làm sao để thể nhập những bản văn
này vào việc tu tập của bạn. Je Rinoche (tức Tsongkapa) nói
về sau:
“Những
người thấy không thể nào hiểu nổi làm sao thực hành tất
cả giáo lý này, thì nên tham khảo những bản văn ngắn gọn
hơn nhiều, chỉ dạy cách tu tập.”
Bởi
thế bạn phải tham khảo những văn bản sau đây. Ðức Dalai
Lama thứ Ba - Lama Soenam Gyatso - viết tác phẩm Tình Chất Của
Vàng Ròng. Ðức Dalai Lama thứ Năm vĩ đại viết Lam-rim do
chính đức Văn Thù nói, kể như một luận giải cho tác phẩm
này. Ðức Panchen Lama (Ban thiền lạt ma) - Lozang Chekyi Gyaeltsaen
- viết Con Ðường Dễ và Lozang Yeshe (một tái sinh khác của
Panchen) soạn luận giải cho sách này với tác phẩm Con Ðường
Nhanh. Chính đức Tsongkapa cũng viết ba tác phẩm về Lam-rim:
Ðường Lớn, Ðường Trung Bình, Ðường Nhỏ (còn gọi là
Những bài Ca từ Kinh nghiệm hay Chứng đạo ca). Ngoài bốn
sách giáo lý khúc chiếc của các vị Dalai Lama và Panchen Lama
nói trên, Ngagwang Dragpa ở Dagpo còn viết Con Ðường Của Kinh
Giáo Vi Diệu. Ðấy là tám giáo lý nổi tiếng nhất về Lam-rim.
Bạn
phải thụ giáo những bài giảng truyền thừa về những kinh
văn căn bản này cùng với những luận giải. Chỉ thụ giáo
một bài giảng mà thôi thì không đủ. Lại nữa, có đến
hai bài giảng về tác phẩm Những Lời Dạy Của Ðức Văn
Thuø, một bài chi tiết hơn bài kia. Một trong hai bản văn
này được truyền ở tỉnh Trung ương, bản kia truyền ở
miền Nam: do vậy có sự phân thành hai phái. Bạn cũng phải
thụ giáo riêng rẽ cả hai hệ phái này. Vị quan tể tướng
Tagpugpa và các đồ đệ ngài về sau đã đánh giá cao hệ
truyền thừa bản văn này. Ngài tuyên bố rằng nếu ngài gặp
bản này sớm hơn, thì ngài không phải trải qua nhiều vấn
đề nan giải liên hệ những đề mục tu thiền trong Lam-rim.
Ðiều này đúng như ngài nói: giáo lý cô đọng của Con Ðường
Nhanh, và hai dòng trong tác phẩm Những Lời Dạy Của Ðức
Văn Thuø phối hợp lại, làm thành một cái gì sâu sắc vô
cùng.
Khi
Ðức Phật đấng Ðạo sư chúng ta giảng dạy, thì không có
chuyện phân thành hai hệ phái giảng kinh. Chỉ có về sau,
khi giáo lý Ngài không còn hoàn toàn dễ hiểu, thì mới có
chuyện giảng kinh tách biệt với thuyết pháp. Những bài giảng
nào bàn chi tiết về những từ ngữ trong kinh được gọi
là “giảng có bài bản.” Ngược lại sự “giảng gọn”
ám chỉ những lời giảng dạy không căn cứ nhiều trên danh
từ của kinh văn, mà lại trình bày cốt tủy của giáo lý,
thiện xảo như những y sĩ giải phẫu một tử thi trước
mặt học trò. Cái cách họ chỉ rõ lục phủ ngũ tạng vân
vân, đem lại cho người học một sự dẫn nhập sống động.
Trong bài giảng theo kiểu “nói chuyện thân mật”, vị thầy
nói kinh nghiệm của riêng mình, cách dạy này cốt gây một
ảnh hưởng lớn nhất trên dòng tâm thức của những môn
sinh. Còn lối “giảng thực tiễn” là như sau. Môn sinh ở
chung trong một nhà nhập thất. Họ được dạy một đề mục
để thiền quán. Họ không dạy thêm một đề mục nào nếu
chưa đạt một tuệ giác về đề mục trước. Lối giảng
dạy này truyền xuống đến chúng ta qua những hệ phái thiền
về tuệ quán. Ðấy là những phương pháp tốt nhất để
hàng phục dòng tâm thức.
Giáo
lý mà tôi sắp giảng dạy thuộc về loại “nói chuyện thân
mật.” Một vài vị hiện diện trong đây cũng khá không may
vì chỉ có thời gian theo học giáo lý này một vài làn. Họ
cũng ham thích giáo lý này thực, nhưng sau đó họ phải đi
con đường của họ. Vì những người này mà tôi sẽ phối
hợp Con Ðường Nhanh và hai hệ phái giảng về tác phẩm Những
Lời Dạy Của Ðức Văn Thù. Về sau, khi chúng ta đến phần
ấy, tôi sẽ đưa ra Bảy điểm tu tâm để đổi địa vị
mình với người.
Tôi
không có sự dè dặt nào trong khi giảng giáo lý này. Nó sẽ
tạo công đức cho hai nhà quý tộc quá cố mà khóa giảng
này được làm lễ tưởng niệm. Và khi tôi giảng dạy Lam-rim,
tôi không phải cân nhắc lợi hại đối với bậc thầy hay
môn đệ, nhưng tôi phải cân nhắc khi dạy những giáo lý
khác, chẳng hạn các pháp quán đảnh. Sự giảng dạy về
Lam-rim chỉ có thể đem lại lợi lạc mà thôi.
Tất
cả các bạn, hãy tu kiểu nào bạn có thể tu, và nhớ cầu
nguyện cho hai nhà quý tộc quá cố.
(Kyabje
Pabongka Rinpoche khẩu truyền những dòng mở đầu của những
văn bản Lam-rim này. Sau đó chúng tôi được giải tán.)